1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Giáo trình Lý thuyết tiền tệ tín dụng: Phần 1 - Trường Đại Học Quốc Tế Hồng Bàng

20 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 264,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Sử dụng tiền mặt: Tiền mặt là tiền đang lưu thông nó có tên gọi và tiêu chuẩn giá cả được luật pháp Nhà nước quy định. + Có thể sử dụng dấu hiệu giá trị: Vì mục đích của bán hàng khôn[r]

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Để đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập Cao đẳng Nghề chuyên ngành

Kế toán, Cử nhân Kinh tế Nguyễn Sơn Ngọc Minh tiến hành biên soạn cuốn giáo trình môn học Lý thuyết tiền tệ tín dụng

Giáo trình môn học lý thuyết tiền tệ tín dụng được biên soạn dựa trên cơ

sở Quyết định số 15/2008/QĐ- BLĐTBXH ngày 31 tháng 03 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội về việc ban hành chương trình khung đào tạo bậc Cao đẳng Nghề Kế toán Doanh nghiệp, giáo trình Lý thuyết tiền tệ của Học viện Tài chính ban hành năm 2008 và một số tài liệu chuyên ngành khác có liên quan

Giáo trình gồm 05 chương:

Chương 1: Tiền tệ trong nền kinh tế thị trường Chương 2: Tín dụng trong nền kinh tế thị trường Chương 3: Hệ thống ngân hàng và thị trường tiền tệ Chương 4: Thanh toán trong nền kinh tế thị trường Chương 5: Thanh toán và tín dụng quốc tế

Soạn giả đã cố gắng thể hiện nội dung giáo trình môn học đảm bảo tính lý luận, tính khoa học và tính thực tiễn phù hợp với nhận thức chung của sinh viên Cao đẳng Nghề Kế toán Tuy nhiên, do thời gian và trình độ có hạn nên việc biên soạn không tránh khỏi những thiếu sót Soạn giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả để giáo trình được bổ sung hoàn thiện hơn

Xin trân thành cảm ơn !

Ngày 11 tháng 10 năm 2008

Soạn giả

Trang 2

CHƯƠNG 1

TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG I- Nguồn gốc, bản chất, chức năng và vai trò của tiền tệ

1-Nguồn gốc ra đời và quá trình phát triển của tiền tệ

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tiền tệ cũng được hình thành

và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử

Ở thời kỳ đầu, khi nền sản xuất xã hội còn thấp kém, quá trình trao đổi hàng hoá được tiến hành theo hình thức trao đổi trực tiếp mang tính ngẫu nhiên: H-H Tương ứng với hình thức trao đổi này đã xuất hiện hình thái ngẫu nhiên của giá trị

Ví dụ: 1 rìu =20 m vải

Ở đây rìu biểu thị giá trị của mình bằng vải, còn vải là vật để biểu hiện giá trị của rìu Giá trị của hàng hoá rìu được biểu hiện như là một giá trị tương đối (hình thái tương đối của giá trị), còn vải đóng vai trò vật ngang giá

Lực lượng sản xuất càng phát triển, phân công lao động lần thứ nhất: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, làm cho sản phẩm thặng dư và số lượng hàng hoá trao đổi ngày càng nhiều hơn Tương ứng với quan hệ trao đổi này là hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị:

20 m vải,

1 con ngựa kéo = 02 cái áo,

10 kg chè, 0,5 chỉ vàng,

Ở hình thái này, giá trị sử dụng của nhiều hàng hoá được sử dụng làm vật ngang giá cho một hàng hoá Quan hệ này trở thành phức tạp khi một hàng hoá

có nhiều vật ngang giá gây khó khăn cho trao đổi

Về sau, cùng với sự chuyên môn hoá lao động ngày càng cao, trong xã hội diễn ra cuộc phân công lao động lần thứ hai: “Thủ công tách khỏi nghề nông”, là

Trang 3

thời kỳ đánh dấu sự phát triển cao của lực lượng sản xuất.Thực tế đó đòi hỏi trong trao đổi phải có một vật đóng vai trò vật ngang giá chung (hình thái chung của giá trị ra đời) Khi đó phương trình trao đổi được thể hiện:

20 m vải,

= 1 con ngựa kéo

02 cái áo,

10 kg chè, 0,5 chỉ vàng,

Thời kỳ đầu vật ngang giá chung chưa cố định vào một hàng hoá nào; mỗi địa phương sử dụng một vật ngang giá chung khác nhau Để đáp ứng yêu cầu phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá, đòi hỏi phải có một vật ngang giá chung thống nhất Theo tiến trình của lịch sử, các kim loại lần lượt thay thế nhau đóng vai trò vật ngang giá chung: đồng, chì, kẽm…Đầu thế kỷ 19, kim loại vàng độc tôn đóng vai trò vật ngang giá chung - nó được gọi là kim loại tiền tệ hay tiền tệ

Đầu thế kỷ 20, giấy bạc ngân hàng được sử dụng phổ biến thay thế cho các loại tiền đúc bằng vàng Ngày nay, với sự can thiệp của Nhà nước, các phương tiện sử dụng trong trao đổi ngày càng đa dạng, phong phú

2 Bản chất của tiền tệ

- Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung trong trao đổi, nó có khả năng đo lường giá trị của mọi hàng hoá khác

Cũng như hàng hoá thông thường, tiền tệ có giá trị và giá trị sử dụng Tính chất đặc biệt của thuộc tính giá trị sử dụng của tiền tệ là ở chỗ nó có tính xã hội Tiền tệ có thể thoả mãn các nhu cầu về sử dụng hàng hoá, dịch vụ của người

sở hữu nó

- Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại Nền kinh tế hàng hoá phát triển đến giai đoạn cao, kinh tế thị trường được hình thành theo đúng nghĩa của nó, thì quá trình phi vật chất của tiền cũng đồng

Trang 4

thời diễn ra một cách tương ứng Theo quan niệm của các nhà kinh tế học hiện đại thì:

Tiền tệ là bất kỳ phương tiện nào được thừa nhận chung để thanh toán cho việc giao hàng, dịch vụ và chi trả công nợ - nó là một phương tiện trao đổi

- Một số tên gọi của tiền:

+ Hoá tệ: là hàng hoá đóng vai trò vật ngang giá trong trao đổi

Ví dụ: ở Mêxicô đã từng coi hạt ca cao làm phương tiện trao đổi

“tiền trên cây”; ở châu Phi vỏ ốc quý được dùng làm phương tiện trao đổi

+ Tín tệ: là loại tiền được sử dụng trên cơ sở uy tín hoặc quyền lực của người phát hành

Tiền giấy được coi là tín tệ hoàn chỉnh nhất, nó xuất hiện từ thời nhà Đường thế kỷ thứ VII và thời nhà Tống (960 - 1279) Ở Việt nam, dưới triều Hồ (1400 - 1407), Hồ Quý Ly đã cho phát hành tiền giấy

+ Bút tệ: là hình thức phi vật chất cao nhất của tiền, nó tiết kiệm chi phí lưu thông nhất và được áp dụng thanh toán phổ biến trong đời sống kinh tế – xã hội

3- Chức năng của tiền tệ

Bản chất của tiền tệ được thể hiện đầy đủ thông qua các chức năng của

nó Các chức năng của tiền tệ bao gồm:

3.1 Chức năng thước đo giá trị

Chức năng thước đo giá trị là chức năng cơ bản nhất của tiền tệ Khi thực hiện chức năng này, tiền tệ được coi là chuẩn để đo giá trị của các hàng hoá khác

Thông qua quan hệ này, các hàng hoá biểu hiện giá trị của mình thành những lượng có cùng tên giống nhau về chất và có thể so sánh được với nhau về lượng Sở dĩ tiền và các hàng hoá thông thường thực hiện được quan hệ so sánh này, vì chúng đều là sản phẩm của lao động của con người đã vật hoá và do lao động xã hội kết tinh trong chúng Các hàng hoá được trao đổi trên thị trường

Trang 5

thông qua giá cả hàng hoá Giá cả hàng hoá là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá

Thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền tệ phải có các điều kiện sau:

- Tiền phải có đủ giá trị Tất cả các hàng hoá đều có giá trị nội tại, vì vậy để đo được các lượng giá trị này tiền phải có giá trị

