1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Một số vấn đề tín dụng ngân hàng thương mại đối với kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay - Trường Đại Học Quốc Tế Hồng Bàng

6 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 292,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2016 là năm đánh dấu sự bùng nổ của phát triển doanh nghiệp, để nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội cần xóa bỏ các rào cản, chính sách, các biện pháp hành chính can th[r]

Trang 1

TÓM TẮT

Trong quá trình khởi xướng và lãnh đạo

sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã nhận thức ngày

càng đầy đủ hơn về kinh tế tư nhân cả về lý

luận và thực tiễn Phương thức quản lý của

nhà nước đối với các thành phần kinh tế nói

chung và kinh tế tư nhân nói riêng là mở rộng

khả năng (cơ hội) tham gia thị trường và thúc

đẩy sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành

phần kinh tế phù hợp với kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu của bài viết này là nghiên cứu

đầu tư tín dụng của ngân hàng đối với kinh

tế tư nhân ở Việt Nam trong thời gian qua

Phương pháp nghiên cứu của bài viết đi theo

cách tiếp cận hệ thống cả về lý luận và thực tiễn, trong phân tích, tổng hợp và phát triển các ý tưởng của vấn đề nghiên cứu một cách khách quan Kết quả đạt được của bài viết

là đánh giá thực trạng cấp tín dụng cho khu vực kinh tế tư nhân trong thời gian qua của Ngân hàng thương mại vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó Trên cơ sở

đó thực hiện tốt, nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, xóa bỏ mọi rào cản, sự bất bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực xã hội, trọng tâm là vốn nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của kinh tế tư nhân hiện nay.

Từ khóa: kinh tế tư nhân, tín dụng ngân

hàng.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

ĐỐI VỚI KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

SOME PROBLEMS OF COMMERCIAL BANKING CREDIT

FOR PRIVATE ECONOMY IN VIETNAM

ABSTRACT

In the process of initiating and leading

economic reform, our Communist Party

has been fully awared,both in theory and

in practice,about the private economy The

State manner of managementto the economic

sectors generally and private sector

particularlywas to open the opportintity

ofaccessment to the markets, promote the fair

competition among all the economic sectors

and in alignment with the market economy toward the socialistism.

The objective of this article is to study the investments and credits fromthe state-owned commercial banks to the private sector in Vietnam in the recent times The research methodology followed a systematic approach, in both theoretical and practical ways,whichexpressed in the analysis, synthesis and initiationsinthis article The result of this article was the

* TS GV Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM

Trang 2

current assessment of the creditsgrantedto

the private sector in the recent timesfrom

the State-owned commercial banks, in

which it remained limits, uncertaintiesand

their causes On that basis, thereis still a

need toimplement consistentlythe

multi-sectoral economic policiesand remove all the barriers and inequalities in accessing social resources, with capital as a focus, to improve production and business eficiencyof the private economy nowsaday.

Keywords: private economy, bank credit

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong sự nghiệp đổi mới, dưới sự tác động

của việc thay đổi về đường lối phát triển kinh

tế xã hội của Đảng và nhà nước, nhất là từ

khi có Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư

nhân ra đời, hàng ngàn, hàng vạn các doanh

nghiệp tư nhân được thành lập, hoạt động sản

xuất kinh doanh trong các ngành nghề khác

nhau

Việc chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế

kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước

nhằm khuyến khích tất cả các thành phần

kinh tế tham gia phát triển kinh tế đất nước,

với phương châm mọi thành phần kinh tế đều

bình đẳng, hoạt động trong khuôn khổ pháp

luật Nhà nước kiểm soát và điều tiết hoạt

động kinh tế thông qua công cụ quản lý vĩ

mô bằng các chính sách kinh tế, trong đó có

chính sách tín dụng cho nền kinh tế, một nội

dung quan trọng của chính sách tài chính tiền

tệ quốc gia

2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ

NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ VAI TRÒ CỦA

KINH TẾ TƯ NHÂN

Đại hội Đại biểu toàn quốc của đảng

Cộng Sản Việt Nam lần thứ XII năm 2016

đã xác định rõ vai trò động lực của kinh tế tư

nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Nghị quyết hội nghị lần thứ

