Tương tự, Bộ luật Trung Kỳ năm 1936 quy định tại Điều 680 như sau: “Khế ước là một hiệp ước của một hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển giao, để làm hay không
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VIỆT ĐỨC
PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VIỆT ĐỨC
PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380101.04
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Huy Cương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Việt Đức
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG 7
1.1 Khái quát về hợp đồng và phân loại hợp đồng 7
1.1.1 Khái niệm hợp đồng 7
1.1.2 Bản chất của hợp đồng 10
1.1.3 Khái quát về phân loại hợp đồng 12
1.1.4 Ý nghĩa của việc phân loại hợp đồng 13
1.2 Các căn cứ phân loại hợp đồng 14
1.3 Phân loại hợp đồng theo quy định của một số quốc gia trên thế giới 17
1.3.1 Bộ luật Dân sự Pháp 1804 17
1.3.2 Bộ luật Dân sự Cộng hòa giáo hồi Iran 1983 18
1.3.3 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga 1994 19
Kết luận chương 1 22
CHƯƠNG 2 PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 23
2.1 Lịch sử phân loại hợp đồng theo pháp luật Việt nam 23
2.1.1 Phân loại hợp đồng theo Bộ luật dân sự Bắc Kỳ 1931 23
2.1.2 Phân loại Hợp đồng theo Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936 26
2.1.3 Phân loại hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 1972 27
2.1.4 Phân loại hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 2015 28
2.2 Phân loại hợp đồng theo pháp luật Việt Nam 37
2.2.1 Hợp đồng đơn vụ và hợp đồng song vụ 40
Trang 52.2.2 Hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù 44
2.2.3 Hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế 51
2.2.4 Hợp đồng nhất định và hợp đồng không nhất định 56
2.2.5 Hợp đồng chính và hợp đồng phụ 58
2.2.6 Hợp đồng thương lượng và hợp đồng gia nhập 60
2.2.7 Các cách phân loại khác 64
2.3 Khoảng trống của pháp luật Việt Nam về phân loại hợp đồng 67
2.3.1 Hợp đồng hữu danh và vô danh 67
2.3.2 Hợp đồng cá nhân và hợp đồng tập thể 72
Kết luận chương 2 76
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG 77
3.1 Thực tiễn áp dụng phân loại hợp đồng ở Việt Nam 77
3.2 Một số kiến sửa đổi bộ luật dân sự hiện hành 84
Kết luận chương 3 90
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Từ thời cổ đại, con người đã bắt đầu trao đổi những sản phẩm họ tạo ra được nhưng không dùng tới với người khác để đổi lấy những sản phẩm cần thiết khác Ví dụ một người săn được rất nhiều thịt thú rừng nhưng họ không
sử dụng hết Có những người khác lại thu lượm được rất nhiều trái cây nhưng lại không có thịt để ăn Và thế là họ gặp nhau để trao đổi thịt và trái cây, người có nhiều thịt giờ sẽ có thêm trái cây và ngược lại, người có nhiều trái cây cũng có thịt để ăn Việc trao đổi giữa những người này thời cổ đại có thể được coi là giao dịch và là manh nha của hợp đồng
Xã hội ngày càng phát triển và các mối quan hệ cũng phức tạp hơn Do
đó, con người cần thực hiện nhiều giao dịch hơn để phục vụ cuộc sống Không còn đơn thuần là việc trao đổi tài sản, hiện nay con người thực hiện muôn vàn giao kết khác như thuê, mượn tài sản, mua bán tài sản, hợp tác…, tương ứng với mỗi giao kết đó sẽ hình thành ít nhất một hợp đồng Thực tế cho thấy rằng có rất nhiều loại giao dịch, hợp đồng khác nhau phát sinh trong cuộc sống hằng ngày Để các nhà làm luật có thể ban hành được những quy chế chính xác và phù hợp cho từng loại hợp đồng thì đầu tiên cần có những cách phân loại phải chính xác Ngoài ra, việc phân loại các hợp đồng một cách rõ ràng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người thực hiện pháp luật, bao gồm tuân thủ luật, thi hành luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Mặt khác, hiện nay Việt Nam đang là một trong những quốc gia hấp dẫn các nhà đầu tư trên khắp thế giới bởi những thành tựu mà chúng ta đạt được
về cả kinh tế và xã hội Cụ thể, gần đây Việt Nam đã tham gia 2 FTA thế hệ mới là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và FTA giữa Việt Nam và EU (EVFTA) Do đó, để có thể có một
Trang 7môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh thì chúng ta cần có những quy định pháp luật rõ ràng và phù hợp với sự phát triển của xã hội
Từ những thực tiễn nêu trên, việc nghiên cứu về phân loại hợp đồng theo các quy định pháp luật của Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hội nhập kinh tế, quốc tế Do đó, tác giả lựa chọn: “Phân loại hợp đồng theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài luận văn với hy vọng sẽ có cách nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về cách phân loại hợp đồng Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm khắc phục những hạn chế về cách phân loại hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian vừa qua, đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến vấn đề phân loại hợp đồng Có thể kể đến công trình nghiên cứu tiêu
biểu như Ngô Huy Cương: “Hai cặp phân loại Hợp đồng căn bản” (Tạp chí
Khoa học ĐHQGHN, Luật học 25 (2009) 27-33)
Các sách chuyên khảo như “Việt Nam dân lược khảo – Quyển II: Nghĩa
vụ và khế ước”, 1963, tr 61-82 của Vũ Văn Mẫu; “Giáo trình Luật Hợp đồng (phần chung)”, tr 174-218 của PGS.TS Ngô Huy Cương; “Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015” do PGS TS Đỗ Văn Đại làm chủ biên, 2016; “Luật dân sự Việt Nam”, Nxb Đại học Quốc Gia Thành
phố Hồ Chí Minh, 2007, tr 313-322 của Nguyễn Xuân Quang – Lê Nết –
Nguyễn Hồ Bích Hằng; Nguyễn Ngọc Điện, “Giáo trình Luật dân sự Tập 2”,
Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Tái bản lần 2, 2019, tr 28-34
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập đến cách phân loại hợp đồng theo quan điểm riêng của mỗi tác giả hoặc đề cập đến cách phân loại hợp đồng theo pháp luật Việt Nam mà chưa có bài nghiên cứu nào bao quát được các vấn đề về phân loại hợp đồng như khái niệm, nêu ra các căn cứ phân loại hợp đồng và phân tích cụ thể các cách phân loại khác nhau để liên
Trang 8hệ với cách phân loại của pháp luật Việt Nam Ngoài ra, một số công trình được thực hiện trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 được ban hành nên không còn tính mới và không mang tính thời sự Do vậy, đề tài “Phân loại hợp đồng theo pháp luật Việt Nam” rất cần được nghiên cứ và luận giải sâu sắc hơn trong bối cảnh hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu luận văn:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về phân loại hợp đồng
- Chỉ ra các cách phân loại hợp đồng khác nhau
- Làm rõ cách phân loại hợp đồng theo pháp luật Việt Nam
- Tìm ra những hạn chế, bất cập trong cách phân loại hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và đưa ra những giải pháp và đề xuất cách phân loại phù hợp hơn cho pháp luật Việt Nam
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về phân loại hợp đồng như: khái niệm phân loại hợp đồng, các căn cứ, cơ sở của việc phân loại hợp đồng Ngoài ra, luận văn còn nghiên cứu sơ lược các cách phân loại hợp đồng của một số nước đại diện cho các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới
- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về phân loại hợp đồng
- Làm rõ những ưu và nhược điểm của cách phân loại hợp đồng theo pháp luật Việt Nam, từ đó đề xuất phương án hoàn thiện pháp luật
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận về phân loại hợp đồng, các quy định hiện hành theo pháp luật Việt Nam về phân loại hợp đồng và thực tiễn áp dụng các cách phân loại hợp đồng
Trên cơ sở đó, phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định là:
Trang 9- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu cách phân loại hợp đồng theo pháp luật Việt Nam, các cách phân loại trên thế giới chỉ được sử dụng để so sánh
- Luận văn tập trung phân tích cách phân loại mà pháp luật Việt Nam đã lựa chọn và cơ sở, ý nghĩa của việc phân loại đó
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN Do đó, các đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật đều dựa trên các quan điểm chỉ đạo nêu trên
- Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp:
+ Phương pháp phân tích được sử dụng nhằm làm rõ một số vấn đề về lý luận cơ bản về phân loại hợp đồng
+ Nghiên cứu lịch sử được sử dụng nhằm nghiên cứu rõ hơn các quy định của pháp luật Việt Nam về phân loại hợp đồng đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật trước đây
