1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thanh toán quốc tế bằng hình thức tín dụng chứng từ theo pháp luật quốc tế và pháp luật việt nam

102 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở đó, đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ: “Thanh toán quốc tế bằng hình thức tín dụng chứng từ theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” có ý nghĩa cấp bách cả về mặt lý lu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

THEO PH¸P LUËT QUèC TÕ Vµ PH¸P LUËT VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Mã số: 8380101.06

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐOÀN NĂNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và

đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đỗ Hoàng Cường

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục các bảng, sơ đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI NIỆM, LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN BẰNG HÌNH THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 8

1.1 Khái niệm, lịch sử hình thành và đặc trưng của phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ 8

1.1.1 Khái quát chung về thanh toán quốc tế 8

1.1.2 Lịch sử hình thành phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ 10

1.1.3 Khái niệm thanh toán quốc tế bằng hình thức tín dụng chứng từ 12

1.1.4 Đặc điểm của phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ 15

1.1.5 Các bên tham gia trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ 16

1.2 Quy trình nghiệp vụ và quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ 20

1.2.1 Quy trình nghiệp vụ thanh toán bằng tín dụng chứng từ 20

1.2.2 Phân loại Thư tín dụng (L/C) 23

1.2.3 Quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ 28

1.3 Chức năng vai trò của thanh toán bằng tín dụng chứng từ 31

1.3.1 Vai trò đối với người xuất khẩu 32

1.3.2 Vai trò đối với nhà nhập khẩu 32

1.3.3 Vai trò đối với ngân hàng 33

Trang 5

1.4 Nguồn pháp luật điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng tín

dụng chứng từ 34

1.4.1 Một số tập quán quốc tế và điều ước quốc tế liên quan tới hoạt

động thanh toán tín dụng chứng từ 34 1.4.2 Pháp luật Việt Nam và mối liên hệ với pháp luật quốc tế, tập

quán quốc tế trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ 35 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 38

Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN THANH TOÁN BẰNG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRÊN THẾ GIỚI 39 2.1 Các Tập quán quốc tế về thanh toán bằng hình thức tín dụng

chứng từ 39

2.1.1 Nội dung, bản chất và vai trò của Quy tắc và thực hành thống

nhất về tín dụng chứng từ – UCP trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ 39 2.1.2 Vai trò và ảnh hưởng của Tập quán Ngân hàng Tiêu chuẩn Quốc

tế về Kiểm tra Chứng từ theo Thư tín dụng - ISBP trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ 48 2.1.3 Một số tập quán quốc tế khác trong hoạt động thanh toán bằng

tín dụng chứng từ 48

2.2 Một số điều ước quốc tế trong hoạt động thanh toán bằng tín

dụng chứng từ 49 2.3 Thực tiễn áp dụng pháp luật và một số tranh chấp về thanh

toán bằng tín dụng chứng từ trên thế giới 51

2.3.1 Thực tiễn việc áp dụng các công ước quốc tế, điều ước quốc tế

trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ 51 2.3.2 Một số tranh chấp liên quan đến thanh toán bằng tín dụng chứng từ 52 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 57

Trang 6

Chương 3: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THANH

TOÁN BẰNG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI VIỆT NAM –

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 58

3.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ 58

3.2 Thực tiễn thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại một số Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam 61

3.2.1 Thực tiễn thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Vietcombank 61

3.2.2 Thực tiễn thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Vietinbank 67

3.2.3 Thực tiễn thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam – PVcomBank 73

3.3 Kiến nghị giải pháp đối với hình thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ 79

3.3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước 79

3.3.2 Tăng cường hội nhập, vận dụng các tập quán quốc tế cũng như gia nhập các điều ước quốc tế 84

3.3.3 Tăng cường đào tạo, áp dụng các tập quán quốc tế trong thanh toán bằng tín dụng chứng từ trong các ngân hàng thương mại 84

3.3.4 Tăng cường đào tạo, nâng cao hiểu biết về các quy định pháp luật, tập quán quốc tế về hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại các doanh nghiệp 86

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 87

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ

Bảng 3.1 Giá trị cam kết trong nghiệp vụ l/c tại Vietcombank 63 Bảng 3.2 Giá trị cam kết trong nghiệp vụ L/C tại Vietinbank 69 Bảng 3.3 Giá trị cam kết trong nghiệp vụ L/C tại Pvcombank 74

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Việt Nam đang trong quá trình gia nhập toàn cầu hóa, khu vực hóa và chuyên môn hóa trong hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó hoạt động giao thương, xuất nhập khẩu với các nước khác là vô cùng quan trọng

Trong hoạt động giao thương với nước ngoài, Việt Nam có nhiều cơ hội to lớn để phát triển kinh tế đất nước nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là hoạt động thanh toán đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Trong hoạt động thương mại quốc tế, phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ là phương thức phổ biến hiệu quả nhất, do

đó một hành lang pháp lý chuẩn mực, phù hợp với pháp luật, thông lệ quốc tế

là điều vô cùng quan trọng giúp thúc đẩy hoạt động ngoại thương được tăng trưởng về số lượng, đảm bảo an toàn về chất lượng

Thanh toán quốc tế (TTQT) là khâu cuối cùng của việc thực hiện một hợp đồng thương mại quốc tế Thực trạng trong quá trình thực hiện việc thanh toán theo hợp đồng, đôi khi doanh nghiệp không thể tránh khỏi những sai sót, những sự cố phát sinh dù khách quan hay chủ quan

Các vụ việc liên quan đến vấn đề gian lận và làm giả chứng từ trong TTQT và tài trợ thương mại quốc tế để lại những hậu quả, những tổn thất nặng nề không chỉ về mặt tài sản mà còn về cả mặt uy tín của các đơn vị kinh doanh có liên quan tới vụ việc

Chưa có một văn bản pháp luật toàn vẹn thống nhất liên quan đến hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ Một số khái niệm không rõ ràng trong quy định pháp luật Việt Nam dẫn đến hiểu nhiều nghĩa, khó vận dụng trong thực tế, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế

Chưa có cơ sở hành lang pháp lý chuẩn mực, chế tài đủ mạnh đối với hoạt động thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ

Trang 10

Nhiều Tổ chức tín dụng, ngân hàng tại Việt Nam uy tín chưa cao trong hoạt động thanh toán quốc tế bằng hình thức tín dụng chứng từ đối với các ngân hàng tại các quốc gia khác trên thế giới

Đã có một số công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước về phương thức thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ nhưng chủ yếu dưới góc độ kinh tế, thương mại, tôi chọn đề tài và nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ khoa học pháp lý, cụ thể là quy định của pháp luật quốc tế, thông lệ quốc tế,

và thực trạng, giải pháp đối với Việt Nam

Trên cơ sở đó, đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ: “Thanh toán quốc tế

bằng hình thức tín dụng chứng từ theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” có ý nghĩa cấp bách cả về mặt lý luận và thực tiễn để giải quyết các

Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, thúc đẩy cải cách cơ chế, hành lang pháp lý đối hoạt động thanh toán bằng hình thức tín dụng chứng từ tại các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam theo hướng học tập, đồng bộ với pháp luật, thông lệ thế giới, đồng thời qua đó góp phần nâng cao chất lượng, tăng cường uy tín của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong hoạt động thanh toán quốc tế

Trang 11

Phân tích, đánh giá và so sánh văn bản pháp lý, cơ chế chính sách của Việt Nam nói chung, cơ chế chính sách, quy trình nội bộ của một số Ngân hàng thương mại trong nước đối với hoạt động Thanh toán bằng tín dụng chứng từ nói riêng Như phương thức, điều kiện thanh toán L/C, mở L/C, điều kiện, phương thức trao đổi với các Ngân hàng thông báo/ngân hàng phát hành L/C, Tiếp nhận, giải quyết tranh chấp, từ chối thanh toán …

Nghiên cứu, tìm hiểu việc áp dụng pháp luật về hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng của một số Ngân hàng TMCP tại Việt Nam

Trên cơ sở đó có những kiến nghị, đề xuất về cơ chế chính sách, giải pháp nhằm thúc đẩy, hoàn thiện nâng cao hiệu quả của hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại Việt Nam nói chung và tại các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam nói riêng

Để đạt mục tiêu trên, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản như sau:

Một là, nghiên cứu khái niệm, lịch sử hình thành của phương thức

thanh toán bằng tín dụng chứng từ Quy trình nghiệp vụ và quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ

Hai là, phân tích cơ chế chính sách, cơ sở pháp lý quốc tế đối với hoạt

động thanh toán bằng tín dụng chứng từ, các điều ước quốc tế, tập quán quốc

tế đối với hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ Thực trạng tình hình thanh toán bằng tín dụng chứng từ, một số tranh chấp tiêu biểu thường gặp liên quan đến việc thanh toán bằng tín dụng chứng từ trên thế giới

Ba là, nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam trong hoạt động thanh

toán bằng tín dụng chứng từ, thực trạng hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại Việt Nam Nghiên cứu tình trạng đối với hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại một số Ngân hàng thương mại đại diện tiêu biểu tại Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị một số giải pháp, phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng

từ tại Việt Nam

Trang 12

3 Tính mới và một số đóng góp của đề tài

Tính đến thời điểm hiện tại, có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề liên quan đến hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ, nhưng chủ yếu