V Ban chấp hành Trung ương khóa XII năm

2017 với quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế

tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là

một yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa

lâu dài, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nền tảng, nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền vững, đa dạng trên nhiều lĩnh vực, trong nhiều ngành nghề với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy

mô và chất lượng

3 THỰC TRANG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẤP TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CHO KHU VỰC KINH TẾ

TƯ NHÂN TRONG THỜI GIAN QUA

Năm 2016 là năm đánh dấu sự tăng trưởng nhanh về số lượng doanh nghiệp thành lập mới, cả nước có 110.100 doanh nghiệp ra đời với số vốn đăng ký hơn 891.000 tỷ đồng Theo số liệu của cục đăng ký doanh nghiệp thuộc Bộ kế hoạch và đầu tư số doanh nghiệp đang hoạt động tính đến cuối năm

2016 là 599.600 doanh nghiệp, tăng 11,9%

so với cuối năm 2015 Kết quả tích cực của khởi nghiệp trong năm 2016 cho thấy tổng

số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng so với các năm trước Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 16,2% , số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 24,1% , đây là tốc độ tăng khá cao, tạo tiền đề cho thực hiện mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh

tế thị trường vào năm 2020 Có thể nói sự

ra đời và phát triển của kinh tế tư nhân là

Trang 3

một thị trường quan trọng cho các ngân hàng

thương mại đầu tư tín dụng vào khu vực kinh

tế động lực này

Thời gian vừa qua chính sách tín dụng

của các ngân hàng thương mại thể hiện một

bước bình đẳng giữa các thành phần kinh tế,

trong đó chính sách lãi suất được chuyển từ

lãi suất thực âm sang lãi suất thực dương,

từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý bao cấp cho

doanh nghiệp nhà nước qua ngân hàng bằng

việc tách chức năng quản lý ngân sách của

kho bạc ra khỏi ngân hàng, đồng thời thay

thế phương thức cấp vốn cho doanh nghiệp

nhà nước dưới hình thức cấp tín dụng trong

và ngoài định mức vốn lưu động (lãi suất

thỏa thuận của ngân hàng thương mại) bằng

phương thức cấp tín dụng cho mọi thành

phần kinh tế theo cùng khung lãi suất cho các

ngành, các khu vực kinh tế

Mức vốn cho vay của các ngân hàng

thương mại (cấp tín dụng cho một doanh

nghiệp) căn cứ vào tính chất hoạt động của

doanh nghiệp (khả năng quay vòng vốn) và

căn cứ vào vốn tự có của doanh nghiệp đi vay

Từ khi chuyển hệ thống ngân hàng thành

hai cấp cho phù hợp với nền kinh tế thị

trường, các ngân hàng thương mại chuyển

sang hạch toán kinh doanh độc lập, không

còn cho vay ưu đãi đối với các doanh nghiệp

nhà nước đi vay theo tỷ lệ giữa vốn vay và

vốn tự có cao như trước kia nữa Chữ tín của

các doanh nghiệp đi vay được đặt lên hàng

đầu, bởi lẽ chính các ngân hàng thương mại

cũng là một đơn vị kinh doanh tự chịu trách

nhiệm về lỗ, lãi Tuy nhiên chính sách cấp tín

dụng và điều kiện cho vay chưa được chuẩn

hóa bằng pháp luật hoặc bằng một quy định

cụ thể Về nguyên tắc và điều kiện cho vay

được điều chỉnh theo quy luật cung cầu tiền

tệ trên thị trường và quan hệ chặt chẽ với

chính sách lãi suất

Tuy nhiên thực trạng cấp tín dụng cho kinh tế tư nhân của các ngân hàng thương mại trong thời gian qua, theo số liệu từ ngân hàng nhà nước, thì thực tế dư nợ cho vay của kinh tế tư nhân còn chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay và đa số các doanh nghiệp

tư nhân chỉ được cấp tín dụng bằng tiền Việt Nam Đồng, ít có doanh nghiệp tư nhân được cấp tín dụng bằng ngoại tệ mạnh, trong khi

