1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng pháp luật xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích qua thực tiễn ở thành phố hà nội

92 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như ta thấy, việc phòng chống tác hại của rượu, bia và chất kích thích là một yêu cầu cần thiết phải được sự quan tâm cả từ phía nhà nước và xã hội giải quyết bằng các biện pháp đồng bộ,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI LÁI

XE TRONG TÌNH TRẠNG SỬ DỤNG CHẤT KÍCH THÍCH QUA

THỰC TIỄN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI LÁI

XE TRONG TÌNH TRẠNG SỬ DỤNG CHẤT KÍCH THÍCH QUA

THỰC TIỄN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Lí luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 8380101.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HOÀNG ANH

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI LÁI XE TRONG TÌNH TRẠNG SỬ DỤNG CHẤT KÍCH THÍCH 6

1.1 Xử lý hành chính và áp dụng pháp luật xử lý hành chính 6

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của xử lý hành chính 6

1.1.2 Nội dung, đối tượng và chủ thể xử lý hành chính 9

1.1.3 Vai trò của hoạt động xử lý hành chính 13

1.2 Áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích 13

1.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích 13

1.2.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích 16

1.2.3 Vai trò của áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích 19

1.2.4 Các giai đoạn và nội dung áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích 21

Trang 5

1.2.5 Những điều kiện bảo đảm và các tiêu chí nâng cao hiêu quả áp

dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong

tình trạng sử dụng chất kích thích 29

Tiểu kết chương 1 35

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI LÁI XE TRONG TÌNH TRẠNG SỬ DỤNG CHẤT KÍCH THÍCH QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 37

2.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích 37

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 37

2.1.2 Điều kiện xã hội 38

2.1.3 Cơ sở hạ tầng 39

2.2 Thực trạng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích qua thực tiễn ở thành phố Hà Nội 41

2.2.1 Tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội 41

2.2.2 Tình hình vi phạm và công tác xử lý hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội 46

2.3 Thực trạng ADPL xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích qua thực tiễn ở thành phố Hà Nội 52

2.3.1 Thực tiễn phát hiện các vi phạm của lái xe sử dụng chất kích thích khi tham gia giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội 52

2.3.2 Tình hình ADPL xử lý hành chính đối với người lái xe trong trạng thái sử dụng chất kích thích trên địa bàn thành phố Hà Nội 54

Trang 6

2.4 Những kết quả trong áp dụng pháp luật xử lý hành chính

đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

qua thực tiễn ở thành phố Hà Nội 59

2.4.1 Những ưu điểm 59

2.4.2 Những hạn chế 61

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 62

Tiểu kết chương 2 66

Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI LÁI XE TRONG TÌNH TRẠNG SỬ DỤNG CHẤT KÍCH THÍCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 67

3.1 Quan điểm 67

3.2 Giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích trên địa bàn thành phố hà nội 70

3.2.1 Giải pháp chung 70

3.2.2 Giải pháp cụ thể áp dụng cho địa bàn thành phố Hà Nội 75

Tiểu kết chương 3 80

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADPL Áp dụng pháp luật ATGT An toàn giao thông BPCC Biện pháp cưỡng chế CHXHCN Cộng hoà xã hội chủ nghĩa LXLVPHC Luật xử lý vi phạm hành chính PLHC Pháp luật hành chính

TNGT Tại nạn giao thông VPHC Vi phạm hành chính XLHC Xử lý hành chính XLVPHC Xử lý vi phạm hành chính XPHC Xử phạt hành chính

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng thống kê số vụ tại nạn giao thông xảy ra trên

địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2016 đến

Bảng 2.2 Bảng thống kê tai nạn giao thông do sử dụng rượu

bia chất kích thích trên địa bàn thành phố Hà Nội giai

Bảng 2.3 Bảng thống kê tình hình vi phạm hành chính trong

lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố

Hà Nội giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 49 Bảng 2.4 Bảng thống kê các hành vi vi phạm pháp luật giao

thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội giai

Bảng 2.5 Bảng thống kê số người lái xe sử dụng chất kích

thích trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm

Bảng 2.6 Bảng thống kê xử lý vi phạm của lái xe sử dụng chất

kích thích khi tham gia giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 59

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực trạng xã hội và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đã có những tác động tích cực đến sự phát triển của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay Bên cạnh đó cũng có những tác động tiêu cực gây ra các hệ lụy không nhỏ cho nước ta cả về mặt kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể như thói quen sử dụng rượu, bia, chất kích thích, để lại những hậu quả rất nghiêm trọng như: Tai nạn giao thông, chấn thương, bạo lực gia đình, mất an ninh trật tự, gia tăng khoảng cách giàu nghèo Chính vì vậy, việc loại bỏ thói quen sử dụng rượu, bia, chất kích thích đang là một thách thức đối với sự phát triển con người mang tính bền vững Như ta thấy, việc phòng chống tác hại của rượu, bia và chất kích thích là một yêu cầu cần thiết phải được sự quan tâm cả từ phía nhà nước và xã hội giải quyết bằng các biện pháp đồng bộ, toàn diện đặc

biệt trong lĩnh vực giao thông; hoạt động áp dụng pháp luật, công tác xử lý vi

phạm hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

là cơ sở pháp lý quan trọng cho quy trình áp dụng của nó

Theo thống kê của Ủy ban ATGT Quốc gia, năm 2019 cả nước xảy

ra tổng cộng 17.626 vụ TNGT, làm chết 7.624 người, bị thương 13.624 người Trong đó có hàng loạt các vụ TNGT đặc biệt nghiêm trọng xảy ra

do lái xe sử dụng rượu, bia và chất kích thích, vi phạm nồng độ cồn gây bức xúc dư luận xã hội Cũng theo một thống kê khác trong báo cáo phân tích ngành bia mới được bộ phận nghiên cứu của công ty chứng khoán SSI công bố (năm 2019) sản lượng tiêu thụ của ngành rượu bia tại Việt Nam là 4,6 tỷ lít, lớn hơn nhiều so với các quốc gia khác trên thế giới Mặt khác, ở góc độ xã hội thống kê này còn chưa bao hàm toàn bộ việc sản xuất rượu bia mang tính chất nhỏ lẻ, hộ gia đình

Trang 10

Đứng trước tình hình đáng báo động đó, ngày 14 tháng 06 năm 2019 Quốc hội đã ban hành luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2020; cùng với đó ngày 30 tháng 12 năm 2019 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt được thông, qua đánh dấu sự tham gia mạnh mẽ của nhà nước và hệ thống pháp luật vào công cuộc đấu tranh phòng chống tác hại của rượu, bia và chất kích thích trong ATGT Có thể thấy sau khi có hiệu lực các văn bản này đã có những tác động tích cực thay đổi mạnh

mẽ thói quen của người Việt trong việc tham gia giao thông, tuy nhiên thực tế cho thấy quá trình áp dụng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc; mặt khác theo thống kê cho thấy quá trình tác động của các văn bản này đến nhân dân còn chưa triệt để, điều này thể hiện rõ nhất trong báo cáo của Bộ Y tế Cụ thể: chỉ trong 06 ngày Tết, năm 2020 với tình trạng sử dụng rượu bia cả nước có hơn 30.000 ca khám, cấp cứu liên quan đến tai nạn giao thông, giảm 17,8% so với 2019; tuy nhiên có tới hơn 12.000 (40%) ca phải nhập viện điều trị, trong

đó đã tử vong 136 ca, tăng 0,93% so với năm 2019

Cùng với đó, qua khảo sát hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu nào

đề cập một cách toàn diện, có hệ thống về thực tiễn xử lý hành chính đối với

người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích (trên cơ sở thực tiễn TP

Hà Nội) Do vậy, đòi hỏi cần phải có sự nghiên cứu nghiêm túc đầy đủ trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn, làm cơ sở để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, đưa ra những giải pháp phù hợp để công tác này ngày càng đạt hiệu quả cao hơn Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài

nghiên cứu: “Áp dụng pháp luật xử lý hành chính đối với người lái xe trong

tình trạng sử dụng chất kích thích qua thực tiễn ở thành phố Hà Nội” làm

đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và Pháp luật của mình

Trang 11

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm qua, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, tuy nhiên những công trình đó tiếp cận ở những góc độ khác nhau xung quanh vấn đề áp dụng pháp luật và thực hiện pháp luật về xử lý hành chính Mặt khác, phạm vi nghiên cứu của các công trình khá rộng và chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể hoạt động áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với tài xế lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích qua thực tiễn ở

thành phố Hà Nội Đề tài: “Áp dụng pháp luật xử lý hành chính đối với

người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích qua thực tiễn ở thành phố Hà Nội” được coi là công trình đầu tiên nghiên cứu về thực trạng áp

dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với tài xế lái xe trong tình trạng sử

dụng chất kích thích trong bối cảnh mới Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay:

việc thực thi Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, thực thi Luật Phòng chống tác hại của rượu bia năm 2019.v.v

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, đề tài đưa ra những định hướng, giải pháp hoàn thiện áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích nhằm hạn chế tình trạng tai nạn

giao thông do tài xế lái xe gây ra phù hợp với yêu cầu thực tiễn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực trạng

áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích ở thành phố Hà Nội đánh giá những thành tựu, hạn chế trong việc áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích và đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế đó

Trang 12

- Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện hiệu quả mục đích đề ra luận văn triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu Cụ thể:

Thứ nhất, phân tích làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến áp dụng

pháp luật xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

Thứ hai, qua việc nghiên cứu thực tiễn và khảo sát tình hình áp dụng

pháp luật xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích luận văn chỉ rõ những ưu điểm và hạn chế, thiếu sót cũng như nguyên nhân của chúng

Thứ ba, luận văn đưa ra các quan điểm và đề xuất các giải pháp góp

phần nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Luận văn đi sâu nghiên cứu những luận điểm khoa học, những vấn đề

lý luận và thực trạng trong việc áp dụng pháp luật xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích và thực tiễn ADPL

* Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích trong thời gian nghiên cứu: từ năm 2016 đến năm 2020

Về địa bàn nghiên cứu: thành phố Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, bám sát quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và chính sách pháp luật của nhà

Trang 13

Mác-nước về việc đấu tranh và phòng, chống tác hại của rượu, bia đặc biệt trên lĩnh vực an toàn giao thông

Trên cơ sở đó, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh để nêu bật tình hình

từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn là một công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống và toàn diện về việc áp dụng pháp luật xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích - qua thực tiễn thành phố Hà Nội Vì thế, Luận văn có một số đóng góp khoa học như sau:

+ Tổng hợp và làm rõ một số vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

+ Phân tích và chỉ ra được ưu điểm, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng về áp dụng pháp luật xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích thông qua thực tiễn địa bàn TP Hà Nội

+ Đề xuất được giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng pháp luật xử lý hành

chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, phần mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 Chương cụ thể như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối

với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

Chương 2 Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về xử lý hành

chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích qua thực tiễn thành phố Hà Nội

Chương 3 Quan điểm, giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật về xử lý

hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI LÁI XE TRONG TÌNH TRẠNG SỬ DỤNG CHẤT KÍCH THÍCH

1.1 Xử lý hành chính và áp dụng pháp luật xử lý hành chính

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của xử lý hành chính

1.1.1.1 Khái niệm của xử lý hành chính

Thực tiễn thi hành và ADPL, XLVPHC thường được hiểu là việc xử lý các hành vi vi phạm các quy tắc quản lý của nhà nước nhưng không phải là tội phạm và bị xử lý theo thủ tục hành chính do các cá nhân, cơ quan hành chính nhà nước tiến hành chứ không phải thông qua thủ tục TTHS Nội dung này được biết đến lần đầu thông qua khái niệm "phạm pháp vi cảnh" trong Nghị định số 143/CP của Hội đồng Chính phủ ngày 27/05/1977 về ban hành

điều lệ xử phạt vi cảnh; theo đó: “Những hành vi xâm phạm đến trật tự an

toàn xã hội mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức xử phạt bằng các biện pháp hành chính khác là phạm pháp vi cảnh” Điều này

có nghĩa, phạm pháp vi cảnh được hiểu là tổng thể các hành vi xâm hại đến các mối quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ; chưa đến mức xử phạt bằng các biện pháp hành chính hoặc TCTNHS; ở góc độ pháp luật khác vi cảnh ở đây được hiểu là việc “vi phạm luật lệ sinh hoạt ở nơi công cộng”[28] như vi phạm quy định về giữ gìn vệ sinh công cộng, trật tự công cộng, trật tự an toàn giao thông… Sau này, qua quá trình nội luật và pháp điển, khái niệm “vi cảnh” được hiểu rộng hơn: không chỉ là những vi phạm luật lệ sinh hoạt nơi công cộng mà được hiểu là những vi phạm nhỏ chưa đến mức bị coi là tội

Trang 15

phạm hình sự; đồng thời đây cũng là nền tảng quan trọng phát triển khái niệm

sự là đủ ngăn chặn Thời kỳ này khi thực hiện một hành vi VPHC cá nhân, tổ chức sẽ phải chịu BPCC đó là xử phạt hành chính; tuy nhiên cho đến Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 nhóm BPCC này được mở rộng trở thành "Xử lý vi phạm hành chính" với nội hàm "gồm xử phạt VPHC và các biện pháp xử lý hành chính khác"

Quay trở lại Nghị định số 143/CP năm 1977, 04 hình thức xử lý phạm pháp vi cảnh được đề cập đến gồm: cảnh cáo; phạt tiền; phạt lao động công ích; phạt giam [4] Mức xử phạt thông qua theo Nghị định số 200/HĐBT được Hội Đồng Bộ Trưởng ban hành năm 1985 về sửa đổi Điều lệ phạt vi

cảnh được tăng lên Cùng với đó, Pháp lệnh Xử phạt VPHC 1989 được ban

hành, năm 1991 Nghị định 141 được ban hành với nội dung quy định về XPVPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự đã giúp cho nội hàm của "xử lý vi phạm hành chính" trở nên đầy đủ hơn

Về giá trị cốt lõi trong nội hàm của khái niệm XLVPHC trong suốt tiến trình phát triển và thay đổi trong chính sách pháp luật là không thay đổi, tuy nhiên chính sự thay đổi về chính sách pháp luật lại dẫn đến một hệ quả khác

đó là sự thay đổi về hình thức xử lý vi phạm hành chính (hay biện pháp xử lý hành chính) Điều này thể hiện cụ thể trong các văn bản như: pháp lệnh số

Trang 16

44/2002/PL-UBTVQH10; Pháp lệnh số 31/2007/PL-UBTVQH11; pháp lệnh

số 31/2007/PL-UBTVQH11; Cùng với đó là sự hoàn thiện hơn về các biện pháp XPVPHC tại Khoản 1 Điều 21 LXLVPHC năm 2012

Pháp luật XLVPHC hiện đại của Việt Nam có đưa ra khái niệm cụ thể

tại Điều 2 LXLVPHC năm 2012, với đặc điểm, nội hàm rõ ràng của nhóm

biện pháp này gồm: (i) áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước, xâm phạm đến các QHXH pháp luật bảo vệ nhưng tính chất, mức độ không đáng kể và chưa bị coi là tội phạm; (ii) là biện pháp xử lý phi hình sự bao gồm các biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp xử lý hành chính; (iii) được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền

Tuy nhiên ở góc độ khoa học pháp lý khái niệm trên vẫn chưa hoàn toàn đưa ra được các dấu hiệu nội hàm của các biện pháp xử lý vi phạm hành chính, chính vì vậy qua việc phân tích, tổng hợp, kế thừa và tiếp thu các quan điểm tác giả xin đưa ra khái niệm về xử lý hành chính như sau:

"Xử lý vi phạm hành chính là biện pháp cưỡng chế do chủ thể pháp luật có thẩm quyền áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật quản

lý nhà nước, về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, nhằm mục đích răn đe - giáo dục, phòng ngừa và khắc phục hậu quả thông qua các biện pháp cụ thể bao gồm xử phạt hành chính và xử lý hành chính."

Mức độ của HVVP là một yếu tố quan trọng nhằm xác định ranh giới giữa hành vi bị áp dụng các biện pháp xử lý hình sự hay phi hình sự; việc thực

Trang 17

hiện các hành vi này ở mức độ XLVPHC mặc dù có thể gây nguy hại cho quan hệ xã hội động thời được PLHS bảo vệ, tuy nhiên vẫn chưa đáng kể và XLVPHC cùng các thiết chế xã hội khác đủ sức ngăn chặn và phòng ngừa

Thứ hai, biện pháp xử lý phi hình sự bao gồm các biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp xử lý hành chính

XLVPHC được thể hiện chủ yếu thông qua các hình thức này với nội dung phân hoá phù hợp với tầm quan trọng khách thể bị HVVP xâm hại, mức độ nguy hiểm của hành vi và chủ thể của hành vi; chính qua những các hình thức này XLVPHC thể hiện ý nghĩa thực tiễn của mình trong đời sống pháp lý

Thứ ba, được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền

Với nội dung hạn chế số lượng chủ thể có thẩm quyền XLVPHC giúp cho hoạt động ADPL có sự chuyên môn hoá, tránh sự tuỳ hiện và phục vụ hiệu qủa cho hoạt động thanh tra và quy kết trách nhiệm

1.1.2 Nội dung, đối tượng và chủ thể xử lý hành chính

1.1.2.1 Về chủ thể

Thống kê trên cổng thông tin điện tử của chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, tính đến ngày 15/07/2020 nước ta có tổng cộng khoảng 271 Nghị định được Chính phủ thông qua, ban hành về lĩnh vực vi phạm hành chính Theo đó các chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý hành chính cũng được ghi nhận rõ ràng từng lĩnh vực, từng cơ quan và từng cá nhân Tuy nhiên về cơ bản nhóm các cơ quan có thẩm quyền XLVPHC vẫn được tuân theo quy định của luật XLVPHC năm 2012 với các cơ quan gồm:

Thứ nhất, chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả Theo quy định chương II luật XLVPHC

năm 2012 các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền gồm: Chủ tịch uỷ ban nhân dân; Công an nhân dân; Bộ đội biên phòng; cảnh sát biển; hải quan; kiểm

Trang 18

lâm; cơ quan thuế; quản lý thị trường; thanh tra; cảng vụ hàng hải, hàng không, đường thuỷ nội địa; toà án nhân dân; cục thi hành án dân sự; cục quản

lý lao động ngoài nước; cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được uỷ quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước CHXHCN Việt

Nam ở nước ngoài

Thứ hai, thẩm quyền, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp XLHC

Theo quy định chương III luật XLVPHC năm 2012 các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền gồm: Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp xã và toà án nhân

dân cấp huyện

1.1.2.2 Về đối tượng

Về đối tượng của hoạt động XLVPHC có thể chia làm hai nhóm chính:

Thứ nhất, nhóm đối tượng là "thể nhân"

Thể nhân được hiểu là chủ thể pháp lý gắn liền với cơ thể sinh học Về

cơ bản, cá nhân nói chung khi mang đủ năng lực trách nhiệm hành chính khi thực hiện hành vi phạm pháp hành chính thì đều trở thành người bị áp xử lý (trừ trường hợp ngoài phạm vi lãnh thổ và các trường hợp miễn trừ ngoại giao) Tuy nhiên, trong một số trường hợp họ có thể được loại trừ trách nhiệm hành chính, cụ thể đối cá nhân từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, do tính chất về trình

độ nhận thức xã hội nên nhóm người này chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính với hành vi vi phạm cấu thành với mặt chủ quan do lỗi cố ý Các người nằm ngoài nhóm này (không bao gồm người dưới 14 tuổi) khi thực hiện hành

vi phạm pháp hành chính với mọi cấu thành lỗi đều bị XLVPHC

Trách nhiệm hành chính không loại trừ đối với các cá nhân thuộc biên chế các cơ quan nhà nước vi phạm, đặc biệt là các cơ quan có thẩm quyền áp dụng XLVPHC Việc xử lý nhóm người này ngoài việc áp dụng hình thức xử phạt họ có thể phải chịu áp dụng bổ sung các biện pháp cưỡng chế khác và xử

Trang 19

lý theo mức độ tại cơ quan chủ quản Trong trường hợp vi phạm trong khi

đang thi hành nhiệm vụ thì xử lý theo quy định của luật cán bộ, công chức

Đặc biệt, XLVPHC cụ thể là xử lý hành chính có thể được áp dụng đối với người từ đủ 12 tuổi nhưng nhỏ hơn 14 tuổi trong trường hợp thực hiện hành vi khách quan của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; người từ

đủ 14 tuổi nhưng nhỏ hơn 16 tuổi trong trường hợp thực hiện hành vi khách

quan của một tội phạm rất nghiêm trọng cấu thành từ lỗi vô ý

Thứ hai, nhóm đối tượng là tổ chức

Việc xem xét XLVPHC được đặt ra với tổ chức về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra trong giới hạn thẩm quyền vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ Trong trường hợp tổ chức vi phạm là cơ quan nhà nước thì chế tài hành chính không được áp dụng, thay vào đó các cơ quan này sẽ phải chịu xử lý theo các quy định khác liên quan (ví dụ: các luật tổ chức cơ quan)

1.1.2.3 Về nội dung

Thứ nhất, nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính

XLVPHC là hoạt động phán ánh quyền lực nhà nước qua việc điều chỉnh các mỗi quan hệ xã hội, mà hành vi của nó chưa tới mức truy cứu TNHS; cùng với đó lĩnh vực điều chỉnh của LXLVPHC có độ bao phủ rất lớn Các quy phạm về XLVPHC cùng với nhau tạo nên một bộ phận của thiết chế PLHC quan trọng; chính vì tầm quan trọng này việc ADPL về XLVPHC không thể được thực hiện một cách tuỳ tiện Nguyên tắc XLVPHC được quy định tại điều 3, LXLVPHC năm 2012 với nội dung được cụ thể trong các nguyên tắc xử phạt VPHC và các nguyên tắc xử lý hành chính Cụ thể:

- Đối với xử phạt VPHC, các nguyên tắc được xây dựng bao gồm: (i) nguyên tắc xử lý nghiêm minh kịp thời; (ii) nguyên tắc công bằng; (iii) nguyên tắc tương xứng; (iv) nguyên tắc chỉ xử phạt khi pháp luật quy định; và các nguyên tắc mang tính kỹ thuật như (v) chỉ xử phạt 01 lần với 01 hành vi

Trang 20

vi phạm; (vi) nguyên tắc xử phạt đối với nhiều người cùng thực hiện 01 hành

vi vi phạm và 01 người thực hiện nhiều hành vi vi phạm; (vii) mức phạt tiền đối với cá nhân và tổ chức

- Đối với XLHC, các nguyên tắc được xây dựng gồm: (i) nguyên tắc chỉ xử lý khi pháp luật quy định, (ii) nguyên tắc tuân thủ quy trình xử lý; (iii) nguyên tắc về trách nhiệm và quyền chứng minh

Thứ hai, về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính

Thời hiệu XLVPHC là khoảng thời gian theo quy định pháp luật, nếu quá khoảng thời gian này thì trách nhiệm của người hoặc tổ chức vi phạm được miễn trừ hay nói cách khác cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ không

xử lý họ Các trường hợp cụ thể và nội dung chính về thời hiệu XLVPHC được quy định tại Điều 6, LXLVPHC năm 2012 theo đó: đối với xử phạt, thời hiệu tối thiểu là 01 năm; đối với XLHC thời hiệu tối thiểu là 03 tháng, tối đa 01 năm

Ngoài ra, LXLVPHC còn quy định nội dung về 09 biện pháp ngăn chặn trong các điều từ 119 đến 132 và một số biện pháp khắc phục hậu quả

Trang 21

1.1.3 Vai trò của hoạt động xử lý hành chính

Hoạt động ADPL về lĩnh vực hành chính nói chung và XLVPHC nói riêng thời gian qua có những tác động tích cực đến đời sống xã hội, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của mình Cụ thể:

Thứ nhất, tăng cường cơ chế quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là một lĩnh vực vai trò quan trọng của hoạt động ADPL về XLVPHC nhằm mục đích giữ ổn định kỷ cương, trật tự hành chính Điều này không chỉ được thể hiện chính sách pháp luật, các văn bản pháp lý

mà còn thể hiện trực tiếp trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; theo đó XLVPHC còn được hiểu là công cụ của hoạt động quản lý

Thứ hai, đảm bảo ANTT và ATXH

Thông qua việc xử lý các hành vi được pháp luật cấm do không phù hợp với đạo đức, xã hội và những giá trị chung; các chuẩn mực về đạo đức, văn hoá, lợi ích kinh tế được đảm bảo Điều này đồng nghĩa tình trạng vô kỉ luật, xâm hại quyền lợi hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức được hạn chế

ở mức thấp nhất

Thứ ba, tạo môi trường pháp lý phù hợp cho sự phát triển chung của

nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; đồng thời tạo nên giới hạn giữa sự cho phép nhà nước và các hành vi nhà nước cấm Cơ chế kiểm soát xã hội này phù hợp với hầu hết các hành vi lệch chuẩn gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho các quan hệ hành chính

1.2 Áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

1.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

Để có thể xây dựng nội hàm khái niệm "áp dụng pháp luật về XLVPHC đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích" ngoài việc làm

Trang 22

rõ nội hàm hoạt động XLVPHC, còn cần làm rõ khái niệm “áp dụng pháp luật” và “rượu, bia và chất kích thích” Cụ thể:

1.2.1.1 Về chất kích thích, đặc biệt là rượu bia

Chất kích thích được sử dụng rộng rãi trên thế giới ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực hay hợp pháp và bất hợp pháp Về tích cực, không thể phủ nhận giá trị và tầm ảnh hưởng của chất kích thích trong lĩnh vực sực khoẻ con người đặc biệt là y học; chất kích thích với những đặc tính tác động sinh học vốn có được sử dụng với vai trò là thuốc kê theo đơn, thuốc phẫu thuật, thực phẩm chức năng… Ngoài những tác dụng tích cực, việc sử dụng chất kích thích không đúng cách, lạm dụng và đặc biệt đối với việc sử dụng một số chất kích thích có tác động mạnh (như ma tuý tổng hợp) có thể gây nhiều tác động xấu đến sức khoẻ, gây ảo giác, dẫn đến hậu quả phụ thuộc hoặc nghiện

Thứ hai, về rượu, bia và chất ma tuý

Rượu, bia là chất kích thích sử dụng phổ biến trên thế giới với thành phần chứa ethanol (công thức hoá học C2H5OH), được lên men từ nhiều nguyên liệu khác nhau và được dùng làm đồ uống Không thể phủ nhận giá trị sức khoẻ của rượu bia khi được sử dụng đúng liều lượng và có khoa học, tuy nhiên trong nhiều trường hợp lạm dụng, sử dụng quá nhiều, hay việc sử dụng trong trường hợp điều khiển phương tiện giao thông đặc biệt là phương tiện trọng tải lớn có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đến cá nhân người sử dụng và cho xã hội

Trang 23

Ma tuý là chất kích thích thần kinh cường độ mạnh, ngoài những đặc tính gây hưng phấn hệ thần kinh, ma tuý còn có tác dụng gây nghiện Các loại

ma tuý phổ biến được chiết xuất từ cây thuốc phiện (anh túc), cần xa, côca, ngoài

ra còn những loại ma tuý tổng hợp như: Heroin, Moc-phin, Methamphetamine, Thuốc lắc (Ecstacy), Ketamin, Các chất này được nghiên cứu và có tên riêng trong khoa học Danh mục các chất ma tuý được quan tâm nghiên cứu

cả trong y học, trong lĩnh vực đấu tranh, phòng chống tội phạm và tác hại của nó; cụ thể trong Công ước 1961, 1971, 1988 của Liên Hợp Quốc về kiểm soát ma tuý Nghị định số 60/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 73/2018/NĐ-

CP của chính phủ

Thứ ba, về tác hại

Các nghiên cứu y học đều cho thấy tác hại của rượu bia, chất kích thích khi lạm dụng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến chức năng của não, sự phán đoán, tính tự chủ, ý thức về đạo đức hoàn toàn bị ức chế Các biểu hiện của việc suy giảm và rối loạn các chức năng hoạt động của não bộ như trí nhớ suy giảm, phản xả chậm, tư duy trì, rối loạn cảm xúc và mất kiểm soát hành vi, trầm cảm, rối loạn tri giác sinh ra có ảo thị, ảo xúc và các vấn đề sức khoẻ khác

Như đã đề cập về tác hại của chất kích thích, đặc biệt là rượu bia, người

sử dụng khi dùng đến một mức độ giới hạn thì khả năng gây ra thiệt hại về vật chất và tinh thần cho người khác là rất cao Ở lĩnh vực giao thông, thiệt hại này có tính chất, mức độ rất nghiêm trọng; tai nạn giao thông xảy ra do người lái xe không tỉnh táo nói chung và sử dụng chất kích thích nói riêng không chỉ gây thiệt hại về cơ sở hạ tầng, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng sức khoẻ của thành phần tham gia giao thông khác

Với nội dung đó, người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

là thuật ngữ dùng để chỉ nhóm người tham gia giao thông bằng phương tiện

Trang 24

giao thông đường bộ ngay sau khi sử dụng chất kích thích hoặc đã sử dụng chất kích thích một thời gian nhưng hàm lượng chất kích thích vẫn có thể gây ảnh hưởng đến não bộ của họ, dẫn đến nguy cơ tiềm tàng khả năng gây nguy hiểm cho xã hội

1.2.1.2 Khái niệm áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

Từ đó có thể thấy nội hàm khái niệm ADPL về XLVPHC đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích như sau:

ADPL về XLVPHC đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích là một bộ phận của hoạt động ADPL nói chung, là việc các cơ quan

có thẩm quyền thực hiện, áp dụng khi xảy ra VPHC đối với cá nhân là người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích trong trường hợp có căn cứ cụ thể, bằng quyết định cá biệt trong trường hợp này thường là quyết định XPVPHC; nhằm mục đích ngăn ngừa hậu quả nghiêm trọng do nhóm người này có thể gây ra, đồng thời răn đe, giáo dục ý thức pháp luật

1.2.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

Thứ nhất, ADPL về XLVPHC đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích là một bộ phận của hoạt động ADPL

Là một bộ phận của hoạt động ADPL, ADPL về XLVPHC đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích mang đầy đủ đặc trưng

cơ bản của hoạt động ADPL nói chung, các quyết định đưa ra đều tạo ra hệ quả phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật

Với nội dung đó, các giai đoạn ADPL về XLVPHC cũng tuân theo những trình tự nhất định cụ thể: (i) Phân tích đánh giá nội dung, điều kiện hoàn cảnh thực tế có hay không xảy ra vi phạm pháp luật; (ii) Qua đánh giá hành vi vi phạm, cá nhân, cơ quan có thẩm quyền lựa chọn quy phạm pháp

Trang 25

luật làm cơ sở pháp lý; (iii) Đưa ra (hay ban hành) quyết định áp dụng pháp luật và (iv) Tổ chức thực hiện quyết định XLVPHC trên thực tế

Thứ hai, chỉ được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền

Nhà nước thực hiện quản lý hành chính thông qua hệ thống cơ quan công quyền của mình, các cơ quan này được phân hoá theo từng nhánh quyền lực, theo từng lĩnh vực nhằm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Cũng vì

lý do này, các cơ quan nhà nước khác nhau sẽ thực hiện các chức năng nhiệm

vụ không trùng lặp, đảm bảo sự bao phủ về mọi lĩnh vực điều chỉnh, tối giản ngân sách nhà nước và nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ Việc phân hoá cho một nhóm cơ quan có thẩm quyền ADPL về XLVPHC đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích, không chỉ phù hợp với những giá trị

đó và còn phù hợp với lĩnh vực chuyên môn của các nhóm cơ quan này

Thứ ba, vi phạm người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

là loại vi phạm pháp luật chỉ có thể phát hiện xử lý thông qua việc tuần tra kiểm soát trực tiếp

Không khó để thấy các vi phạm về chất kích thích như ma tuý hay rượu, bia thường ít được phát hiện xử lý hơn các vi phạm khác trong lĩnh vực giao thông đường bộ, nguyên nhân chủ yếu là do chuẩn mực định lượng về hàm lượng chất kích thích được coi là căn cứ định mức xử lý; chính vì vậy trong nhiều trường hợp cơ quan có thẩm quyền hoàn toàn có thể phát hiện được hành vi vi phạm của người tham gia giao thông do các biểu hiện mất kiểm soát trong quá trình điều khiển phương tiện, nhưng không thể xử lý do thiếu công cụ định lượng nồng độ

Ngoài ra đối với trường hợp chủ phương tiện sử dụng chất kích thích

là ma tuý, nhằm giữ tỉnh táo khi điều khiển phương tiện giao thông trong một thời gian dài thì các biểu hiện mang tính vật chất gần như không có Cơ quan có thẩm quyền trong quá trình thực hiện nhiệm vụ buộc phải thông qua

Trang 26

hoạt động kiểm tra trực tiếp thông qua thiết bị chuyên dụng mới có thể phát hiện ra vi phạm

Thứ tư, đối tượng là người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích trong trường hợp có căn cứ cụ thể

Như đã đề cập về tác hại của chất kích thích, đặc biệt là rượu bia, người sử dụng khi dùng đến một mức độ giới hạn thì khả năng gây ra thiệt hại về vật chất và tinh thần cho người khác là rất cao Ở lĩnh vực giao thông, thiệt hại này có tính chất, mức độ rất nghiêm trọng; tai nạn giao thông xảy ra

do người lái xe không tính táo nói chung và sử dụng chất kích thích nói riêng không chỉ gây thiệt hại về cơ sở hạ tầng, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng sức khoẻ của thành phần tham gia giao thông khác Với nội dung đó, người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích là thuật ngữ dùng để chỉ nhóm người tham gia giao thông bằng phương tiện giao thông đường bộ ngay sau khi sử dụng chất kích thích hoặc đã sử dụng chất kích thích một thời gian nhưng hàm lượng chất kích thích vẫn có thể gây ảnh hưởng đến não bộ của họ, dẫn dến khả năng gây nguy hiểm cho xã hội của

họ luôn tiềm tàng cho xã hội

Do tác động của chất kích thích đến hệ thần kinh nói chung, nhóm đối tượng này khi bị phát hiện hành vi vi phạm thường có lời nói, cử chỉ thể hiện thái độ không hợp tác, dễ bị kích động, trong nhiều trường hợp phủ nhận hoàn toàn chứng cứ từ phía cơ quan có thẩm quyền đưa ra và không thực hiện theo yêu cầu từ phía cơ quan có thẩm quyền; điều này đòi hỏi sự sáng tạo, cũng như năng lực trình độ từ phía cơ quan có thẩm quyền đặc biệt là lực lượng cảnh sát giao thông, trong quy trình ADPL

Thứ năm, kết quả xử lý bằng quyết định cá biệt trong trường hợp này thường là quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Khác với các văn bản pháp luật ADPL khác, văn bản pháp luật ở đây

Trang 27

được sử dụng là văn bản ADPL cá biệt; điều này có nghĩa đối với mỗi hành vi

vi phạm thì sẽ có một văn bản ADPL cá biệt, văn bản này sẽ không áp dụng cho bất kì hành vi nào khác kể cả hành vi tương đồng

Quyết định XPVPHC đối với cá nhân điều khiển phương tiện giao thông tình trạng sử dụng chất kích thích được thực hiện đúng theo thể thức nội dung được pháp luật quy định cụ thể là mẫu Quyết định số 01, 02 được ghi nhận tại Thông tư số 37/2017/TT-BGTVT ban hành ngày 09 tháng 10 năm 2017

Thứ sáu, nhằm mục đích ngăn ngừa hậu quả nghiêm trọng do nhóm người này có thể gây ra, đồng thời răn đe, giáo dục ý thức pháp luật

Với những thiệt hại to lớn về cơ sở vật chất (bao gồm cả tài sản nhà nước và tài sản cá nhân, tổ chức khác) cùng với các thiệt hại về tính mạng sức khoẻ, các mối quan hệ dân sự, hình sự phát sinh sau khi xảy ra tai nạn giao thông; việc phòng ngừa, ngăn chặn khả năng xảy ra hậu quả nghiêm trọng này

là thực sự cần thiết Các nhà hoạch định chính sách, nhà làm luật và các nhà nghiên cứu hầu hết đều có chung quan điểm chi phí phòng ngừa phần nhiều sẽ nhỏ hơn chi phí sửa chữa; đặc biệt tai nạn giao thông lại có tác động đến nhóm khách thể có khả năng khắc phục rất thấp là sức khoẻ, trong trường hợp xâm hại đến tính mạng thì việc sửa chữa hoàn toàn là không thể Vấn đề này không chỉ được thể hiện trong các chính sách, mà còn được thể hiện trong các văn bản pháp luật với đường lối xử lý nghiêm, đề cao tính phòng ngừa chung

1.2.3 Vai trò của áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

ADPL về XLVPHC đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động ADPL đối với lĩnh vực giao thông đường bộ nói chung và an toàn của các thành phần tham gia giao thông nói riêng Điều này trước hết được thể hiện ở mục đích hướng tới

Trang 28

của ADPL về XLVPHC đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích là nhằm ngăn ngừa hậu quả, thiệt hại vật chất đáng kể đe doạ xảy

ra Các nhà nghiên cứu, hay các nhà hoạch định chính sách luôn có sự thống nhất cao về chủ trương "phòng hơn chữa" và đặc biệt là thiệt hại về tình mạng sức khoẻ con người

Sự phòng ngừa ở đây được thể hiện ở nhiều góc độ như về loại tài sản

có thể bị xâm hại (tính mạng, sức khoẻ, phương tiện giao thông, các công trình tư, công trình công, v.v ) về niềm tin của nhân dân đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước đặc biệt trong lĩnh vực giao thông đường bộ, uy tín của các cơ quan lực lượng chủ quản, v.v

Ở khía cạnh khác, đặt mình trong mối quan hệ rằng buộc giữa ADPL

và ý thức pháp luật; việc ADPL về XLVPHC đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích cho thấy thái độ nghiêm khắc của nhà nước đối với loại hành vi này Thông qua hoạt động ADPL đúng, đủ, nhanh chóng, ý thức pháp luật được điều hướng tích cực hơn Ý thức pháp luật là nền tảng vững chắc cho hoạt động xây dựng pháp luật, ADPL và đưa pháp luật vào gần hơn với đời sống xã hội Mặt khác, giao thông đường bộ là lĩnh vực luôn được

sự quan tâm rất lớn từ phía xã hội do mức độ thường xuyên và tần số tham gia của người dân; bởi vậy, hoạt động ADPL ở lĩnh vực này có vai trò hết sức quan trọng trong việc giáo dục ý thức pháp luật nói chung và xây dựng niềm tin của người dân vào hệ thống pháp luật quốc gia

Với những tác hại tiêu cực của chất kích thích, ADPL về XLVPHC đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích cho thấy sự quan tâm của nhà nước đến sức khoẻ người dân và chất lượng nguồn lao động Qua hoạt động ADPL này, chất kích thích được đưa và dạng quản lý chặt chẽ hơn, phạm vi sử dụng bị thu hẹp; đồng thời cùng với sự ra đời luật phòng chống

Trang 29

tác hại rượu bia năm 2019 chắc chắn trong tương lai việc kiểm soát lĩnh vực này là hoàn toàn khả thi

1.2.4 Các giai đoạn và nội dung áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

1.2.4.1 Các giai đoạn áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với

người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

Các vi phạm hành chính về sử dụng chất kích thích khi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được phát hiện chủ yếu thông qua hoạt động tuần tra, kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền và được xử lý theo trình

tự, thủ tục XLVPHC trong tuần tra, kiểm soát của nhóm cơ quan này Cụ thể:

Thứ nhất, giai đoạn chuẩn bị

Cơ quan cảnh sát giao thông có thẩm quyền lên kế hoạch tổ chức hoạt động tuần tra, kiểm soát, XLVPHC về giao thông đường bộ; đồng thời phổ biến thông tin về các kế hoạch, tổ chức hoạt động tuần tra, kiểm soát, áp dụng pháp luật XLVPHC về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng

sử dụng chất kích thích Thông qua kế hoạch cụ thể các tổ công tác chuẩn bị phương tiện kĩ thuật bao gồm: phương tiện đo nồng độ cồn trong hơi thở; thiết bị đo, thử chất ma tuý theo đúng quy định pháp luật cụ thể là các quy định về tiêu chuẩn và đo lường Đặc biệt đối với các thiết bị tiêu hao, thông qua kế hoạch các tổ tuần tra kiểm soát có kế hoạch phù hợp chuẩn bị đủ số lượng phục vụ công tác

Ngoài ra, dựa vào tuyến địa bàn được phân công tuần tra kiểm soát, giám đốc công an tỉnh, trưởng phòng cảnh sát giao thông, trưởng công an cấp huyện, đội trưởng đội cảnh sát giao thông, tuần tra, dẫn đoàn quy định điều

13 Thông tư số 65/2020/TT-BCA có thẩm quyền và trách nhiệm tham mưu, xây dựng, ban hành kế hoạch tuần tra kiểm, kiểm soát, và xử lý vi phạm trong phạm vi địa bàn Kế hoạch tuần tra kiểm soát phải được công khai theo

Trang 30

nguyên tắc dân chủ; đồng thời thể hiện rõ nội dung và hình thức thực hiện theo quy định điều 9, điều 10 Thông tư 65/2020/TT-BCA Qua đó, tổ trưởng

tổ cảnh sát giao thông sẽ phổ biến quán triệt nội dung kế hoạch cụ thể, kiểm tra quân số, trang phục thiết bị kĩ thuật nghiệp vụ, vũ khí, các biểu mẫu liên quan nhắc lại vị trí công tác của tổ viên trước khi phát lệnh tiến hành kiếm soát, tuần tra

Thứ hai, phân tích đánh giá nội dung, điều kiện hoàn cảnh sự kiện thực

tế cần áp dụng pháp luật

Ở giai đoạn này cơ quan có thẩm quyền cụ thể là lực lượng CSGT tiến hành tuần tra, kiểm soát, XLVPHC về giao thông đường bộ, xác định đúng, đủ, chính xác và kịp thời những đặc trưng pháp lý và các tình tiết khác liên quan

Sau khi được phân công trách nhiệm, tổ viên có thẩm quyền được phép dừng phương tiện giao thông để kiểm soát trong trường hợp: trực tiếp phát hiện vi phạm; dừng theo mệnh lệnh, kế hoạch tổng kiểm soát; và tin báo, phản ánh, tố cáo về hành vi VPPL đặc biệt là cá nhân điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ [21] Việc dừng phương tiện nhằm kiểm kiểm soát

và xử lý hành vi vi phạm đặc biệt là các người có sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích khác cần đảm bảo an ninh, an toàn và không cản trở giao thông

Khi nhận thấy phương tiện giao thông cần kiểm soát, cảnh sát giao thông ra hiệu lệnh dừng phương tiện, thông báo và đề nghị người điều khiển xuống phương tiện, xuất trình giấy tờ và thực hiện các biện pháp an toàn Các hành động, lời nói được thực hiện theo lễ tiết, điều lệ CAND đảm bảo sự dân chủ, bình đẳng và tôn trọng người dân tham gia giao thông [21] Việc kiểm soát có thể được thực hiện thông qua thiết bị kĩ thuật nghiệp vụ đo chỉ số, ghi hình, in thành bản ảnh hoặc bản ghi thu về hành vi vi phạm, các thiết bị này cần được đảm bảo chất lượng kiểm định, hiệu xuất sai số theo quy định

Trang 31

Thông tư số 40/2015/TT-BCA, đặc biệt đối với phương tiện đo nồng độ cồn trong hơi thở và thiết bị đo, thử ma tuý

Thứ ba, lựa chọn đúng quy phạm pháp luật đồng thời làm sáng tỏ nội dung tư tưởng của quy phạm nhằm áp dụng vào trường hợp cụ thể

Ở giai đoạn này, chủ thể được trao quyền phải khẩn trương xác định các tình tiết như: hành vi khách quan, hậu quả, v.v nhằm xác định ngành luật điều chỉnh đồng thời đối chiếu các cấu thành vi phạm định mức xử lý làm căn cứ tiến hành ra quyết định

Việc xác định các tình tiết ở giai đoạn này có yếu tố hết sức quan trọng, trên thực tế các hành vi khách quan của vi phạm pháp luật hành chính

và tội phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ có rất nhiều biểu hiện tương đồng và căn cứ phân biệt là mức độ nghiêm trọng thể hiện qua hậu quả của hành vi; điều này có nghĩa nếu không thực hiện tốt bước này, việc ADPL rất nhiều khả năng sẽ không được thực hiện một cách đúng đắn Sau khi đã xác định được lĩnh vực vi phạm là hành chính với hành vi sử dụng chất kích thích khi điều khiển phương tiện giao thông; cơ quan có thẩm quyền phải xác định các tình tiết như loại xe, phân khối, độ tuổi người điều khiển phương tiện, thông số nồng độ cồn trong máu hoặc trong hơi thở hoặc kết quả kiểm tra, đo, thử chất ma tuý, v.v làm căn cứ định mức khung xử lý đối chiếu với các điều khoản cụ thể

Thứ tư, ra quyết định áp dụng pháp luật (hay tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính và xử lý hành vi vi phạm)

Sau khi xác định được định khung xử lý, xác minh độ tuổi và các tình tiết khác phục vụ công tác ra quyết định; cá nhân có thẩm quyền lựa chọn hình thức xử lý và mức xử lý phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi với đối tượng (từ đủ 18 tuổi hay dưới 18 tuổi) và tiến hành lập biên bản XLVPHC

Trang 32

Việc lập biên bản VPHC được quy định tại điều 58, LXLVPHC năm

2012 theo đó người có thẩm quyền phải lập biên bản kịp thời đặc biệt lập biên bản ngay khi xác định được hành vi vi phạm thông qua các phương tiện, thiết

bị kĩ thuật nghiệp vụ Biên bản cần được lập tối thiểu 02 bản phải ghi rõ nội dung về thời gian; địa điểm; hành vi vi phạm; thông tin người lập biên bản như họ tên, chức danh, đơn vị công tác; thông tin cá nhân người vi phạm gồm: họ tên, ngày tháng năm sinh, quốc tịch, nghề nghiệp, hộ khẩu, số căn cước công dân; lời khai; biện pháp ngăn chặn, bảo đảm việc xử lý vi phạm; người lập biên bản, người vi phạm và người chứng kiến, cá nhân hoặc tổ chức (thông qua người đại diện) bị thiệt hại (nếu có) ký tên, nếu người vi phạm không ký được thì có thể điểm chỉ thay thế, trong trường hợp một trong các thành phần trên từ chối ký thì cá nhân có thẩm quyền vẫn tiến hành lập biên bản nhưng phải ghi rõ lý do Đặc biệt trong trường hợp người vi phạm không

có mặt tại địa điểm vi phạm, cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không ký vào biên bản thì Tổ trưởng tổ đang thực hiện chức năng tuần tra, kiểm soát mời đại diện chính quyền cơ sở nơi đó hoặc 02 người chứng kiến

ký vào biên bản

Thứ năm, tổ chức thực hiện quyết định pháp luật đã ban hành

Đối với các cấu thành sử dụng rượu bia hoặc chất kích thích khác khi tham gia giao thông đường bộ, người vi phạm bị áp dụng hình thức xử lý hành chính chủ yếu là xử phạt Cụ thể, sau khi biên bản thể hiện rõ nội dung hành vi vi phạm được lập, quyết định xử phạt vi phạm hành chính được ban hành theo quy định điều 67, LXLVPHC năm 2012 bao gồm nội dung về quyết định hình thức, mức xử phạt Quyết định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ kèm biên bản được giao lại cho cá nhân vi phạm mỗi loại 01 văn bản, người vi phạm phải có nghĩa vụ trong thời hạn 10 ngày (kể từ ngày giao quyết định) chấp hành theo quyết định xử phạt [2]

Trang 33

Điều này có nghĩa việc tổ chức thực hiện quyết định pháp luật cụ thể là biên bản XLVPHC trong trường hợp này được áp dụng dưới hai hình thức:

Một là, nộp phạt trực tiếp cho CSGT

Với hình thức này, cơ quan CSGT trực tiếp tiến hành lập biên lai thu tiền, người vi phạm nộp tiền theo quyết định xử phạt đã ban hành, số tiền xử phạt được CSGT chuyển đến kho bạc nhà nước hoặc ngân hàng thương mại nơi Kho bạc nhà nước ủy nhiệm thu tiền phạt Biên lai sử dụng cần đúng theo quy chuẩn có hai niên được đóng quyển theo quy định của Bộ Tài chính

Hai là, nộp phạt trực tiếp cho Kho bạc nhà nước hoặc ngân hàng

thương mại nơi Kho bạc nhà nước ủy nhiệm thu tiền phạt được ghi trong quyết định xử phạt Trường hợp này được áp dụng với cá nhân khi các hành

vi vi phạm có mức phạt lớn lơn 250.000 VNĐ (theo khoản 1 Điều 56 và khoản 1 Điều 57 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012)

1.2.4.2 Về nội dung

XLVPHC đối với người sử dụng rượu, bia và chất kích thích khác điều khiển phương tiện giao thông là một bộ phận quan trọng của LXLVPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ; với nội dung chủ yếu xoay quanh việc quyết định hình phạt áp dụng đối với người sử dụng rượu, bia

và chất ma tuý Cụ thể:

Thứ nhất, về hình phạt chính

Xử phạt trong lĩnh vực giao thông đường bộ đặc biệt là với người sử dụng rượu, bia và chất kích thích là ma tuý được nhà nước quan tâm, chú trọng xây dựng và có những bước đi kiên quyết ngay từ Nghị định số 171/2013/NĐ-CP với mức phạt tiền tối thiểu 2.000.000 VNĐ và tối đa là 15.000.000 VNĐ khi điều khiển phương tiện giao thông là ôtô, đối với xe mô

tô mức phạt này là từ 500.000 VNĐ đến 3.000.000 VNĐ; Nghị định số 46/2016/NĐ-CP hình phạt tiền được phân hoá cụ thể và định mức được tăng

Trang 34

lên cụ thể mức phạt tiền tối thiểu 2.000.000 VNĐ và tối đa là 18.000.000 VNĐ khi điều khiển phương tiện giao thông là ôtô, đối với xe mô tô mức phạt này là từ 1.000.000 VNĐ đến 4.000.000 VNĐ, ngoài ra có thể phạt tiền từ 2.000.000 VNĐ đến 7.000.000 VNĐ với người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng có HVVP về sử dụng rượu, bia và chất ma tuý Sự thay đổi mức hình phạt tiền sau một khoảng thời gian 03 năm là thực sự cần thiết nhằm đưa

ra chế tài phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa của chế tài hành chính này Ngày 30 tháng 12 năm 2019 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP được ban hành thay thế cho Nghị định số 46/2016/NĐ-CP với nội dung về định mức hình phạt tiền tăng mạnh cho thấy thái độ kiên quyết xử lý và đề cao mục đích phòng ngừa đối với lĩnh vực giao thông đường bộ nói chung và với người sử dụng rượu, bia và chất kích thích là ma tuý nói riêng Cụ thể:

- Đối với người điều khiển phương tiện là xe ô tô hoặc xe tương tự ô tô: + Phạt tiền từ 6.000.000 VNĐ đến 8.000.000 VNĐ trong trường hợp người điều khiển phương tiện trên đường có nồng độ cồn định lượng nhỏ hơn hoặc bằng 50 mg/100 ml trong máu hoặc chưa vượt quá 0,25 mg/1 lít trong hơi thở

+ Phạt tiền từ 16.000.000 VNĐ đến 18.000.000 VNĐ trong trường hợp người điều khiển phương tiện trên đường có nồng độ cồn định lượng lớn hơn

50 mg/100 ml nhưng nhỏ hơn hoặc bằng 80 mg/100 ml trong máu hoặc vượt quá 0,25 mg/1 lít nhưng chưa vượt quá 0,4 mg/1 lít trong hơi thở

+ Phạt tiền từ 30.000.000 VNĐ đến 40.000.000 VNĐ trong trường hợp người điều khiển phương tiện trên đường có nồng độ cồn định lượng lớn hơn

80 mg/100 ml trong máu hoặc vượt quá 0,4 mg/1 lít trong hơi thở; và trong trường hợp người điều khiển phương tiện có chất ma tuý trong cơ thể bất kể định lượng bao nhiêu

Trang 35

+ Ngoài ra, khi có yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn hoặc về chất ma tuý người điều khiển phương tiện không chấp hành có thể bị phạt từ 30.000.000 VNĐ đến 40.000.000 VNĐ

- Đối với người điều khiển phương tiện là xe mô tô, xe gắn máy (kể

cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy:

+ Phạt tiền từ 2.000.000 VNĐ đến 3.000.000 VNĐ trong trường hợp người điều khiển phương tiện trên đường có nồng độ cồn định lượng nhỏ hơn hoặc bằng 50 mg/100 ml trong máu hoặc chưa vượt quá 0,25 mg/1 lít trong hơi thở

+ Phạt tiền từ 4.000.000 VNĐ đến 5.000.000 VNĐ trong trường hợp người điều khiển phương tiện trên đường có nồng độ cồn định lượng lớn hơn

50 mg/100 ml nhưng nhỏ hơn hoặc bằng 80 mg/100 ml trong máu hoặc vượt quá 0,25 mg/1 lít nhưng chưa vượt quá 0,4 mg/1 lít trong hơi thở

+ Phạt tiền từ 6.000.000 VNĐ đến 8.000.000 VNĐ trong trường hợp người điều khiển phương tiện trên đường có nồng độ cồn định lượng lớn hơn

80 mg/100 ml trong máu hoặc vượt quá 0,4 mg/1 lít trong hơi thở; và trong trường hợp người điều khiển phương tiện có chất ma tuý trong cơ thể bất kể định lượng bao nhiêu

+ Ngoài ra, khi có yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn hoặc về chất ma tuý người điều khiển phương tiện không chấp hành có thể bị phạt từ 6.000.000 VNĐ đến 8.000.000 VNĐ

- Đối với người điều khiển phương tiện là máy kéo, xe máy chuyên dùng (quy định tại điều 7, Nghị định số 100/2019/NĐ-CP):

+ Phạt tiền từ 3.000.000 VNĐ đến 5.000.000 VNĐ trong trường hợp người điều khiển phương tiện trên đường có nồng độ cồn định lượng nhỏ hơn hoặc bằng

50 mg/100 ml trong máu hoặc chưa vượt quá 0,25 mg/1 lít trong hơi thở

Trang 36

+ Phạt tiền từ 6.000.000 VNĐ đến 8.000.000 VNĐ trong trường hợp người điều khiển phương tiện trên đường có nồng độ cồn định lượng lớn hơn

50 mg/100 ml nhưng nhỏ hơn hoặc bằng 80 mg/100 ml trong máu hoặc vượt quá 0,25 mg/1 lít nhưng chưa vượt quá 0,4 mg/1 lít trong hơi thở

+ Phạt tiền từ 16.000.000 VNĐ đến 18.000.000 VNĐ trong trường hợp người điều khiển phương tiện trên đường có nồng độ cồn định lượng lớn hơn

80 mg/100 ml trong máu hoặc vượt quá 0,4 mg/1 lít trong hơi thở; và trong trường hợp người điều khiển phương tiện có chất ma tuý trong cơ thể bất kể định lượng bao nhiêu Ngoài ra, mức phạt tiền này cũng áp dụng khi có yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn hoặc về chất ma tuý nhưng người điều khiển phương tiện không chấp hành

Thứ hai, về hình phạt bổ sung

Hình phạt bổ sung áp dụng đối với người sử dụng rượu, bia và chất kích thích là ma tuý điều khiển phương tiện là tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe Cụ thể:

Từ 10 tháng đến 12 tháng (điểm e Khoản 11 Điều 5) với định mức nồng độ cồn định lượng nhỏ hơn hoặc bằng 50 mg/100 ml trong máu hoặc chưa vượt quá 0,25 mg/1 lít trong hơi thở

Từ 16 tháng đến 18 tháng (điểm g Khoản 11 Điều 5) với định mức nồng độ cồn định lượng lớn hơn 50 mg/100 ml nhưng nhỏ hơn hoặc bằng 80 mg/100 ml trong máu hoặc vượt quá 0,25 mg/1 lít nhưng chưa vượt quá 0,4 mg/1 lít trong hơi thở

Từ 22 tháng đến 24 tháng (điểm h Khoản 11 Điều 5) với định mức nồng độ cồn định lượng lớn hơn 80 mg/100 ml trong máu hoặc vượt quá 0,4 mg/1 lít trong hơi thở; trong trường hợp người điều khiển phương tiện có chất

ma tuý trong cơ thể bất kể định lượng bao nhiêu; và khi có yêu cầu kiểm tra

Trang 37

về nồng độ cồn hoặc về chất ma tuý nhưng người điều khiển phương tiện không chấp hành

1.2.5 Những điều kiện bảo đảm và các tiêu chí nâng cao hiêu quả áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

1.2.5.1 Những điều kiện bảo đảm áp dụng pháp luật về xử lý hành chính đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

Điều kiện đảm bảo việc ADPL về XLVPHC nói chung và đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích nói riêng là một nội dung mới, có ý nghĩa lớn trong việc đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật, tối ưu thực tiễn ADPL về XLVPHC Với tính chất như vậy dưới đây là các nội dung chủ yếu mà tác giả đưa ra:

Thứ nhất, tối ưu hoá tính hệ thống và tính hoàn thiện hệ thống pháp luật về XLVPHC đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích

Trước hết, có thể thấy hoạt động ADPL nói chung luôn có sự liên kết rất chặt chẽ với hoạt động xây dựng pháp luật Để cụ thể hoá các QĐPL trong đời sống xã hội một cách ổn định và có hiệu quả trước hết bộ phận pháp luật về lĩnh vực đó phải tốt, có tính hệ thống và mang tính ổn định tương đối Nói cách khác là phải có một hệ thống pháp luật về XLVPHC đối với người lái xe trong tình trạng sử dụng chất kích thích phải tiến tới sự hoàn chỉnh, đồng bộ, khả thi, phù hợp với các quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội, và điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội Những điều này phải nhằm đến những giá trị tích cực, được cộng đồng chấp nhận, phục vụ lợi ích cộng đồng trong mỗi thời kì phát triển; và đặc biệt phải tạo thành thể thống nhất với toàn bộ các văn bản pháp luật khác, không đi ngược lại giá trị đã có

Trang 38

Thứ hai, đảm bảo điều kiện về trình độ nhận thức pháp lý của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân

Bất cứ một văn bản pháp luật nào cũng vậy, nó chỉ thực sự phát huy giá trị khi được đưa vào đời sống và chỉ thực sự tồn tại thông qua nhận thức của cộng đồng về nó Điều này phụ thuộc rất nhiều vào công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho toàn dân bao gồm cả đội ngũ cán bộ và nhân dân

Dân trí cao, xã hội văn minh là nội dung không cần tranh luận quá nhiều; với tinh thần như vậy Luật số 44/2019/QH14 Phòng chống tác hại rượu, bia được ban hành ngày 14 tháng 06 năm 2019 với nhiều nội dung không chỉ mang tính chất hành chính mà còn đề cao tính tuyên truyền giáo dục đối với cộng đồng về tác hại của rượu, bia Điều này cũng cho thấy tính

có trật tự đang được thiết lập trong hệ thống pháp luật về phòng chống tác hại rượu bia trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo hướng tuyên truyền, giáo dục sau đó mới đến răn đe, cưỡng chế

Thứ ba, công tác tổ chức về cán bộ của các cơ quan có thẩm quyền

Đây là một yếu tố ảnh hưởng đến việc ADPL không mới nhưng lại chưa từng mạnh mẽ thay đổi Dưới góc độ ADPL về XLVPHC, cần thiết hệ thống lại các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực này và nên chỉ giao thẩm quyền cho phía một cơ quan chủ quản trong 01 lĩnh vực, nhằm đảm bảo việc quy kết trách nhiệm đối với cơ quan, cá nhân; triệt để loại bỏ thực trạng đùn đẩy trách nhiệm của hệ thống cơ quan nhà nước nói chung

Đối với công tác phòng chống tác hại rượu, bia trong lĩnh vực giao thông đường bộ và xử lý vi phạm (nếu có) theo thẩm quyền thuộc Bộ Công an quy định, công tác cán bộ, điều lệ, lễ tiết và tác phong cho thấy sự nghiêm túc cao trong lĩnh vực hoạt động Tuy nhiên, cũng cần xây dựng 01 thiết chế riêng kiểm sát việc có xảy ra vi phạm từ phía các tổ công tác theo kế hoạch tuần tra kiểm soát hay không

Trang 39

Thứ tư, xác định rõ thẩm quyền và quan hệ phối hợp giữa lực lượng cảnh sát giao thông (CSGT) thuộc Bộ Công an và thanh tra giao thông (TTGT) đường bộ thuộc Bộ Giao thông vận tải

Được quy định tại Điều 20, Thông tư số 65/2020/TT-BCA thẩm quyền giải quyết xử lý vi phạm của tổ trưởng tổ CSGT và cán bộ CSGT được ghi nhận rõ ràng; cùng với đó, theo Khoản 2 Điều 12 Thông tư số 01/2016/TT-BCA quy định về các trường hợp CSGT có thể dừng xe và XLVPHC (nếu có), việc xử lý hành vi điều khiển phương tiện giao thông hoàn toàn thuộc thẩm quyền tuần tra, kiểm soát và xử lý của lực lượng này

Cùng với CSGT, TTGT cũng là lực lượng quan trọng tham gia tuần tra kiểm soát và xử lý các HVVP xảy ra trên lĩnh vực giao thông đặc biệt là giao thông đường bộ Hoạt động phối hợp giữa 02 cơ quan nhà nước này được quan tâm đặc biệt sau Công điện số 95/CĐ-TTg và 1966/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Tuy nhiên trên thực tế, hoạt động này còn gặp nhiều rào cản đặc biệt về vấn đề thẩm quyền Cụ thể

TTGT được quy định chức năng nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát các vi phạm về bảo vệ cơ sở hạ tầng giao thông và hành lang an toàn đường bộ; cụ thể hơn với Khoản 2, Điều 15, Thông tư 02/2014/TT-BGTVT, TTGT bị hạn chế rất lớn trong việc dừng phương tiện nhằm phát hiện và XLVPHC đặc biệt

là các HVVP chỉ phát hiện được khi dừng phương tiện Đối với các trường hợp khác, khi dừng xe cần TTGT chỉ có thẩm quyền khi đang thực hiện kế hoạch phối hợp liên ngành cùng lực lượng CSGT; trong trường này hoạt động XLVPHC được thực hiện chủ yếu bởi CSGT, TTGT có đa phần chỉ có chức năng thống kê Trường hợp đặc biệt, được quy định tại Khoản 1, Điều 15, Thông tư 02/2014/TT-BGTVT; theo đó TTGT có thẩm quyền dừng xe khi buộc phải chấm dứt ngay HVVP Tuy nhiên, thẩm quyền XLVPHC khi phát hiện các vi phạm này lại không được ghi nhận cụ thể, vấn đề này gây nhiều

Trang 40

khó khăn cho hoạt động của TTGT trong nhiều trường hợp dừng xe do người điều khiển phương tiện có dấu hiệu sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích nhưng không xử lý ngay được; mặt khác, trong quá trình thực hiện chức năng tuần tra kiểm soát các vi phạm về quá tải quá khổ các vi phạm này cũng thường xuyên được phát hiện, điều này tạo ra lỗ hổng và bỏ lọt các HVVP từ phía cơ quan thực thi và bảo vệ pháp luật

Thứ năm, ý thức pháp luật của chủ thể áp dụng, chủ thể bị áp dụng và cộng đồng

Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luât

và sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp với các hành vi pháp lí thực tiễn Đồng thời là sự thể hiện thái độ đối với quyết định hành chính hay XLVPHC; sự phản kháng, chống đối có nguồn gốc sâu xa từ thái độ phản đối, thờ ơ và thiếu tôn trọng pháp luật

Ý thức pháp luật có tác động rất nhiều quyết định hiệu quả ADPL trong bất cứ lĩnh vực nào không chỉ trong XLVPHC đối với người lái xe sử dụng chất kích thích Ý thức pháp luật của cá nhân người áp dụng và người bị áp dụng quyết định hiệu quả trong từng vụ việc riêng lẻ; điều này có nghĩa nếu ý thức pháp luật xã hội tốt thì việc ADPL nói chung sẽ trở nên lý tưởng hoá

Về bản chất, ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Vì vậy, muốn nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân, trước hết phải đảm bảo điều kiện vật chất, tinh thần cho họ; đồng thời tác động thông qua các thiết chế xã hội đặc biệt là phát huy vai trò gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội

Thứ sáu, điều kiện về cơ sở vật chất và kỹ thuật cần thiết cho hoạt động ADPL

Đối với hoạt động tuần tra, kiểm soát về việc sử dụng chất kích thích

Ngày đăng: 01/04/2021, 13:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công an (2015), Thông tư số 40/2015/BCA ban hành ngày 24/08/2015 quy định về sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong công an nhân dân để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 40/2015/BCA ban hành ngày 24/08/2015 quy định về sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong công an nhân dân để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2015
2. Bộ Công an (2020), Thông tư số 65/2020/TT-BCA ngày 19/06/2020 quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 65/2020/TT-BCA ngày 19/06/2020 quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2020
3. Bộ Giao thông Vận tải (2017), Thông tư số 37/2017/TT-BGTVT ban hành ngày 09 tháng 10 năm 2017 quy định mẫu biên bản, mẫu quyết định sử dụng trong xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 37/2017/TT-BGTVT ban hành ngày 09 tháng 10 năm 2017 quy định mẫu biên bản, mẫu quyết định sử dụng trong xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt
Tác giả: Bộ Giao thông Vận tải
Năm: 2017
4. Bộ Khoa học và Công nghệ (2013), Thông tư số 23/2013/TT-BKHCN ban hành ngày 26/09/2013 quy định về đo lường đối với phương tiện đo nhóm 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 23/2013/TT-BKHCN ban hành ngày 26/09/2013 quy định về đo lường đối với phương tiện đo nhóm 2
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2013
5. Bộ Khoa học và Công nghệ (2013), Thông tư số 24/2013/TT-BKHCN ban hành ngày 30/09/2013 quy định về hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 24/2013/TT-BKHCN ban hành ngày 30/09/2013 quy định về hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2013
6. Chính phủ (1977), Nghị định số 143/CP ngày 27/05/1977 về ban hành điều lệ xử phạt vi cảnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 143/CP ngày 27/05/1977 về ban hành điều lệ xử phạt vi cảnh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1977
7. Chính phủ (1989), Nghị định số 141/CP Căn cứ Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 30 tháng 11 năm 1989 để thực hiện thống nhất việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 141/CP Căn cứ Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 30 tháng 11 năm 1989 để thực hiện thống nhất việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1989
8. Chính phủ (2012), Nghị định số 86/2012/NĐ-CP ban hành 19/10/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật đo lường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 86/2012/NĐ-CP ban hành 19/10/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật đo lường
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
9. Chính phủ (2013), Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
10. Chính phủ (2013), Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ban hành ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ban hành ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
11. Chính phủ (2016), Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ban hành ngày 26/05/2016 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ban hành ngày 26/05/2016 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
12. Chính phủ (2017), Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ- CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2017
13. Chính phủ (2019), Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ban hành ngày 30/12/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ban hành ngày 30/12/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2019
14. Nguyễn Đăng Dung (2011), “Về pháp luật xử lý hành chính của Việt Nam”, Nghiên cứu lập pháp, 20(205), tr. 6-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về pháp luật xử lý hành chính của Việt Nam”, "Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2011
15. Bùi Tiến Đạt (2008), Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính lý luận và thực tiễn, luận văn thạc sĩ luật học, đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính lý luận và thực tiễn, luận văn thạc sĩ luật học, đại học quốc gia Hà Nội
Tác giả: Bùi Tiến Đạt
Năm: 2008
16. Nguyễn Ngọc Điệp (2018), Bình luận luật xử lý vi phạm hành chính, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận luật xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điệp
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2018
17. Hoàng Thị Mỹ Hạnh (2014), “Hậu quả của lạm dụng đồ uống có cồn”, Tạp chí Chính sách Y tế, (13), tr.12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu quả của lạm dụng đồ uống có cồn”, "Tạp chí Chính sách Y tế
Tác giả: Hoàng Thị Mỹ Hạnh
Năm: 2014
18. Hội Đồng Bộ Trưởng (1985), Nghị định số 200/HĐBT được Hội Đồng Bộ Trưởng ban hành năm 1985 về việc sửa đổi và bổ sung một số điều của điều lệ về phạt vi cảnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 200/HĐBT được Hội Đồng Bộ Trưởng ban hành năm 1985 về việc sửa đổi và bổ sung một số điều của điều lệ về phạt vi cảnh
Tác giả: Hội Đồng Bộ Trưởng
Năm: 1985
19. Hội đồng nhà nước (1989), Pháp lệnh số 28-LCT/HĐNN8 ngày 07/12/1989 về xử phạt vi phạm hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh số 28-LCT/HĐNN8 ngày 07/12/1989 về xử phạt vi phạm hành chính
Tác giả: Hội đồng nhà nước
Năm: 1989
20. Vũ Văn Huân (2016), "Thực trạng lạm dụng rượu, bia và nhu cầu ban hành Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia", Viện Nghiên cứu Lập pháp, 24(328), tr.52-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng lạm dụng rượu, bia và nhu cầu ban hành Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia
Tác giả: Vũ Văn Huân
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w