+ Phương pháp so sánh được sử dụng đối chiếu, so sánh với pháp luật của một số quốc gia đại diện các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới nhằm tham khảo, tiếp thu kinh nghiệm
+ Phương pháp thống kê được sử dụng trong việc thống kê thực tiễn áp dụng cách phân loại của pháp luật Việt Nam để đưa ra những nhận xét, kết luận và đề xuất để hoàn thiện cách phân loại phù hợp
+ Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong việc tổng hợp các vấn đề
đã nghiên cứu, được đưa ra tranh luận nhằm đưa ra những nhận định và
những kết luận
Trang 106 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về những vấn đề liên quan đến phân loại hợp đồng Đưa ra các khái niệm, các đặc trưng, vai trò của việc phân loại hợp đồng đối với việc ban hành luật và thực thi pháp luật Các nội dung trên được phân tích một cách đầy đủ, sâu sắc, từ đó làm cơ sở cho việc luận giải những vấn đề có liên quan đến việc phân loại hợp đồng Trên cơ
sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, Luận văn đã phân tích làm rõ thực trạng pháp luật hiện hành về phân loại hợp đồng
Luận văn phân tích, đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc những thuận lợi, những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế, vướng mắc có thể gặp phải khi áp dụng quy định về phân loại hợp đồng trong thực tiễn Trên cơ
sở đó, luận văn đã đề xuất các giải pháp có giá trị nhằm hoàn thiện quy định
về phân loại hợp đồng
7 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về phân loại hợp đồng Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc áp dụng các quy định pháp luật về phân loại hợp đồng Ngoài
ra, những phân tích, đóng góp của luận văn cũng là tài liệu giúp ích trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật của các cơ quan lập pháp, là tài liệu tham khảo cho những người làm việc trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp như Thẩm phán hay Trọng tài viên có hiểu biết sâu sắc thêm về các cách phân loại hợp đồng Kết quả nghiên cứu của Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu hay học tập pháp luật tại Việt Nam
8 Về bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu thành 3 chương như sau:
Trang 11Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phân loại hợp đồng
Chương 2: Phân loại hợp đồng theo pháp luật Việt Nam
Chương 3: Thực tiễn áp dụng phân loại hợp đồng và kiến nghị hoàn thiện các quy định hiện hành về phân loại hợp đồng
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG
1.1 Khái quát về hợp đồng và phân loại hợp đồng
1.1.1 Khái niệm hợp đồng
Thứ nhất, về vai trò và ý nghĩa của hợp đồng
Mọi mặt trong đời sống của con người đều được tạo nên từ hợp đồng Từ lúc một người được sinh ra, đến lúc chết đi đều gắn với những hợp đồng Lúc sinh ra, con người được sử dụng các dịch vụ y tế từ việc cha mẹ chúng ta giao kết hợp đồng với các cơ sở y tế Lúc đi học, con người được đào tạo thông qua hợp đồng với cơ sở giáo dục Đến tuổi lập gia đình, việc tìm được một người bạn đời và kết hôn với họ, xét về bản chất cũng có thể coi là một hợp đồng Khi chúng ta làm việc, kinh doanh thì rất nhiều hợp đồng khác xuất hiện như hợp đồng lao động, hợp đồng vay, hợp đồng thành lập doanh nghiệp, hợp đồng mua bán Cuối cùng, đến khi con người chết đi cũng làm phát sinh các hợp đồng như dịch vụ tang lễ, hợp đồng sử dụng huyệt mộ Từ đó, chúng
ta có thể thấy rằng một đời người gắn liền với rất nhiều hợp đồng khác nhau
và hợp đồng có một vị trí quan trọng trong cuộc sống của chúng ta
Cụ thể hơn, trong việc làm ăn, kinh doanh, hợp đồng là một thành phần, một nhân tố không thể thiếu, nó giúp các bên ràng buộc với nhau những
quyền và nghĩa vụ “Người ta thường nói luật hợp đồng là nên tảng của kinh doanh và tìm hiểu luật hợp đồng là thiết yếu đối với những người có mong muốn tiến hành kinh doanh” [41,tr.191] Đúng vậy, để một doanh nghiệp có
thể thực hiện một dự án đầu tư như xây dựng nhà chung cư thì tham gia vào rất nhiều hợp đồng như: hợp đồng thuê đất với nhà nước, hợp đồng thuê các đơn vị tư vấn về dự án, tài chính, pháp lý, hợp đồng thuê các bên thi công xây dựng, khi hoàn thành công trình thì phải ký hợp đồng thuê đơn vị quản lý và
Trang 13đặc biệt không thể thiếu là ký các hợp đồng để kinh doanh sản phẩm như mua bán, cho thuê nhà chung cư
Trong cuộc sống hàng ngày, hợp đồng cũng đóng một vai trò rất quan trọng Để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, chúng ta phải giao kết rất nhiều hợp đồng khác nhau: Hợp đồng mua bán hoặc thuê nhà ở, khi mua bán
xe chúng ta phải giao kết hợp đồng mua bán, hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự, hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới hoặc có thể là hợp đồng tín dụng với ngân hàng, khi mua lương thực phẩm, khi sử dụng điện nước hay internet, chúng ta cũng phải giao kết những hợp đồng với đơn vị cung cấp và rất nhiều hợp đồng khác Do vậy, có thể hiểu rằng hợp đồng được coi là một phương tiện để con người duy trì cuộc sống
Trong mối quan hệ giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế, để duy trì một nền hòa bình và ổn định trên thế giới, các quốc gia ký kết với nhau những điều ước quốc tế Theo đó, các quốc gia tham gia thỏa thuận sẽ những nguyên tắc, quy phạm pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên ký kết, có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các quốc gia Về bản chất thì các điều ước quốc tế cũng là một thỏa thuận và có thể coi là hợp đồng
Như vậy, chúng ta có thể thấy hợp đồng có vai trò và vị trí quan trọng trong bất kỳ lĩnh vực nào, đời sống hằng ngày, kinh doanh thương mại hay mối quan hệ giữa các quốc gia và tổ chức quốc tế Hợp đồng là căn cứ để các bên thi hành các quyền và thực hiện nghĩa vụ của mình, ngoài ra cũng bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng và xã hội Tất cả chủ thể trong xã hội đều có nhu cầu sử dụng hợp đồng để duy trì sự tồn tại và phát triển, không phân biệt giàu nghèo, nam hay nữ, ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới hay trong bất kỳ hệ thống pháp luật nào
Thứ hai, về khái niệm hợp đồng
“Hợp đồng có những tên gọi khác nhau như thỏa thuận, khế ước, giao
Trang 14kèo, thỏa ước, ước định, hiệp ước”[3,tr.10] Cùng với đó là nhiều định nghĩa
khác nhau về hợp đồng
Bộ luật Dân sự Pháp hay còn gọi là Bộ luật Napoléon được ban hành
năm 1804 quy định tại Điều 1101, Thiên III: “Hợp đồng là sự thỏa thuận theo
đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một việc nào đó”[18,tr.306] Theo định nghĩa
này, hợp đồng là sự thống nhất ý chí giữa hai hay nhiều người và mục đích của hợp đồng chính là để giao một vật, làm hoặc không làm một việc
Tiếp thu Bộ luật dân sự Pháp 1804, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 định nghĩa tại Điều 644 rằng “hiệp ước là một hay nhiều người hợp ý nhau lại để lập ra hay chuyển đi, đổi lại hay tiêu đi một quyền lợi thuộc về vật hay về người” Tương tự, Bộ luật Trung Kỳ năm 1936 quy định tại Điều 680 như sau: “Khế ước là một hiệp ước của một hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển giao, để làm hay không làm cái gì.”
Còn theo quy định của Bộ luật Dân sự Nhật Bản, hợp đồng được định
nghĩa là “Một loại giao dịch thể hiện thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên Mục đích của hợp đồng thông thường làm phát sinh nghĩa vụ”[38,tr.489] Như vậy, “theo quy định của Bộ luật dân sự Nhật Bản thì hợp đồng được xem xét dưới phương diện là một quan hệ pháp luật và cũng là căn cứ phổ biến và quan trọng làm phát sinh nghĩa vụ” [20,tr.13]
Bộ luật Dân sự Liên bang Nga 1994 định nghĩa hợp đồng tại Điều 420
như sau: “Hợp đồng là sự thỏa thuận của hai hoặc nhiều người về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”
Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 có lẽ đã sao chép quy định tại Bộ luật Dân sự Liên bang Nga 1994 khi định nghĩa hợp đồng tại Điều 388 như sau:
“Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Các nhà làm luật Việt Nam quy định về
Trang 15khái niệm “Hợp đồng dân sự”, tuy nhiên khái niệm này có thể được hiểu rộng hơn, có thể là hợp đồng chứ không đơn thuần là hợp đồng dân sự, tức là ngoại diên rộng hơn nội hàm Chính vì lẽ đó, để khắc phục điểm này, các nhà làm luật đã điều chỉnh tại Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 rằng: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự.”
