Cấp ủy, chỉ huy các doanh nghiệp và đơn vị có doanh nghiệp quán triệt sâu sắc, tạo sự thống nhất, đồng thuận cao và triển khai thực hiện có hiệu quả chủ trương, giải pháp lãnh đạo, c[r]
Trang 1TÓM TẮT
Thực hiện chủ trương “kết hợp kinh tế
với quốc phòng” và “tích cực hội nhập kinh
tế quốc tế” của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Quân đội có nhiệm vụ tổ chức ra các doanh
nghiệp kinh tế quốc phòng Trong những năm
qua, các doanh nghiệp quân đội đã đạt được
nhiều kết quả sản xuất kinh doanh tốt và có
thương hiệu trên trường quốc tế Hội nhập
kinh tế quốc tế mang lại cho doanh nghiệp quân đội nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn Do vậy, cần thiết phải đánh giá thực trạng và chỉ ra những biện pháp để sắp xếp lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp quân đội trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Từ khóa: Doanh nghiệp quân đội; sắp
xếp; đổi mới; hội nhập; kinh tế quốc tế
SẮP XẾP, ĐỒI MỚI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP QUÂN ĐỘI - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Lê Duy Dũng *
*Khoa Kinh tế chính trị học Mác - Lênin, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng; ĐT: 0973331386; Email: leduydung.hvct@gmail.com
ARRANGING, RENEWING AND ENHANCE EFFICIENT EFFICIENCY
OF MILITARY ENTERPRISES - PATTERNS AND SOLUTIONS
ABSTRACT
Implementing the policy of “combining
economy with defence” and “actively
integrating into the international economy”
of the Communist Party of Vietnam, the
Army is tasked to found defense economics
enterprises In the last years, the military
business has achieved good business results
and created their fame in the international
arena International economic integration
brings to the military business a lot of advantages and disadvantages Therefore, it
is necessary to evaluate the situation and to identify measures to rearrange, renovate and improve the operation eficiency of military enterprises in the process of international economic integration.
Keywords: Military business; arrange;
innovate; integration; international
economic
1 ĐẶT VẤN ĐỀ:
Sau một thời gian dài Quân đội tham gia
thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh,
xây dựng kinh tế theo chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các
Trang 2doanh nghiệp quân đội (DNQĐ) cần phải xây
dựng theo hướng “tinh - gọn - mạnh” cho phù
hợp yêu cầu, nhiệm vụ kinh tế, quân sự, quốc
phòng và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
trong tình hình mới Để hoàn thành tốt nhiệm
vụ chính trị trung tâm của mình, DNQĐ phải
tiến hành sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả
hoạt động
2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
DNQĐ THỜI GIAN QUA
2.1 Những thành tựu đạt được
Các DNQĐ quán triệt đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước về phát triển kinh tế kết hợp với
tăng cường, củng cố quốc phòng và sắp xếp,
đổi mới doanh nghiệp nhà nước Quân ủy
Trung ương, Bộ Quốc phòng đã và đang điều
chỉnh sắp xếp, đổi mới DNQĐ, tập trung vào
những ngành, lĩnh vực then chốt phục vụ
nhiệm vụ quân sự, quốc phòng Có thể kể đến
một số kết quả nổi bật như sau:
Một là, đã giảm số lượng DNQĐ từ 305
doanh nghiệp (năm 2000) xuống còn 88
doanh nghiệp độc lập thuộc loại hình công ty
TNHH MTV Nhà nước nắm giữ 100% vốn
(tính đến ngày 31/12/2016): Công ty Trường
An/Bộ tổng Tham mưu; Công ty mẹ - TCT
36, Công ty 36.55/TCT 36; Công ty ICD Tân
Cảng - Sóng Thần/TCT Tân Cảng Sài Gòn/
Quân chủng Hải quân; Công ty 711/TCT 15;
Công ty Du lịch Trường Sơn/TCT Hợp tác
kinh tế/Quân khu 4; Công ty 28.1/TCT 28/
Tổng cục Hậu cần; Công ty 185/Tổng công