Ngày nay, việc biểu hiện giá trị hàng hoá thông qua việc sử dụng các phương tiện trao đổi được tồn tại trong quan niệm của mọi người, được mọi người thừa nhận, đó là cơ sở dẫn đến hiện tượng phi vật chất hoá chức năng thước đo giá trị

- Tiền phải có tiêu chuẩn giá cả Tiêu chuẩn giá cả là đơn vị đo lường tiền tệ của mỗi quốc gia được pháp luật Nhà nước thừa nhận, nó gồm hai yếu tố: tên gọi đơn vị tiền tệ và hàm lượng vàng trong một đơn vị tiền tệ

Ví dụ: Đơn vị tiền tệ của hợp chủng quốc Hoa Kỳ có tên gọi là Dollar ký hiệu quốc tế là USD, 1USD = 0,736662 gram vàng ròng

Do thế giới hàng hoá rất đa dạng và phong phú; bởi vậy luật pháp Nhà nước cũng quy định tiền đơn vị theo bội số (tiền có mệnh giá gấp nhiều lần tiền đơn vị) và ước số (tiền có mệnh giá là phần thập phân của tiền đơn vị)

Ví dụ: 1USD = 100 cent hoặc 1 cent = 0,01 USD Ngày nay, do xuất hiện quá trình phi vật chất hoá thước đo giá trị; nên hàm lượng vàng của tiêu chuẩn giá cả đã dần mất đi ý nghĩa thực của nó Trong thực tế, khi sử dụng tiền người ta không quan tâm đến hàm lượng vàng trong nó

là bao nhiêu mà chỉ quan tâm đến sức mua của nó cao hay thấp

Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền đã chuyển giá trị hàng hoá thành tên gọi mới, đó là giá cả hàng hoá Giá cả hàng hoá là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá Thực chất của giá cả hàng hoá được xác lập trên quan hệ so sánh giữa giá trị của nó với giá trị của tiền tệ: “Giá cả hàng hoá tỷ lệ thuận với giá trị hàng hoá và tỷ lệ nghịch với giá trị của tiền tệ”

Trang 6

3.2 Chức năng phương tiện lưu thông

Thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền tệ là môi giới trung gian trong trao đổi hàng hoá dịch vụ Nó được thể hiện qua công thức sau: H- T- H Quá trình này gồm hai giai đoạn:

- Giai đoạn H-T là giai đoạn bán hàng, giai đoạn chuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá thành tiền tệ Đây là giai đoạn khó khăn nhất của các nhà sản xuất kinh doanh

- Giai đoạn T-H là giai đoạn mua hàng, giai đoạn này được thực hiện một cách dễ dàng Người có tiền chỉ cần bỏ ra một lượng tiền nhất định là có thể mua được một lượng hàng hoá nhất định

Hai giai đoạn này được tiến hành độc lập tương đối với nhau Thực hiện chức năng phương tiện lưu thông tiền phải thoả mãn các điều kiện sau:

+ Sử dụng tiền mặt: Tiền mặt là tiền đang lưu thông nó có tên gọi và tiêu chuẩn giá cả được luật pháp Nhà nước quy định

+ Có thể sử dụng dấu hiệu giá trị: Vì mục đích của bán hàng không phải là

để có tiền rồi sở hữu tiền vĩnh viễn, mà là để thực hiện việc mua hàng hoá nhằm đạt đến một giá trị sử dụng mới Tiền tệ chỉ là trung gian trong trao đổi hàng hoá, dịch vụ

+ Lưu thông chỉ chấp nhận một lượng tiền nhất định: Số lượng tiền cần thiết cho lưu thông do tổng nhu cầu giao dịch của nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ quyết định Có nghĩa là lượng tiền đưa vào lưu thông phải phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế; nếu yêu cầu này không thoả mãn sẽ gây khó khăn cho sản xuất và lưu thông hàng hoá

Ngày nay, khi nền sản xuất hàng hoá phát triển ở mức độ cao, thì lượng tiền mặt ít được sử dụng mà thay vào đó là lưu thông các công cụ thanh toán của

hệ thống tín dụng ngân hàng - thanh toán không dùng tiền mặt)