Theo định nghĩa trên của Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng được cấu thành bởi hai yếu tố: Thứ nhất là sự thỏa thuận của các bên tham gia hợp đồng; thứ hai, mục đích của thỏa thuận là xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ
Ý chí sự thỏa thuận là điều kiện đầu tiên của hợp đồng, ý chí này của một bên phải được thể hiện ra ngoài bằng một trong những hình thức nhất định như bằng lời nói, cử chỉ hoặc văn bản Dựa vào những dấu hiệu này, bên còn lại có thể nhận biết được và đáp lại bằng việc biểu hiện ý chí của mình Hơn nữa, ý chí biểu hiện ra ngoài phải được xuất phát từ chính chủ đích của chủ thể một cách tự do, không phải bị cưỡng ép hay đe dọa
Yếu tố thứ hai của hợp đồng chính là mục đích của thỏa thuận Sự thỏa thuận của các bên phải làm phát sinh hậu quả pháp lý như xác lập, làm thay đổi hoặc làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên
Tóm lại, từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy hợp đồng có hai vấn đề cơ bản và cũng chính là bản chất của hợp đồng: (i) Các bên thống nhất
ý chí (thỏa thuận) và (ii) sự thỏa thuận phát sinh hậu quả pháp lý (mục đích của thỏa thuận)
1.1.2 Bản chất của hợp đồng
Như đã phân tích ở phân khái niệm của hợp đồng, bản chất của hợp đồng được tạo nên bởi hai thành tố: sự thống nhất ý chí của các bên và mục đích của sự thỏa thuận
Trang 16Theo Phan Hữu Nghị thì: “ Trong các hợp đồng yếu tố cơ bản nhất là sự thỏa hiệp giữa các ý chí, tức là có sự ưng thuận giữa các bên với nhau Người
ta thường gọi nguyên tắc này là nguyên tắc hiệp ý Nguyên tắc hiệp ý là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng: khi giao kết hợp đồng các bên được tự do quy định nội dung hợp đồng, tự do xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên…”.[17]
Thỏa thuận của các bên luôn là một trong những yếu tố thể hiện bản chất
của hợp đồng Có quan điểm cho rằng: “yếu tố thỏa thuận của các chủ thể là tiền đề của hợp đồng và được xem là tuyệt đối”[27,tr.20] Bản chất của sự
thỏa thuận là kết quả của sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí ra ngoài của các bên Để đạt được sự đồng thuận thì ý chí của các bên phải được bộc lộ ra ngoài để bên còn lại và các chủ thể thứ ba (nếu có) biết được ý chí của mình
Như vậy, “thỏa thuận là sự trùng hợp ý muốn của các bên về một điều gì đó
mà các bên mong muốn đạt được”[30,tr.10]
Tuy nhiên, có nhiều trường hợp, có thể do lý do chủ quan hoặc khách quan mà ý chí của các bên trong được thể thiện rõ trong hợp đồng Trường hợp xảy ra tranh chấp, cơ quan tố tụng sẽ căn cứ vào các quy định của pháp luật thực định tương ứng về loại hợp đồng đó để giải quyết Trường hợp xấu hơn là luật thực định cũng không điều chỉnh thì phải áp dụng những nguyên tắc của pháp luật dân sự, cụ thể sẽ được phân tích ở phần sau
Trang 17Thứ hai, mục đích của sự thỏa thuận là tạo ra sự ràng buộc về mặt pháp
lý của các bên Bản chất thứ hai của hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên phải làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ, tức là tạo ra một sự ràng buộc pháp lý Bởi lẽ, một sự thỏa thuận của các bên sẽ không trở thành hợp đồng nếu không tạo ra bất kỳ sự ràng buộc pháp lý nào giữa các bên giao kết Ví dụ A thỏa thuận với B rằng A sẽ đến dự đám cưới của B, thỏa thuận này cũng không được coi là hợp đồng mà chỉ dừng lại là một lời hứa mang tính xã giao, nếu A không thực hiện đúng lời hứa thì chỉ làm mất danh dự của chính bản thân mình mà không hề có một sự ràng buộc pháp lý nào cả
Như vậy, mọi hợp đồng đều là sự thỏa thuận của các bên nhưng không phải sự thỏa thuận nào cũng là hợp đồng Chỉ những thỏa thuận nào mà tạo ra
sự ràng buộc về mặt pháp lý như làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên thì mới được coi là hợp đồng Tóm lại, sự thỏa thuận và mục đích của sự thỏa thuận (sự ràng buộc pháp lý) vừa là bản chất, vừa là hai dấu hiệu của hợp đồng
1.1.3 Khái quát về phân loại hợp đồng
Ngày này do các mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp nên để đáp ứng các nhu cầu trao đổi, giao dịch của mình thì con người nghĩ ra rất nhiều loại hợp đồng khác nhau Do đó, cần thiết chúng ta phải sắp xếp chúng vào những loại nhất định để có thể đặt cho chúng những quy chế khác nhau
Hiểu một cách đơn giản, phân loại hợp đồng là việc dựa vào những căn
cứ hay tiêu chí nhất định để có thể chia hợp đồng thành các loại khác nhau Tuỳ vào những nhu cầu khác nhau mà người ta có thể phân hợp đồng thành rất nhiều loại Ví dụ Bộ luật Dân sự 2015 thì phân thành hợp đồng song vụ và đơn vụ, hợp đồng chính và phụ, hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, hợp đồng có điều kiện, hợp đồng mẫu [23,Đ.402] Ngoài những cách phân loại của Bộ luật Dân sự 2015 thì Lê Nết lại cho rằng hợp đồng còn có thể phân
Trang 18loại thành hợp đồng có đền bù và không có đền bù, hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế, hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế, hợp đồng viết và hợp đồng miệng, hợp đồng thông dụng và không thông dụng, hợp đồng ấn định người thực hiện và hợp đồng không ấn định người thực hiện, hợp đồng khung, hợp đồng có yếu tố nước ngoài.[22,tr.280-288]
Còn rất nhiều cách phân loại hợp đồng của các nền tư pháp trên thế giới cũng như các luật gia khác Tuy nhiên, nhìn chung thì có những cách phân loại hợp đồng cơ bản sau đây:
(i) Hợp đồng đơn vụ và hợp đồng song vụ
1.1.4 Ý nghĩa của việc phân loại hợp đồng
Chúng ta có thể không dễ dàng nhận ra ý nghĩa của việc phân loại hợp đồng, tuy nhiên phải thừa nhận rằng lợi ích của việc phân loại hợp đồng đã thay đổi rất nhiều qua các thời ký khác nhau Từ thời La Mã, việc phân loại quyết định đến khả năng thực thi của một giao dịch Nếu một giao dịch không thể được xếp loại vào một nhóm bất kỳ thì quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch đó khó có thể được thực thi Qua thời gian thì vai trò của việc phân loại hợp đồng đã được thay đổi, hiệu lực của hợp đồng hiện nay phụ thuộc vào việc hợp đồng đó có tuân thủ các nguyên tắc nhất định hay không,
ví dụ như hợp đồng xuất phát từ ý chí của các bên, không vi phạm các điều cấm của luật hay thỏa mãn điều kiện về hình thức của hợp đồng Tuy nhiên,
Trang 19nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia hiện nay vẫn bị ảnh hưởng từ thời
La Mã
Về cơ bản, chúng ta có thể thấy việc phân loại hợp đồng có nhưng lợi ích như sau:
Thứ nhất, dưới góc độ của các nhà làm luật: Việc phân loại hợp đồng tức
là sắp xếp các hợp đồng, giao dịch trên thực tế thành những loại nhất định và đưa ra định nghĩa, đặc điểm chung của những hợp đồng đó Khi đó các nhà làm luật có thể dễ dàng ban hành các quy chế cho các loại hợp đồng khác nhau một cách hợp lý
Thứ hai, dưới góc độ của những người thực hiện pháp luật: việc phân loại hợp đồng một cách rõ có thể giúp chúng tránh nhầm lẫn giữa chúng Sẽ là rất nguy hiểm khi một giao dịch nhưng lại có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, cho nên việc đưa ra định nghĩa và phân loại các hợp đồng là rất cần thiết để tất cả mọi người có một cách nhìn chính xác và thống nhất về các loại hợp đồng, bao gồm tất cả những người thi hành, tuân thủ, áp dụng và sử dụng pháp luật
Thứ ba, dưới góc độ giảng dạy và đào tạo: Việc phân loại hợp đồng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cả giảng viên, sinh viên và học viên
1.2 Các căn cứ phân loại hợp đồng
Để phân loại được các hợp đồng thì nhất thiết phải dựa vào một căn cứ hoặc cơ sở nhất định Tùy vào mục đích của người thực hiện phân loại là nghiên cứu, xây dựng pháp luật, hay để áp dụng thực tiễn, kinh doanh thì người ta lại xác định được những tiêu chí khác nhau để phân loại hợp đồng
Vũ Văn Mẫu cho rằng hợp đồng có thể phân loại dựa vào các phương diện sau đây: (i) Phân loại theo phương diện hình thức thì hợp đồng có thể phân loại thành hợp đồng ưng thuận, hợp đồng trọng hình thức và hợp đồng thực tế; (ii) Phân loại theo các điều kiện nội dung thì hợp đồng được phân loại
Trang 20thành hợp đồng thương lượng và hợp đồng gia nhập, hợp đồng cá nhân và hợp đồng cộng đồng; (iii) Phân loại theo quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thì có thể phân thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ, hợp đồng có đền bù và hợp đồng không đền bù, hợp đồng chắc chắn và hợp đồng may rủi, hợp đồng tức thì và hợp đồng kéo dài; Phân loại về phương diện giải thích các hợp đồng thì có thể phân loại thành hợp đồng hữu danh và hợp đồng
vô danh.[14,tr.61-68]
Có lẽ do ảnh hưởng nặng nề bởi luật thực định, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam Tập 2 của Trường đại học Luật Hà Nội phân loại hợp đồng căn cứ vào những tiêu chí sau: (1) Căn cứ vào hình thức của hợp đồng thì hợp đồng được phân thành hợp đồng miệng, hợp đồng văn bản, hợp đồng có công chứng chứng nhận, hợp đồng mẫu; (2) Căn cứ vào mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên thì hợp đồng được phân thành hợp đồng song vụ
và hợp đồng đơn vụ; (3) Căn cứ vào sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực giữa các hợp đồng thì hợp đồng có thể phân thành hợp đồng chính và hợp đồng phụ; (4) Nếu dựa vào tính chất có đi có lại về lợi ích của các chủ thể thì hợp đồng được phân thành hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù; (5) Nếu dựa vào thời điểm phát sinh hiệu lực thì hợp đồng được phân thành hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế; (6) Ngoài ra còn các loại hợp đồng khác như hợp đồng có điều kiện, hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, hợp đồng hỗn hợp.[28,tr.101-106]
Lê Nết đã phê phán việc phân loại hợp đồng vì nó chỉ quan tâm đến hiện tượng mà không đi thẳng vào bản chất của vấn đề - là phân tích ý chí của các bên Tuy nhiên, để giảng dạy luật dân sự Việt Nam, Ông đã đề cập tới nhiều cách phân loại hợp đồng theo cách thực hỗn tạp (trộn lẫn giữa Civil Law, Sovietique Law và Common Law) [3,tr.177], dựa trên những tiêu chí như sau: (1) Dựa trên tính chất “đền bù ngang giá” của quan hệ tài sản, hợp đồng được
Trang 21chia thành hợp đồng có đền bù và không có đền bù; (2) Căn cứ vào thời điểm
có hiệu lực của hợp đồng có thể chia hợp đồng thành hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế; (3) Căn cứ vào sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực pháp luật của các hợp đồng thì có thể chia thành hợp đồng chính và hợp đồng phụ; (4) Căn cứ vào tương quan về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hợp đồng thì có thể chia thành hợp đồng đơn vụ và hợp đồng song vụ; (5) Dựa vào tư cách chủ thể và mục đích của hợp đồng thì hợp đồng được chia thành hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế; (6) Dựa vào hình thức giao kết hợp đồng thì phân thành hợp đồng viết và hợp đồng miệng; (7) Dựa trên mối quan tâm của
Bộ luật dân sự thì hợp đồng được phân thành hợp đồng thông dụng và hợp đồng không thông dụng; (8) Dựa trên tính xác định của từng thời điểm thực hiện hợp đồng thì phân thành hợp đồng xác định và hợp đồng chưa xác định; (9) Dựa trên cách thức thực hiên hợp đồng thì phân thành hợp đồng ấn định người thực hiện và hợp đồng không ấn định người thực hiện; (10) Dựa trên cách soạn thảo hợp đồng thì có thể chia thành hợp đồng có điều khoản theo mẫu và hợp đồng do hai bên cùng soạn; (11) Các loại hợp đồng khác gồm hợp đồng khung, hợp đồng có yếu tố nước ngoài.[15,tr.280-288]
Nhìn chung với mục đích nghiên cứu hay học thuật thì có những căn cứ
cơ bản như sau để phân loại hợp đồng:
(i) Căn cứ vào mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hợp đồng, chúng ta có thể phân loại hợp đồng thành hợp đồng đơn vụ và hợp đồng song vụ
(ii) Dựa vào việc trao đổi ngang giá, cũng như tính chất công bằng về lợi ích vật chất của các chủ thể giao kết thì có thể phân loại hợp đồng thành hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù
(iii) Dựa trên phương diện hình thức, có thể phân loại hợp đồng thành hợp đồng ưng thuận, hợp đồng thực tế và hợp đồng trọng hình thức Cách
Trang 22phân loại này hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau và sẽ được phân tích ở phần sau
(iv) Căn cứ vào sự chắc chắn của việc phát sinh hiệu lực thì hợp đồng có thể phân thành hợp đồng nhất định và hợp đồng không nhất định
(v) Căn cứ vào mối liên hệ giữa các hợp đồng thì có thể phân thành hợp đồng chính và hợp đồng phụ
(vi) Căn cứ vào cách soạn thảo và giao kết hợp đồng thì hợp đồng được phân thành hợp đồng thương lượng và hợp đồng gia nhập
(vii) Căn cứ vào cách giải thích hay cấu trúc của hợp đồng thì có thể phân loại thành hợp đồng hữu danh và hợp đồng vô danh
(viii) Căn cứ vào phạm vi áp dụng của hợp đồng thì có thể phân thành hợp đồng cá nhân và hợp đồng tập thể
1.3 Phân loại hợp đồng theo quy định của một số quốc gia trên thế giới
Các Bộ luật dân sự trên thế giới đều có cách phân loại khác nhau về hợp đồng, tùy theo cách tiếp cận và nhu cầu khác nhau
1.3.1 Bộ luật Dân sự Pháp 1804
Một trong những bộ luật dân sự quan trọng mà không thể không nhắc đến là Bộ luật Dân sự Pháp 1804 Bộ luật này đã gây ảnh hưởng đến việc nghiên cứu về phân loại hợp đồng của các nhà làm luật ở nhiều quốc gia khác nhau Theo Bộ luật Dân sự Pháp 1804 thì hợp đồng được chia thành:
(i) Hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ: Hợp đồng là song vụ khi các bên giao kết hợp đồng có nghĩa vụ với nhau (Điều 1102) Hợp đồng là đơn vụ khi một hoặc nhiều người có nghĩa vụ với một hoặc nhiều người khác mà những người này không phải có nghĩa vụ với những người kia (Điều 1103) (ii) Hợp đồng trao đổi và hợp đồng may rủi: Hợp đồng là trao đổi khi mỗi bên cam kết chuyển giao một vật hoặc làm một việc được coi như tương đương với vật bên kia chuyển giao hoặc việc bên kia đã làm cho mình Hợp
Trang 23đồng may rủi khi sự tương đương là khả năng thu lợi hoặc thua lỗ của mỗi bên dựa vào một sự kiện không chắc có xảy ra hay không (Điều 1104)
(iii) Hợp đồng từ thiện và hợp đồng có đền bù: Hợp đồng từ thiện là hợp đồng một bên mang lại cho cho bên kia một lợi ích hoàn toàn cho không (Điều 1105) Hợp đồng có tính chất đền bù là hợp đồng theo đó mỗi bên đều phải chuyển giao một vật hoặc làm một việc nào đó (Điều 1106)
(iv) Hợp đồng hữu danh và hợp đồng vô danh: Hợp đồng hữu là hợp đồng có tên còn hợp đồng vô danh là hợp đồng không có tên
(v) Hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại
Các phân loại hợp đồng của các nhà làm luật đối với Bộ luật Dân sự Pháp 1804 là rất rõ ràng, mỗi cặp đều có hai loại hợp đồng đối lập với nhau
Và họ cũng nhận thực được tầm quan trọng của việc phân loại hợp đồng khi quy định các cách phân loại hợp đồng này ở những Điều đầu tiên của Thiên
về nghĩa vụ và hợp đồng
Bộ Luật Dân sự Pháp 1804 còn được gọi là Bộ luật Napoléon – tên của Hoàng đế nước Pháp thời bấy giờ Napoléon khi trở thành Hoàng đế đã quyết tâm mạnh mẽ xây dựng một bộ luật dân sự Ngày 12/08/1800 Ông đã quyết định thành lập một ban soạn thảo gồm 04 người là các luật gia có tiếng thời bấy giờ là Bigot de Preameneu, Portails, Tronchet và Malleville Ban soạn thảo đã mất hai năm để soạn thảo và trình lên Tòa tư pháp tối cao, đến ngày 21/3/1804 thì Bộ luật được ban hành Với ý chí mạnh mẽ của Hoàng đế Napoléon về một bộ luật dân sự và quá trình làm việc nhiều năm liên tục của ban soạn thảo là những luật gia hàng đầu thì Bộ luật Dân sự Pháp 1804 đã được ra đời và có giá trị đến tận ngày nay, bao gồm cả nội dung phân loại hợp đồng
1.3.2 Bộ luật Dân sự Cộng hòa giáo hồi Iran 1983
Bộ luật Dân sự Cộng hòa giáo hồi Iran 1983 đã quy định về phân loại hợp đồng từ Điều 184 đến Điều 189 như sau:
Trang 24(i) Hợp đồng ràng buộc: Là hợp đồng không thể vi phạm bởi các bên trừ trường hợp trong hoàn cảnh đặc biệt
(ii) Hợp đồng có hủy ngang: Là hợp đồng mà có thể bị hủy bỏ bởi một trong các bên bất kể khi nào bên đó muốn
(iii) Hợp đồng có thể ràng buộc một bên nhưng có thể bị hủy ngang bởi bên kia
(iv) Hợp đồng tùy ý lựa chọn: Là hợp đồng có thể bị hủy bỏ bởi một trong các bên, bởi các bên hoặc bởi bên thứ ba
(v) Hợp đồng không điều kiện: Là hợp đồng mà trong ý chí của các bên lập ước, không phụ thuộc vào bất kỳ sự kiện bên ngoài nào
(vi) Hợp đồng có điều kiện
Chúng ta có thể thấy Bộ luật này không quá coi trọng việc phân loại thành các cặp đối lập mà chỉ chú tâm đến việc có hiệu lực của hợp đồng
1.3.3 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga 1994
Bộ luật Dân sự Liên bang Nga 1994, sửa đổi bổ sung năm 2015 đã đưa
ra cách phân loại hợp đồng như sau:
(i) Hợp đồng đơn phương và hợp đồng song phương (Điều 420)
(ii) Hợp đồng đơn giản và hợp đồng hỗn hợp (Điều 421)
Hợp đồng hỗn hợp là hợp đồng do các bên ký kết mà trong đó bao gồm các yếu tố của các hợp đồng khác nhau được quy định bởi pháp luật hoặc các hành vi pháp lý khác
(iii) Hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù:
Hợp đồng trả tiền (hợp đồng có đền bù), theo đó bên nhận tiền thanh toán hoặc các khoản đối ứng khác để thực hiện nhiệm vụ của mình hoặc bồi thường
Một hợp đồng được công nhận là không phải trả tiền (hợp đồng không
có đền bù), theo đó một bên cam kết cung cấp thứ gì đó cho bên kia mà không
Trang 25cần nhận thanh toán từ hợp đồng đó hoặc bất kỳ khoản trợ cấp nào khác (Điều 423)
(iv) Hợp đồng thông thường và hợp đồng cộng đồng:
Hợp đồng công (hợp đồng cộng đồng) là thỏa thuận do một người tham gia vào các hoạt động kinh doanh hoặc các hoạt động tạo thu nhập khác ký kết và xác định nghĩa vụ của mình là bán hàng hóa, thực hiện công việc hoặc cung cấp dịch vụ mà người đó, về bản chất hoạt động của mình, phải thực hiện trong mối quan hệ với tất cả những người liên quan đến anh ta (thương mại bán lẻ, vận chuyển bằng phương tiện công cộng, dịch vụ thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, dịch vụ y tế, khách sạn, v.v.) (Điều 426)
(v) Hợp đồng theo mẫu và hợp đồng không theo mẫu:
Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng có thể quy định rằng các điều kiện riêng của nó được xác định bởi các điều kiện mẫu được phát triển cho các hợp đồng thuộc loại tương ứng và được công bố trên báo chí (Điều 427)
(vi) Hợp đồng ưng thuận và hợp đồng gia nhập:
Hợp đồng gia nhập là một thỏa thuận, các điều khoản được xác định bởi một trong các bên dưới các hình thức hoặc các hình thức tiêu chuẩn khác và chỉ có thể được bên kia chấp nhận bằng cách gia nhập toàn bộ thỏa thuận được đề xuất (Điều 428)
(vii) Hợp đồng sơ bộ và hợp đồng khung:
Hợp đồng sơ bộ là việc các bên cam kết trong tương lai thỏa thuận về việc chuyển giao tài sản, thực hiện công việc hoặc cung cấp dịch vụ (thỏa thuận chính) theo các điều khoản quy định trong thỏa thuận sơ bộ (Điều 429) Thỏa thuận khung (thỏa thuận có điều khoản mở) là thỏa thuận xác định các điều kiện chung về nghĩa vụ của các bên, có thể được các bên quy định và làm rõ bằng cách ký kết các thỏa thuận riêng, nộp đơn của một trong các bên hoặc dựa trên hoặc theo thỏa thuận khung (Điều 429.1)
Trang 26(viii) Hợp đồng có lợi cho bên thứ ba:
Hợp đồng có lợi cho bên thứ ba là thỏa thuận trong đó các bên xác định rằng người có nghĩa vụ phải thực hiện không phải cho người có quyền mà cho bên thứ ba được chỉ định hoặc không quy định trong hợp đồng
Nhìn chung, đây là cách thức phân loại đã có sự suy tính rất nhiều đến các đặc thù của các nền kinh tế chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, nên đã nhấn mạnh tới phân loại hợp đồng công cộng, hợp đồng hỗn hợp, hợp đồng sơ bộ và hợp đồng cơ sở [3,tr.181] Như vậy, tùy thuộc vào từng hệ thống pháp luật, từng thời kỳ và đòi hỏi việc quản trị hợp đồng khác nhau tại các quốc gia, chúng ta sẽ có các cách phân loại khác nhau
Trang 27Kết luận chương 1
Để tồn tại và phát triển thì mỗi người đều phải tham gia vào các giao dịch nhất định thông qua việc trao đổi, cho đi những lợi ích hay tài sản của mình và nhận lại lợi ích cần thiết từ những chủ thể khác để đáp ứng nhu cầu chính đáng của mình Việc thực hiện trao đổi lợi ích nói trên giữa các chủ thể trong xã hội nói chính là sự thỏa thuận Trường hợp một sự thỏa thuận mà đáp ứng được điều kiện có sự ràng buộc về mặt pháp lý, tức là làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia thì sự thỏa thuận đó được coi là hợp đồng
Tùy vào mục đích của người thực hiện phân loại là nghiên cứu, xây dựng pháp luật, hay để áp dụng thực tiễn, kinh doanh thì người ta lại xác định được những tiêu chí khác nhau để phân loại hợp đồng
Bên cạnh đó, pháp luật của mỗi quốc gia, qua các thời kỳ khác nhau cũng
có các cách phân loại hợp đồng riêng dựa trên các tiếp cận của nhà làm luật, cũng như nhu cầu quản trị hợp đồng
Trang 28CHƯƠNG 2 PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM
2.1 Lịch sử phân loại hợp đồng theo pháp luật Việt nam
Mỗi giai đoạn với hoàn cảnh lịch sử khác nhau, nhận thức của các nhà làm luật cũng có sự khác biệt chịu ảnh hưởng của các hệ thống pháp luật khác nhau, do đó mỗi bộ luật dân sự của Việt Nam lại có những cách phân loại riêng Trong giới hạn của bài luận văn này, tác giả chỉ phân tích cách phân loại hợp đồng đối với một số các bộ luật dân sự tiêu biểu để thấy được sự khác biệt và quá trình thay đổi của việc phân loại hợp đồng, bao gồm: Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931, Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936, Bộ luật Dân sự 1972 và trọng tâm là Bộ luật Dân sự 2015
2.1.1 Phân loại hợp đồng theo Bộ luật dân sự Bắc Kỳ 1931
Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 được xem là một trong những bộ luật tiêu biểu của Việt Nam thời Pháp thuộc Bên cạnh việc kế thừa các quy định của
Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long, Bộ luật này phần nào cũng đã thể hiện phong tục tập quán của người Việt Nam Do đó, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ
1931 có những nét đặc thù riêng
Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 dành riêng một Mục 1 để quy định về các loại hiệp ước Tại Bộ luật này, các nhà làm luật đã dùng từ “hiệp ước” tương đương với hợp đồng hiện nay với định nghĩa rằng hiệp ước là một hay nhiều người hợp ý nhau lại để lập ra hay chuyển đi, đổi lại hay tiêu đi một quyền lợi thuộc về vật hay về người
Do ảnh hưởng nhiều từ Bộ luật dân sự Pháp 1804 nên Bộ luật này cũng phân loại hợp đồng thành các nhóm, trong mỗi nhóm sẽ có các cặp hợp đồng đối lập nhau:
Trang 29(i) Hiệp ước được chia thành hiệp ước thuộc về một phương diện và hiệp ước thuộc về hai hay nhiều phương diện Hiệp ước thuộc về hai hay nhiều phương diện là khi những người lập hiệp ước có cam đoan lẫn nhau Còn hiệp ước thuộc về một phương diện là khi một hay nhiều người lập hiệp ước cam đoan với một hay nhiều người khác mà người khác không phải cam đoan ngược lại (Điều 646) Cặp hợp đồng này tương tự như cách phân loại hợp đồng thành hợp đồng đơn vụ và hợp đồng song vụ Hợp đồng đơn vụ, giống như hiệp ước thuộc về một phương diện, nó chỉ làm phát sinh nghĩa vụ đối với một bên trong hợp đồng Ngược lại, hợp đồng song vụ thì sẽ làm phát sinh nghĩa vụ đối với cả hai hay nhiều bên tham gia vào hợp đồng, tương tự như hiệp ước thuộc về hai hay nhiều phương diện
(ii) Hiệp ước được chia thành hiệp ước hữu thường và hiệp ước vô thường Hiệp ước hữu thường hay hữu lợi là khi mỗi bên chịu thiệt để làm lợi ích cho bên kia hay cho một người ngoài Còn hiệp ước vô thường hay hảo tâm là khi một bên nhận một khoản lợi của bên kia mà không phải bồi thường (Điều 647) Ngày nay, cặp hợp đồng này được gọi với cái tên là hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù Hiểu một cách đơn giản thì hợp đồng
có đền bù là hợp đồng mà mỗi bên tham gia hợp đồng đều thực hiện một lợi ích cho bên kia và nhận lại được một lợi ích khác Ngược lại, hợp đồng không
có đền bù là hợp đồng chỉ một bên thực hiện lợi ích cho bên kia mà không nhận lại lợi ích nào khác cả
(iii) Hiệp ước được chia thành hiệp ước thuộc về ý hợp và hiệp ước thuộc về thực sự Hiệp ước thuộc về ý hợp là khi mọi người đồng ý với nhau
là thành Còn đối với hiệp ước thuộc về thực sự thì ngoài sự đồng ý thì các bên còn phải trao nộp đồ vật chủ đích của việc giao ước (Điều 648) Hiệp ước thuộc về ý hợp có thể được coi là hợp đồng ưng thuận – hợp đồng mà hiệu lực của hợp đồng phát sinh ngay khi các bên giao kết Còn hiệp ước
Trang 30thuộc về thực sự thì có thể được coi là hợp đồng thực tế, là hợp đồng mà sau khi thỏa thuận, các bên giao cho nhau đối tượng của hợp đồng thì hợp đồng mới phát sinh hiệu lực
(iv) Hiệp ước được chia thành hiệp ước nhất định và hiệp ước không nhất định Hiệp ước nhất định là khi mọi bên hòa hợp rồi thì ước thành và có hiệu quả chắc chắn Còn hiệp ước không nhất định là hiệp ước còn tùy thuộc vào một số sự ngẫu nhiên thì ước mới thành và có hiệu quả (Điều 649) Hiệp ước không nhất định của Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 có vẻ tương tự như hợp đồng có điều kiện – hiệu lực của hợp đồng phụ thuộc vào một sự kiện trong tương lai Nội dung này sẽ được phân tích cụ thể hơn ở phần sau
(v) Hiệp ước được chia thành hiệp ước chính và hiệp ước phụ Hiệp ước chính là khi độc lập và không thuộc hiệp ước khác, còn hiệp ước phụ là hiệp ước phụ thuộc vào hiệp ước khác Hiệp ước chính vô hiệu thì hiệp ước phụ cũng vô hiệu, ngoại trừ trường hợp hiệp ước phụ lập ra để bổ trợ cho sự vô hiệu cho hiệp ước chính Ngược lại, hiệp ước phụ vô hiệu sẽ không làm cho hiệp ước chính vô hiệu, trừ khi người lập ước đã định rằng hai ước này không tách rời được nhau (Điều 650) Cách phân loại này vẫn có giá trị cho đến hiện nay, về sau này người ta vẫn phân chia thành hợp đồng chính và hợp đồng phụ.[36]
Thời điểm Bộ luật Dân sự Bắc kỳ 1931 ra đời là lúc Thực dân Pháp đang
đô hộ nước ta Năm 1917, Toàn quyền Đông Dương – người đứng đầu Liên Bang Đông Dương (lãnh thổ nằm dưới quyền cai trị của Pháp) đã thành lập ra một Ủy ban Việt – Pháp để soạn thảo Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ Bởi vì Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 thực chất là do Thực dân Pháp làm ra để cai trị người dân Bắc Kỳ nên bộ luật này có nhiều quy định tương tự như Bộ luật Dân sự Pháp 1804 (Bộ luật Napoléon) Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 cũng
có nhiều điểm đặc trưng cơ bản do được các nhà làm luật lúc bấy giờ xây
Trang 31dựng phản ánh các tục lệ truyền thống của người dân Việt Nam, có những quy định đặc thù riêng, chứ không sao chép một cách cơ học từ Bộ luật Dân sự Pháp 1804 Do đó, cách phân loại hợp đồng cũng có những điểm khác biệt nhất định, ví dụ như Bộ luật Dân sự Bắc kỳ 1931 không phân loại thành hợp
đồng dân sự và hợp đồng thương mại như Bộ luật Dân sự Pháp 1804
2.1.2 Phân loại Hợp đồng theo Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936
Kế thừa cách phân loại của Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931, Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936 còn được gọi là Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật có cách phân loại Hợp đồng thành các cặp hợp đồng từ Điều 682 đến Điều 686 như sau: (i) Hiệp ước hai phương diện và Hiệp ước một phương diện: Hiệp ước về hai phương diện là khi những người lập ước có cam đoan lẫn nhau Còn hiệp ước thuộc về một phương diện là khi một hay nhiều người lập ước cam đoan với một hay là nhiều người khác mà không trách người khác ấy phải đam thu
gì đối lại với mình, nghĩa là về phần người sau này không có cam đoan gì cả (Điều 682)
(ii) Hiệp ước có cái tốn của và có cái không tốn của: Hiệp ước có tốn của hay là hiệp ước có lợi nghĩa là bên nào cũng có chịu thiệt để làm lợi cho bên kia hay cho một người ngoài Ngược lại, Hiệp ước không tốn của tức là hiệp ước do hảo tâm, nghĩa là một bên nhận một khoản lợi của bên kia mà không phải đưa lại cho bên kia chút lợi gì (Điều 683)
(iii) Hiệp ước thuộc về ý hợp hoặc thuộc về thực sự: Hiệp ước thuộc về ý hợp là hễ mỗi bên đồng ý với nhau là thành Đối lập với đó, Hiệp ước thuộc
về thực sự là khi ngoài sự đồng ý lại còn phải trao đồ vật làm chủ đích việc giao ước nữa (Điều 684)
(iv) Hiệp ước hoặc là nhất định hoặc là không nhất định: Hiệp ước nhất định là khi hiệp ước lập thành đồng thời ước thành Còn Hiệp ước không nhất định là còn khi phải tùy một sự ngẫu nhiên đồng thời ước thành thì mới có hiệu quả (Điều 685)
Trang 32(v) Hiệp ước hoặc là chính hoặc là phụ: Hiệp ước chính là khi Hiệp ước
ấy không thuộc hiệp ước khác, còn Hiệp ước phụ là khi phụ thuộc với hiệp ước khác Hiệp ước chính vô hiệu đồng thời hiệp ước phụ cũng vô hiệu, trừ khi hiệp ước phụ lập ra để thế chỗ cho sự vô hiệu của hiệp ước chính Chỉ khi nào các người lập ước đã định rằng hiệp ước chính và hiệp ước phụ không rời nhau được, khi đó sự vô hiệu của Hiệp ước phụ mới làm cho Hiệp ước chính
vô hiệu (Điều 686) [10]
Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật được ban hành cuốn thứ nhất vào năm 1936, đến năm 1939 mới ban hành xong cuốn cuối cùng và được áp dụng ở Trung Kỳ (ngoại trừ Đà Nẵng), do đó Bộ luật này còn được gọi là Bộ luật Trung Kỳ năm
1936 Xét một cách tổng thể, Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật dường như là một bản được sao chép lại từ Bộ luật Bắc Kỳ 1931 với một vài thay đổi không đáng
kể Tuy nhiên, đối với phần phân loại hợp đồng thì có sự khác biệt nằm ở chỗ Bộ luật này không quy định phân biệt hợp đồng thương mại và hợp đồng dân sự như
Bộ luật Bắc Kỳ 1931 Bởi lẽ, các nhà làm luật lúc bấy giờ đã chuẩn bị sẵn đường cho sự ra đời của Bộ luật Thương mại năm 1942
2.1.3 Phân loại hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 1972
(i) Khế ước có thể chia ra khế ước song vụ, và khế ước độc vụ
Khế ước có tính cách song vụ khi nào mỗi bên kết ước đều có một nghĩa phải thi hành Còn khế ước có tính cách độc vụ khi nào chỉ có một bên có nghĩa vụ phải thi hành với bên kia (Điều 655)
(ii) Khế ước có thể chia ra khế ước hữu thường và khế ước vô thường Khế ước có tính cách hữu thường khi nào mỗi bên cùng phải mất một quyền lợi gì đó cho bên kia, hay cho một người đệ tam hưởng Ngược lại thì khế ước có tính cách vô thường là khi chỉ làm lợi cho một bên trong hai người kết ước (Điều 656)
Trang 33(iii) Khế ước có thể chia ra khế ước hiệp ý và khế ước giao nạp
Khế ước hiệp ý là khế ước chỉ cần hai bên thỏa thuận là được thành lập Còn khế ước giao nạp là khế ước chỉ được thành lập khi sau khi thỏa thuận, bên này giao cho bên kia đồ vật của sự giao ước (Điều 657)
(iv) Khế ước có thể chia ra khế ước chắc chắn và khế ước may rủi
Khế ước chắc chắn là khế ước mà sự thực hiện và hậu quả, nhất định, thế nào cũng có, một khi hai bên đã thỏa thuận Còn khế ước may rủi là khế ước
mà sự thực hiện và hậu quả tùy thuộc vào một sự việc không chắc có xảy đến hay không (Điều 658)
(v) Khế ước có thể chia ra khế ước chính yếu và khế ước phụ thuộc Khế ước có tính cách chính yếu khi nào sự hiện hữu không lệ thuộc vào
sự hiện hữu của một khế ước khác Ngược lại thì khế ước phụ thuộc thì có hay không phải tùy theo một khế ước khác
Sự vô hiệu của khế ước chính làm cho khế ước phụ cũng vô hiệu, trừ phi, theo sự thỏa thuận của hai bên, khế ước sau có mục đích thay thế khế ước trước Nhưng sự vô hiệu của khế ước phụ lại không làm cho khế ước chính vô hiệu, trừ phi, theo ý định của hai, hai khế ước hợp thành một khối duy nhất, cái nọ không tách ra khỏi cái kia [32]
Có thấy rằng cách phân loại hợp đồng của Bộ luật Dân sự 1972 được kế thừa gần như toàn bộ từ Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 và Hoàng Việt Trung
Kỳ hộ luật
2.1.4 Phân loại hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 2015
Trên thực tế, hợp đồng tồn tại vô cùng đa dạng và phong phú Về mặt khoa học pháp lý, dựa vào các tiêu chí khác nhau, cách tiếp cận khác nhau mà hợp đồng được phân thành các nhóm khác nhau [2,tr.610] Tuy nhiên khác với Bộ luật Bắc Kỳ 1931 và Bộ luật Trung Kỳ 1936 thì Bộ luật Dân sự 2015
sử dụng thêm cả phương pháp liệt kê, theo đó hợp đồng được phân loại thành:
Trang 34a Hợp đồng song vụ và Hợp đồng đơn vụ
Hợp đồng đơn vụ và hợp đồng song vụ là một cặp khi phân loại hợp đồng dựa trên mối quan hệ về nghĩa vụ giữa các chủ thể trong hợp đồng Bộ luật Dân sự 2015 quy định rằng hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ với nhau Cụ thể, quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại, nghĩa vụ của bên này sẽ là quyền của bên kia Như vậy, mỗi bên tham gia hợp đồng đều có quyền và nghĩa vụ Một ví dụ điển hình cho loại hợp đồng song vụ này là hợp đồng mua bán Theo đó, cả hai chủ thể của hợp đồng mua bán đều có quyền và nghĩa vụ với bên còn lại, bên bán sẽ có nghĩa vụ giao hàng và có quyền thu tiền, còn bên mua sẽ có nghĩa vụ trả tiền
và được quyền nhận hàng từ bên bán
Việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ có thể được chia thành các trường hợp như sau: (i) Hợp đồng quy định rõ thời hạn thực hiện nghĩa vụ của mỗi bên, có thể là thực hiện trước sau hoặc cũng có thể là thực hiện đồng thời Trong trường hợp này các bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn đúng như thỏa thuận (ii) Hợp đồng không quy định rõ thời hạn thực hiện nghĩa vụ của mỗi bên Khi đó các bên sẽ phải thực hiện nghĩa vụ đồng thời, tức là hai bên bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cùng lúc và thực hiện trong một thời hạn như sau Còn nếu nghĩa vụ của các bên không thực hiện được đồng thời thì nghĩa vụ nào thực hiện mất nhiều thời gian hơn thì nghĩa vụ đó phải thực hiện trước Thông thường thì những nghĩa vụ thực hiện công việc, cung cấp một dịch vụ là nghĩa vụ có thể sẽ mất nhiều thời gian thực hiện hơn nên sẽ được thực hiện trước, còn nghĩa vụ trả tiền sẽ mất ít thời gian hơn có thể sẽ được thực hiện sau
Khi thực hiện hợp đồng song vụ, trường hợp các bên đã xác định được thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn, không được hoãn với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với
Trang 35mình, trừ một số trường hợp ngoại lệ nhất định khi thực hiện nghĩa vụ không đồng thời như sau:
Trường hợp thứ nhất là quyền hoãn thực hiện hợp đồng của bên phải thực hiện nghĩa vụ trước Khi khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên thực hiện nghĩa vụ sau bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết thì bên nghĩa vụ trước có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ của mình Thời hạn được hoãn thực hiện nghĩa là đến khi bên thực hiện nghĩa vụ sau có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có biện pháp đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ
Trường hợp thứ hai là quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ của bên thực hiện nghĩa vụ sau Cụ thể trong trường hợp bên thực hiện nghĩa vụ trước mà chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn, tức là họ đã vi phạm hợp đồng song
vụ, do vậy bên thực hiện nghĩa vụ sau có quyền hoãn việc thực hiện nghĩa vụ của mình Sở dĩ bên thực hiện nghĩa vụ sau có quyền như vậy là vì khi bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ thì quyền lợi của bên thực hiện nghĩa vụ sau cũng đang bị xâm phạm
Ngược lại với hợp đồng song vụ thì hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ Điều này có nghĩa là một bên sẽ có nghĩa vụ chứ không
có quyền gì đối với bên kia, còn bên kia là người có quyền nhưng lại không phải thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào cả Ví dụ hợp đồng tặng cho tài sản không có điều kiện là hợp đồng đơn vụ Theo đó, giả sử hợp đồng phát sinh hiệu lực tại thời điểm giao kết thì bên tặng cho sẽ có nghĩa vụ giao tài sản cho bên được tặng cho và không được hưởng bất kỳ một quyền lợi nào cả Trái lại thì bên được tặng cho sẽ có quyền nhận tài sản mà không phải thực hiện nghĩa
vụ gì với bên tặng cho
Trong hợp đồng đơn vụ thì chỉ có một bên là có nghĩa vụ, đem lại lợi ích cho bên còn lại Do đó, nội dung hợp đồng phải được thực hiện như đúng thỏa
Trang 36thuận và không được thay đổi nghĩa vụ đã thỏa thuận Việc thay đổi ở đây bao gồm thay đổi nội dung nghĩa vụ và thay đổi thời hạn thực hiện nghĩa vụ Nếu thay đổi nội dung nghĩa vụ thì coi như thay đổi nội dung hợp đồng và các bên phải sửa đổi hợp đồng Còn đối với trường hợp thay đổi thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ cũng không được tự ý thay đổi thời hạn thực hiện nghĩa vụ Bên có nghĩa vụ chỉ được thay đổi thời hạn thực hiện nghĩa vụ (trước hạn hoặc sau hạn) nếu được sự đồng ý của bên có quyền
Một điểm sáng của Bộ luật Dân sự 2015 là đối với hợp đồng đơn vụ thì bên có quyền không nhất thiết là không phải có đầy đủ năng lực hành vi dân
sự khi giao kết hợp đồng, được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 125 Về mặt
lý thuyết, điều này khai thông được các loại hợp tặng cho mà người được tặng cho là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, ví dụ như trường hợp cha mẹ tặng cho con tài sản Tuy nhiên trên thực
tế, việc thực hiện điều này còn gặp nhiều vướng mắc trong trường hợp hợp đồng cần công chứng, chứng thực thì các công chứng viên còn rất cứng nhắc
b Hợp đồng chính và hợp đồng phụ
Bộ luật Dân sự 2015 quy định hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực của hợp đồng không phụ thuộc vào hợp đồng phụ, hợp đồng chính khi đã tuân thủ đầy đủ điều kiện về chủ thể, nội dung, hình thức… thì đương nhiên phát sinh hiệu lực và có hiệu lực bắt buộc đối với các bên Còn hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính, hợp đồng phụ muốn có hiệu lực phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện về chủ thể, nội dung, hình thức, Tuy nhiên, nếu đã tuân thủ các điều kiện trên nhưng hợp đồng vẫn có thể không có hiệu lực nếu hợp đồng chính không có hiệu lực Như vậy, dù đã đáp ứng các điều kiện thông thường nhưng hợp đồng phụ chỉ có hiệu lực khi hợp đồng chính cũng có hiệu lực, còn một khi hợp đồng chính đã vô hiệu thì hợp
Trang 37đồng phụ cũng chấm dứt