đó có đến trên 50% doanh nghiệp tư nhân mở tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng

Ở một góc độ khác, kinh tế tư nhân còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế được cho vay dài hạn và cho vay vốn cố định Hiện nay, mặc dù đã có sự đổi mới trong chính sách tiền tệ tín dụng và ngân hàng, chính sách cho vay đối với các doanh nghiệp Nhưng

hệ thống ngân hàng thương mại nói chung

và ngân hàng thương mại nhà nước nói riêng chưa thực sự đẩy mạnh đầu tư tín dụng vào thị trường nhiều tiềm năng này Điều này được giải thích bằng sự nghèo nàn, đơn điệu trong việc áp dụng các loại hình cho vay đối với kinh tế tư nhân

Mặt khác, trong lĩnh vực cho vay ngắn hạn, ngân hàng cũng chưa mở rộng các phương thức cho vay linh động, thích hợp với các nhu cầu cụ thể, cũng như đối với từng doanh nghiệp cụ thể Cách cho vay duy nhất hiện nay mà các ngân hàng đang áp dụng đối với kinh tế tư nhân là cho vay thông thường, theo đó khi doanh nghiệp có nhu cầu vay thì phải làm đề nghị cấp tín dụng, phải giải trình mục đích sử dụng tiền vay cùng kế hoạch trả nợ, sau đó ngân hàng và khách hàng thỏa thuận với nhau về lãi suất cụ thể và ký hợp đồng tín dụng

Việc xét duyệt mức vốn cho vay hầu hết các ngân hàng thương mại đều chỉ căn cứ vào tài sản thế chấp, cầm cố để tính toán mức cho vay (thường bằng 60-70% giá trị thị trường

Trang 4

của tài sản thế chấp, cầm cố), chưa coi trọng

căn cứ vào uy tín kinh tế cũng như những

chỉ tiêu phản ánh tiềm năng của từng doanh

nghiệp

Về lãi suất cho vay, ngân hàng thương

mại căn cứ vào mức lãi suất quy định của

ngân hàng nhà nước cộng với một phần lãi để

cho phù hợp với tình hình huy động vốn cụ

thể của từng ngân hàng

Về cách cho vay hiện nay của ngân hàng

thương mại đối với kinh tế tư nhân còn bộc

lộ nhiều tồn tại cần được quan tâm khắc phục

như:

- Cách cho vay còn đơn giản và hạn mức

tín dụng chưa hợp lý, chưa thể hiện được vai

trò kinh tế của ngân hàng trong việc nắm bắt

và kiểm soát mọi hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp, chưa thể hiện tốt

vai trò là đầu mối thanh toán và tín dụng

- Cách cho vay còn cứng nhắc về thời hạn

cho vay trong khi đó nhu cầu tín dụng của

kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường

rất đa dạng và phong phú Chính sách cho

vay nói trên sẽ hạn chế rất lớn tới việc thanh

toán qua ngân hàng giữa các doanh nghiệp

tư nhân với nhau, hay với doanh nghiệp nhà

nước

- Việc hạn chế mở rộng tín dụng dài hạn

đối với kinh tế tư nhân của hệ thống ngân

hàng thương mại cũng là nguyên nhân làm

chậm tốc độ phát triển của thành phần kinh tế

này, đồng thời làm giảm đi phần lợi nhuận có

thể có của chính ngân hàng

- Trong thực tế, hoạt động của các doanh

nghiệp là rất đa dạng với mức độ rủi ro khác

nhau, do đó ngân hàng có thể áp dụng nguyên

tắc: doanh nghiệp nào rủi ro cao thi áp dụng

kỹ thuật cho vay ít rủi ro và ngược lại Như

vậy mỗi kỹ thuật cấp tín dụng đều chỉ thích

hợp với một số doanh nghiệp trong những

điều kiện nhất định Do vậy nếu chỉ áp dụng một kỹ thuật cấp tín dụng đối với mọi trường hợp khác nhau của doanh nghiệp sẽ có hai trường hợp xảy ra:

Thứ nhất: đối với những doanh nghiệp

rủi ro cao thì kỹ thuật cấp tín dụng hiện nay của ngân hàng chứa nhiều rủi ro, do đó xét về mặt an toàn tín dụng không bảo đảm

Thứ hai: ngược lại đối với trường hợp

trên là đối với những doanh nghiệp lớn, có

uy tín cũng như mạnh về khả năng tài chính thì kỹ thuật cấp tín dụng hiện nay của ngân hàng còn gây khó khăn và không đáp ứng được nguyện vọng của khách hàng.Bên cạnh

đó, một số vấn đề khó khăn trong cho vay của ngân hàng thương mại nhà nước đối với kinh tế tư nhân là tài sản đảm bảo, trong khi

cơ sở sản xuất chưa được thiết lập đầy đủ thủ tục hành chính phù hợp (chưa có giấy chứng nhận chủ quyền, quyền sở hữu,…) và do đó tài sản, phương tiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chưa được sử dụng để thế chấp, dẫn đến doanh nghiệp tư nhân chỉ được vay

số tiền nhỏ ở ngân hàng Thực tế cho vay tại các ngân hàng thương mại nhà nước đã chứng minh cho nhận định trên là: ngân hàng cấp tín dụng cho kinh tế tư nhân còn quá nhỏ so với kinh tế nhà nước trong tổng dư nợ cho vay Qua kết quả đánh giá về thực trạng cấp tín dụng cho khu vực kinh tế tư nhân thời gian qua của các ngân hàng thương mại còn nhiều hạn chế cũng được nhận định bởi các nguyên nhân sau:

Một là, việc thực hiện chủ trương, chính

sách phát triển kinh tế tư nhân còn nhiều hạn chế, bất cập, hệ thống pháp luật, các cơ chế, chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển chưa được quan tâm đúng mức, đồng thời kinh tế tư nhân cũng chưa đáp ứng được vai trò động lực quan trọng của nền kinh tế

Hai là, kinh tế tư nhân ra đời chưa lâu,

Trang 5

đang hoạt động trong trạng thái chưa ổn định,

nhiều doanh nghiệp hoạt động trong tình

trạng tài chính không lành mạnh, nhiều doanh

nghiệp tư nhân còn vi phạm pháp luật, cạnh

tranh không lành mạnh, gian lận thương mại,

tình trạng sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm

môi trường, nhiều doanh nghiệp không đảm

bảo lợi ích của người lao động, nợ bảo hiểm,

báo cáo tài chính không trung thực, nợ quá

hạn ngân hàng, quan hệ kinh tế không lành

mạnh giữa các doanh nghiệp,… gây hậu quả

xấu về kinh tế xã hội Điều này có ảnh hưởng

về tâm lý, khiến các ngân hàng thương mại

còn dè dặt, không lường hết được những tiêu

cực xảy ra khi cấp tín dụng cho khu vực kinh

tế này

Ba là, năng lực nội tại của kinh tế tư nhân

còn thấp, đội ngũ doanh nhân đang trong quá

trình hình thành và phát triển, hạn chế về

năng lực quản trị kinh doanh, và đa số các

doanh nghiệp tư nhân nguồn vốn tự có còn

ít, vốn có nhỏ hơn vốn vay, trong đó có nhiều

doanh nghiệp tư nhân vốn có nhỏ hơn vốn

vay nhiều lần, do đó nguồn vốn vay từ các

ngân hàng cũng bị hạn chế

Bốn là, còn có sự phân biệt trong nguồn

vốn để cấp tín dụng cho các doanh nghiệp tư

nhân của các ngân hàng thương mại Chính

sự phân biệt này đã thể hiện chưa đúng đối

với chủ trương thực hiện bình đẳng giữa các

thành phần kinh tế của Đảng và Nhà nước

Nguồn vốn tự có của các ngân hàng thương

mại ưu tiên cho vay các dự án và các doanh

nghiệp của nhà nước, các doanh nghiệp tư

nhân chỉ được vay một phần nhỏ chủ yếu từ

huy động tiết kiệm

Năm là, do chịu trách nhiệm về lỗ, lãi

nên các ngân hàng thương mại nhà nước đều

quan tâm đến chữ “Tín” của doanh nghiệp đi

vay Trong khi các dự án và các doanh nghiệp

nhà nước đã tồn tại lâu dài và là khách hàng

quen thuộc của Ngân hàng Việc các ngân hàng thương mại nhà nước chọn đối tượng cho vay chủ yếu là các dự án và các doanh nghiệp nhà nước sẽ được nhà nước bảo lãnh