ty Xây dựng Trường Sơn; Công ty 319.1,
Công ty 319.2, Công ty 319.5, Công ty 319
Miền Trung/TCT 319; Công ty 117/TCT
Thành An; Công ty Đầu tư phát triển nhà
MHDI2/TCT Đầu tư phát triển nhà và Đô
thị BQP; Công ty Vatuco 378/Công ty Vạn
Tường/Quân khu 5; Công ty Dệt may 7/Công
ty Đông Hải ; Hoàn thành xác định giá trị
12 doanh nghiệp: Công ty Quản lý nhà và Dịch vụ đô thị/TCT Đầu tư phát triển nhà và
Đô thị BQP; Công ty 17, Công ty 145, Công
ty 532, Công ty Khảo sát thiết kế xây dựng/ TCT Xây dựng Trường Sơn; Công ty Đồng Tân, Công ty Minh Thành/Quân khu 7; Công
ty 29/TCT 319; Công ty Xuân Khánh/Công
ty 622/Quân khu 9; Công ty Hùng Vương/ Quân khu 5; Công ty Trường Thành/Bộ đội
Biên phòng, TCT Xăng dầu Quân đội; Giải
thể 03 doanh nghiệp: Công ty 7-5/Quân khu
7, Công ty 621/Quân khu 9, Công ty Xi măng Thanh Sơn/Quân khu 4)
Hai là, mặc dù phải đối mặt với nhiều
khó khăn khách quan, nhưng nhìn chung, sau khi được tổ chức, sắp xếp lại, chuyển đổi (cổ phần hóa), các DNQĐ có sự phát triển tương đối ổn định, hoạt động sản xuất kinh doanh đúng quy định của Pháp luật và của Bộ Quốc phòng; đã phát huy tốt tính năng động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh; đang từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn và nâng cao trình
độ quản lý, nhằm giảm thiểu chi phí; sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm chất lượng cao phục vụ quốc phòng và xã hội; tạo việc làm, thu nhập ổn định cho hàng vạn lao động và đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước Các chỉ tiêu chủ yếu đều tăng như: tổng số vốn nhà nước tăng gần 16,5 lần; doanh thu tăng
18 lần; lợi nhuận trước thuế tăng 49,4 lần; nộp ngân sách tăng 18,9 lần Chỉ tính riêng năm 2016, tổng doanh thu của các DNQĐ đạt gần 350 nghìn tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt hơn 43 nghìn tỷ đồng; nộp ngân sách Nhà nước hơn 40 nghìn tỷ đồng Thu nhập bình quân người lao động trong toàn doanh nghiệp quân đội đạt 11,832 triệu đồng/người/tháng,
Trang 3tăng 17,1% so với năm 2015 (10,874 triệu
đồng/ngưòi/tháng)
Ba là, các DNQĐ đã và đang khẳng định
vị thế trong nền kinh tế, đóng góp tích cực
vào sự ổn định, phát triển kinh tế vĩ mô, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và bảo
đảm an sinh xã hội Hàng năm, các DNQĐ
vẫn duy trì được nhịp độ phát triển ổn định,
hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh,
đóng góp cho ngân sách Nhà nước trên 2 tỷ
USD Dù số lượng không quá nhiều nhưng
các DNQĐ đang giữ vị thế lớn ở nhiều lĩnh
vực Do đặc thù hoạt động, các tập đoàn, tổng
công ty thuộc Bộ Quốc phòng hoạt động trên
rất nhiều lĩnh vực khác nhau từ công nghiệp
đến nông nghiệp và dịch vụ như: viễn thông,
tài chính, logistics, bay, xây dựng, bất động sản, cơ khí, xăng dầu, cho tới nông nghiệp… Đặc biệt, trong đó có nhiều DNQĐ xây dựng được thương hiệu mạnh; giữ vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân và lực lượng dự bị
vị thế của doanh nghiệp Quân đội đối với sự phát triển chung của đất nước
Đứng đầu trong danh sách này là Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) Dù chỉ
là doanh nghiệp duy nhất của Bộ Quốc phòng hoạt động trong lĩnh vực viễn thông nhưng Viettel lại là đơn vị đang giữ vị thế lớn nhất trên thị trường và tạo sự cách biệt lớn với hai nhà mạng đứng sau là VinaPhone và Mobifone (Hình 1)
Hình 1: Doanh thu và lợi nhuận của “3 ông lớn” viễn thông,
6 tháng đầu năm 2017 (tỷ đồng)
Nguồn: http://vneconomy.vn, 2017
Năm 2016, Viettel đạt hơn 226.000 tỷ
đồng doanh thu, xấp xỉ 10 tỷ USD và hơn
43.000 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế Tổng
doanh thu của Viettel cũng gấp gần 3 lần
doanh thu của VinaPhone và Mobifone cộng
