trong xã hội mà Đảng và Nhà nước đang hướng đến, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác giải quyết các vụ việc một cách khách quan, chính xác, đúng pháp luật, gi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THANH TÚ
Trợ giúp pháp lý cho ng-ời bị buộc tội
từ đủ 16 tuổi đến d-ới 18 tuổi
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THANH TÚ
Trợ giúp pháp lý cho ng-ời bị buộc tội
từ đủ 16 tuổi đến d-ới 18 tuổi
Chuyờn ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và phỏp luật
Mó số: 8380101.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN MINH TUẤN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Thanh Tú
Trang 4CHO ĐỐI TƯỢNG TỪ ĐỦ 16 TUỔI ĐẾN DƯỚI 18 TUỔI
BỊ BUỘC TỘI 7 1.1 Khái niệm và pháp luật về trợ giúp pháp lý cho đối tượng từ
đủ 16 tuổi đến 18 tuổi bị buộc tội 7
1.1.1 Khái niệm và pháp luật về Trợ giúp pháp lý cho đối tượng từ đủ
16 tuổi đến 18 tuổi bị buộc tội 7 1.1.2 Khung trợ giúp pháp lý cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
bị buộc tội 12 1.1.3 Vai trò của trợ giúp pháp lý cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18
tuổi bị buộc tội 17
1.2 Kinh nghiệm mô hình trợ giúp pháp lý cho người từ đủ 16 tuổi
đến 18 tuổi bị buộc tội một số quốc gia trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam 19
1.2.1 Kinh nghiệm về mô hình Trợ giúp cho người từ đủ 16 tuổi đến
dưới 18 tuổi ở Nhật bản 20 1.2.2 Kinh nghiệm về trợ giúp pháp lý người từ đủ dưới 16 tuổi đến 18
tuổi bị buộc tội ở Pháp 23 1.2.3 Kinh nghiệm về trợ giúp pháp lý người từ đủ dưới 16 tuổi đến 18
tuổi bị buộc tội ở Mỹ 26 1.2.4 Gợi mở cho Việt Nam 28
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP
LÝ CHO ĐỐI TƯỢNG TỪ ĐỦ 16 TUỔI ĐẾN DƯỚI 18 TUỔI
BỊ BUỘC TỘI 32 2.1 Thực trạng pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người từ đủ 16
tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội 32
2.1.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật
cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội 32 2.1.2 Thực trạng các quy định pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người
từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và các đối tượng khác ở Việt Nam hiện nay 42
2.2 Thực tiễn về TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
bị buộc tội tại Việt Nam hiện nay 51
2.2.1 Thực trạng về chủ thể thực hiện TGPL 51 2.2.2 Về thực trạng đối tượng được trợ giúp pháp lý là người từ đủ 16
tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội 57 2.2.3 Về thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay 59
2.3 Đánh giá hiệu quả công tác TGPL người từ đủ 16 tuổi đến
dưới 18 tuổi bị buộc tội ở Việt Nam hiện nay 65
2.3.1 Kết quả đạt được 65 2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế 67
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ ĐỐI TƯỢNG TỪ ĐỦ 16 TUỔI ĐẾN 18 TUỔI BỊ BUỘC TỘI TRONG THỜI GIAN TỚI 73 3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về TGPL cho người từ đủ
16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội 73 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về TGPL cho người từ
đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội ở nước ta hiện nay 76
3.2.1 Nhóm các giải pháp hoàn thiện pháp luật về TGPL cho người từ
đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội 77
Trang 63.2.2 Nhóm các giải pháp bảo đảm các điều kiện để pháp luật về
TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội đi vào cuộc sống 86
KẾT LUẬN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 7NCTN Người Chưa thành niên
NCTNPT Người chưa thành niên phạm tội TGPL Trợ giúp pháp lý
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 So sánh tỷ trọng giữa các đối tượng dưới 18 tuổi
Biểu đồ 2.2 Thống kê số lượng bị cáo giảm từ khi có Luật
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong thời buổi hiện nay, mục tiêu của công cuộc đổi mới toàn diện về kinh tế, xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Tuyên truyền pháp luật và trợ giúp pháp lý là nhiệm vụ rất quan trọng để giúp những người thuộc nhóm yếu thế hoặc không
có điều kiện kinh tế được tiếp xúc với dịch vụ pháp lý Đối với thanh niên đặc biệt nhóm đối tượng trong độ tuổi từ 16 tuổi đến 18 tuổi rất cần được trợ giúp pháp lý Vì đây là nhóm đối tượng, đang trong quá trình định hình tính cách
dễ bị tác động bởi các tác nhân bên ngoài làm ảnh hưởng đến hành vi của chính mình (xúi giục người lớn, ảnh hưởng từ phim ảnh, truyện, …)
Những người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi phạm tội luôn cần đến sự trợ giúp pháp lý từ nhà nước, cũng như các tổ chức khác Tuy nhiên, nhiệm vụ này chỉ mới dừng lại ở mức tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chưa có những biện pháp trợ giúp pháp lý phù hợp đối với nhóm đối tượng này Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã chính thức được triển khai với rất nhiều những tiến bộ trong đó trọng tâm là lấy người được trợ giúp làm trung tâm của việc trợ giúp pháp lý Hệ thống tổ chức TGPL đã được hình thành từ trung ương đến địa phương, bao gồm Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp và Trung tâm TGPL ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với đội ngũ chuyên viên và cộng tác viên TGPL đang ngày càng được bổ sung về số lượng và chất lượng Các tổ chức TGPL đã đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu giúp đỡ pháp lý của những nhóm người yếu thế trong xã hội, và kém hiểu về pháp luật
Hoạt động TGPL cho đối tượng là người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội, sẽ hạn chế những đối tượng này không bị sa ngã, hư hỏng, vi phạm pháp luật do thiếu nhận thức đầy đủ về pháp luật, bảo đảm tính công bằng
Trang 10trong xã hội mà Đảng và Nhà nước đang hướng đến, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác giải quyết các vụ việc một cách khách quan, chính xác, đúng pháp luật, giải toả những vướng mắc pháp luật cho lứa tuổi này, góp phần ổn định tình hình chính trị, giữ gìn trật tự, an toàn
xã hội; tạo lập cơ chế TGPL cho nhóm đối tượng này, mà từ trước đến nay chưa được coi trọng
Thực tiễn thực hiện pháp luật về TGPL cũng đã bộc lộ những hạn chế bất cập cụ thể như: hệ thống tổ chức thực hiện TGPL vẫn chưa phù hợp và hoạt động chưa hiệu quả, việc tham gia tố tụng của Trợ giúp viên trong thực
tế còn nhiều khó khăn, cơ chế thu hút các chủ thể TGPL cũng chỉ mới dừng lại ở mức khuyến khích tham gia.Việc TGPL cho nhóm đối tượng trong lứa tuổi từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi còn bỏ ngỏ, đặc biệt người thuộc lứa tuổi này
bị buộc tội Mặc dù các cơ quan tố tụng, Trung tâm TGPL ở Sở tư pháp ở các địa phương cũng đẩy mạnh việc tuyên truyền pháp luật nhưng hoạt động trợ giúp pháp lý, thúc đẩy việc tiếp cận dịch vụ công của nhân dân vẫn còn khá chậm, chưa đồng bộ
Hiện nay, công trình nghiên cứu về “Trợ giúp pháp lý cho người bị
buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” còn khá ít và mỏng, chưa có nhiều
luận văn chọn đề này để nghiên cứu Vì vậy tác giả chọn đề tài này để nghiên cứu phân tích tính ứng dụng của pháp luật trong việc TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội hiện nay từ đó đưa ra các giải pháp hỗ trợ cho việc TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội ở Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của luận văn là làm sáng tỏ các phương diện về lý luận, pháp lý, thực trạng TGPL cho đối tượng từ 16 tuổi đến 18 tuổi bị buộc tội nhằm thúc đẩy phát triển việc TGPL cho đối tượng này
Trang 112.2 Mục tiêu cụ thể
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát, Luận văn có những mục tiêu cụ thể dưới đây:
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý về pháp luật TGPL
cho đối tượng từ 16 tuổi đến 18 tuổi bị buộc tội
Thứ hai, phân tích, đánh giá nhằm làm rõ thực trạng các quy định của
pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về TGPL cho đối tượng từ 16 tuổi đến
18 tuổi bị buộc tội ở Việt Nam trong thời gian qua, phát hiện những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân để có giải pháp hoàn thiện
Thứ ba, đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về
TGPL cho đối tượng từ 16 tuổi đến 18 tuổi bị buộc tội ở Việt Nam hiện nay
3 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn góp phần chứng minh sự phát triển đúng đắn của hoạt động TGPL, đánh giá sâu sát, toàn diện tình hình thực hiện các quy định pháp luật
về TGPL, phân tích các yêu cầu đặt ra về mặt pháp lý để phục vụ cho việc phát triển bền vững hoạt động TGPL; đề xuất giải pháp có “tính mới” để hoàn thiện pháp luật TGPL tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL cho đối tượng từ 16 tuổi đến 18 tuổi bị buộc tội trong thời gian tới
Đồng thời, luận văn cũng góp phần vào việc phục vụ cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về pháp luật TGPL ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là cơ sở lý luận Trợ giúp pháp lý cho đối tượng từ 16 tuổi đến 18 tuổi bị buộc tội ở Việt Nam Trên cơ sở đó có các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL cho đối tượng từ 16 tuổi đến 18 tuổi bị buộc tội
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề về pháp luật về TGPL cho đối tượng từ 16 tuổi đến 18 tuổi bị buộc tội gồm: khái niệm TGPL, khung pháp luật về TGPL ở Việt Nam và pháp luật về TGPL ở một số nước trên thế
Trang 12giới; thực trạng các quy định về chủ thể, đối tượng, hình thức, phạm vi, lĩnh vực; thực tiễn thực hiện pháp luật TGPL trong thời gian qua và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật TGPL cho các đối tượng này
Do giới hạn về nguồn lực, điều kiện, trong luận văn, tác giả chỉ tập trung khảo sát, tìm hiểu thực trạng TGPL cho đối tượng từ 16 tuổi đến 18 tuổi
bị buộc tội từ khi có Luật TGPL năm 2017
5 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, qua tìm hiểu các công trình khoa học được công bố trong nước về trợ giúp pháp lý cho các đối tượng trong luật TGPL năm 2017 Có thể nêu ra các công trình sau đây:
Đề tài Thạc sĩ về “Hoạt động TGPL của Luật sư Việt Nam hiện nay”
của Tác giả Trần Thị Việt Hà bảo vệ tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia: Đề tài nói lên những hoạt động của giới luật sư trong việc cung cấp dịch vụ TGPL, lịch sử TGPl của luật sư Việt Nam, so sánh mô hình TGPL của các Luật sư trên Thế giới
Đề tài Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Bích Ngọc về “Các giải pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý” Luận văn nêu lên ý nghĩa thiết thực
từ phương diện lý luận, lẫn thực tiễn đưa thêm các giải pháp giúp việc TGPL hiệu quả hơn
Đề tài Thạc sĩ “Hoạt động trợ giúp pháp lý trong chương trình giảm
nghèo” của tác giả Lê Thị Thúy đã nêu lên tầm quan trọng của việc TGPL Có
nắm được pháp luật thì đời sống của những người nghèo mới được nâng cao, tránh mắc phải những vi phạm pháp luật do thiếu hiểu biết Kết hợp với các chính sách kinh tế phù hợp sẽ làm giảm tỉ lệ người nghèo
Đề tài Thạc sĩ của tác giả Hoàng Thị Liên về “ Pháp luật về TGPL cho
người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác” đề tài đánh giá sâu sát
về pháp luật TGPL cho người nghèo và các đối tượng chinh sách khác đồng
Trang 13thời đề xuất các giải pháp để hoàn thiện pháp luật tạo cơ sở pháp lý nâng cao hiệu quả hoạt động của TGPL
Cũng như TGPL cho các đối tượng khác trong xã hội, việc TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, vì đây là những người đang được xã hội, đất nước quan tâm kì vọng Tuy nhiên, các đối tượng này đang trong độ tuổi dễ bị kích động và dễ thực hiện hành vi phạm tội
Các đề tài trên hầu hết chỉ tập trung vào các vấn đề TGPL mang tầm phổ quát, vĩ mô chưa nêu lên những trường hợp riêng biệt cụ thể thì tiến hành
như thế nào Trong đề tài: “TGPL cho người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến
dưới 18 tuổi” Tác giả của luận văn sẽ cố gắng đi vào những vấn đề riêng khi
TGPL cho nhóm đối tượng nêu trên, đồng thời nêu lên những thực trạng khó khăn bất cập khi TGPL, cuối cùng đưa ra một số giải pháp để các nhà làm luật xem xét áp dụng đưa ứng dụng vào thực tiễn nhất là khi tỉ lệ tội phạm tuổi chưa thành niên đang gia tăng
Chính vì bị buộc tội nên những đối tượng này cần phải có những cơ quan, trợ giúp viên pháp lý có thể tư vấn, tranh tụng giúp những người bị buộc tội từ
đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được, giúp họ hưởng được những dịch vụ pháp lý công, đồng thời cũng giúp họ có được những tư vấn về pháp luật hữu ích
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu và hình thành trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Tác giả luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn… cụ thể như sau:
Đối với Chương 1 Tác giả sẽ sử dụng phương pháp Tổng hợp, nghiên
Trang 14cứu, đối chiếu giữa lí luận và thực tiễn Ngoài ra tại mục 1.3 tác giả sẽ tiến hành so sánh, đánh giá các mô hình tiên tiến xem mô hình nào phù hợp với Việt Nam ở thời điểm hiện tại
Đối với Chương 2 Tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp số liệu, đánh giá số liệu Từ việc thu thập số liệu từ thực tế suy ra được kết quả đảm bảo tính khách quan thực tiễn của luận văn
Đối với Chương 3: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp
để hoàn thành luận văn
7 Kết cấu của Luận Văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 03 chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề chung TGPL cho đối tượng từ đủ 16 tuổi đến
dưới 18 tuổi
Chương 2: Thực trạng về pháp luật TGPL cho đối tượng từ đủ 16 tuổi
đến dưới 18 tuổi bị buộc tội tính từ thời điểm có luật TGPL năm 2017
Chương 3: Quan điểm và các giải pháp hoàn thiện TGPL cho đối tượng
từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội trong thời gian tới
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO
ĐỐI TƯỢNG TỪ ĐỦ 16 TUỔI ĐẾN DƯỚI 18 TUỔI BỊ BUỘC TỘI
1.1 Khái niệm và pháp luật về trợ giúp pháp lý cho đối tượng từ
đủ 16 tuổi đến 18 tuổi bị buộc tội
1.1.1 Khái niệm và pháp luật về Trợ giúp pháp lý cho đối tượng từ
đủ 16 tuổi đến 18 tuổi bị buộc tội
Bản chất của TGPL xuất phát từ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền công dân, bảo đảm sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, đó cũng chính là trách nhiệm của tổ chức chủ quán đối với thành viên của mình
Chủ thể thực hiện việc TGPL ở đây có thể là: Cơ quan hành chính nhà nước, Cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan thông tin, cơ sở nghiên cứu đào tạo luật công lập, Các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, Luật sư và các
tổ chức hành nghề luật sư
Tiêu chí để xác định được người được thụ hưởng TGPL ta có thể dựa vào: Đặc điểm của đối tượng đó là những người nghèo, các đối tượng chính sách, các đối tượng khác theo quy định của Luật TGPL 2017 Tính chất của
vụ việc ví dụ như các vụ án phải chỉ định người bào chữa Tính chất nghề nghiệp như: hoạt động công vụ, hoạt động xã hội, hoạt động luật sư, …
Việc TGPL có thể diễn ra ở rất nhiều các lĩnh vực pháp luật như: hình
sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động,… Nguồn kinh phí của việc TGPL chủ yếu được lấy từ ngân sách nhà nước, còn lại phân bổ tại các Quỹ của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp hoặc đến từ nguồn tài chính từ các tổ chức, cá nhân khác ủng hộ Người thụ hưởng việc TGPL hoàn toàn không phải trả phí trợ giúp, tư vấn, tuy nhiên trong trường hợp có thoả thuận họ vẫn phải tiến hành trả một phần khoản phí trợ giúp
Trang 16Các đối tượng được TGPL theo điều 07 luật TGPL 2017 bao gồm: Người có công với cách mạng, Người thuộc hộ nghèo, Trẻ em, Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo, Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính: Cha
đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; Người nhiễm chất độc da cam; Người cao tuổi, Người khuyết tật; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự; Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật phòng, chống mua bán người; Người nhiễm HIV
Bên cạnh đó, mọi chủ thể khi thực hiện hoạt động TGPL cần tuân thủ những nguyên tắc mà Điều 03 Luật TGPL 2017 sau:
- Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý;
- Kịp thời, độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan;
- Bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý;
- Không thu tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được trợ giúp pháp lý;
- Ngoài ra, Luật này cũng quy định các chính sách của Nhà nước về trợ giúp pháp lý gồm có: Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước, Nhà nước có chính sách để bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, Nhà nước có chính sách nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý, thu hút các nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý, Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, ghi nhận và tôn vinh các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho hoạt động trợ giúp pháp lý
Vậy TGPL cần được hiểu là việc nhà nước, các tổ chức xã hội và các cá nhân thực hiện cung ứng các dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc có chi phí nhưng thấp hơn giá trị của dịch vụ qua các hình thức: đại diện, bào chữa, tư vấn pháp luật và các loại hình giúp đỡ pháp lý khác cho những đối tượng nhất định
Trang 17Từ các thuộc tính nêu trên và những hình thức thể hiện cụ thể của TGPL, khái niệm của TGPL cần được hiểu là:
Việc cung cấp các dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc giảm chi phí cho những đối tượng nhất định hoặc trong những trường hợp cần thiết nhằm bù đắp, bảo vệ quyền lợi cho người thụ hưởng, giúp họ có điều kiện tiếp cận và sử dụng pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp được hiến pháp và pháp luật quy định [16, tr.82] Theo Luật trợ giúp pháp lý 2017 quy định như sau:
Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật [27, Điều 2]
Trên cơ sở các quan điểm về TGPL và căn cứ theo điều 2 Luật trợ giúp pháp lý năm 2017, có thể hiểu khái niệm TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến
dưới 18 tuổi bị buộc tội như sau: TGPL cho người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi
đến dưới 18 tuổi là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí theo quy định của luật TGPL dưới hình thức tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài
tố tụng, hoà giải,… Nhằm giúp những người này tiếp cận với các dịch vụ pháp lý, qua đó họ có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, góp phần vào việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa hạn chế việc vi phạm pháp luật ở người có độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
Khái niệm này đề cập đến mục đích và ý nghĩa của hoạt động TGPL
là sự giúp đỡ miễn phí tạo cho mọi công dân có quyền bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng cho xã hội Khái niệm bao hàm tương đối đầy đủ về phạm vi, chủ thể, đối tượng của hoạt động TGPL và đã thực hiện
Trang 18được một cách toàn diện những thuộc tính chung, bản chất của hoạt động TGPL tại Việt Nam
Theo Điều 40 Công ước quyền trẻ em đề cập đến NCTNPT là trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật hình sự Điều 37 còn đề cập đến khái niệm trẻ em
bị tước tự do Khái niệm này có thể được hiểu là NCTNPT bị tước tự do Ngoài các khái niệm trên, một thuật ngữ khác cũng thường được sử dụng bởi một số cơ quan nhân quyền LHQ và tổ chức quốc tế khác, đó là trẻ em làm trái pháp luật, NCTN vi phạm pháp luật Theo UNICEF, NCTN làm trái với pháp luật là những người dưới 18 tuổi phải làm việc với hệ thống tư pháp do
bị nghi ngờ hay bị cáo buộc là phạm tội
Cũng có quan điểm cho rằng, NCTN vi phạm pháp luật hay làm trái pháp luật được hiểu là “những người dưới 18 tuổi đã bị phát hiện hoặc bị tố cáo là đã thực hiện một hành vi vi phạm pháp luật (hành chính hoặc hình sự)” Như vậy, khái niệm NCTN vi phạm pháp luật có nội hàm rộng hơn niệm NCTNPT, do vi phạm pháp luật không có nghĩa chỉ bao gồm pháp luật hình
sự mà có thể là vi phạm hành chính, dân sự [28] Tại Công ước về trẻ em của UNICEF, thì lứa tuổi từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi bị buộc tội rơi vào nhóm những người chưa thành niên phạm tội Mặc dù những người vi phạm pháp luật trong lứa tuổi này có thể là hành vi vi phạm luật khác, nhưng trong giới hạn luận văn chúng ta chỉ tìm hiểu các vấn đề liên quan đến việc vi phạm pháp luật hình sự
Tại Việt Nam, đối tượng từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là đối tượng chưa thành niên Trong Luật Thanh niên năm 2020, tại điều 1 quy định:
“Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30tuổi” Đây là đối tượng được Nhà nước vô cùng quan tâm và chú ý đặc biệt do những đối tượng này là nguồn lao động dự trữ có trình độ và quyết định đến định hướng phát triển của đất nước, nên mỗi chính sách giáo dục, quyết định về pháp luật trong
Trang 19lứa tuổi thanh niên phải được xem xét một cách kĩ lượng cẩn trọng Chính vì vậy, việc giáo dục thuyết phục đối tượng này khi họ phạm tội là hết sức cần thiết và được ưu tiên, tránh áp dụng máy móc các biện pháp cưỡng chế trong luật hình sự
Trong luật TGPL năm 2017 quy định tại khoản 5 điều 7 đã ghi nhận người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội là một nhóm đối tượng yếu thế cần được Nhà nước TGPL
Theo GS.TSKH Lê Cảm và TS Đỗ Thị Phượng thì NCTNPT là người
từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực TNHS chưa đầy đủ, hạn chế bởi các đặc điểm tâm sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm [7]
Sau khi làm rõ đối tượng từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi được quy định trong luật, điều ước quốc tế, thì cần phải làm rõ từ khóa “bị buộc tội” để đưa ra một khái niệm chi tiết và đầy đủ về “Người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi bị buộc tội”
Buộc tội là hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm Cùng với chức năng bào chữa, chức năng xét xử, buộc tội là một trong những chức năng được thực hiện trong giải quyết vụ án hình sự Việc buộc tội được thực hiện trong suốt quá trình tố tụng hình sự từ khi khởi tố bị can cho đến khi bản án buộc tội có hiệu lực pháp luật
Từ những lí luận trên ta có thể đưa ra khái niệm về người từ đủ 16 tuổi
đến dưới 18 tuổi bị buộc tội như sau: Người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi bị buộc
tội là những người trong độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi bị cơ quan tiến hành tố tụng buộc tội do xâm phạm đến mối quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý
Trang 201.1.2 Khung trợ giúp pháp lý cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội
Căn cứ vào văn bản pháp luật về TGPL ở Việt Nam hiện nay, chủ yếu
là luật TGPL năm 2017 có thể đưa ra khái niệm về TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi như sau:
TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc có chi phí thấp theo quy định của luật TGPL dưới hình thức tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, hoà giải, … Nhằm giúp những người này tiếp cận với các dịch vụ pháp lý, qua đó họ có thể bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, góp phần vào việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa hạn chế việc vi phạm pháp luật ở người có
độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi [27]
Xuất phát từ tính chất, nội dung và yêu cầu của TGPL, các quan hệ pháp luật về TGPL, thì pháp luật TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi quy định đến các vấn đề liên quan trực tiếp đến TGPL và đối tượng được TGPL để điều chỉnh hoạt động TGPL Mọi quy phạm pháp luật có liên quan đến quy định về TGPL tách riêng và lập thành hệ thống pháp luật và được xem xét dưới một khung pháp luật về đối tượng này Vì thế đây là đặc điểm
cơ bản nhất làm cho khung pháp luật đối với TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội dễ nhận biết và phân biệt khung pháp lý với các đối tượng khác
Khung pháp lý đầu tiên cần phải nhắc đến đó là Luật TGPL năm 2017 đây chính là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng ghi nhận quyền được TGPL đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi Bên cạnh đó cũng có các
Trang 21văn bản hướng dẫn khác bổ sung cho luật TGPL góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội Đến nay ta có những văn bản như sau:
- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trong bộ luật tố tụng hình sự có quy định về các quyền của người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi bị buộc tội bao gồm: Quyền được chỉ định người bào chữa, quyền được bảo vệ nếu là người bị kiến nghị khởi tố, thay đổi và từ chối người bào chữa, Gặp thân nhân
và người bào chữa, Việc quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự như vậy tạo cơ sở để người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi tiếp cận được với các hoạt động TGPL dành cho mình khi bị buộc tội [26]
- Nghị định 144/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/12/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý có quy định:
Nhóm đối tượng khó khăn về tài chính được nhà nước hỗ trợ kinh phí TGPL bao gồm con liệt sỹ dưới 18 tuổi; người nhiễm chất độc
da cam dưới 18 tuổi, người khuyết tật dưới 18 tuổi; nạn nhân trong
vụ việc bạo lực gia đình dưới 18 tuổi; Nạn nhân của hành vi mua bán người dưới 18 tuổi, người nhiễm HIV dưới 18 tuổi [8]
Ngoài ra còn có các Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành tiêu chí và mức chuẩn nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020, Quyết định số 1010/QĐ-TTg ngày 10/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ về đơn vị hành chính cấp xã thuộc vùng khó khăn; Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu
số và miền núi giai đoạn 2016 – 2020; Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ ngày về việc phê duyệt danh sách các
xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn 2016 –
Trang 222020 quy định những trường hợp người dưới 18 tuổi gặp khó khăn sẽ được hỗ trợ kinh phí trong việc TGPL
- Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi nêu quy định: Người bào chữa được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo trước thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung để tham gia Người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can là người dưới 18 tuổi nếu được Điều tra viên, Kiểm sát viên đồng ý Người bào chữa được tham gia hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can nhưng không được hỏi những câu hỏi có tính chất gợi ý, định hướng hoặc có tính chất khẳng định, phủ định liên quan đến vụ án hoặc thông cung, mớm cung [36]
- Thông tư 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 quy định Trách nhiệm thực hiện bảo đảm quyền đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án của người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội Trong thời hạn 02 ngày
kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho bị can, người bào chữa Sau khi kết thúc điều tra, nếu người bào chữa đề nghị được đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án có liên quan đến việc bào chữa, nếu hồ sơ vụ án đang thuộc quyền quản lý của Cơ quan điều tra thì Cơ quan điều tra phải tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa thực hiện yêu cầu này Điều tra viên bố trí cho người bào chữa đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu tại phòng làm việc thuộc trụ sở Cơ quan điều tra Trong quá trình người bào chữa đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giám sát chặt chẽ Việc sao chụp tài liệu do người bào chữa thực hiện Sau khi đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu, người bào chữa phải bàn giao nguyên trạng hồ sơ
vụ án cho cơ quan đã cung cấp hồ sơ Nếu để mất, thất lạc, hư hỏng tài liệu, hồ
Trang 23sơ vụ án thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật Việc đọc, ghi chép hoặc sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án có liên quan đến việc bào chữa của người bào chữa phải được lập biên bản ghi nhận, tài liệu giao cho người bào chữa phải có bản thống kê các tài liệu kèm theo [1]
- Thông tư 02/2018/TT-TANDTC tại điều 4 quy định về thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên xét xử tại Phòng xử án hình sự bao gồm: Vụ án hình sự có bị cáo là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý và tội đặc biệt nghiêm trọng Vụ án hình sự có bị cáo
là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm một trong các tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại các điều 123, 134, 141, 142, 144, 151, 168, 169,
170, 171, 248, 249, 250, 251, 252 và 299 của Bộ luật Hình sự [31] Vụ án hình sự vừa có bị cáo là người dưới 18 tuổi vừa có bị cáo là người từ đủ 18 tuổi trở lên Vụ án hình sự mà bị cáo là người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác Ngoài ra Điều 5 Thông tư 02/2018/TT-TANDTC quy định về những vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên xét xử tại Phòng xét xử thân thiện bao gồm: Những vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 4 của Thông tư này thì xét xử tại Phòng xét xử thân thiện Đối với các Tòa án chưa có Phòng xét xử thân thiện thì khi xét xử các
vụ án quy định tại khoản 1 Điều này, phòng xử án phải được bố trí thân thiện, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi [31] Còn tại Điều 9 Thông tư 02/2018/TT-TANDTC thì lại quy định việc tham gia của người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người bị hại là người dưới 18 tuổi như sau: Tòa án phải thông báo cho người bị hại là người dưới 18 tuổi hoặc cha mẹ, người đại
Trang 24diện hợp pháp, người giám hộ của họ về quyền nhờ những người quy định tại khoản 1 Điều này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại là người dưới 18 tuổi Trường hợp họ không lựa chọn được người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại nhưng có văn bản đề nghị thì Tòa án yêu cầu Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại là người dưới 18 tuổi Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại là người dưới 18 tuổi có quyền tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, có mặt khi cơ quan tiến hành tố tụng lấy lời khai của người mà mình bảo vệ; có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định của Tòa án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người
mà mình bảo vệ; có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch, người dịch thuật, người định giá tài sản theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
Ngoài ra còn rất nhiều các quy định về việc TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nằm rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác, tuy nhiên trong giới hạn luận văn tác giả chỉ nêu lên những văn bản nổi bật và quan trọng Các văn bản này tạo ra khuôn khổ pháp lý cần thiết quy định nhiều vấn đề cụ thể hỗ trợ cho công tác TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi bị buộc tội như: Quy định về cơ chế bảo vệ người dưới 18 tuổi phạm tội, Quyền được mời người bào chữa, quyền được xét xử tại toà gia đình và phiên toà thân thiện, hỗ trợ chi phí TGPL cho người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp đặc biệt
Bên cạnh việc tuân thủ theo luật TGPL 2017 nói chung thì hoạt động TGPL cũng cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi còn phải tuân thủ theo các pháp luật riêng biệt như: Luật tố tụng hình sự, Luật lao động, Luật luật sư,…
Trang 25Đồng thời, trong quan hệ quốc tế Việt Nam đã kí nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp với các nước mở ra khả năng cho các công dân Việt Nam được TGPL miễn phí ở nước ngoài và công dân nước ngoài được TGPL miễn phí tại Việt Nam Cụ thể Việt Nam đã kí Hiệp định hỗ trợ tư pháp với nhiều nước trên thế giới như: Hiệp định với Ba Lan, Bungari, Bêlarust, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Liên Xô cũ (Được Cộng hoà Liên Bang Nga kế thừa), Mông Cổ, Pháp, Tiệp Khắc, Sovakia, Hàn Quốc, Trung Quốc Nội dung của Văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế trên góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh chính sách về TGPL cho người từ
đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội có yếu tố nước ngoài trong thời gian qua Tuy nhiên so với sự đòi hỏi thực tế của đời sống quốc tế, pháp luật của Việt Nam về vấn đề này vẫn cần được nghiên cứu để áp dụng có hiệu quả và
bổ sung hoàn thiện
Có thể thấy việc ban hành khung pháp luật về TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội là một yếu tố hết sức quan trọng vì thể chế đóng vai trò là nền tảng cho hoạt động TGPL Nếu hệ thống pháp luật hoàn thiện, bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ điều chỉnh toàn bộ các vấn đề phát sinh về tổ chức và hoạt động TGPL Các quy định pháp luật phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, dễ hiểu, dễ vận dụng, công khai, minh bạch sẽ tạo cơ sở pháp lý để đảm bảo triển khai hiệu quả các hoạt động TGPL có hiệu quả và ngược lại
1.1.3 Vai trò của trợ giúp pháp lý cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới
18 tuổi bị buộc tội
Thứ nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội tiếp cận và được cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí
Pháp luật là phương tiện quản lý kinh tế và xã hội, đồng thời nó cũng là phương tiện để người dân phát huy quyền chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện công lý, công bằng xã hội Song do nhiều nguyên nhân
Trang 26chủ quan (trình độ học vấn, hoàn cảnh cuộc sống khó khăn,…) nhiều người dân vẫn chưa tiếp cận được pháp luật, chưa sử dụng pháp luật như một hình thức hữu hiệu và phù hợp với hoàn cảnh để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình Chính vì vậy, việc ban hành pháp luật về TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội là một yếu tố quan trọng thực hiện mục đích trên Pháp luật về TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội
là một nơi tin cậy, tạo điều kiện thuận lợi cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội tiếp cận với dịch vụ pháp lý một cách miễn phí hoặc chỉ phải
bỏ ra một số chi phí rất thấp khi lợi ích của họ bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại đồng thời biết sử dụng pháp luật như một công cụ bảo vệ các lợi ích
đó Qua đó, giải toả kịp thời những vướng mắc về pháp luật, hạn chế tình trạng “chuyện bé xé ra to”, “sai một ly đi một dặm” Việc đáp ứng nhu cầu TGPL của người dân một cách kịp thời, thường xuyên còn góp phần hình thành thói quen, củng cố nếp sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật trong cộng đồng cư dân
Thứ hai, góp phần làm tăng cường quan hệ phối hợp với các cơ quan, ban ngành và tổ chức đoàn thể và tạo hành lang pháp lý, định hướng cho các quan hệ TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội phát triển
ổn định góp phần thúc đẩy sự phát triển của hoạt động TGPL
Hoạt động TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội có những đặc thù riêng do tính chất, quan hệ TGPL cho đối tượng này khá đa dạng và phong phú, không chỉ là quan hệ giữa người thực hiện TGPL và đối tượng TGPL mà là mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm của các cơ quan đơn vị liên quan, vị trí của người thực hiện TGPL, việc tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp,… Vì vậy, pháp luật về TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới
18 tuổi bị buộc tội đã có vai trò tích cực trong việc xác lập, điều chỉnh các quan
Trang 27hệ này theo một trật tự nhất định, đảm bảo các quan hệ trong hoạt động TGPL người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội phát triển ổn định
Thứ ba, Pháp luật về TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội, góp phần thể chế hoá chủ trương của Đảng về TGPL, đảm bảo công bằng thực hiện dân chủ trong đời sống xã hội, đáp ứng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
Pháp luật về TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội là công cụ pháp lý góp phần thực hiện chủ trương tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật và tạo điều kiện giúp đỡ mọi người sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, thực hiện chính sách xã hội hoá một bước trong lĩnh vực pháp luật và đề cao trách nhiệm cho Nhà nước trong việc đưa pháp luật vào đời sống
1.2 Kinh nghiệm mô hình trợ giúp pháp lý cho người từ đủ 16 tuổi
đến 18 tuổi bị buộc tội một số quốc gia trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam
Để có được một hệ thống TGPL tốt hơn, Việt Nam cần tham khảo mô hình TGPL ở một số các Quốc gia khác nhau, để qua đó đánh giá được ưu nhược điểm của hệ thống TGPL của các nước, đưa ra những thay đổi cho phù hợp cải thiện hệ thống TGPL
Toà án dành riêng cho người chưa thành niên đã được triển khai ở nhiều nước trên thế giới, trong đó Mỹ là nước tiên phong xây dựng mô hình này vào năm 1899 Do yếu tố lịch sử, quyền tư pháp, cách thức tổ chức cơ quan giải quyết những vấn đề về người chưa thành niên khác nhau đặc biệt là giai đoạn xét xử Theo đó trên thế giới có 3 hướng tiếp cận chính trong việc xây dựng hệ thống tư pháp dành cho người chưa thành niên (trong đó có nhóm đối tượng từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi)
Trang 281.2.1 Kinh nghiệm về mô hình Trợ giúp cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi ở Nhật bản
Tại Nhật Bản, hệ thống tư pháp dành cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chủ yếu mang tính chất phòng ngừa, răn đe Các khu vực nông thôn ở Nhật Bản trong lịch sử đã dựa vào sự kiểm soát chặt chẽ từ trong chính gia đình và những người hàng xóm sống xung quanh để ngăn ngừa việc người chưa thành niên tiến hành thực hiện hành vi phạm tội Và mặc dù đa số người dân sống ở môi trường đô thị thì việc kiểm soát này vẫn hiện hữu ở các thành phố lớn tại Nhật điều này trái ngược với lối sống độc lập ở các nước phương tây Ở các hiệp hội thành lập tại các làng và thị trấn ở Nhật thường tổ chức nhiều hoạt động như:
lễ hội, hội nghị, thể thao, hoạt động giải trí cho người già và người trẻ,.v.v Những hoạt động này giúp thúc đẩy các mối quan hệ cộng đồng chặt chẽ, góp phần giám sát hành vi của người chưa thành niên và giảm thiểu tỉ lệ tội phạm chưa thành niên qua các hoạt động lành mạnh với cộng đồng
Ngoài các hiệp hội làng và thị trấn, nhiều tổ chức xã hội cũng tham gia vào việc nuôi dậy người chưa thành niên Ví dụ như “Hiệp hội các bà mẹ” hoạt động nhằm mục đích hỗ trợ người chưa thành niên mỗi khi gặp khó khăn Các hoạt động này được một số cơ quan Nhà nước khuyến khích thực hiện Đây là những hoạt động bổ sung quan trọng trong việc kiểm soát xã hội theo trật tự tại Nhật Bản
Hai trung tâm hỗ trợ người chưa thành niên phạm tội đầu tiên tại Nhật Bản được thành lập tại Kyoto và Osaka vào năm 1952 theo sáng kiến của các công dân ở hai thành phố này Đến năm 1963, có 118 trung tâm hỗ trợ cho người chưa thành niên phạm tội tại Nhật Bản Tuy nhiên, chính phủ đã không còn trợ cấp cho các tổ chức này cho đến năm 1964, ở thời kì đỉnh điểm lần thứ hai tội phạm chưa thành niên bùng nổ [41, p.321-353] Các Trung tâm hỗ trợ người chưa thành niên phạm tội đã tiến hành thực hiện ba phương pháp sau để
Trang 29giảm thiểu tỉ lệ tội phạm chưa thành niên: Tuần tra trên đường ở các khu phố giải trí lớn để tuyên truyền cho những người chưa thành niên, tuyên truyền cho cha mẹ những người chưa thành niên, cải thiện môi trường xã hội để nuôi dưỡng người chưa thành niên giúp họ tránh được những cạm bẫy của xã hội
Vào đầu tháng 11 năm 1998, Nhật Bản có khoảng 703 trợ giúp viên và khoảng 74.000 tình nguyện viên giúp đỡ ở các trung tâm hỗ trợ người chưa thành niên phạm tội Riêng trong năm 1997, các trợ giúp viên và tình nguyện viên đã tư vấn cho khoảng 365.000 người chưa thành niên khi tuần tra trên đường phố Tổng số trường hợp được tư vấn cá nhân là khoảng 156.000 người [41, p.321-353] Ở nhiều thành phố nhỏ và vừa, các trung tâm hỗ trợ người chưa thành niên phạm tội sẽ được quản lý bởi Phòng giáo dục thuộc thành phố Các cơ quan cảnh sát điều hành một số trung tâm trợ giúp cho người chưa thành niên phạm tội ở các thành phố lớn hơn Cả hai trung tâm được quản lý bởi phòng giáo dục và cảnh sát đều không có quyền lực buộc người chưa thành niên phải thực hiện pháp luật nên các trung tâm này chỉ mang tính chất hỗ trợ và tư vấn
Cảnh sát Nhật Bản cũng phát triển các tổ chức riêng nhằm ngăn chặn tội phạm chưa thành niên như: đội phòng chống tội phạm, đội cảnh sát học đường, đội cảnh sát tư vấn Trong năm 1964, cảnh sát đã thực hiện việc đưa các thanh thiếu niên có các hành vi phạm tội sau khi tốt nghiệp sẽ phải gia nhập các đội cảnh sát mới được thành lập Ngày nay, các đội cảnh sát này đã giảm xuống còn 300 đội, vì cơ quan cảnh sát không còn tuyển dụng thêm người để bổ sung thêm quân số nữa Cảnh sát đã tham gia vào nhiều hoạt động nhằm giảm tỉ lệ tội phạm ở người chưa thành niên Các cố vấn cảnh sát thường đến thăm các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, để trao đổi với học sinh về phòng chống sử dụng ma tuý Tại các đồn cảnh sát, thậm chí còn
mở các phòng tập cho người chưa thành niên vào năm 1998, ước tính có
Trang 30khoảng 1000 đồn cảnh sát đã mở phòng tập Ngoài trao đổi, hướng dẫn cho những người chưa thành niên cảnh sát cũng tư vấn cho cha mẹ của họ giúp các phụ huynh hiểu thêm về con cái của mình [41, p.321-353] Tuy nhiên, chính phủ Nhật Bản nhận ra rằng sẽ tốt hơn nếu các công việc này giao lại cho các trường học hoặc bởi các cơ quan phúc lợi trẻ em, các trung tâm hỗ trợ người chưa thành niên phạm tội Chính vì vậy, sau này Chính phủ Nhật bản đã giao công việc tư vấn, hỗ trợ cho người chưa thành niên cho các cơ quan này
Theo luật cho người chưa thành niên ở Nhật Bản, khi cảnh sát phát hiện
ra các vụ án mà tội phạm chưa thành niên gây ra thì phải chuyển tất cả các vụ
án đó sang Toà gia đình hoặc trung tâm tư vấn hỗ trợ người chưa thành niên Các công tố viên không có quyền tham gia vào các vụ án này, mà tất cả quyền
sẽ được giao cho Toà gia đình, tuy nhiên họ có thể viết ý kiến của mình và gửi cho Toà gia đình Đối với các vụ án có tính chất man rợ do người chưa thành niên thực hiện thì Công tố viên vẫn có quyền được tham gia nếu như toà cho phép
Về mô hình toà án gia đình tại Nhật Bản, đặc điểm đầu tiên của mô hình này đó là phiên toà luôn được xét xử kín để thông tin nhận diện về trẻ em được bảo vệ và đảm bảo khi lớn lên trẻ em có một “lý lịch trong sạch” Thứ hai, Toà án xét xử người chưa thành niên có hoạt động tính chất đơn giản, không đặt nặng đến hình thức như Toà án đối với người đã trưởng thành, trong đó thẩm phán đóng vai trò như một phụ huynh nghiêm khắc hơn là một người bảo vệ pháp luật Đối tượng của mô hình này gồm 3 nhóm trẻ em: Trẻ
em là bị cáo buộc phạm tội, trẻ em bị xâm hại, sao nhãng hoặc bóc lột, và trẻ
em không được chăm sóc do bố mẹ đã mất, do tàn tật hoặc lý do khác Đây đều là những đối tượng có nguy cơ bị xâm hại cao, dễ bị tổn thương do độ tuổi và do hoàn cảnh đặc biệt nên cần sự can thiệp của Nhà nước để bảo vệ, chăm sóc và hướng dẫn các em Đặc điểm thứ ba, các cán bộ giám sát và thi
Trang 31hành án được trao quyền chủ động rộng rãi, trong việc quyết định biện pháp phục hồi và thời gian áp dụng cho người chưa thành niên [41, p.321-353]
Vào năm 1977, Bộ Tư pháp đã giới thiệu một số các trường học cải tạo ngắn hạn dành cho những người chưa thành niên có xu hướng tội phạm ít tiến
bộ Đáp lại cải cách về việc mở các trường cải tạo ngắn hạn của Bộ Tư pháp các thẩm phán Toà gia đình bắt đầu gửi những người chưa thành niên phạm tội vào đó Tại đây, họ được học về giáo dục học thuật, đào tạo nghề và hướng dẫn
về cuộc sống [32, tr.50-57] Ngoài phương pháp gửi vào các trường học cải tạo thì còn một phương pháp khác được áp dụng tại Nhật Bản đó là người chưa thành niên phạm tội sẽ được quản chế đến năm 20 tuổi, các công việc này sẽ được các nhân viên quản chế thực hiện Những người này đều được tuyển chọn một cách kĩ càng, họ sẽ đóng vai trò như các chuyên gia hoạt động xã hội giúp
đỡ những người chưa thành niên bị quản chế đến khi họ đủ 20 tuổi
1.2.2 Kinh nghiệm về trợ giúp pháp lý người từ đủ dưới 16 tuổi đến
18 tuổi bị buộc tội ở Pháp
Không giống với hệ thống phòng ngừa tội phạm ở Anh – Mỹ, Pháp phòng ngừa tội phạm dựa trên khía cạnh xã hội và giáo dục Phòng chống tội phạm ở Pháp được tái khởi động vào đầu năm 1980, dựa trên báo cáo được thực hiện bởi “Uỷ ban thị trưởng của các thành phố vừa và lớn” Báo cáo này thúc đẩy việc đưa ra chính sách an toàn công cộng địa phương và thẩm quyền của các thị trưởng Mặc dù các tổ chức được thiết lập sau báo cáo này tập trung vào việc phòng ngừa tội phạm theo nghĩa rộng, nhưng lĩnh vực được chú trọng nhất của các cơ quan này chính là tội phạm chưa thành niên
Pháp chưa phát triển một hệ thống phòng ngừa sớm tội phạm vị thành niên Vì việc phòng ngừa sớm đối với đối tượng này tiềm ẩn khá nhiều rủi ro trong xã hội ví dụ: như việc kì thị của xã hội đối với những người chưa thành niên bị dính líu đến việc điều tra bởi cơ quan có thẩm quyền, việc này rất ảnh
Trang 32hưởng đến tương lai của họ sau này Một số cuộc thử nghiệm đã được diễn ra
ở Paris hướng tới việc giúp đỡ cha mẹ giáo dục con mình Điển hình là
“Trung tâm cha mẹ người Viking” đã xuất hiện trong khuôn khổ hợp đồng an ninh với địa phương (contrats locaux de sécurité, CLS), mục tiêu của họ là giúp đỡ cha mẹ bằng cách tư vấn hoặc giới thiệu các chuyên gia tâm lý, những người có thể hỗ trợ họ trong việc ứng phó với con cái của họ khi chúng bắt đầu có hành vi phạm tội [42, p.173-186]
Cho đến đầu những năm 1980, phòng ngừa tội phạm vị thành niên là lĩnh vực độc quyền của những nhà giáo dục chuyên biệt làm trong các câu lạc
bộ phòng chống tội phạm thành phố Tuy nhiên, các câu lạc bộ đã bị đình chỉ
và dừng hoạt động do sự gia tăng không ngừng tội phạm chưa thành niên tại Pháp và sự trẻ hoá của tội phạm Những người làm việc trong các câu lạc bộ này làm việc không hiệu quả và làm việc hời hợt đối với việc tư vấn cho người chưa thành niên Chính vì vậy, cơ quan này không còn chỗ đứng khi hệ thống tư pháp của Pháp được cải cách
Cảnh sát tại Pháp không có quyền tuỳ ý đối xử với tội phạm chưa thành niên, khi một người chưa thành niên bị bắt thì người này không thể bị giam giữ nếu không có sự đồng ý của văn phòng công tố Công tố viên có quyền quyết định việc liệu người chưa thành niên bị bắt có được thả sớm dựa trên việc tự giác khai báo của người đó Các công tố viên có thể yêu cầu cảnh sát thông báo cho người chưa thành niên phạm tội, với cha mẹ của anh ta về bản
án mà người chưa thành niên đó phải chịu do hành vi phạm pháp của mình gây ra Nếu hành vi của người chưa thành niên không quá nghiêm trọng thì các công tố viên có quyền quyết định một biện pháp trừng phạt khác nhẹ nhàng hơn dưới sự giám sát của cảnh sát tư pháp
Vai trò của Công tố viên trong việc bảo vệ quyền của người chưa thành niên phạm tội ở Pháp đã phát triển một cách đáng chú ý Để thấy rõ được vai
Trang 33trò này của Công tố viên cần phải dựa vào các chính sách giáo dục người chưa thành niên phạm tội thay cho các biện pháp thực thi pháp luật, và cách các chính sách này được thực hiện trong nhiều năm qua Các thẩm phán ở Toà
vị thành niên của Pháp có thẩm quyền kép trong vụ án hình sự mà người chưa thành niên thực hiện Dựa trên sắc lệnh ngày 2/2/1945, khi trẻ em gặp nguy hiểm, dựa trên điều 375 của Bộ luật dân sự Sắc lệnh 2/2/1945 ưu tiên cho các biện pháp giáo dục hơn các biện pháp hình sự và khẳng định quyền giáo dục cho người chưa thành niên phạm tội là ưu tiên của cơ quan thực thi pháp luật tại Pháp Khi Toà án đầu tiên cho người chưa thành niên được thành lập, cùng lúc đó một “Ban giám đốc trại cải tạo” mà sau này gọi là Tổng cục bảo vệ thanh thiếu niên (Direction de la Protection judiciaire de la jeunesse, PJJ) cũng được thành lập để hỗ trợ và bảo vệ cho những người chưa thành niên phạm tội [42, p.173-186] Trong nhiều năm, các thẩm phán toà vị thành niên có
xu hướng khoan hồng đối với tội phạm vị thành niên, vì các thẩm phán toà vị thành niên ở Pháp cho rằng những người này thực chất là những người đang chịu tổn thương Mặc dù, Công tố viên có quyền khởi tố vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, nhưng cho đến gần đây họ ít thực hiện quyền này, do thẩm phán Toà vị thành niên gần như độc quyền trong các vụ án do người chưa thành niên thực hiện Ngoài ra, các công tố viên cũng không có hứng thú với những vụ án này, sự hiện diện của họ chỉ mang tính hình thức
Một số toà án vị thành niên ở Pháp, có bổ sung thêm một số công tố viên đặc biệt cho người chưa thành niên, những công tố viên đặc biệt này là những chuyên gia về trẻ vị thành niên Họ cũng đóng vai trò như một người đối thoại với người chưa thành niên phạm tội giảm bớt áp lực nặng nề cho người chưa thành niên khi bị điều tra Sự xuất hiện của các công tố viên này được các thẩm phán Toà vị thành niên ở Pháp đánh giá rất cao
Những người từ 13 tuổi đến 18 tuổi phạm tội ở Pháp sẽ bị quản chế trong
Trang 34một số điều kiện nhất định Việc xử lý những người này được thực hiện bởi thẩm phán Toà vị thành niên hoặc thẩm phán xét xử Việc giáo dục và giám sát quản chế những người người từ 13 tuổi đến 18 tuổi phạm tội thuộc thẩm quyền của Văn phòng bảo vệ thanh niên tư pháp hoặc một cơ sở tư nhân được cấp phép Các cơ
sở này thường là các “Trung tâm giáo dục hành động” (centresd’action éducative, CAE) viết tắt là CAE họ hoạt động như một hình thức cung cấp dịch vụ giáo dục người chưa thành niên phạm tội [42, p.173-186] Vai trò của CAE là tham khảo
ý kiến của người chưa thành niên và gia đình họ, đảm bảo theo dõi những người chưa thành niên phạm tội bằng các biện pháp đặc biệt CAE cũng có trách nhiệm điều tra hỗ trợ thẩm phán trong suốt quá trình họ đưa ra quyết định của mình đối với các vụ án người chưa thành niên phạm tội Họ cũng chịu trách nhiệm giáo dục, giúp đỡ những người chưa thành niên phạm tội hoà nhập với xã hội [42, p.173-186]
1.2.3 Kinh nghiệm về trợ giúp pháp lý người từ đủ dưới 16 tuổi đến
18 tuổi bị buộc tội ở Mỹ
Ở Mỹ đã có nhiều cuộc cải cách tư pháp cho người chưa thành niên phạm tội, các chính sách tư pháp của Hoà Kì từ năm 1960 đã trao cho các cơ quan pháp lý quyền lực để bảo vệ người chưa thành niên Do vậy, những người phạm tội chưa thành niên được cấp quyền bảo vệ, vì hệ thống pháp luật tại Hoa Kì cho rằng họ thiếu sự chăm sóc gia đình dẫn đến việc phạm tội ở lứa tuổi này Tuy nhiên trong nhiều thập kỷ vừa qua thì người chưa thành niên được cấp ít quyền hơn, do có một số nghiên cứu cho rằng người chưa thành niên có thể đưa ra quyết định có hiệu quả tương đương người lớn Việc này gia tăng hơn trách nhiệm của những người chưa thành niên mỗi khi họ định thực hiện hành vi phạm tội
Trong những thập kỷ qua, Mỹ đã tiến hành các biện pháp phát hiện và ngăn ngừa sớm tội phạm Vào những năm 1960, Mỹ thực hiện tài trợ các
Trang 35Trường mầm non ở các khu vực kinh tế khó khăn góp phần làm cải thiện tình trạng trẻ hoá tội phạm ở đây Vào năm 1992, Mỹ tiến hành một chương trình Chăm sóc cộng đồng (The communities that care, CTC), chương trình này được áp dụng một cách rộng rãi nhằm ngăn chặn rủi ro do tội phạm vị thành niên gây ra Theo CTC, toàn bộ cộng đồng thay vì các cơ quan riêng lẻ, sẽ nhận được tài trợ và hỗ trợ kỹ thuật để triển khai các hệ thống phối hợp phòng ngừa tội phạm Hệ thống của CTC bao gồm các giai đoạn như sau:
(1) Tập hợp các nhà lãnh đạo cộng đồng để hỗ trợ phòng ngừa tội phạm; (2) Chỉ định một ban cộng đồng bao gồm thanh niên có nguy
cơ, phụ huynh của họ, đại diện của doanh nghiệp và ngành công nghiệp, và đại diện của cảnh sát, tòa án, cải chính, và các tổ chức phục vụ thanh thiếu niên công cộng và tư nhân; (3) Yêu cầu hội đồng quản trị thực hiện đánh giá các yếu tố rủi ro và bảo vệ trong cộng đồng, lập bảng kiểm kê các tài nguyên cộng đồng hiện có và xác định các lỗ hổng trong các tài nguyên hiện có; (4) Lấy cơ sở thực nghiệm làm nền tảng và xây dựng kế hoạch phòng ngừa tội phạm toàn diện; và (5) cuối cùng giải quyết các vấn đề cấp bách nhất của cộng đồng, CTC sẽ điều phối các nguồn lực hiện có và triển khai các chương trình mới, chọn từ danh mục các chiến lược mà thông qua các nghiên cứu đã cho thấy có hiệu quả [41, p.529-552]
Mục tiêu của chương trình là phát hiện ra những người chưa thành niên
có nguy cơ cao phạm tội, sau đó giảm thiểu rủi ro thông qua các biện pháp can thiệp sớm từ việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường, chính quyền địa phương Tuy nhiên, chương trình này được tài trợ với số lượng kinh phí rất ít
ỏi 75% các cộng đồng CTC chỉ nhận 52000 đô la trở xuống một năm Các chương trình không có tính dài hạn do mỗi đời Tổng thống Mỹ khác nhau thì chính sách đối với chương trình này lại thay đổi [41, p.529-552]
Trang 36Về mô hình toà chưa thành niên, Mỹ không có một hệ thống toà án chưa thành niên thống nhất nào, mà từng bang sẽ xây dựng và thực hiện một
hệ thống toà án chưa thành niên riêng Tuy nhiên, mô hình toà án chưa thành niên điển hình nhất tại Mỹ là mô hình toà án gia đình hợp nhất Đây là mô hình có quyền tài phán tất cả các vấn đề liên quan đến gia đình bao gồm: Hôn nhân, ly hôn, bạo lực gia đình, tư pháp người chưa thành niên, bảo vệ quyền trẻ em và cho, nhận con nuôi Phiên toà xét xử người chưa thành niên phạm tội được tiến hành xét xử kín mà không có bồi thẩm đoàn Thẩm phán duy nhất này có quyền giám sát tất cả các quá trình tố tụng, pháp lý nảy sinh từ vụ việc gia đình đó Nếu quy trình xem xét hành vi người chưa thành niên phải xét xử, thì thẩm phán có quyền ra lệnh giam giữ, áp dụng hình phạt thử thách hoặc bồi thường thiệt hại của họ gây ra Người chưa thành niên bị kết án sẽ không bị giam giữ với người đã thành niên bị kết án hoặc đang chờ xét xử về tội hình sự, mà được ở cơ sở đào tạo cộng đồng gần địa phương họ sinh sống Hoặc có thể họ sẽ được gắn thiết bị và quản thúc tại nhà dưới sự giám sát của Chính quyền địa phương, cùng các thành viên trong gia đình [32, tr.50-57]
1.2.4 Gợi mở cho Việt Nam
Mỗi nước nêu trên đều có những cách tiếp cận, hỗ trợ cho người từ đủ
16 tuổi đến dưới 18 tuổi khác nhau, tuy nhiên đều chú trọng vào việc giáo dục cũng như ngăn ngừa tội phạm ở lứa tuổi này Ở các nước như Mỹ, Pháp và Nhật đều có những tổ chức, chương trình để trợ giúp pháp lý cho những người chưa thành niên phạm tội Các nước cũng thành lập các Toà án xét xử chuyên biệt giành cho những người thuộc lứa tuổi này Vì hầu hết các nước kể trên đều cho rằng người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi cần một mô hình toà án xét
xử một cách nhẹ nhàng hơn so với hình thức xét xử người thành niên phạm tội Mô hình Toà án dành cho người chưa thành niên phạm tội đều tập trung vào việc chuẩn đoán và giáo dục cho nhóm người này Các biện pháp khoan
Trang 37hồng kết hợp với trừng phạt, đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho người chưa thành niên và có sự hỗ trợ từ gia đình Nhìn chung các mô hình đều có các ưu nhược điểm nhất định, nhưng đó đều là những kinh nghiệm để Việt Nam nghiên cứu
mô hình xử lý đối tượng từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội một cách hiệu quả, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội
Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2014 và từ đây Tòa gia đình và người chưa thành niên được quy định là Tòa chuyên trách trong cơ cấu tổ chức của TAND Theo quy định tại Điều 30, 38 và 45 của Luật tổ chức tòa án nhân dân, thì trong cơ cấu của Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện có Tòa gia đình và người chưa thành niên [24] Từ những mô hình hỗ trợ cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội của các nước trên thế giới, Việt Nam có thể nghiên cứu các mô hình TGPL và quản thúc để hỗ trợ cho người người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội như sau:
Thứ nhất, cần sửa đổi quy định xét xử kín cho người dưới 18 tuổi phạm
tội theo hướng phiên toà có bị cáo, bị hại dưới 18 tuổi được xét xử kín và không được xử lưu động trong mọi trường hợp để đảm bảo khi trưởng thành
họ có một lý lịch trong sạch (giống với mô hình của Nhật Bản) Bản án công khai theo cách thức viết tắt thay thế cho tên bị cáo đảm bảo không làm lộ danh tính của họ Hồ sơ vụ án sau khi xét xử cần được niêm phong và không được công bố (mô hình tại Hoa Kỳ) trừ trường hợp phục vụ thống kê, quy định chế tài nghiêm khắc đối với người có thẩm quyền tố tụng làm lộ những thông tin trong hồ sơ
Thứ hai, cần nghiên cứu mô hình tại Pháp về việc có những công tố
viên chuyên biệt giúp đỡ Toà án trong việc xét xử những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội Những người này phải là những người có chuyên môn về tâm lý để có thể đối thoại với những người vị thành niên giúp họ giảm bớt những căng thẳng khi tham gia vào các hoạt động tố tụng
Trang 38Thứ ba, Việt Nam có thể nghiên cứu mô hình quản thúc tại nhà đối với
người từ đủ 16 tuổi đến đủ 18 tuổi phạm tội không nghiêm trọng Nhờ cha
mẹ, nhà trường, hàng xóm giám sát và giáo dục để họ có thể từ bỏ việc phạm tội tiếp tục hoà nhập với cuộc sống xã hội
Thứ tư, thành lập các trung tâm trợ giúp pháp lý kèm theo các vấn đề xã
hội khác dành riêng cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi Vì ngoài các vướng mắc về trợ giúp pháp lý ra thì họ cũng cần hỗ trợ những vấn đề khác ngoài cuộc sống như: tâm lý, cách giải toả áp lực, tình cảm tuổi mới lớn,… Các Trung tâm TGPL có thể phối hợp với các Sở giáo dục để triển khai mô hình phối hợp này tránh phân mảng gây rắc rối trong khâu tiếp cận
Thứ năm, Việt Nam có thể thí điểm xây dựng tổ chức chuyên trách hỗ trợ
pháp lý cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội ở các Trung tâm TGPL thuộc Sở tư pháp tại các địa phương giống như mô hình ở Mỹ Tổ chức này chịu trách nhiệm hỗ trợ về mô hình, con người, kinh nghiệm để các Trung tâm TGPL nhanh chóng có thể triển khai việc TGPL khi gặp vụ việc có người từ
đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội mà không mất thời gian tiếp xúc
Trên đây là một số gợi ý về TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi ở Việt Nam từ mô hình của một số nước trên thế giới Ở mô hình TGPl cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội ở các nước nêu trên thì hầu hết họ đều quan niệm rằng nhóm đối tượng này là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, thiếu sự hiểu biết về pháp luật chính vì thế nên họ được hưởng một số cơ chế đặc thù trong đó có TGPL Các nước hầu hết đều áp dụng các chính sách giáo dục, khuyến khích những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội nhận thức được sai lầm của mình từ đó biết cách khắc phục hoàn thiện bản thân tiếp tục cuộc sống
Hiện tại ở Việt Nam đã có toà án gia đình và toà cho người chưa thành niên tuy nhiên vẫn cần các cơ chế hỗ trợ pháp lý cho các toà này Trong đó
Trang 39cần lưu ý tập trung vào chế định luật sư công để giúp đỡ những người từ đủ
16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội không có đủ điều kiện kinh tế tiếp xúc với dịch vụ luật sư Bên cạnh đó thì những luật sư này cũng cần có một số kiến thức về tâm lý do đối tượng này dễ tổn thương nếu không được tiếp cận
hỗ trợ đúng cách
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO ĐỐI TƯỢNG TỪ ĐỦ 16 TUỔI ĐẾN DƯỚI 18 TUỔI BỊ BUỘC TỘI
2.1 Thực trạng pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội
2.1.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội
TGPL ngay từ khi ra đời, luôn hướng tới đối tượng yếu thế trong xã hội mà những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội là một trong
số đó Với mục tiêu giúp đỡ tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về pháp luật, góp phần bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội, phòng ngừa hạn chế tranh chấp về pháp lý Từ năm 1945 đến nay, hệ thống pháp luật TGPL
ở nước ta bước qua các giai đoạn phát triển khác nhau, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, gắn với nhiệm vụ chính trị của đất nước và đáp ứng nhu cầu của người dân trong từng giai đoạn Ở mỗi thời điểm, pháp luật
về TGPL có những đặc trưng riêng, từng bước hoàn thiện và phát triển góp phần quan trọng trong việc giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân Có thể thấy lịch sử hình thành và pháp triển TGPL cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội theo 5 giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Pháp luật về quyền của người chưa thành niên phạm tội từ năm 1945 cho đến trước Hiến pháp 1959 ra đời
Từ khi Cách mạng tháng Tám thành công cho đến khi kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, Nhà nước ta vừa phải tiến hành bảo vệ nền độc lập của dân tộc, vừa phải tiến hành công cuộc kiến thiết đất nước Trong tình hình ấy, công tác xây dựng pháp luật nói chung, cũng như xây dựng những quy định về quyền của người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị buộc tội còn