Một trường hợp chúng ta thường thấy cặp hợp đồng chính và hợp đồng phụ trên thực tế là việc thế chấp tài sản để vay tiền ngân hàng Các ngân hàng hiện nay cho vay phần lớn đều yêu cầu khách hàng của họ thế chấp tài sản, có thể là nhà, đất hay xe cộ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ Trong trường hợp này thì hợp đồng tín dụng là hợp đồng chính, còn hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ là hợp đồng phụ Nếu hợp đồng thế chấp
bị vô hiệu sẽ không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng tín dụng, còn nếu hợp đồng tín dụng mà không có hiệu lực thì hợp đồng thế chấp chưa chắc
bị chấm dứt Vì theo lẽ thông thường, sự vô hiệu của hợp đồng chính sẽ làm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng phụ trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ thay thế được hợp đồng chính, tuy nhiên biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ lại không được áp dụng trong trường hợp này Để giải thích cho việc này, có quan điểm cho rằng giao dịch đảm bảo là để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cho một nghĩa vụ chính, mà nghĩa vụ chính không phải lúc nào cũng phát sinh từ hợp đồng chính mà còn có thể phát sinh từ việc hợp đồng bị vô hiệu hay hủy bỏ Do đó, mối tương quan giữa hiệu lực của hợp đồng chính và hợp đồng phụ trong giao dịch đảm bảo phải được áp dụng một quy chế riêng [2,tr.618]
Như vậy, mối quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ là ảnh hưởng hiệu lực một chiều Hiệu lực của hợp đồng phụ sẽ không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng chính, tức là sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính
c Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba
Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ
Trang 38việc thực hiện nghĩa vụ đó (khoản 5 Điều 402) Loại hợp đồng này xuất hiện thêm một chủ thể nữa là người thứ ba, như vậy trường hợp này có ba chủ thể khác nhau: Hai bên giao kết hợp đồng là một bên có quyền và một bên có nghĩa vụ, hai chủ thể này không nhất thiết lúc nào cũng phải là một bên có quyền, một bên có nghĩa vụ mà có thể cả hai bên cùng có quyền và cùng có nghĩa vụ, và xuất hiện thêm một chủ thể nữa là “người thứ ba” Người thứ ba này được hưởng lợi từ việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ, còn bản thân mình thì lại không phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ gì Khi thực hiện hợp đồng thì người thứ ba có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa
vụ đối với mình Tuy nhiên, trường hợp có phát sinh tranh chấp từ việc thực hiện hợp đồng thì người thứ ba không có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cho đến khi tranh chấp được giải quyết xong Do hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba chỉ được giao kết giữa hai bên là bên có quyền và bên
có nghĩa vụ, còn người thứ ba không phải là một chủ thể giao kết trong hợp đồng, cho nên trong trường hợp có tranh chấp khi thực hiện hợp đồng thì chỉ bên có quyền mới được yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, còn người thứ ba chỉ có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ khi việc thực hiện nghĩa
vụ đã được xác định rõ ràng và không còn tranh chấp nào diễn ra cả Ví dụ điển hình cho loại hợp đồng này là bố mẹ mua bảo hiểm cho con cái Khi đó,
bố mẹ - người mua bảo hiểm sẽ là bên có quyền, công ty bảo hiểm là bên có nghĩa vụ, còn người con chính là người thứ ba
Bởi vì tính phức tạp của loại hợp đồng này nên Bộ luật Dân sự 2015 cũng có những quy chế riêng cho loại hợp đồng này như quyền từ chối của người thứ ba hay việc không được sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng (Điều 416, 417) Đối với loại hợp đồng này thì người thứ ba là chủ thể không phải giao kết hợp đồng, không phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ gì cả mà lại được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ của một hay các bên giao kết hợp đồng Hơn nữa,
Trang 39người thứ ba có thể không biết đến việc giao kết hợp đồng, thậm chí là không tồn tại tại thời điểm hợp đồng được giao kết Do đó, bên thứ ba có quyền được lựa chọn nhận hoặc từ chối nhận lợi ích từ hợp đồng Trường hợp người thứ ba đồng ý nhận lợi ích thì hợp đồng sẽ được thực hiện theo đúng cam kết Ngược lại, trường hợp người thứ ba từ chối nhận thì sẽ xảy ra một trong các trường hợp sau đây:
(i) Người thứ ba từ chối nhận khi bên có nghĩa vụ chưa thực hiện nghĩa
vụ thì bên có nghĩa vụ không phải thực hiện nghĩa vụ, nhưng phải thông báo cho bên có quyền và hợp đồng được coi là bị hủy bỏ, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Điêu này giúp đảm bảo quyền lợi của bên có quyền, tránh được những chi phí phát sinh có thể phải trả cho bên có nghĩa vụ
(ii) Người thứ ba từ chối nhận tại thời điểm bên có nghĩa vụ đã thực hiện xong nghĩa vụ Khi đó, nghĩa vụ được xem là đã hoàn thành và bên có quyền vẫn phải thực hiện cam kết đối với bên có nghĩa vụ nếu có Trong trường hợp này, lợi ích phát sinh từ hợp đồng thuộc về bên mà nếu hợp đồng không vì lợi ích của người thứ ba thì họ là người thụ hưởng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
(iii) Người thứ ba từ chối nhận tại thời điểm bên có nghĩa vụ đã thực hiện được một phần nghĩa vụ, từ chối ở đây tức là từ chối nhận toàn bộ Trường hợp này Bộ luật Dân sự 2015 chưa quy định nhưng chúng ta cũng cần tìm ra giải pháp để thực hiện Theo quan điểm cá nhân của tác giả thì trong trường hợp này, nếu không có thỏa thuận khác thì hợp đồng sẽ chấm dứt tại thời điểm người thứ ba từ chối Nghĩa vụ đối với người thứ ba sẽ được chia thành hai phần: Đối với phần nghĩa vụ đã thực hiện thì sẽ được xử lý như trường hợp (ii), tức là lợi ích phát sinh từ nghĩa vụ đã thực hiện sẽ thuộc về chủ thể mà nếu hợp đồng không vì lợi ích của người thứ ba thì họ là người thụ hưởng và bên có quyền vẫn phải thực hiện phần hợp đồng tương ứng với phần nghĩa vụ đã được thực hiện; còn đối với phần nghĩa vụ chưa thực hiện không
Trang 40phải thực hiện nữa, các bên trả cho nhau những gì đã nhận tương ứng với phần nghĩa vụ chưa thực hiện này
Ngoài ra, Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định về việc không được sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba Cụ thể, khi người thứ ba đã đồng ý hưởng lợi ích, dù nghĩa vụ đã thực hiện hay chưa thì hợp đồng cũng không được sửa đổi hoặc hủy bỏ, ngoại trừ trường hợp được người thứ ba đồng ý Sở dĩ có quy định này vì khi người thứ ba đã đồng ý nhận lợi ích mà hợp đồng lại bị sửa đổi hay hủy bỏ thì lợi ích của người thứ ba sẽ bị ảnh hưởng Do đó việc sửa đổi hay hủy bỏ hợp đồng cần được người thứ ba thống nhất ý chí
d Hợp đồng có điều kiện
Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện nhất định Như vậy, sự kiện mà các bên thỏa thuận là điều kiện để thực hiện hợp đồng, hợp đồng có thể được thực hiện hay chấm dứt hiệu lực sẽ phụ thuộc vào sự kiện có phát sinh, thay đổi hay chấm dứt Ví dụ, A thỏa thuận với B rằng nếu vụ lúa năm sau được mùa thì A sẽ bán cho lúa cho B
Cần phân biệt điều kiện có hiệu lực của hợp đồng với hợp đồng có điều kiện Theo đó, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là tất cả những yêu cầu,
điều kiện để đảm bảo rằng hợp đồng được xác lập đúng bản chất, còn hợp
đồng có điều kiện là một loại hợp đồng Vì vậy, loại hợp đồng có điều kiện này cũng chịu chi phối bởi các quy định chung về hợp đồng như thoả mãn các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và các quy định khác liên quan đến quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng.[21]
Thực tế thì có muôn vàn sự kiện khác nhau, tuy nhiên không phải sự kiện nào các bên cũng có thể dùng để làm điều kiện của hợp đồng Sự kiện được coi là điều kiện làm phát sinh hay chấm dứt hợp đồng phải thỏa mãn