3.3 - Chức năng phương tiện thanh toán

Trang 7

Thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền dùng để chi trả các khoản giao dịch, mua bán hàng hoá, dịch vụ, thanh toán công nợ…

Khi thực hiện chức năng này, tiền tệ không làm trung gian trong quá trình trao đổi mà nó hoàn thành quá trình này một cách độc lập tương đối so với sự vận động của hàng hoá cả về không gian và thời gian Thực hiện chức năng này

có thể sử dụng tiền mặt hoặc dấu hiệu giá trị Chức năng phương tiện thanh toán

có tác dụng tích cực là thúc đẩy quá trình tiêu thụ hàng hoá, kích thích sản xuất

và lưu thông hàng hoá phát triển

3.4 Chức năng tiền tệ cất trữ (cất trữ giá trị)

Thực hiện chức năng phương tiện cất trữ, tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông và trở về trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu tiêu dùng trong tương lai Thực hiện chức năng này chỉ có thể là tiền đủ giá trị (vàng) Ngày nay việc cất trữ giá trị được thực hiện bằng nhiều phương tiện khác nhau Nhưng các phương tiện cất trữ phải thoả mãn các điều kiện sau:

- Giá trị cất trữ phải được thể hiện bằng những phương tiện hiện thực có thể cân đong đo đếm được chứ không phải là lượng tiền tưởng tượng

- Giá trị cất trữ phải là những phương tiện được xã hội thừa nhận

- Giá trị cất trữ phải có thời hạn, tuỳ thuộc vào thời gian sẽ sử dụng giá trị

cất trữ dài hay ngắn để lựa chọn các phương tiện cất trữ thích hợp

3.5 Chức năng tiền tệ thế giới

Cùng với sự phát triển các quan hệ kinh tế, chính trị và ngoại giao giữa các quốc gia, quan hệ về tiền tương ứng cũng được mở rộng và phát triển

Thực hiện chức năng tiền tệ thế giới, tiền được sử dụng làm phương tiện thanh toán, chi trả chung giữa các quốc gia

Thực hiện chức năng này chỉ có thể là vàng với trọng lượng và hàm lượng xác định Tuy nhiên, ngày nay trên trường quốc tế vàng ít được lưu thông; nó chỉ được sử dụng khi cán cân thanh toán giữa các quốc gia bị thâm hụt Thực hiện chức năng tiền tệ thế giới là các đồng tiền mạnh như: USD, GBP, JPY, EURO…

4- Vai trò của tiền tệ

Trang 8

Tiền tệ là sản phẩm của kinh tế hàng hoá Trong nền kinh tế thị trường tiền tệ có các vai trò sau:

4.1 Tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng sản xuất và trao đổi

hàng hoá, cụ thể:

- Tiền làm cho giá trị hàng hoá được biểu hiện một cách đơn giản Mỗi hàng hoá được biểu hiện giá trị của mình bằng một số tiền nhất định, qua đó người sản xuất có thể so sánh với nhau về mức độ và trình độ lao động của mình đã bỏ ra cho xã hội trong một đơn vị thời gian

- Tiền tệ làm cho giá trị hàng hoá được thực hiện một cách thuận lợi Người sở hữu hàng hoá chỉ cần chuyển đổi hàng hoá của mình bằng một số tiền nhất định rồi từ đó đạt tới một giá trị sử dụng mới một cách dễ dàng

- Tiền tệ làm cho việc trao đổi hàng hoá không bị phụ thuộc vào không gian và thời gian Chính vì lẽ đó mà sự lựa chọn của những người tham gia vào quá trình trao đổi trở nên thận trọng và chính xác hơn

- Tiền tệ làm cho việc hạch toán kinh doanh được thực hiện thuận tiện, chính xác và hiệu quả

Ví dụ: Để sản xuất 1 sản phẩm A, doanh nghiệp X, tập hợp được chi phí và kết quả như sau:

Tiền Nguyên vật liệu: 150.000đ Tiền công sản xuất sản phảm: 50.000đ Khấu hao máy móc, thiết bị: 20.000đ Chi phí quản lý: 20.000đ Cộng giá thành toàn bộ : 240.000đ Giá bán: 320.000đ