đề cập dưới khía cạnh kinh tế hoặc thương mại Một số đề tài có đề cập đến khía cạnh pháp lý nhưng dưới góc độ pháp luật quốc gia, đồng thời sự liên

hệ tới pháp luật, thông lệ quốc tế cũng như hoạt động của Ngân hàng TMCP là chưa sâu sắc

Tôi chọn đề tài và nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ khoa học pháp

lý, cụ thể là quy định của pháp luật quốc tế, thông lệ quốc tế, và thực trạng, giải pháp đối với Việt Nam Đóng góp ý kiến cải cách đối với cơ chế, chính sách của pháp luật Việt Nam đối với hoạt động thanh toán bằng hình thức tín dụng chứng từ

Đề tài này được thực hiện với mục tiêu làm rõ, kết nối các vấn đề liên quan đến hình thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ giữa quy định của pháp luật, thông lệ quốc tế với pháp luật quốc gia, giải quyết một số vướng mắc trong cả lý luận và thực tiễn

Đề tài cũng phân tích, làm rõ và kiến nghị một số nội dung nhằm việc thiết lập cơ chế thanh toán bằng tín dụng chứng từ cho các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiệu quả hơn

Do đó, Đề tài luận văn thạc sĩ nghiên cứu về: “Thanh toán quốc tế bằng hình thức tín dụng chứng từ theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” có

ý nghĩa cấp bách cả về mặt lý luận và thực tiễn để giải quyết các vấn đề được

đề cập ở trên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài luận văn này tập trung chuyên sâu phân tích, nghiên cứu về Pháp luật Việt Nam, pháp luật, thông lệ quốc tế và Thực tiễn quy trình, quy chế của Ngân hàng TMCP về hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ (Từ bao

Trang 13

quát là hành lang pháp lý, đến quy trình cụ thể và tác động trực tiếp đến Ngân hàng TMCP trong nước với tư các là Ngân hàng phát hành hoặc Ngân hàng thông báo thư tín dụng) dưới góc độ lý luận và thực tiễn

Đề tài nghiên cứu hoạt động của một số ngân hàng thương mại cổ phần trong nước có tham gia vào hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ, các Ngân hàng thương mại được chọn đại diện cho hai loại Thứ nhất là các ngân hàng lớn, có hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ phát triển mạnh, thứ hai là các ngân hàng nhỏ mà sự phát triển của hình thức thanh toán này chưa cao, từ đó đánh giá quy nạp và rút ra bài học chung

Đối tượng nghiên cứu còn là Nhà nước, Chính phủ, Ngân hàng nhà nước Việt Nam (trong việc ban hành cơ chế, chính sách liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu và thanh toán bằng tín dụng chứng từ) Các tổ chức quốc

tế có liên quan (Phòng Thương mại và Công nghiệp quốc tế - ICC) trong việc ban hành UCP, Incoterms

Các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu, ký kế hợp đồng ngoại thương và sử dụng hình thức thanh toán tín dụng chứng từ cũng thuộc đối tượng được nghiên cứu trong Luận văn này

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Quy định của pháp luật quốc tế, thông lệ quốc tế đối với hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ: Bộ tập quán quốc tế về L/C của Phòng thương mại quốc tế ICC UCP 500, UCP 600, Incoterms 2020, một số ĐƯQT liên quan …

Cơ chế chính sách, văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ: Luật các tổ chức tín dụng, Luật ngân hàng nhà nước, Luật thương mại, Bộ luật dân sự, Pháp lệnh ngoại hối, Luật các công cụ chuyển nhượng, Thông tư NHNN liên quan …

Quy trình quy chế hoạt động liên quan đến thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại một số Ngân hàng TMCP

Trang 14

Phạm vi không gian, thời gian nghiên cứu: Lãnh thổ Việt Nam nói riêng và một số quốc gia phát sinh quan hệ ngoại thương với Việt Nam áp dụng biện pháp thanh toán bằng tín dụng chứng từ

4.3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu cụ thể trên, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản sau đây:

Phân tích cơ chế chính sách, cơ sở pháp luật quốc tế, tập quán quốc tế đối với hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ

Nghiên cứu cơ sở thực tiễn, quy trình quy định của hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ thông qua hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ của một số Ngân hàng TMCP trong nước

Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp, phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng để hoàn thiện đề tài, làm rõ các nội dung, mục tiêu đã được nêu ra, bao gồm:

Phương pháp nghiên cứu, phân tích (dùng để phân tích và tìm hiểu nội dung các quy định trong các văn bản pháp luật, các tập quán quốc tế); nghiên cứu tài liệu (các vấn đề lý luận); phân tích các dữ liệu phản ánh thực trạng thực hiện thanh toán bằng tín dụng chứng từ

Phương pháp nghiên cứu tổng hợp, kết hợp phương pháp quy nạp: trên

cơ sở phân tích các thành tố mà tổng hợp kết quả và đưa ra kết luận cho các vấn đề nghiên cứu

Phương pháp thống kê: Thống kê dữ liệu liên quan đến việc thanh toán bằng hình thức tín dụng chứng từ theo các tiêu chí khác nhau như số lượng, khối lượng giao dịch thanh toán bằng hình thức tín dụng chứng từ, chủ thể, đối tượng tham gia giao dịch toán toán bằng hình thúc tín dụng chứng từ

Tổng thể bao quát đề tài được thực hiện dựa trên chủ nghĩa Mác –

Trang 15

Lenin trên cơ sở nền tảng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cũng như các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh

tế và hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ mới

6 Địa điểm nghiên cứu

Việc nghiên cứu được thực hiện tại lãnh thổ Việt Nam – đất nước có đường bờ biển dài 3.260 km với vị trí địa lý thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu đặc biệt là đường biển Trong bối cảnh đất nước đang trong xu thế toàn cầu hóa, nhà nước đã đề ra chính sách “Tích cực và chủ động hội nhập vào nền kinh tế quốc tế và khu vực” mà trong đó hoạt động kinh doanh quốc

tế, hoạt động xuất nhập khẩu được ưu tiên hàng đầu Song song với xu thế đó, các Ngân hàng TMCP đang hoàn thiện dần cơ chế, chính sách để phù hợp hơn nhằm đáp ứng được yêu cầu ngày càng khắt khe, chặt chẽ của hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ theo pháp luật và thông lệ quốc tế

Các nội dung, đặc điểm trên có liên quan, ảnh hưởng mật thiết đến đề tài nghiên cứu

7 Kết cấu của đề tài

Tên đề tài: “Thanh toán quốc tế bằng hình thức tín dụng chứng từ theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam”

Ngoài phần mở đâu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái niệm, lịch sử hình thành và đặc trưng của phương thức

thanh toán bằng tín dụng chứng từ

Chương 2: Thực trạng các quy định của pháp luật quốc tế và thực tiễn

thanh toán bằng tín dụng chứng từ trên thế giới

Chương 3: Quy định pháp luật và thực tiễn thanh toán bằng hình thức

tín dụng chứng từ tại Việt Nam – thực trạng và giải pháp

Trang 16

Chương 1 KHÁI NIỆM, LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC TRƯNG

CỦA PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN BẰNG HÌNH THỨC

TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

1.1 Khái niệm, lịch sử hình thành và đặc trưng của phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ

1.1.1 Khái quát chung về thanh toán quốc tế

Hiện nay trên thế giới, việc hội nhập kinh tế, thương mại đang là xu hướng chung toàn cầu, song song với điều đó, các mối quan hệ kinh tế, chính trị, thương mại liên tục phát triển không ngừng Điều này đã hình thành nên các khoản chi cũng như thu tiền tệ quốc tế giữa các đối tác tại các quốc gia khác nhau Các mối quan hệ thương mại ngày càng phát triển phong phú dẫn đến mối quan hệ tiền tệ giữa các chủ thể cũng ngày càng đa dạng với quy mô ngày càng lớn hơn Những điều đó đã hình thành nên tình trạng tài chính của mỗi quốc gia có thể ở trạng thái bội chi hoặc bội thu Trong hoạt động kinh tế, thương mại quốc tế, các đối tác, doanh nghiệp, chủ thể rải rác ở rất nhiều các quốc gia khác nhau, trên phạm vi toàn cầu Do đó có sự khác biệt rất lớn về ngôn ngữ, địa lý, văn hóa cũng như niềm tin lẫn nhau giữa các chủ thể với nhau là rất hạn chế Chính vì vậy, việc thanh toán trực tiếp với nhau gặp rất nhiều khó khăn và dường như là không thể thực hiện được mà bắt buộc cần phải có tổ chức làm trung gian thanh toán

Để thực hiện chức năng này, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán cần đáp ứng được các điều kiện nhất định và có được sự tín nhiệm của các chủ thể sử dụng dịch vụ thanh toán Vì lẽ đó, các tổ chức này thường là các ngân hàng thương mại có mạng lưới hoạt động với phạm vi rộng khắp trên toàn cầu Các hoạt động trung gian thanh toán của ngân hàng thương mại như

Trang 17

vậy đã hình thành nên dịch vụ thanh toán quốc tế, mà trong đó thanh toán bằng tín dụng chứng từ hay thư tín dụng là một hình thức thanh toán vô cùng phổ biến trong hoạt động thương mại quốc tế ngày này

Trên cơ sở nêu trên có thể định nghĩa: “Thanh toán quốc tế là việc thực

hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan” [41]

Thanh toán quốc tế được hình thành từ lâu, tuy nhiên vào cuối thể ký

20 khi hoạt động giao thương trên thế giới phát triển mạnh mẽ, khối lượng hàng hóa mua bán nhiều, hoạt động đầu tư quốc tế tăng dẫn đến nhu cầu chuyển tiền giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ tăng theo Từ đó khiến cho dịch

vụ thanh toán quốc tế qua hệ thống ngân hàng cũng phát triển tăng theo cả về

số lượng cũng như giá trị giao dịch Việc sử dụng đồng tiền của các quốc gia khác nhau trong việc chi trả cho các hợp đồng ngoại thương gia tăng xuất phát từ việc thanh toán qua các ngân hàng ngày càng phát triển Theo thời gian, dịch vụ thanh toán quốc tế ngày càng trở nên quan trọng, và là một phần không thể tách rời của hoạt động của các nền kinh tế giữa các chủ thể tại quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới Trong đó, đặc biệt thanh toán bằng tín dụng chứng từ đóng vai trò vô cùng quan trọng, sâu sắc và có ảnh hưởng lớn tới hoạt động thương mại quốc tế

Tại Việt Nam, Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm

2012 về Thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán quốc tế được định nghĩa

như sau: “Thanh toán quốc tế là hoạt động thanh toán trong đó có ít nhất một

bên liên quan là tổ chức hoặc cá nhân có tài khoản thanh toán ở ngoài lãnh thổ Việt Nam” [1, Điều 4, Khoản 2]

Trang 18

1.1.2 Lịch sử hình thành phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ

Xuất phát từ thực tiễn, mỗi quốc gia trên thế giới đều phải thực hiện nhiều mối quan hệ quốc tế trên hầu hết các mặt là: kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, hợp tác khoa học kỹ thuật… Các quan hệ này đều liên quan đến công tác tài chính, thanh toán trong quá trình vận hành Từ đó, nhu cầu thanh toán giữa các chủ thể tại các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau dần trở nên cấp thiết

Thanh toán quốc tế được hiểu là việc thực hiện chi trả bằng tiền liên quan tới hoạt động thương mại, mua bán hàng hóa giữa các chủ thể, các nhà nhập khẩu, xuất khẩu tại quốc gia này với quốc gia khác, thậm chí là giữa các quốc gia với nhau hay giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế khác Việc thanh toán quốc tế phải được thực hiện theo quy trình khép kín, chặt chẽ, thông qua các tổ chức uy tín là mạng lưới ngân hàng của các quốc gia Trên thế giới, các quan hệ quốc tế thường được chia thành hai loại là thanh toán quốc tế mậu dịch và thanh toán quốc tế phi mậu dịch

Thực tiễn cho thấy, hoạt động thanh toán quốc tế đã sớm hình thành theo nhu cầu giao thương giữa các chủ thể trên thế giới Tuy nhiên hoạt động này chỉ thật sự phát triển mạnh mẽ khi chủ nghĩa tư bản hình thành mang theo

hệ quả là nhu cầu mua bán, đầu tư quốc tế liên tục tăng trưởng Kèm theo đó, giá trị cũng như số lượng các giao dịch thanh toán quốc tế thông qua các tổ chức trung gian uy tín như ngân hàng ngày càng tăng lên

Trên thế giới, không phải xuất phát từ ngân hàng, mà là các thương nhân đã đưa vào sử dụng thư tín dụng đầu tiên vào thế kỷ 19 Lúc này thư tín dụng tồn tại như những tấm séc du lịch và được phép rút tiền mặt tại bất kỳ nơi nào khác được chấp nhận ngoài nơi phát hành Vào thời kỳ khủng hoảng chính trị tại Châu Âu ở thế ký 19, thư tín dụng trở thành một trong những

Trang 19

công cụ tài chính dùng trong thanh toán vô cùng quan trọng Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thế giới lâm vào tình cảnh chia rẽ sâu sắc, hoạt động thương mại giữa các chủ thể tại các quốc gia, vùng lãnh thổ không còn dựa vào niềm tin giữa các bên tham gia hợp đồng Thực tế đó dẫn đến nhu cầu cần có một công cụ thanh toán bảo đảm tin cậy cho cả bên nhập khẩu và bên xuất khẩu tham gia Thư tín dụng lúc đó được sử dụng giải quyết được bài toán bảo đảm sự an toàn cho tất cả các bên thay vì mong đợi vào thiện chí của mỗi bên

Theo thời gian, toàn cầu hóa trở thành xu hướng của thời đại mới, kèm theo đó là sự tăng trưởng không ngừng của hoạt động thương mại giữa các chủ thể tại các quốc gia, vùng lãnh thổ Kèm theo đó là nhu cầu hoàn thiện hơn nữa các công cụ tài chính, thanh toán tiện lợi Thực tế thì có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau, trường hợp bên bán ở trong vị thế mạnh

và họ không có sự tin tưởng hoàn toàn về khả năng thanh toán của bên mua, bên bán có thể thỏa thuận việc thanh toán có lợi cho mình về thời điểm thanh toán, kỳ hạn thanh toán, số tiền thanh toán của từng lần (nếu có) Tuy nhiên,

dù thế nào đi chăng nữa thì người bán hàng luôn muốn bảo đảm đảm cho vị thế của mình bằng các cam kết sẽ thanh toán từ một tổ chức trung gian có uy tín mà thường là các ngân hàng Xuất phát từ lẽ đó, Thư tín dụng được hình thành, hoàn thiện và ngày càng phát triển song song với sự phát triển của hoạt động ngoại thương trên thế giới, phương thức này ngày càng chứng tỏ vai trò then chốt bởi sự phổ biến của nó trong hoạt động thanh toán trong hoạt động thương mại trên thế giới

Có thể nói, sự gia tăng hoạt động thương mại giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ song song với xu thế toàn cầu hóa, đòi hỏi phải có một công cụ tài chính tiện lợi, đáp ứng được nhu cầu của các bên Trong hoạt động thương mại quốc tế, người bán khi giao hàng có nhu cầu được bảo đảm việc thanh toán cho mình bằng các cam kết thanh toán uy tín, chính xác từ bên thứ ba mà

Trang 20

thường là các ngân hàng Thư tín dụng trong trường hợp này chính là chìa khóa để giải quyết vấn đề, thông qua đó mà khơi thông dòng chảy thương mại trên thế giới, có thể nói trong hiện tại và tương lai, thanh toán bằng tín dụng chứng từ vẫn là phương thức phổ biến nhất trong hoạt động ngoại thương

1.1.3 Khái niệm thanh toán quốc tế bằng hình thức tín dụng chứng từ

Hiện nay trên thế giới, thanh toán bằng tín dụng chứng từ được xem là phương thức thanh toán quốc tế phổ biến, quan trọng và ưu việt so với các hình thức thanh toán quốc tế khác Thông qua phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ, quyền lợi của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu đều được bảo vệ một cách tối đa Chính vì lẽ đó, thanh toán bằng tín dụng chứng từ đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy hoạt động thương mại trên thế giới, nâng cao hoạt động xuất nhập khẩu giữa các quốc gia Hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ tùy theo thông lệ, thói quen tại mỗi quốc gia mà có nhiều tên gọi khác nhau, trong đó phổ biến là: Thư tín dụng, Tín dụng chứng

từ (Document Letter of Credit), còn được viết tắt là L/C

Sự phổ biến của phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ trên thế giới kéo theo sự phát triển của khuôn khổ pháp luật tương ứng để điều chỉnh hoạt động này Quan hệ thanh toán bằng tín dụng chứng từ được quy định bởi cả các tập quán và thực tiễn trong các quan hệ thương mại lẫn các văn bản quy phạm pháp luật của các nước cũng như một số điều ước quốc tế

Khi mới hình thành, phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ được hiểu như là một sự thỏa thuận mà trong mối quan hệ đó, một ngân hàng (còn được gọi là ngân hàng phát hành), sẽ căn cứ theo đề nghị của nhà nhập khẩu (còn được gọi là người yêu cầu phát hành thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho bên thứ ba là nhà xuất khẩu (còn gọi là người thụ hưởng), hoặc chấp nhận hối phiếu do nhà xuất khẩu ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi nhà xuất khẩu xuất trình được cho ngân hàng bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản, điều kiện được ghi nhận trong thư tín dụng

Trang 21

Trải qua thời gian, Phòng Thương Mại Quốc Tế đã định nghĩa một cách bao quát hơn đối với khái niệm thanh toán bằng tín dụng chứng từ thông qua bản UCP 500 Căn cứ vào đó thì tín dụng chứng từ được định nghĩa là:

Bất kỳ thỏa thuận được gọi hoặc được miêu tả như thế nào, theo đó ngân hàng (còn gọi là ngân hàng phát hành) hành động theo yêu cầu cũng như chỉ thị của khách hàng (còn gọi là người yêu cầu mở thư tín dụng) hoặc đại diện cho chính bản thân mình:

Thực hiện thanh toán cho, hoặc theo yêu cầu của người thứ ba (hay còn gọi là người thụ hưởng) hoặc chấp nhận và thanh toán hối phiếu

do người thụ hưởng ký phát; hoặc

Ủy quyền cho ngân hàng khác thanh toán, chấp nhận và thanh toán hối phiếu; hoặc

Cho phép ngân hàng khác chiết khấu chứng từ quy định trong thư tín dụng, với điều kiện chúng phù hợp với tất cả điều khoản và điều kiện của thư tín dụng [22, Điều 2]

Năm 2007, Phòng Thương Mại Quốc Tế khi ban hành bản UCP 600 đã định nghĩa lại khái niệm tín dụng chứng từ một cách hoàn chỉnh hơn, theo đó:

Tín dụng chứng từ là một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô tả như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp [24, Điều 2]

Đối với Việt Nam, Nghị định về thanh toán không dùng tiền mặt số 10/VBHN-NHNN ngày 22 tháng 02 năm 2019 có quy định:

Thanh toán bằng ngoại tệ và thanh toán quốc tế phải tuân theo các quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối hoặc các thỏa thuận quốc tế về thanh toán mà Việt Nam tham gia Trong thanh toán quốc tế, trường hợp pháp luật Việt Nam chưa quy định thì áp dụng

Trang 22

tập quán quốc tế, nếu không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam [3, Điều 3]

Trước đó, tại Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26 tháng 3 năm

2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy chế Hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán cũng

đã đề cập: Thanh toán bằng thư tín dụng là:

Việc mở, phát hành, sửa đổi, thông báo, xác nhận, kiểm tra chứng

từ, thanh toán và quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan trong thanh toán thư tín dụng thực hiện theo các quy tắc chung về tín dụng chứng từ do Phòng thương mại quốc tế ICC ban hành, do các bên tham gia thanh toán thoả thuận áp dụng và theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam [12, Điều 19]

Theo quan niệm hiện đại, Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó, một ngân hang (ngân hang mở thư tín dụng) theo yêu cầu của một khách hang (người xin mở thư tín dụng) sẽ trả tiền cho người thứ ba hoặc trả cho bất kỳ người nào theo lệnh của người thứ ba đó (gọi là người hưởng lợi) hoặc sẽ trả, hoặc chấp nhận và thanh toán hối phiếu do người hưởng lợi phát hành; hoặc ủy quyền cho một ngân hàng khác thanh toán; chấp nhận và thanh toán hoặc cho phép ngân hàng khác chiết khấu chứng từ với điều kiện chúng phù hợp với tất cả mọi quy định và điều kiện của thư tín dụng [6, tr.311]

Như vậy, trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, các nhà hoạch định chính sách trên thế giới cũng như các nhà lập pháp tại Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện, tiếp cận và cùng nhau đưa ra những chuẩn mực, định nghĩa chung nhất về hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ nhằm thống nhất chung một cách hiểu, cách vận dụng giữa các chủ thể trong hoạt động ngoại thương giúp thuận lợi, hạn chế mâu thuẫn khi áp dụng trong thực tiễn

Trang 23

1.1.4 Đặc điểm của phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ

Thư tín dụng được coi như một phương tiện để dùng trong thanh toán Thư tín dụng phát sinh từ hợp đồng thương mại nhưng có tính độc lập với hợp đồng thương mại Khi hợp đồng thương mại đã được thỏa thuận xong về các điều khoản điều kiện, thời hạn, thư tín dụng kèm chứng từ được chọn như hình thức thanh toán của hợp đồng Khi thư tín dụng đã được phát hành ra, nó

sẽ độc lập với các nghĩa vụ theo hợp đồng thương mại

Trong mối quan hệ thanh toán bằng tín dụng chứng từ, ngân hàng gửi thư tín dụng cho nhà xuất khẩu được biết biết về việc ngân hàng đã mở một L/C cho nhà nhập khẩu, theo đó sẽ cam kết thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu khi nhà xuất khẩu thực hiện đúng các điều khoản được quy định trong thư tín dụng, đồng thời cung cấp bộ chứng từ cho ngân hàng Vì vậy có thể hiểu bản chất của L/C chính là một bức thư do ngân hàng phát hành theo yêu cầu của nhà nhập khẩu để gửi cho nhà xuất khẩu thông qua ngân hàng thông báo Thư tín dụng được lập, ký bởi một ngân hàng trên cơ sở đại diện cho nhà nhập khẩu Thông qua thư tín dụng, ngân hàng phát hành cam kết sẽ thanh toán các hối phiếu được ký phát cho chính nó với điều kiện nhà xuất khẩu chấp hành các tiêu chí đã được đề cập trong thư tín dụng Trong nghiệp vụ thanh toán bằng tín dụng chứng từ, ngân hàng đưa ra các cam kết thanh toán tiền thay cho nhà nhập khẩu Vì vậy thư tín dụng có thể coi như một thỏa thuận tài trợ giữa người thụ hưởng và ngân hàng phát hành, thỏa thuận này độc lập với hợp đồng ngoại thương giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu

Mục đích của L/C ở đây không đơn thuần là giao dịch chuyển tiền thông qua mạng lưới ngân hàng giữa nước này sang nước kia mà là bản chất

để thanh toán tiền hàng có cam kết trong quan hệ mua bán giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu Nhà xuất khẩu trong quan hệ mua bán chính là người thụ hưởng của thư tín dụng không phải là người đề nghị ngân hàng phát hành

Trang 24

L/C, mà là nhà nhập khẩu sẽ thực hiện việc này Chính vì vậy, L/C khi được phát hành hợp lệ ra bởi một ngân hàng, sẽ được thông qua mạng lưới ngân hàng mà giao cho nhà xuất khẩu (bên thụ hưởng) chứ không giao cho nhà nhập khẩu là người đề nghị phát hành thư

Trong thư tín dụng, chữ “tín” ở đây được hiểu theo nghĩa bao quát, nó bao hàm ý nghĩa của sự tín nhiệm của ngân hàng Khi thực hiện mở thư tín dụng, thông thường nhà nhập khẩu sẽ phải ký quỹ với một tỷ lệ nhất định tại ngân hàng phát hành, nếu như tỷ lệ ký quỹ là 100% giá trị thư tín dụng thì về bản chất ngân hàng đang sử dụng uy tín của mình thay cho nhà nhập khẩu để tham gia giao dịch với nhà xuất khẩu Trong mối quan hệ thương mại giữa các chủ thể tại các quốc gia khác nhau, nhà xuất khẩu trước khi muốn giao hàng thường muốn được bảo đảm thanh toán bởi một tổ chức có uy tín là ngân hàng, thông qua thư tín dụng

Một trong những đặc trưng của thư tín dụng là, việc thanh toán theo cam kết tại L/C được căn cứ trên bộ chứng từ cũng như điều kiện về bộ chứng

từ theo thỏa thuận từ trước Trách nhiệm thanh toán này hoàn toàn độc lập so với việc giao hàng hóa của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu

Trong mối quan hệ thanh toán bằng tín dụng chứng từ, ngân hàng chính

là người đại diện cho nhà nhập khẩu để thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu dựa trên uy tín của ngân hàng chứ không đơn thuần là trung gian thu chi hộ Sự tham gia của ngân hàng bảo đảm cho người bán nhận được khoản tiền hàng

mà người bán đã giao, đồng thời bảo đảm tối đa cho nhà nhập khẩu trong việc nhận được hàng hóa mua theo số lượng, chất lượng, thời hạn tương ứng

1.1.5 Các bên tham gia trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ

Người yêu cầu mở L/C: Được hiểu là nhà nhập khẩu hàng, là người

mua, hoặc cũng có thể là bên do nhà nhập khẩu ủy thác

Trang 25

Ngân hàng phát hành L/C: Là ngân hàng đại diện và cung cấp tín

dụng cho nhà nhập khẩu Nhà nhập khẩu sẽ lập đơn đề nghị phát hành thư tín dụng và gửi cho ngân hàng phát hành Ngân hàng phát hành chịu trách nhiệm kiểm trả bộ chứng từ được gửi đến nếu thấy phù hợp thì thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán Ngân hàng chịu trách nhiệm trong việc kiểm tra bộ chứng từ nhằm tránh việc sai sót có thể liên quan tới trách nhiệm tài chính của ngân hàng Ngân hàng trao lại bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu và hưởng khoản tiền phí sau khi trao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu để nhận hàng

Ngân hàng thông báo: Đây thường là ngân hàng phục vụ cho nhà xuất

khẩu, tại quốc gia của nhà xuất khẩu là ngân hàng có nhiệm vụ trực tiếp báo thư tín dụng cho bên thụ hưởng, hoặc là trung gian thông báo cho một ngân hàng khác

Người thụ hưởng: Là người được hưởng lợi từ thư tín dụng, chính là

nhà xuất khẩu trong quan hệ thương mại quốc tế

Trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ, ngoài 4 đối tượng nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể có thể có thêm các bên tham gia khác như là: Ngân hàng chiết khấu, ngân hàng xác nhận, ngân hàng trả tiền Tuy nhiên thông thường không nhất thiết phải có sự tham gia của tất cả các ngân hàng như trên mà chỉ cần 2 hoặc có thể là 1 ngân hàng đứng ra thực hiện toàn

bộ chức năng nghiệp vụ nêu trên theo quy định của pháp luật, tập quán quốc

tế để phục vụ cho nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu trong hoạt động thương mại quốc tế

Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ thể hiện những ưu điểm rất lớn so với các phương thức thanh toán quốc tế khác Nguyên nhân xuất phát do phương thức này cân bằng được quan hệ giữa quyền lợi, nghĩa

vụ của nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu trong quan hệ thương mại quốc tế, mà

Trang 26

nền tảng của nó là các tập quán quốc tế về thanh toán bằng tín dụng chứng từ như UCP, ISBP … đã trở thành chuẩn mực và tiện lợi cho việc các bên thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ Điều này thể hiện qua các khía cạnh như sau

- Lợi ích đối với nhà nhập khẩu: Được bảo đảm tối đa việc bên bán

(nhà xuất khẩu) phải tuân thủ đúng các quy định tại thư tín dụng, do nhà nhập khẩu chỉ phải thanh toán tiền (thông qua ngân hàng của mình) khi nhận được

bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện đã đề cập tại thư tín dụng Trên cơ sở thư tín dụng đã được phát hành và khuôn khổ pháp lý theo các tập quán quốc

tế như UCP, ISBP … được các bên lựa chọn, ngân hàng sẽ đứng ra để hỗ trợ cho nhà nhập khẩu trong việc bảo đảm các điều kiện của thư tín dụng phải được nhà xuất khẩu tuân thủ đầy đủ Tuy nhiên, xuất phát từ việc thư tín dụng sau khi phát hành ra sẽ độc lập so với hợp đồng ngoại thương và ngân hàng thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình với cơ sở là bộ chứng từ, nên thực tế có thể phát sinh trường hợp ngân hàng vẫn phải thanh toán cho nhà xuất khẩu bất

kể chất lượng hàng hóa tốt hay xấu nếu vì lý do nào đó mà bộ chứng từ vẫn phù hợp với L/C

- Lợi ích đối với nhà xuất khẩu: Khi tham gia giao dịch thương mại

quốc tế, điều nhà xuất khẩu mong muốn nhất là họ được bảo đảm thanh toán đúng số tiền, đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng Điều này hoàn toàn được bảo đảm nếu áp dụng thanh toán bằng tín dụng chứng từ, tất nhiên, trong mối quan hệ này, nhà xuất khẩu phải bảo đảm hoàn thành đúng nghĩa vụ của mình về việc giao hàng đúng chất lượng, số lượng, quy cách …, tuân thủ đúng các điều khoản điều kiện của thư tín dụng và cung cấp bộ chứng từ phù hợp với L/C đã mở Trường hợp nhà xuất khẩu không thực hiện đúng nghĩa

vụ của mình, không cung cấp được bộ chứng từ phù hợp với L/C thì có thể sẽ

bị từ chối thanh toán Ngoài ra, khi tham gia phương thức thanh toán bằng tín

Trang 27

dụng chứng từ, nhà xuất khẩu còn được ngân hàng hỗ trợ tư vấn về mặt thủ tục pháp lý nhằm hạn chế tối đa các rủi ro có thể xảy ra

- Lợi ích đối với các ngân hàng: Trong mối quan hệ thanh toán bằng

tín dụng chứng từ, các ngân hàng thu được nguồn lợi nhuận cao từ các khoản phí từ nhà nhập khẩu/ nhà xuất khẩu Ngoài ra, ngân hàng thông qua việc thanh toán L/C còn có thể huy động được nguồn vốn ngoại tệ, phát triển hoạt động tín dụng bằng các nghiệp vụ như cho vay chiết khấu L/C … Tuy nhiên, với tư cách là ngân hàng phát hành thư tín dụng hay ngân hàng thông báo thì các ngân hàng cũng sẽ chịu trách nhiệm nhất định đối với nhà nhập khẩu/ nhà xuất khẩu đối với các cam kết của mình

Trên cơ sở đó, có thể thấy thư tín dụng là bản cam kết trách nhiệm của ngân hàng tiền hành trả tiền theo lệnh người mua và lấy từ tài khoản của người mua (nhập khẩu) để trả cho người xuất khẩu số tiền hàng đã giao khi người xuất khẩu trình chứng từ Thư tín dụng xuất phát và trên cơ sở hợp đồng mua bán nên phải thống nhất với hợp đồng, nhưng lại độc lập với hợp đồng này [8, tr.239] Trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ, trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên được ràng buộc với nhau một cách chặt chẽ, khiến cho việc bảo đảm thanh toán tiền hàng cũng như giao hàng đúng chất lượng, số lượng, tiến độ được bảo đảm hơn Tạo nên mối quan hệ công bằng hơn trong giao dịch thương mại quốc tế giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu Điều này có được là do sự đóng góp to lớn của các nền tảng pháp lý về hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ như UCP, ISBP … Các ngân hàng tham gia vào quy trình thanh toán bằng tín dụng chứng từ với tư cách là một trong những thành viên của quy trình này và chịu trách nhiệm, ràng buộc pháp lý chặt chẽ Các ngân hàng là tổ chức được đánh giá là có uy tín cao, do

đó đã là trung gian để tạo lập niềm tin cho nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu khi tham gia giao dịch thương mại quốc tế

Trang 28

1.2 Quy trình nghiệp vụ và quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ

1.2.1 Quy trình nghiệp vụ thanh toán bằng tín dụng chứng từ

1.2.1.1 Quy trình thanh toán bằng tín dụng chứng từ

Thanh toán bằng tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán có quy trình chặt chẽ, phức tạp, tính tuân thủ cao Điều này thể hiện qua việc quá trình thanh toán gồm rất nhiều bước tác nghiệp từ tất cả các bên tham gia Có thể tóm lược quy trình thanh toán bằng tín dụng chứng từ theo sơ đồ như sau:

Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ L/C

Chú thích:

(1) Nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu đàm phán, thực hiện giao kết hợp đồng thương mại quốc tế, trong đó có quy định cụ thể về phương thức thanh toán theo thư tín dụng

(2) Dựa trên hợp đồng ngoại thương đã ký có quy định về điều kiện thanh toán bằng tín dụng chứng từ Người mua đề nghị ngân hàng phát hành một thư tín dụng cho người bán

(3) Dựa trên đơn đề nghị phát hành thư tín dụng của nhà nhập khẩu, ngân hàng kiểm soát lại các điều kiện theo quy định pháp luật và tập quán quốc tế Ngân hàng phát hành mở L/C sau đó thông báo cho người bán thông qua các ngân hàng đại lý, hoặc thông qua chính chi nhánh của mình ở quốc gia của người bán

(4) Ngân hàng thông báo kiểm tra lại các điều kiện của thư tín dụng ngay khi

Trang 29

nhận được L/C từ ngân hàng phát hành Trường hợp thư tín dụng phù hợp thì thực hiện thông báo cho người bán, trường hợp thư tín dụng không phù hợp thì trả lại cho ngân hàng phát hành

(5) Sau khi nhận được thư tín dụng từ ngân hàng thông báo, người bán kiểm tra lại L/C, trường hợp L/C đã phù hợp với hợp đồng ngoại thương đã xác lập trước

đó với người mua, thì người bán thực hiện giao hàng Trường hợp thư tín dụng chưa phù hợp, người bán có thể yêu cầu điều chỉnh lại thư tín dụng cho phù hợp với các thỏa thuận tại hợp đồng thương mại quốc tế đã ký trước đó

(6) và (6’) Nhà xuất khẩu thực hiện giao hàng theo thỏa thuận, đồng thời lập

bộ chứng từ theo các điều kiện tại thư tín dụng Sau đó xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng để được thanh toán tiền hàng

(7) Ngân hàng phát hành kiểm tra lại bộ chứng từ, trường hợp bộ chứng từ đã phù hợp với thư tín dụng thì thực hiện thanh toán Trường hợp bộ chứng từ không phù hợp thì hoàn trả lại bộ chứng từ cho người bán và có quyền từ chối thanh toán

(8) Người mua thực hiện hoàn trả tiền cho ngân hàng phát hành

(9) Ngân hàng phát hành trao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu để nhà nhập khẩu đi nhận hàng

1.2.1.2 Nội dung chủ yếu của thư tín dụng

1 Số hiệu của thư tín dụng (Credit Number): Nhằm phục vụ cho việc

dẫn chiếu trong các văn kiện, chứng từ liên quan trong hồ sơ thanh toán L/C, cũng như thuận lời trong việc tương tác thư từ, email, điện tín giữa các bên, thì tất cả các thư tín dụng đều được đánh số hiệu riêng biệt Đây là phần đơn giản nhưng rất quan trọng của một thư tín dụng

2 Địa điểm phát hành thư tín dụng: Là nơi ngân hàng phát hành thực

hiện phát hành thư tín dụng cam kết thanh toán cho bên thụ hưởng Địa điểm này có thể thể là nơi tham áp dụng luật quốc gia để giải quyết các tranh chấp, vấn đề phát sinh liên quan tới thư tín dụng

3 Ngày phát hành thư tín dụng (Date of Issuance): Đây là ngày phát

sinh hiệu lực cam kết của ngân hàng phát hành đối với bên thụ hưởng, là ngày được sử dụng làm mốc tính thời hạn của thư tín dụng Đây cũng là ngày dùng

để xác định việc nhà nhà nhập khẩu mở thư tín dụng đúng thời hạn theo thỏa

Trang 30

thuận tại hợp đồng ngoại thương hay không

4 Tên, địa chỉ của các bên có liên quan đến thư tín dụng:

a Cá bên tham gia giao kết hợp đồng thương mại quốc tế: Nhà nhập khẩu (người yêu cầu mở thư tín dụng), nhà xuất khẩu (người thụ hưởng)

b Ngân hàng tham gia trong quy trình thanh toán bằng tín dụng chứng từ: Ngân hàng phát hành thư tín dụng, Ngân hàng thông báo …

c Một số tổ chức có liên quan như: Phòng Thương mại và Công nghiệp, Bộ Thương mại, Tổ chức kiểm định chất lượng hàng hóa, Công ty Vận tải, Công ty bảo hiểm …

5 Các thông tin định lượng cụ thể về số tiền thanh toán, loại tiền thanh toán, số lượng hàng hóa, đơn giá (Credit Currency and Amount): Đây

là thông tin cốt lõi và quan trọng nhất đối với một thư tín dụng Do đó số tiền thanh toán cần được ghi bằng số, bằng chữ và phải thống nhất với nhau, các đơn vị về tiền tệ, số lượng … cần được viết theo chuẩn ISO về ký hiệu

6 Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng: Đây là thời hạn mà ngân hàng

phát hành trong thời gian đó cam kết sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu nhận được bộ chứng từ phù hợp với thư tín dụng Thời hạn này được tính từ ngày

phát hành cho tới ngày hết hiệu lực của thư tín dụng

7 Thời hạn trả tiền của thư tín dụng (Date of Payment): Căn cứ vào

quy định tại hợp đồng thương mại quốc tế để xác định thời hạn này Việc

thanh toán theo thư tín dụng có thẻ thực hiện theo phương thức trả ngay hoặc

Trang 31

nhận thanh toán

8 Ngày giao hàng (Shipment Date): Ngày giao hàng được xác định

theo thỏa thuận tại hợp đồng ngoại thương giữa người bán và người mua

9 Thông tin liên quan đến hàng hóa: Các thông tin về số lượng, giá

cả, chất lượng, ký hiệu, trọng lượng hàng hóa … theo thỏa thuận của các bên cũng sẽ được ghi nhận tại thư tín dụng

10 Các điều kiện về giao nhận, vận tải hàng hóa: Các điều kiện này

bao gồm các điều kiện cơ sở giao hàng theo Incoterm (CIF, FOB …), địa

điểm giao hàng, phương thức vận tải, điều kiện chuyển tải …

11 Bộ chứng từ mà nhà xuất khẩu phải xuất trình để được thanh toán:

Việc xác định nhà xuất khẩu đã thực hiện đúng nghĩa vụ giao hàng theo thư tín dụng sẽ căn cứ trên bộ chứng từ Bộ chứng từ phù hợp sẽ là căn cứ để ngân hàng phát hành thanh toán tiền hàng theo cam kết tại thư tín dụng Thành phần của bộ chứng từ phụ thuộc vào từng trường hợp, tính chất hàng hóa, điều kiện vận tải, quy định pháp luật của các quốc gia của nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu và phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên

1.2.2 Phân loại Thư tín dụng (L/C)

1.2.2.1 Các loại thư tín dụng cơ bản

Căn cứ vào tính năng sử dụng, có thể chia thư tín dụng thành một số loại cơ bản như sau:

- Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C)

Thư tín dụng có thể hủy ngang có đặc điểm là, khi thư đã được phát hành ra rồi, vì một lý do nào đó, người yêu cầu mở L/C vẫn có thể đề nghị ngân hàng phát hành điều chỉnh, hủy bỏ hay bổ sung nội dung của thư tín dụng mà không nhất thiết cần phải thông báo cho bên thụ hưởng biết Loại thư tín dụng này ít được sử dụng bởi vì L/C có thể hủy bỏ chỉ là một lời hứa không có cam kết đảm bảo một cách chắc chắn

Trang 32

Thư tín dụng loại này có lợi cho người nhập khẩu nhưng bất lợi cho người xuất khẩu Loại cam kết này tính ràng buộc trách nhiệm pháp lý không cao Vì vậy, nó rất ít được sử dụng trong hoạt động thương mại trên thế giới Loại thư tín dụng có thể hủy ngang này thường chỉ được sử dụng trong quan

hệ thương mại giữa các chủ thể đã hiểu biết rõ về nhau cũng như tạo lập được

uy tín nhất định với nhau

- Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C)

Loại thư tín dụng này có đặc điểm, sau khi thư đã phát hành ra thì các bên không được đơn phương hủy bổ, bổ sung hay sửa đổi Để thực hiện điều chỉnh hay hủy bỏ thư tín dụng cần phải dựa trên sự thống nhất của các bên Thư tín dụng loại này ràng buộc trách nhiệm pháp lý giữa các bên là nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, ngân hàng phát hành, ngân hàng thông báo … một cách chặt chẽ Do vậy thư tín dụng không thể hủy ngang được sửa dụng nhiều trên thực tế Hiện nay theo phiên bản mới nhất của bộ Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP600) do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) ban hành, một khi thư tín dụng đã được ngân hàng phát hành ra thì đương nhiên được hiểu là thư tín dụng không thể hủy ngang, dù trong nội dung L/C không đề cập là loại thư tín dụng không thể hủy bỏ

- Thư tín dụng không thể huỷ ngang, có xác nhận (Confirmed Irrevocable L/C)

Đây cũng là dạng L/C không hủy ngang, do một ngân hàng khác có uy tín cao hơn đứng ra bảo đảm thanh toán tiền hàng cho bên thụ hưởng theo yêu cầu của ngân hàng phát hành thư tín dụng Ngân hàng này gọi là ngân hàng xác nhận Trong quy trình thanh toán bằng tín dụng chứng từ đối với L/C loại này, yêu cầu xác nhận thư tín dụng không đến từ nhà nhập khẩu (người đề nghị mở thư tín dụng) mà xuất phát từ người thụ hưởng (nhà xuất khẩu) Nguyên nhân do nhà xuất khẩu không có niềm tin về uy tín, tình hình tài

Trang 33

chính của ngân hàng phát hành và muốn có một ngân hàng uy tín hơn để bảo đảm cho việc thanh toán tiền hàng cho mình

Ở dạng thanh toán theo thư tín dụng không thể hủy ngang có xác nhận này, phát sinh hai ngân hàng đứng ra cam kết thanh toán cho bên thụ hưởng,

do đó, loại L/C này có tính bảo đảm rất cao cho nhà xuất khẩu Ngân hàng xác nhận khi đã thanh toán cho nhà xuất khẩu thì có thể truy đòi lại số tiền này từ ngân hàng phát hành

- Thư tín dụng không thể huỷ ngang, miễn truy đòi (Irrevocable without recourse L/C)

Loại hình thư tín dụng này sẽ quy định ngân hàng phát hành không có quyền đòi lại số tiền đã thanh toán cho người thụ hưởng Với loại L/C này, người bán sẽ phải ghi trên hối phiếu miễn truy đòi người ký phát (Without recourse to drawers), đồng thời các điều khoản tại L/C cũng phải được ghi nhận tương ứng

1.2.2.2 Các loại L/C đặc biệt

Trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ, phổ biến là các loại thư tín dụng như đã được nêu trên Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu phát sinh trong một số trường hợp đặc biệt của các chủ thể, thì vẫn phát sinh một

số dạng L/C đặc biệt, có thể kể đến như dưới đây:

- Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C)

Đây là một dạng của thư tín dụng không thể hủy ngang, quy định khi

có lệnh của người thụ hưởng đầu tiên, ngân hàng trả tiền có thể thanh toán toàn bộ hay một phần tiền của thư tín dụng cho một hoặc nhiều người căn cứ lệnh của người thụ hưởng đầu tiên

Dạng thư tín dụng này thường được áp dụng đối với trường hợp người hưởng lợi đầu tiên chỉ là trung gian môi giới giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu mà không phải là người trực tiếp cung ứng hàng hóa

Trang 34

Tính năng chuyển nhượng của L/C dạng này chỉ được sử dụng một lần, đồng nghĩa với việc người hưởng lợi thứ hai không được chuyển nhượng cho người hưởng lợi tiếp theo

- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C)

Đây là loại thư tín dụng không hủy ngang, có đặc điểm là sau khi đã sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực của L/C đã phát hành, thì hạn mức L/C được khôi phục lại giá trị như cũ, và tiếp tục được sử dụng theo tính năng như vậy cho đến khi hết tổng giá trị hạn mức của thư tín dụng

Có thể hiểu, là loại thư tín dụng không hủy ngang mà giá trị của nó được tái tạo nhiều lần ngay khi nghĩa vụ thanh toán của lần trước được thực hiện xong Thư tín dụng tuần hoàn thường được sử dụng trong thanh toán với các bạn hàng quen thuộc, với số lượng, chủng loại hàng hoá mua bán ổn định trong một thời gian dài Lợi thế của thư tín dụng tuần hoàn là bên mua chỉ cần

mở một L/C cho cả đơn đặt hàng và nhà xuất khẩu không phải chờ đợi một thư tín dụng mới

- Thư tín dụng giáp lưng (Back to Back L/C)

Đây là loại L/C được phát hành dựa vào một L/C khác, “Giáp lưng” được hiểu trên tổng thể là một giao dịch thương mại được mua bán qua trung gian bằng hai L/C khác nhau

Về bản chất và đứng trên góc độ thương mại, thư tín dụng giáp lưng và thư tín dụng chuyển nhượng đều được sử dụng cho các hình thức mua bán qua trung gian, nhưng điều khác biệt cơ bản và quan trọng nhất là nghĩa vụ thanh toán của hai ngân hàng phát hành trong hai thư tín dụng hoàn toàn khác nhau Nên ngân hàng mở L/C phải thực hiện đúng các quy định vế ký quỹ, bảo lãnh và thế chấp trong khi mở thư tín dụng

Nguyên nhân việc sử dụng thư tín dụng L/C giáp lưng là người thụ hưởng đầu tiên không thể tự mình cung ứng hàng hóa, mà chỉ tham gia với

Trang 35

vai trò là bên trung gian hưởng hoa hồng Thư tín dụng giáp lưng khác với L/C chuyển nhượng ở đặc điểm L/C gốc và L/C giáp lưng là độc lập với nhau, đồng nghĩa với việc nghĩa vụ trả tiền cho bộ chứng từ hợp lệ của L/C giáp lưng là của ngân hàng phát hành L/C giáp lưng Vì vậy, mức độ bảo đảm quyền lợi của nhà xuất khẩu (bên thụ hưởng L/C giáp lưng) là cao hơn

- Thư tín dụng dự phòng (Stand by L/C)

Thực chất đây là một hình thức bảo lãnh ngân hàng Standby L/C xuất hiện và được sử dụng rộng rãi tại Mỹ do đạo luật Ngân hàng nội địa của quốc gia này không cho phép các ngân hàng thương mại phát hành bảo lãnh bảo đảm nợ của người khác Nhằm phát triển hoạt động của mình, các ngân hàng

Mỹ đã tìm kiếm các phương tiện tài trợ khác là phát hành Tín dụng thư Các giao dịch này thực chất đều là bảo lãnh của ngân hàng nhưng không trái luật

Từ thực tế này, một loại hình giao dịch bảo lãnh ra đời với cái tên không phải

là bảo lãnh, mà là …Tín dụng thư dự phòng

Cũng như Bảo lãnh độc lập, Tín dụng thư dự phòng là một công cụ rất

đa năng, sử dụng được ở bất cứ lĩnh vực nào có nhu cầu bảo đảm Nó có thể dùng để bảo đảm thanh toán cho các khoản vay, ứng trước, đền bù tổn thất do

vi phạm cam kết, không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, cả trong lĩnh vực tài chính và phi tài chính Tuy nhiên, do sự đồng nhất cơ bản của hai loại hình giao dịch này nên trong thực tế người ta thường dùng lẫn Điều khác biệt trong thói quen sử dụng mang tính tập quán từng khu vực: Mỹ và các nước

Mỹ La-tinh, Trung Đông thường dùng Tín dụng thư dự phòng, trong khi châu

Âu và châu Á chủ yếu vẫn dùng bảo lãnh độc lập

Điểm khác biệt căn bản giữa thư tín dụng thương mại và thư tín dụng

dự phòng: trong khi thư tín dụng thương mại yêu cầu bộ chứng từ xuất trình

để thanh toán phải chứng minh việc người hưởng lợi đã hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng thì việc xuất trình chứng từ trong thư tín dụng dự phòng nhằm

Trang 36

mục đích chứng minh việc người yêu cầu mở thư tín dụng không thực hiện các cam kết trong hợp đồng, khi đó ngân hàng mở thư tín dụng dự phòng phải thanh toán ngay số tiền mở L/C cho người thụ hưởng

- Thư tín dụng có điều khoản đỏ (Red clause L/C)

Đây là dạng thư tín dụng mà trong đó có ghi một điều khoản đặc biệt cho phép một ngân hàng (được chỉ định cụ thể) được phép ứng trước một khoản tiền cho người thụ hưởng trước khi giao hàng Thực chất là một uỷ quyền của ngân hàng phát hành cho một ngân hàng khác ứng trước tiền hàng cho người xuất khẩu để người xuất khẩu có thể giao hàng hoá theo L/C quy định Khi người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ thanh toán thì ngân hàng chỉ trả phần giá trị còn lại sau khi đã khấu trừ phần thanh toán ứng trước

1.2.3 Quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ

1.2.3.1 Đối với người nhập khẩu

Trong trường hợp hợp đồng ngoại thương có quy định áp dụng điều khoản

về phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ, thì điều kiện để nhà xuất khẩu thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng, là nhà nhập khẩu phải làm việc với ngân hàng để mở thư tín dụng với đầy đủ các điều kiện về thời hạn, giá trị …

Tuy nhiên, trong mối quan hệ thanh toán bằng tín dụng chứng từ, trường hợp bộ chứng từ không phù hợp với các điều kiện đã được thỏa thuận, xác lập và ghi nhận trong L/C thì nhà nhập khẩu sẽ có quyền từ chối hoàn trả toàn bộ hay một phần tiền của thư tín dụng cho ngân hàng

1.2.3.2 Đối với người xuất khẩu

Nhà xuất khẩu chỉ thực hiện nghĩa vụ giao hàng khi đã chắc chắn nhà nhập khẩu đã mở thư tín dụng tại ngân hàng để cam kết thanh toán tiền Để bảo đảm quyền lợi được thanh toán tiền hàng của mình, nhà xuất khẩu cần phải kiểm tra L/C đã đầy đủ các nội dung phù hợp với hợp đồng ngoại thương

Trang 37

hay chưa, trường hợp chưa phù hợp với hợp đồng ngoại thương, hoặc phát sinh thêm các điều kiện bất lợi cho mình thì được quyền đàm phán, yêu cầu nhà nhập khẩu đề nghị ngân hàng phát hành thư tín dụng điều chỉnh nội dung L/C cho phù hợp

Theo UCP600 quy định “Trừ khi có quy định khác tại Điều 38, một tín dụng không có thể sửa đổi mà cũng không có thể hủy bỏ nếu như không có sự thỏa thuận của ngân hàng phát hành, ngân hàng xác nhận, nếu có, và của người thụ hưởng” [24, Điều 10]

Ngay sau khi thực hiện xong nghĩa vụ giao hàng của mình, nhà xuất khẩu cần hoàn thiện bộ chứng từ theo các điều kiện của L/C và cung cấp cho ngân hàng trong thời hạn còn hiệu lực của L/C để được thanh toán tiền hàng Ngân hàng chỉ thực hiện thanh toán nếu kiểm tra bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện đã thỏa thuận trọng L/C

1.2.3.2 Đối với ngân hàng

Ngân hàng phát hành thư tín dụng: Trong quy trình thanh toán bằng

tín dụng chứng từ, ngân hàng phát hành thư tín dụng có trách nhiệm mở L/C trên cơ sở đơn yêu cầu mở thư tín dụng của nhà nhập khẩu Đồng thời có trách nhiệm thông báo cho nhà xuất khẩu biết về việc thư tín dụng đã được

mở Ngân hàng sẽ thu được một khoản phí nhất định khi thực hiện nghiệp vụ này theo thỏa thuận giữa các bên Ngân hàng phát hành thư tín dụng sẽ phải kiểm tra bộ chứng từ do nhà xuất khẩu cung cấp trước khi thực hiện các nghĩa

vụ thanh toán Việc kiểm tra sẽ là tính hợp lệ của bộ chứng từ so với nội dung thư tín dụng Sau khi thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, ngân hàng trao lại bộ chứng từ và nhận lại tiền từ nhà nhập khẩu Nhà nhập khẩu sẽ căn cứ bộ chứng từ để nhận hàng

Ngân hàng thông báo: Đây là ngân hàng đại lý của ngân hàng phát

hành thư tín dụng Ngân hàng có nghĩa vụ thông báo cho nhà xuất khẩu việc

Trang 38

thư tín dụng theo hợp đồng ngoại thương đã được phát hành Ngân hàng thông báo chịu trách nhiệm bảo đảm sự xác thực của thư tín dụng mà mình nhận thông báo Thông thường, ngân hàng thông báo sẽ là ngân hàng có trụ

sở kinh doanh tại quốc gia của nhà xuất khẩu

Ngân hàng xác nhận: căn cứ yêu cầu của ngân hàng phát hành L/C,

ngân hàng này đứng ra xác nhận sẽ thanh toán tiền cho ngân hàng phát hành thư tín dụng Hành vi xác nhận này cho phép nhà xuất khẩu được thanh toán bởi một ngân hàng ở nước sở tại của mình, hoặc một ngân hàng mà mình tin cậy.Ngân hàng xác nhận cam kết trả tiền không hủy ngang cho nhà xuất khẩu

trên cơ sở nhận được bộ chứng từ theo đúng quy định

Ngân hàng được chỉ định thanh toán: là ngân hàng xác nhận hoặc bất

cứ ngân hàng nào khác được ngân hàng ủy nhiệm để khi nhận bộ chứng từ xuất trình phù hợp với những quy định trong L/C sẽ thực hiện chức năng thanh toán, chấp nhận hối phiếu kỳ hạn, thương lượng thanh toán Sau khi thực hiện thanh toán xong, các ngân hàng này sẽ đứng ra để đòi tiền ngân hàng phát hành thư tín dụng

Ngân hàng chiết khấu: Đây là ngân hàng sẽ thực hiện mua hối phiếu

có kỳ hạn chưa đến hạn thanh toán do nhà xuất khẩu ký phát cho ngân hàng trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng phát hành thư tín dụng

Chiết khấu bộ chứng từ xuất trình theo L/C được coi là một hình thức cấp tín dụng mà Ngân hàng chấp nhận ứng trước một khoản tiền với giá trị thấp hơn giá trị L/C cho nhà xuất khẩu trên cơ sở giá trị bộ chứng từ xuất khẩu (bộ chứng từ phải phù hợp với tất cả các điều kiện và điều khoản qui định trong thư tín dụng (L/C) gốc đính kèm các bộ chứng từ xuất khẩu gốc)

Nguyên nhân cần chiết khấu là do nhà xuất khẩu không muốn chờ đợi thanh toán từ ngân hàng phát hành nên muốn nhận tiền thanh toán trước từ ngân hàng chấp nhận chiết khấu L/C Ngân hàng thông báo sẽ tự chịu trách

Trang 39

nhiệm thu tiền từ ngân hàng phát hành thư tín dụng

Như vậy có thể thấy, quy trình thanh toán bằng tín dụng chứng từ có thể có rất nhiều bên tham gia Tuy nhiên trên thực tế tùy vào từng trường hợp

cụ thể mà có thể không xuất hiện một số ngân hàng tham gia vào hoạt động này Thông thường chỉ có hai ngân hàng (ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo) để thực hiện các chức năng trong quy trình thanh toán bằng tín dụng chứng từ nêu trên

1.3 Chức năng vai trò của thanh toán bằng tín dụng chứng từ

Trong các giao dịch thương mại, tâm lý chung đối với các chủ thể tham gia là bên bán luôn kỳ vọng sẽ được thanh toán trước giao hàng hoặc ngay khi giao hàng, còn bên mua kỳ vọng sẽ nhận được hàng, kiểm tra chất lượng trực tiếp rồi mới thực hiện thanh toán tiền hàng Đối với các giao dịch mua bán mà người mua và người bán ở khoảng cách địa lý không quá xa, ví dụ các giao dịch mà bên mua và bên bán ở cùng một quốc gia thì có thể thực hiện được Đối với các hợp đồng thương mại quốc tế, khoảng cách về vị trí địa lý của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu là rất xa Đồng thời sự tín nhiệm giữa người mua và người bán là hạn chế Do đó giải quyết được tất cả các vướng mắc trên, thì cần có một giải pháp thanh toán phù hợp, bảo đảm được cả quyền lợi

và mong muốn của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu

Thế nhưng, thanh toán chuyển tiền theo cách truyền thống là không đáp ứng được kỳ vọng của các bên trong trường hợp này, do đó các bên phải thỏa thuận một giải pháp trung gian, đó là việc thanh toán chỉ được thực hiện khi cung cấp được chứng từ về quyền kiểm soát hoặc quyền sở hữu của hàng hóa vận chuyển, đồng thời phải có bên thứ ba đủ uy tín làm trung gian, chịu trách nhiệm thanh toán và bàn giao bộ chứng từ

Với tiềm lực tài chính dồi dào cũng như uy tín cao, các ngân hàng được nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu tín nhiệm để đóng vài trò trung gian thanh toán

Trang 40

cũng như bàn giao bộ chứng từ như nói ở trên Ngân hàng cam kết có điều kiện với bên bán là sẽ thực hiện thanh toán nếu người bán cung cấp được bộ chứng từ phù hợp cũng như tuân thủ các quy định đã thỏa thuận với người mua Việc ngân hàng là tổ chức trung gian trong phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ đã bảo đảm được quyền lợi cũng như mong muốn của người bán và người mua trong giao dịch thương mại quốc tế

1.3.1 Vai trò đối với người xuất khẩu

Trong mối quan hệ thanh toán bằng tín dụng chứng từ Thư tín dụng được lập trên cơ sở hợp đồng thương mại nhưng khi đã được phát hành ra thì

sẽ độc lập so với hợp đồng Do đó, khi người bán đã thực hiện nghĩa vụ giao hàng đồng thời lập được bộ chứng từ hoàn chỉnh, phù hợp với nội dung thư tín dụng đã được thỏa thuận thì việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán là bắt buộc Trên thực tế có thể có những trường hợp phát sinh như hàng hóa bị tổn thất lúc vận chuyển thì việc giải quyết các sự việc đó cũng không thể ảnh hưởng tới nghĩa vụ thanh toán tiền hàng theo L/C Kể cả trường hợp trong quá trình hàng hóa đang vận chuyển, có biến động về giá cả thị trường khiến người mua không muốn nhận hàng và thanh toán, hoặc người mua gặp rủi ro mất khả năng thanh toán, thì với phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng

từ, chỉ cần một điều kiện là bộ chứng từ phù hợp với nội dung L/C thì việc bảo đảm thanh toán cho người bán là chắc chắn

Như vậy có thể thấy, đối với phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ, quyền lợi được thanh toán của nhà xuất khẩu được bảo đảm một cách tối đa

1.3.2 Vai trò đối với nhà nhập khẩu

Trong giao dịch thương mại quốc tế, các chủ thể ở các quốc gia khác nhau nên sự tín nhiệm lẫn nhau rất hạn chế Do đó người mua hoàn toàn không muốn thanh toán cho người bán khi mà mình chưa nhận được hàng,

Ngày đăng: 01/04/2021, 13:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ (2012), Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2012 về Thanh toán không dùng tiền mặt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2012 về Thanh toán không dùng tiền mặt
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
2. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2014), Nghị định số 70/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 07 năm 2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 70/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 07 năm 2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Năm: 2014
3. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2019), Nghị định số 10/VBHN-NHNN ngày 22 tháng 02 năm 2019 về thanh toán không dùng tiền mặt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 10/VBHN-NHNN ngày 22 tháng 02 năm 2019 về thanh toán không dùng tiền mặt
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Năm: 2019
4. Công ước Geneve 1930 “Luật thống nhất về Hối phiếu” (Uniform Law for Bill of Exchange – ULB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thống nhất về Hối phiếu
5. Nguyễn Bá Diến (chủ biên) (2005), Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại quốc tế
Tác giả: Nguyễn Bá Diến (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
6. Nguyễn Bá Diến (chủ biên) (2013), Giáo trình Tư pháp Quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư pháp Quốc tế
Tác giả: Nguyễn Bá Diến (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
7. Nguyễn Bá Diến (chủ biên) (2014), Giáo trình Công pháp Quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công pháp Quốc tế
Tác giả: Nguyễn Bá Diến (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
8. Nguyễn Thị Hường, Tạ Lợi (chủ biên) (2007), Giáo trình Nghiệp vụ ngoại thương lý thuyết và thực hành, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình Nghiệp vụ ngoại thương lý thuyết và thực hành
Tác giả: Nguyễn Thị Hường, Tạ Lợi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2007
11. Liên hợp quốc (1980), Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế
Tác giả: Liên hợp quốc
Năm: 1980
12. Ngân hàng nhà nước Việt Nam (2002), Quyết định số 226/2002/QĐ- NHNN ngày 26 tháng 3 năm 2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy chế Hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26 tháng 3 năm 2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy chế Hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
Tác giả: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Năm: 2002
13. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2014), Thông tư số 46/2014/TT-NHNN ngày ngày 31 tháng 12 năm 2014 Hướng dẫn về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 46/2014/TT-NHNN ngày ngày 31 tháng 12 năm 2014 Hướng dẫn về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2014
14. Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (2019), Báo cáo thường niên năm 2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên năm 2018
Tác giả: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Năm: 2019
15. Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (2020), Báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ cho giai đoạn tài chính sáu tháng kết thúc ngày 30 tháng 06 năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ cho giai đoạn tài chính sáu tháng kết thúc ngày 30 tháng 06 năm 2020
Tác giả: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Năm: 2020
16. Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (2020), Báo cáo thường niên năm 2019, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên năm 2019
Tác giả: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Năm: 2020
17. Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam (2019), Báo cáo thường niên năm 2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên năm 2018
Tác giả: Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam
Năm: 2019
18. Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam (2020), Báo cáo tài chính riêng cho năm tài chính kết thúc ngày 31 tháng 12 năm 2019, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chính riêng cho năm tài chính kết thúc ngày 31 tháng 12 năm 2019
Tác giả: Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam
Năm: 2020
19. Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam (2020), Báo cáo thường niên năm 2019, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên năm 2019
Tác giả: Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam
Năm: 2020
44. Nguyễn Thanh Hải (2008), Luật thống nhất Geneva về Hối phiếu và Kỳ phiếu (1930) ULB, https://thanhai.wordpress.com/2008/09/20/ulb-1930 Link
45. Quy tắc và Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ, https://voer.edu.vn/m/quy-tac-va-thuc-hanh-thong-nhat-tin-dung-chung-tu/7503f7cd, xem 14/8/2020 Link
47. International Trade Administration (ITA), United States Department of Commerce (DOC) (2020), Methods of Payment in International Trade https://2016.export.gov/tradefinanceguide/eg_main_043221.asp Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w