lại, đồng thời là đơn vị đang đóng góp vào ngân sách lớn nhất trong số các doanh nghiệp quốc phòng, đạt trên 40.000 tỷ đồng Không chỉ ở thị trường trong nước, Viettel cũng là một trong số ít doanh nghiệp Việt Nam có
Trang 4hoạt động ra nước ngoài Tính đến năm 2016,
Tổng công ty Đầu tư quốc tế Viettel (Viettel
Global) - công ty con của Viettel, có 35 triệu
thuê bao trên 9 thị trường quốc tế, cung cấp
dịch vụ tới khách hàng trải dài từ châu Á,
châu Phi và châu Mỹ Kết thúc năm, doanh
nghiệp này đạt hơn 15.300 tỷ đồng doanh
thu, nhưng báo lỗ hơn 3.000 tỷ đồng do tỷ
giá, chủ yếu tại thị trường Mozambique
Một cái tên thường được nhắc đến ngay sau
Viettel là Ngân hàng Quân đội (MB) Nhà
băng này cũng thuộc top một trong những
ngân hàng lớn nhất hiện nay và được xét
trong nhóm “Big 4” của thị trường Được niêm yết từ năm 2011 nhưng phải đến đầu năm 2017 và đặc biệt là cuối tháng 5/2017,
cổ phiếu MBB mới thực sự thăng hoa và đưa vốn hóa thị trường của Ngân hàng Quân đội lên hơn 38.000 tỷ đồng Tính đến cuối quý I/2017, MB đạt tổng tài sản hơn 250.000 tỷ với vốn điều lệ hơn 17.000 tỷ đồng Năm
2016, tăng trưởng tín dụng của ngân hàng này cũng đạt tới 24% - cao nhất trong số các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam MB không tạo ấn tượng bởi sự phát triển nóng mà là sự
ổn định, vững chắc (Hình 2)
Hình 2: Kết quả kinh doanh của Ngân hàng MB, 2010 - quý I/2017 (tỷ đồng)
Nguồn: http://news.zing.vn, 2017
Trong lĩnh vực Logistics, Tổng công ty
Tân cảng Sài Gòn giữ thị phần container xuất
nhập khẩu trên 85% khu vực phía Nam và
gần 50% thị phần cả nước Doanh nghiệp này
ghi nhận hơn 17.200 tỷ đồng doanh thu và
gần 2.000 tỷ đồng lợi nhuận trong năm 2016,
với hệ thống 19 cảng biển tại TP HCM, Vũng
Tàu, Quy Nhơn, Hải Phòng… Sản lượng xếp
dỡ ngày càng lớn (Hình 3)
Bón là, các khu kinh tế - quốc phòng đã
và đang phát huy hiệu quả to lớn về nhiều mặt, đi vào thực chất, sát với người dân hơn, phát huy tốt nguồn lực đội ngũ tri thức trẻ tình nguyện; thực sự là nhân tố quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh trên các địa bàn chiến lược của đất nước
Trang 5Năm là, những năm qua, Binh đoàn 15,
Binh đoàn 16 với tư cách là hai doanh nghiệp
kinh tế quốc phòng, đứng chân trên địa bàn
chiến lược, đã kết hợp tốt giữa kinh tế với
quốc phòng, quốc phòng với kinh tế góp
phần quan trọng vào ổn định phát triển kinh
tế - xã hội, phân bổ lại cơ cấu kinh tế, dân cư,
xóa đói giảm nghèo; tăng cường quốc phòng
- an ninh trên địa bàn
2.2 Những hạn chế, yếu kém còn tồn tại
Bên cạnh những điểm sáng nêu trên, quá
trình hoạt động của các DNQĐ vẫn tồn tại
những hạn chế cơ bản sau:
Một là, tiến độ sắp xếp, đổi mới nhất là
việc cổ phần hóa doanh nghiệp còn chậm,
chưa gắn chặt chẽ với công tác tổ chức lực
lượng; số lượng doanh nghiệp 100% vốn nhà
nước vẫn còn nhiều, có nhiều doanh nghiệp
quy mô nhỏ, cùng ngành nghề, hoạt động
trên cùng địa bàn; cơ cấu doanh nghiệp chưa
hợp lý; công tác sắp xếp chưa gắn với công tác tổ chức lực lượng; còn 14 doanh nghiệp trong tổng số 51 doanh nghiệp mà Bộ Quốc phòng phải hoàn thành cổ phần hóa đến hết năm 2016; còn 07 doanh nghiệp/ 21 Công ty
Cổ phần chưa triển khai thực hiện thoái vốn; chưa hoàn thành điều chuyển nguyên trạng 2/5 doanh nghiệp; chưa hoàn thành giải thể 02/05 doanh nghiệp
Hai là, công tác quản lý tài chính, quản trị
doanh nghiệp ở một số doanh nghiệp còn hạn chế, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, tiềm
ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn về tài chính
Ba là, công tác quản lý, sử dụng đất quốc
phòng vào mục đích kinh tế của một số cơ quan, đơn vị, một số doanh nghiệp chưa đúng
và thiếu chặt chẽ, gây lãng phí nguồn lực Việc giải quyết chế độ chính sách cho quân nhân và người lao động khi sắp xếp, cổ phần hóa còn vướng mắc, bất cập
Hình 3: Sản lượng xếp dỡ của Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn, 2006 - 2016 (DWT)
Nguồn: https://saigonnewport.com.vn, 2017
Trang 6Bốn là, một số DNQĐ đứng chân trên
địa bàn chiến lược chưa cân đối được nhiệm
vụ sản xuất, kinh doanh với nhiệm vụ quân
sự, quốc phòng, nhiều khi nhiệm vụ quân sự,
quốc phòng bị xem nhẹ; hoạt động chủ yếu
trên lĩnh vực trồng cây công nghiệp dài ngày,
quản lý sử dụng diện tích lớn dễ dẫn đến mâu
thuẫn trong tranh chấp đất đai, mức độ rủi ro
trong kinh doanh cao
Năm là, một số DNQĐ qua thời gian dài
hoạt động, để lại nhiều tồn đọng về tài chính,
đến nay chưa giải quyết được; đặc biệt các
DNQĐ hoạt động lưỡng dụng, xây dựng,
thương mại, dịch vụ có hệ số nợ phải trả/vốn
chủ sở hữu lớn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất
an toàn về tài chính; cá biệt, có những doanh
nghiệp phải nợ lương, bảo hiểm xã hội của
người lao động, nợ thuế, dẫn đến thua lỗ, phá
sản… như: các công ty Hà Thành, Tây Bắc,
Việt Bắc, Hùng Vương, các công ty cổ phần
Xi-măng 77, Xi-măng X18…
3 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM
SẮP XẾP, ĐỒI MỚI VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DNQĐ
3.1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của
cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy cơ quan,
đơn vị, doanh nghiệp trong tổ chức thực hiện
sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp theo đúng
mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, kế hoạch đã
xác định
Cấp ủy, chỉ huy các doanh nghiệp và đơn
vị có doanh nghiệp quán triệt sâu sắc, tạo sự
thống nhất, đồng thuận cao và triển khai thực
hiện có hiệu quả chủ trương, giải pháp lãnh
đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc
phòng về sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp Quân đội Đẩy
mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền, định
hướng tư tưởng để cán bộ, đảng viên và người
lao động, nhất là các doanh nghiệp thuộc diện
cơ cấu lại, sáp nhập, cổ phần hóa, thoái vốn và giải thể nhận thức đầy đủ, thực hiện đúng quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước và Quân ủy Trung ương; kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng ngại đổi mới, né tránh cồ phần hóa
3.2. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện sắp
xếp, đổi mới doanh nghiệp phù hợp với Đề
án điều chỉnh tổ chức lực lượng Quân đội, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 520-NQ/ QUTW ngày 25/9/2012 của Quân ủy Trung ương “về lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng của Quân đội đến năm 2020”; nghiên cứu sáp nhập, cơ cấu lại doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng có cùng ngành nghề hoạt động thành doanh nghiệp có quy mô lớn, hợp lý, thương hiệu mạnh, phát huy thế mạnh của các doanh nghiệp Quân đội, đáp ứng yêu cầu kết hợp kinh tế với quốc phòng Thực hiện cổ phần hóa đồng bộ các doanh nghiệp (cả công
ty mẹ và công ty con) bảo đảm tập trung vốn
và vai trò quản trị, điều hành cho công ty mẹ Kiên quyết cổ phần hóa, thoái vốn triệt để đối với các doanh nghiệp ít liên quan đến nhiệm
vụ quân sự, quốc phòng; trường hợp không cổ phần hóa được hoặc sản xuất, kinh doanh thua
lỗ kéo dài, mất cân đối về tài chính nghiêm trọng thì giải thể hoặc phá sản theo quy định của pháp luật
3.3 Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sau sắp xếp, đổi mới và cổ phần hóa
Xây dựng cơ chế lãnh đạo, hoạt động giữa cấp ủy đảng, hội đồng thành viên, hội đồng quản trị bảo đảm doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và phát triển Chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
Trang 7bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sắp xếp, đổi
mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các
doanh nghiệp; thực hiện chặt chẽ việc đánh
giá, bổ nhiệm và phát huy tốt vai trò người
quản lý, người đại diện theo đúng các quy
định của Pháp luật
Xây dựng chiến lược phát triển sản xuất,
kinh doanh; đổi mới mô hình tổ chức, cơ chế
quản lý doanh nghiệp hợp lý, sát với từng
ngành nghề, lĩnh vực, bảo đảm chức năng chủ
sở hữu của Bộ Quốc phòng đối với các doanh
nghiệp Đầu tư hợp lý vốn, công nghệ, nhân
lực cho các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh
có uy tín, thương hiệu mạnh để nâng cao hiệu
quả sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh
tranh, hội nhập quốc tế Bảo đảm nguồn kinh
phí cho việc xử lý tài chính trong quá trình
sắp xếp, cổ phần hóa, giải thể, sáp nhập doanh
nghiệp; tiếp tục đảm bảo các nguồn lực về tài
chính để đầu tư phát triển các doanh nghiệp
quốc phòng, an ninh Đổi mới, nâng cao quản
trị doanh nghiệp theo hướng hiện đại, sớm
thực hiện tách chức năng quản lý nhà nước,
đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước của các
cơ quan, đơn vị với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp theo đúng chỉ đạo
của Chính phủ Chủ động liên doanh, liên kết
với các doanh nghiệp trong và ngoài quân
đội để sản xuất, cung ứng sản phẩm phục vụ
quốc phòng, tìm kiếm, mở rộng thị trường,
tiêu thụ sản phẩm Tăng cường công tác kiểm
tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán, bảo đảm
công khai, minh bạch thông tin doanh nghiệp
theo quy đinh; quản lý chặt chẽ phần vốn nhà
nước, cơ sở vật chất và đất quốc phòng, nhất
là các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa,
không để xảy ra thất thoát vốn, tài sản của
Nhà nước và Quân đội; chống tiêu cực và lợi
ích nhóm, kiên quyết xử lý các doanh nghiệp
thua lỗ, các dự án đầu tư không hiệu quả
3.4 Tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại, xúc tiến thương mại, đầu tư và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
Các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng và các doanh nghiệp Quân đội tiếp tục quán triệt, nắm vững Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị khoá XI, Nghị quyết số
806 của Quân uỷ Trung ương “về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm
2020 và những năm tiếp theo” Trên cơ sở
đó, nghiên cứu, rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách phù hợp với tình hình và tổ chức hoạt động kinh tế đối ngoại của doanh nghiệp Quân đội, bảo đảm hiệu quả; chủ động mở rộng quan hệ thương mại quân sự, xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch kết hợp hoạt động đối ngoại quốc phòng với hoạt động kinh tế đối ngoại theo định hướng của Đảng, Nhà nước
3.5 Tiếp tục thực hiện tốt việc quản
lý, sử dụng đất quốc phòng vào mục đích kinh tế
Các cơ quan, đơn vị toàn quân và các DNQĐ quán triệt thực hiện nghiêm quy định của Luật Đất đai, chủ trương của Thường vụ Quân ủy Trung ương và các quy định của Bộ Quốc phòng về công tác quản lý, sử dụng đất quốc phòng vào mục đích kinh tế Thực hiện nghiêm Nghị quyết của Thường vụ Quân ủy Trung ương về lãnh đạo công tác quản lý, sử dụng đất đến năm 2020 và những năm tiếp theo; Kết luận của Thường vụ Quân ủy Trung ương về quản lý và sử dụng đất quốc phòng vào mục đích kinh tế Trong đó, tập trung rà soát chặt chẽ từng dự án chưa ký hợp đồng,
dự án không triển khai thực hiện Trường hợp
để đất trống phải hoàn chỉnh hồ sơ thu hồi kịp thời để sử dụng lâu dài cho mục đích quốc phòng hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng phù hợp