Lợi nhuận trước thuế: 60.000đ

4.2- Tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng quan hệ hợp tác quốc

tế

Cùng với quan hệ ngoại thương, các quan hệ thanh toán tín dụng quốc tế, tiền tệ là phương tiện thực hiện và mở rộng quan hệ quốc tế Thông qua vai trò

Trang 9

này, tiền tệ thúc đẩy xu hướng hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, đầu tư… giữa các quốc gia ngày càng mở rộng và phát triển (Xuất khẩu, nhập khẩu, thanh toán quốc tế…)

4.3 Tiền tệ là phương tiện phục vụ mục đích của người sở hữu tiền

Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp kể cả Nhà nước muốn đạt được mục đích của mình đều phải sử dụng tiền tệ

Tiền tệ là công cụ có quyền lực mạnh mẽ để xử lý và giải quyết các ràng buộc phát sinh trong quan hệ kinh tế xã hội, không những ở phạm vi quốc gia

mà còn ở cả phạm vi quốc tế

II- Các chế độ lưu thông tiền tệ

Sự phát triển của chế độ lưu thông tiền tệ không những tuỳ thuộc vào sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia mà còn được quyết định bởi trình độ tổ chức Nhà nước

Trong lịch sử phát triển của tiền tệ, chế độ lưu thông tiền tệ đã trải qua nhiều loại hình và xu hướng chung là ngày càng được hoàn thiện

1 Chế độ lưu thông tiền kim loại

Chế độ lưu thông tiền kim loại lấy kim loại làm thước đo giá trị và phương tiện lưu thông

Việc lưu thông tiền đúc bằng kim loại có giá trị thấp: đồng, chì, nhôm….tồn tại trong một thời gian dài ở hầu hết các quốc gia

Đầu thế kỷ 20, kim loại quý: Bạc, vàng dần chiếm vị trí độc tôn - Nó được gọi là kim loại tiền tệ (bao gồm chế độ bản vị bạc: Bạc làm thước đo giá trị và phương tiện lưu thông; chế độ song bản vị: lưu thông tiền bạc, vàng; chế độ bản

vị vàng: vàng là thước đo giá trị)

2 Chế độ lưu thông tiền dấu hiệu

* Khái niệm

Trang 10

Tiền dấu hiệu (dấu hiệu giá trị) là loại tiền không có giá trị nội tại, mà chỉ

có giá trị danh nghĩa theo luật định thay thế tiền đủ giá trị (tiền vàng) trong lưu thông; chúng chỉ thực hiện được chức năng phương tiện lưu thông và chức năng phương tiện thanh toán

* Các loại tiền dấu hiệu

- Tiền giấy Tiền giấy được phát hành thay thế cho tiền vàng đã từng tồn tại trong lưu thông Nó là đại biểu cho tiền vàng để thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán.Tiền giấy do Ngân hàng Trung ương phát hành thống nhất trong cả nước với các tên gọi và mệnh giá khác nhau theo bội số và ước số

- Các loại dấu hiệu giá trị khác + Séc các loại

+ Thương phiếu + Tín phiếu + Chứng chỉ tiền gửi + Cổ phiếu, trái phiếu

* Ý nghĩa của tiền dấu hiệu

- Lưu thông tiền dấu hiệu sẽ khắc phục được tình trạng thiếu phương tiện lưu thông: Trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển, khối lượng hàng hoá dịch vụ trao đổi tăng lên Sự gia tăng khối lượng trao đổi hàng hoá dịch

vụ đòi hỏi khối lượng tiền tăng lên tương ứng; Nếu chỉ sử dụng tiền kim loại quý để lưu thông sẽ không đáp ứng được nhu cầu thanh toán chi trả trong nền kinh tế

- Lưu thông tiền dấu hiệu sẽ tiết kiệm được chi phí lưu thông xã hội: do lưu thông tiền dấu hiệu sẽ loại trừ được sự hao mòn vàng Mặt khác, do tiền dấu hiệu có nhiều mệnh giá khác nhau nên việc thanh toán trao đổi được thuận lợi, nhanh chóng, chi phí phát hành tiền dấu hiệu thấp nên tiết kiệm được chi phí lưu thông

Ngày đăng: 01/04/2021, 14:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm