1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

vi phạm các điều khoản tiêu chuẩn đối xử và bảo hộ của iia trong tranh chấp isds giữa chính phủ nhận đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài trường hợp ecuador

7 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ chế ISDS ra đời cung cấp thêm một lựa chọn giải quyết tranh chấp mới cho nhà đầu tư nước ngoài với một số ưu điểm chính sau đây: Thứ nhất , cơ chế này đảm bảo những khiếu nại của[r]

Trang 1

Vi phạm các điều khoản tiêu chuẩn đối xử và bảo hộ của IIA trong tranh chấp ISDS giữa chính phủ nhận đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài - trường hợp Ecuador

Lê Hà Trang

Học viện Ngân hàng

Ngày nhận: 07/11/2020

Ngày nhận bản sửa: 05/12/2020

Ngày duyệt đăng: 21/12/2020

Các tranh chấp đầu tư quốc tế giữa quốc gia nhận đầu tư và chủ đầu tư nước ngoài đang ngày càng lan rộng, có tính chất phức tạp và được quan tâm đặc biệt trong những năm gần đây Lý do phổ biến dẫn tới những tranh chấp này đến từ việc vi phạm những điều khoản về tiêu chuẩn đối xử và bảo hộ mà quốc gia đã ký kết trong Hiệp định Đầu tư quốc tế (International Investment Agreement- IIA) Bài viết này tập trung làm rõ mối liên hệ trong những tranh chấp ISDS (Investor-State Dispute Settlement) giữa chủ đầu tư nước ngoài và quốc gia nhận đầu tư với các điều khoản này Thông qua phương pháp tổng hợp và phân tích, bài viết cung cấp bức tranh

về thực trạng vi phạm các điều khoản về tiêu chuẩn đối xử và bảo hộ IIA trong các tranh chấp giữa chính phủ nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài trên thế giới hiện nay Ngoài ra, bài viết đi sâu phân tích một tranh chấp cụ thể trong thực tế nhằm

The breaches of IIA standards of treatment and protection provisions in Investor-State dispute settlement- Case study in Ecuador

Abstract: International Investor-State disputes have become widespread, complicated and of particular

concern in recent years The most common reason for these disputes comes from the breaches of standards of treatment and protection provisions that the country has signed in the international investment agreements (IIA) This article focuses on clarifying the relationship between Investor-State dispute settlement (ISDS) and these provisions in IIA until 2019 Through the synthesis and analysis method, the article provides an overview of the current situation of breaching IIA standards of treatment and protection provisions in foreign investor-state disputes in the world today Moreover, the article also uses a case study method to analyze a practical dispute to illustrate in more detail about these breaches The article concludes that the most violated IIA provisions are fair and equitable treatment (FET) and expropriation Host countries should be cautious about commitment and enforcement in their IIAs to minimize legal and financial exposures.

Keywords: IIA provisions, ISDS dispute, foreign investor, international investment

Trang Ha Le

Email: tranglh@hvnh.edu.vn Banking Academy of Vietnam

Trang 2

minh họa chi tiết hơn về hiện tượng vi phạm này Từ đó rút ra những điều khoản IIA có mức độ vi phạm cao nhất là “đối xử công bằng và thỏa đáng” (FET) và tước quyền bất hợp pháp Các quốc gia nhận đầu tư nên thận trọng trong vấn đề cam kết

và thực thi cam kết của mình trong IIA để hạn chế những rủi ro pháp lý và tài chính không mong muốn.

Từ khóa: điều khoản IIA, tranh chấp ISDS, nhà đầu tư nước ngoài, đầu tư quốc tế.

1 Đặt vấn đề

Các tranh chấp đầu tư quốc tế đang ngày

càng lan rộng, có tính chất phức tạp và được

quan tâm đặc biệt trong những năm gần đây

Trên thực tế, mâu thuẫn giữa nhà đầu tư và

chính phủ sở tại thường phát sinh do việc vi

phạm những cam kết đối xử và bảo hộ trong

Hiệp định Đầu tư Quốc tế (International

Investment Agreement - IIA) Cơ chế giải

quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài

và quốc gia nhận đầu tư (Investor - State

Dispute Settlement - ISDS) đã ra đời như

một giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh hoạt

động đầu tư, bảo vệ quyền lợi của các nhà

đầu tư nước ngoài, đồng thời hạn chế căng

thẳng ngoại giao, leo thang xung đột ở cấp

quốc gia Trong bối cảnh các mối quan hệ

kinh tế quốc tế ngày càng đa dạng và đan

xen lẫn nhau, nhiều nghiên cứu trên thế giới

đã quan tâm đến vấn đề vi phạm những tiêu

chuẩn đối xử và bảo hộ đầu tư trong các

tranh chấp theo cơ chế ISDS (sau đây gọi tắt

là tranh chấp ISDS)

Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào các

liên kết kinh tế khu vực và thế giới, đồng

nghĩa với những mối lo ngại về rủi ro pháp

lý trong tranh chấp đầu tư quốc tế ngày càng

gia tăng Thông qua phương pháp tổng hợp,

phân tích số liệu và nghiên cứu trường hợp,

mục tiêu của bài viết này nhằm: (1) nghiên

cứu tổng quan về mối liên hệ giữa những

tranh chấp ISDS và các các điều khoản về

tiêu chuẩn đối xử và bảo hộ trong IIA; (2)

liên hệ thực trạng tranh chấp ISDS trên thế

giới; và (3) phân tích một tranh chấp ISDS trong thực tế để làm rõ tình trạng vi phạm các tiêu chuẩn đối xử và bảo hộ đầu tư

2 Mối liên hệ giữa tranh chấp ISDS và các điều khoản về tiêu chuẩn đối xử và bảo hộ trong IIA

2.1 Sơ lược về ISDS

Hiệp định Đầu tư Quốc tế (IIA) là một loại thoả thuận giữa các quốc gia đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến đầu tư quốc tế

và điều chỉnh hoạt động đầu tư quốc tế (Vũ Chí Lộc, 2012) IIA thường được áp dụng đối với hoạt động đầu tư trên lãnh thổ của một quốc gia do các nhà đầu tư của quốc gia khác tiến hành, thường nhằm mục đích bảo hộ, thúc đẩy và tự do hóa các khoản đầu tư đó Các nhóm điều khoản chính trong IIA bao gồm: các định nghĩa và phạm

vi áp dụng, các tiêu chuẩn đối xử và bảo hộ,

và điều khoản về giải quyết tranh chấp ISDS là một điều khoản trong IIA trao cho nhà đầu tư nước ngoài quyền khởi kiện giải quyết tranh chấp đối với chính phủ nhận đầu

tư theo luật quốc tế và bằng trọng tài quốc

tế ISDS bắt đầu xuất hiện trong các IIA vào cuối những năm 1960 (lần đầu tiên trong Hiệp định giữa Chad - Italy năm 1969), tuy nhiên phải đến những năm 1990, nội dung của điều khoản này mới được chuẩn hóa

và dần được áp dụng rộng rãi (UNCATD, 2014; Nguyễn Thị Anh Thơ, 2019)

Trong giai đoạn trước 1990, khi ISDS chưa

Trang 3

được áp dụng phổ biến, nhà đầu tư nước

ngoài có hai con đường để theo đuổi nếu

xảy ra tranh chấp với chính phủ nước nhận

đầu tư Một là, giải quyết tranh chấp tại toà

án hay cơ quan có thẩm quyền của nước

tiếp nhận đầu tư Cơ chế giải quyết tranh

chấp như vậy thường bị đánh giá là thiếu

khách quan, đưa tới nhiều phán quyết có

lợi cho nước sở tại và làm nảy sinh thêm

nhiều bất đồng giữa hai bên tranh chấp,

do không được phân xử bằng một cơ quan

tư pháp hoàn toàn độc lập với chính phủ

nhận đầu tư và hệ thống pháp luật của nước

tiếp nhận đầu tư có thể chưa đủ hoàn thiện

(Nguyễn Thị Anh Thơ, 2019) Thứ hai, nếu

hình thức giải quyết tại tòa án nước nhận

đầu tư không hiệu quả, hy vọng còn lại của

nhà đầu tư nước ngoài là thuyết phục chính

phủ nước mình tán thành khiếu kiện (tức

là thực hiện hình thức bảo vệ ngoại giao)

Tuy nhiên, cách thức này chỉ có thể được áp

dụng cho những nhà đầu tư có vị thế và ảnh

hưởng lớn đối với chính phủ quê nhà, các

nhà đầu tư nhỏ với các vụ tranh chấp quy

mô nhỏ và trung bình rất khó tìm được sự

ủng hộ ở cấp độ quốc gia Thêm vào đó, các

tập đoàn đa quốc gia với nhiều công ty con

có quốc tịch pháp lý khác nhau thì việc xác

định chính xác quốc tịch của nhà đầu tư vì

mục đích thiết lập quyền bảo vệ ngoại giao

lại càng trở nên phức tạp (UNCATD, 2014)

Cơ chế ISDS ra đời cung cấp thêm một lựa

chọn giải quyết tranh chấp mới cho nhà đầu

tư nước ngoài với một số ưu điểm chính sau

đây: Thứ nhất, cơ chế này đảm bảo những

khiếu nại của nhà đầu tư nước ngoài đối với

nước tiếp nhận đầu tư được xét xử tại tòa

án có trình độ và trung lập; Thứ hai, ISDS

giúp phi chính trị hóa tranh chấp thông qua

việc mâu thuẫn được giải quyết bằng con

đường pháp lý mà không cần sự can thiệp

từ phía Chính phủ của nhà đầu tư Ngoài

ra, thủ tục ISDS có thể nhanh hơn thủ tục

tại tòa án địa phương tại một số quốc gia

(UNCTAD, 2017) Tuy nhiên, cơ chế ISDS làm dấy lên một số nghi ngại về các rủi ro pháp lý và tài chính mà quốc gia nhận đầu

tư phải đối mặt Bên cạnh đó, ISDS cũng

có thể trao cho các nhà đầu tư nước ngoài những đặc quyền lớn hơn so với các nhà đầu tư trong nước, tạo ra các điều kiện cạnh tranh không bình đẳng

Mặt khác, giải quyết tranh chấp theo phương thức trọng tài quốc tế cũng có một

số nhược điểm như chi phí đắt đỏ và có xu hướng nâng cao vị thế thương lượng của nhà đầu tư nước ngoài (UNCTAD, 2017)

2.2 Các điều khoản về tiêu chuẩn đối xử

và bảo hộ trong IIA và mối liên hệ với tranh chấp ISDS

Các điều khoản mang tính bảo hộ và tự do hóa đầu tư trong IIA thường là căn cứ để nhà đầu tư khởi kiện chính phủ nhận đầu

tư theo cơ chế ISDS khi có mâu thuẫn phát sinh Theo Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (United Nations Conference on Trade and Development- UNCTAD), tiêu chuẩn đối xử và bảo hộ trong IIA bao gồm 13 điều khoản (Bảng 1) Bài viết sẽ tập trung phân tích 8 điều khoản được đánh giá là cơ bản và thường xuyên trở thành căn cứ cho các tranh chấp ISDS

(1) Đối xử quốc gia (NT): Nghĩa vụ NT

yêu cầu quốc gia nhận đầu tư đối xử với nhà đầu tư/ khoản đầu tư nước ngoài không kém thuận lợi hơn so với nhà đầu tư/ khoản đầu

tư trong nước Mục tiêu của điều khoản này

là đảm bảo mức độ cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước bằng cách ngăn chặn sự phân biệt đối

xử trên cơ sở quốc tịch của nhà đầu tư

(2) Đối xử tối huệ quốc (MFN): Nghĩa vụ MFN yêu cầu quốc gia nhận đầu tư đối xử với nhà đầu tư/ khoản đầu tư nước ngoài không kém thuận lợi hơn so với nhà đầu tư/ khoản đầu tư của bất kỳ nước thứ ba nào

Trang 4

Mục tiêu của điều khoản này là đảm bảo

mức độ cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà

đầu tư nước ngoài bằng cách ngăn chặn sự

phân biệt đối xử trên cơ sở quốc tịch của

nhà đầu tư

(3) Đối xử công bằng và thỏa đáng (FET):

Nghĩa vụ FET là một tiêu chuẩn tuyệt đối,

yêu cầu quốc gia nhận đầu tư đảm bảo một

tiêu chuẩn đối xử tối thiểu nhất định, không

yêu cầu so sánh với sự đối xử dành cho nhà

đầu tư trong nước hoặc của nước thứ ba Nội

dung cũng như cách diễn giải của nghĩa vụ

này có thể khác nhau và phụ thuộc vào công

thức được các Bên thông qua khi ký kết IIA,

ví dụ như tuân thủ theo luật/ tập quán quốc

tế; cụ thể hóa các hình thức vi phạm; hoặc

không đưa ra tiêu chuẩn rõ ràng nào

(4) Bảo vệ và bảo hộ đầy đủ (FPS): Nghĩa

vụ FPS đòi hỏi quốc gia nhận đầu tư phải

thi hành tất cả các biện pháp thích hợp để

bảo vệ các khoản đầu tư nước ngoài khỏi các

hành vi bất lợi từ phía cơ quan Nhà nước và

các bên tư nhân Tương tự FET, FPS cũng là

một tiêu chuẩn tuyệt đối và không yêu cầu

so sánh với mức độ bảo hộ dành cho nhà đầu

(5) Tước quyền sở hữu: Điều khoản này

quy định các hình thức tước quyền sở hữu nằm trong phạm vi bảo hộ của hiệp định Chính phủ sở tại có thể tước đoạt quyền sở hữu khoản đầu tư nước ngoài dưới hai hình thức: tước đoạt trực tiếp và tước đoạt gián tiếp Tước đoạt trực tiếp liên quan đến việc chuyển đổi quyền sở hữu bắt buộc hoặc trưng thu hoàn toàn các giá trị tài sản của nhà đầu tư Tước đoạt gián tiếp liên quan đến các biện pháp mà Chính phủ sở tại sử dụng có hiệu lực tương đương với việc tước đoạt trực tiếp Tước đoạt gián tiếp làm giảm giá trị tài sản hoặc làm cho quyền sở hữu tài sản trở nên vô dụng, mặc dù nhà đầu tư vẫn giữ quyền sở hữu tài sản

Trên thực tế, việc xác định một hành vi tước quyền trực tiếp rất đơn giản nhưng việc xác định hiện tượng tước đoạt gián tiếp thường khó khăn và phức tạp hơn do trong nhiều trường hợp, khó có thể phân biệt giữa tước quyền gián tiếp và những biện pháp điều

Bảng 1 Các tiêu chuẩn đối xử và bảo hộ trong IIA STT Standards of Treatment and Protection Các tiêu chuẩn đối xử và bảo hộ

2 Most- Favoured- Nation Treatment (MFN) Đối xử tối huệ quốc

3 Fair and Equitable Treatment (FET) Đối xử công bằng và thỏa đáng

4 Full Protection and Security (FPS) Bảo vệ và bảo hộ đầy đủ

6 Compensation for Losses Due to Armed Conflict or Civil Strife Bồi thường thiệt hại do xung đột vũ trang hoặc xung đột dân sự

9 Performance Requirements (PR) Yêu cầu về hoạt động

12 Nationality of Senior Management Quốc tịch của quản lý cấp cao

Nguồn: APEC & UNCTAD (2012)

Trang 5

chỉnh hợp pháp không yêu cầu bồi thường

Do đó, các IIA sử dụng các phương thức

khác nhau để diễn giải về hình thức tước

đoạt gián tiếp

Cam kết chống lại việc tước quyền mà

không có bồi thường được coi là một bảo

đảm thiết yếu cho các nhà đầu tư nước

ngoài, vì vậy số lượng lớn IIA hiện nay bao

gồm một điều liên quan đến Tước quyền sở

hữu (Hình 1)

(6) Tự do chuyển tiền: Điều khoản “Tự do

chuyển tiền” yêu cầu chính phủ sở tại cho

phép nhà đầu tư nước ngoài chuyển vốn và

lợi nhuận vào và ra khỏi lãnh thổ quốc gia

Điều khoản này có ý nghĩa đặc biệt quan

trọng đối với các nhà đầu tư nước ngoài vì

việc chuyển tiền và lợi nhuận kịp thời là

một yếu tố quan trọng tác tộng đến hiệu quả

của dự án đầu tư Ngược lại, dưới góc độ

của nước tiếp nhận đầu tư, tự do hóa hoàn

toàn các dòng tiền, đặc biệt là các dòng vốn

ra, có thể gây ra các bất ổn và rủi ro đối với

thị trường tài chính nội địa Vì vậy, điều

khoản “Tự do chuyển tiền” đôi khi vẫn đưa

vào một số ngoại lệ linh hoạt để hỗ trợ khả

năng điều hành chính sách tiền tệ và tài

chính của nước sở tại

(7) Yêu cầu về hoạt động (PR): PR là các

yêu cầu do nước sở tại áp đặt lên các nhà đầu tư để theo đuổi các mục tiêu chính sách kinh tế nhất định, ví dụ: yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa, yêu cầu về chuyển giao công nghệ, yêu cầu về thuê hoặc đào tạo nhân công… Những yêu cầu này làm hạn chế các lựa chọn kinh tế và quyền quản lý của chủ đầu tư nước ngoài, và do đó có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh Điều khoản hạn chế PR trong IIA buộc chính phủ nhận đầu tư phải tuân theo các quy tắc trong việc sử dụng PR với mục tiêu cho phép các khoản đầu tư được tiến hành một cách hiệu quả nhất về kinh tế

Thông thường, điều khoản PR có thể tham chiếu theo những nghĩa vụ được ghi trong Hiệp định Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (Agreement on Trade - Related Investment Measures - TRIMs), hoặc đưa ra một danh sách các PR bị cấm vượt ra ngoài các quy tắc TRIMs

Hiện nay, hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, khi thu hút đầu

tư trực tiếp nước ngoài đều đặt ra những mục tiêu kinh tế nhất định, như thúc đẩy chuyển

Hình 1 Tần suất xuất hiện của các điều khoản liên quan đến tiêu chuẩn đối

xử và bảo hộ trong IIA

(*) Trong tổng số 2.576 IIA được rà soát

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ IIA Navigator, truy cập ngày 21/10/2020

Trang 6

giao công nghệ, cải thiện các khu vực sản

xuất trong nước và giải quyết nguồn lực lao

động; nên chính phủ sở tại thường không

sẵn sàng đưa ra những điều khoản hạn chế

PR một cách rõ ràng Trong tổng số 2.576

IIA được rà soát tính đến hết năm 2019, PR

vẫn là một trong những điều khoản có tần

suất xuất hiện ít nhất so với các điều khoản

bảo hộ truyền thống (Hình 1)

(8) Điều khoản bao trùm: Điều khoản

này yêu cầu Chính phủ sở tại tuân thủ mọi

nghĩa vụ/ cam kết đã thừa nhận đối với các

khoản đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ quốc

gia (ví dụ: hợp đồng đầu tư) Tùy thuộc

vào cách diễn giải, Điều khoản bao trùm có

thể cung cấp phạm vi bảo hộ rộng hơn cho

các nhà đầu tư, ngoài các quy tắc và tiêu

chuẩn đối xử đã được quy định cụ thể trong

hiệp định Các hợp đồng và cam kết khác

được thực hiện giữa quốc gia nhận đầu tư

và nhà đầu tư nước ngoài sẽ nằm trong sự

điều chỉnh điều khoản này Do sự tồn tại

của Điều khoản bao trùm, một cam kết dù

không được cụ thể hóa trong IIA nhưng có

xuất hiện trong hợp đồng đầu tư, vẫn có thể

trở thành căn cứ cho một tranh chấp ISDS

3 Thực trạng vi phạm các điều khoản tiêu chuẩn đối xử và bảo hộ của IIA trong các tranh chấp ISDS trên thế giới

Theo Cơ sở dữ liệu Trung tâm chính sách đầu

tư UNCTAD (truy cập ngày 21/10/2020), thế giới hiện có 3.291 IIA đã được ký kết (2.902 hiệp định đầu tư song phương - Bilateral Investment Treaties BIT và 389 hiệp định có điều khoản đầu tư - Treaties with Investment Provisions TIP), trong đó 2.662 hiệp định đã đi vào hiệu lực Số lượng IIA lớn cũng thể hiện sự hợp tác tự do hóa ngày càng lớn trong hoạt động đầu tư quốc

tế, nhưng mặt khác cũng tạo điều kiện cho các mâu thuẫn dễ nảy sinh giữa chính phủ và nhà đầu tư và nhà đầu tư cũng có xu hướng

sử dụng nhiều hơn quyền kiện chính phủ ra trọng tài quốc tế Tính đến hết năm 2019, có 1.023 vụ tranh chấp ISDS, trong đó 343 vụ vẫn đang tiếp diễn Giai đoạn 2015 - 2018, các tranh chấp ISDS có xu hướng lan rộng với trung bình 80 vụ kiện mỗi năm, nhưng

số vụ kiện lại có dấu hiệu giảm mạnh vào năm 2019 với 55 vụ kiện mới khởi xướng (Hình 2) Theo UNCTAD (2020), vì một

số vụ kiện có thể được giữ bí mật, số lượng

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ IDS Navigator, truy cập ngày 21/10/2020

Hình 2 Số lượng ISDS phát sinh giai đoạn 2000- 2019 trên thế giới

Trang 7

tranh chấp thực tế được đệ trình trong năm

2019 và các năm trước có thể sẽ cao hơn

Cho đến nay (tính từ thời điểm ra đời ISDS),

120 quốc gia và vùng kinh tế đã xuất hiện ít

nhất một vụ kiện ISDS

Quốc tịch của nguyên đơn trong các khiếu

kiện ISDS chủ yếu đến từ Châu Âu và Bắc

Mỹ (Hình 3) do đây cũng là hai khu vực có

nhiều nhà đầu tư ra nước ngoài nhất Trong

khi đó, hầu hết các quốc gia tại những khu vực còn lại như Châu Á, Châu Phi,

Mỹ Latinh và Caribe đều là những bị đơn thường xuyên của các cáo buộc ISDS

Trong năm 2019, phần lớn các trường hợp khởi kiện mới (80%) được đưa ra nhằm vào các nước đang phát triển và các nền kinh

tế đang chuyển đổi Bên khởi xướng các vụ kiện chủ yếu xuất phát từ các nhà đầu tư đến

Hình 3 Số lượng ISDS phân chia theo quốc tịch của nguyên đơn và bị đơn,

tính đến năm 2019

Nguồn: Tổng hợp từ IDS Navigator, truy cập ngày 21/10/2020 IDS Navigator thống kê tất cả các vụ kiện ISDS từ khi cơ chế này ra đời

Hình 4 Các vi phạm tiêu chuẩn đối xử và bảo hộ trong tranh chấp ISDS,

tính đến năm 2019

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ IDS Navigator, truy cập ngày 21/10/2020 IDS Navigator thống kê tất cả các vụ kiện ISDS từ khi cơ chế này ra đời

Ngày đăng: 01/04/2021, 13:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w