dễ dàng hơn kinh tế tư nhân

4 KẾT LUẬN

Qua những nhận định ở trên cho thấy hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước chưa thực sự phát huy tác dụng đối với các thành phần kinh tế, chưa thoát khỏi tình trạng bao cấp cho các dự án và các doanh nghiệp nhà nước Một số ngành sản xuất kinh doanh trong khu vực kinh tế nhà nước làm

ăn kém hiệu quả, không đủ sức cạnh tranh, không trụ nổi với thị trường, dẫn đến thua lỗ, phá sản, vỡ nợ, gây hậu quả xấu về kinh tế xã hội Do đó với điều kiện cho vay được nếu trong các văn bản là bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, nhưng trong thực tế khu vực kinh tế tư nhân được ngân hàng cấp tín dụng hạn chế hơn nhiều so với kinh tế nhà nước

Chúng ta chủ trương thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, các doanh nghiệp không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ trong kinh doanh, hợp tác, cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật Nhưng hoạt động thực tế vốn tín dụng cho khu vực kinh tế nhà nước còn có sự bao cấp, còn được ưu đãi, quan hệ không bình đẳng đối với khu vực kinh tế tư nhân, điều này cho thấy chính sách của nhà nước về bảo đảm vốn tín dụng chưa nhất quán giữa các thành phần kinh tế, còn gây khó khăn cho hoạt động của kinh tế tư nhân

Trong quá trình khởi xướng và lãnh đạo

sự nghiệp đổi mới, qua các kỳ đại hội Đảng ta

đã nhận thức rõ hơn vị trí vai trò của kinh tế

tư nhân Phương thức quản lý của nhà nước đối với kinh tế tư nhân được đổi mới phù hợp

Trang 6

với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa

Năm 2016 là năm đánh dấu sự bùng nổ

của phát triển doanh nghiệp, để nâng cao

hiệu quả kinh tế xã hội cần xóa bỏ các rào

cản, chính sách, các biện pháp hành chính

can thiệp trực tiếp vào thị trường và sản xuất

kinh doanh, phải tạo ra sự bình đẳng trong

tiếp cận các nguồn lực xã hội đối với mọi

thành phần kinh tế, trong đó có nguồn lực

quan trọng là vốn đối với phát triển kinh tế tư

nhân.Vậy nhà nước cần điều chỉnh chính sách

về bảo đảm vốn tín dụng và lãi suất tín dụng

nhất quán cho tất cả các thành phần kinh tế và

ngân hàng thương mại nhà nước cần xem xét

lại vai trò của công tác phân tích hoạt động của kinh tế tư nhân trong việc thiết lập quan

hệ tín dụng, qua đó ngân hàng thương mại nhà nước trở thành người cố vấn đáng tin cậy cho kinh tế tư nhân trong đầu tư sản xuất kinh doanh, coi việc phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân tạo thành lực cộng hưởng mạnh hơn, trở thành nền tảng, nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế, nhằm thực hiện tốt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Cục đăng ký doanh nghiệp Bộ Kế hoạch

và Đầu tư (2016) Số doanh nghiệp và tốc độ

tăng, giảm doanh nghiệp năm 2016.

[2] Đảng Cộng Sản Việt Nam (2016) Văn

kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,

NXB Chính trị Quốc Gia

[3] Đảng Cộng Sản Việt Nam (2017) Nghị

quyết hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung Ương khóa XII.

[4] Ngân hàng nhà nước TP.HCM (2016)

Báo cáo đánh giá hiện trạng và định hướng hoạt động hệ thống ngân hàng phục vụ phát triển kinh tế xã hội TP.HCM.

Ngày đăng: 01/04/2021, 13:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w