1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Thực nghiệm khả năng xử lý nước thải sinh hoạt bằng cây chuối nước và cây sậy trong mô hình bãi lọc ngầm tại trường Đại học Tây Nguyên - Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp. Hồ Chí Minh

5 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài được thực hiện nhằm bước đầu xác định tính hiệu quả và tiềm năng sử dụng thực vật để xử lý ô nhiễm hữu cơ trong nước thải sinh hoạt Trường Đại học Tây Nguyên (Đ[r]

Trang 1

ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 11(96).2015, QUYỂN 2 141

THỰC NGHIỆM KHẢ NĂNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT BẰNG

CÂY CHUỐI NƯỚC VÀ CÂY SẬY TRONG MÔ HÌNH BÃI LỌC NGẦM

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN EXPERIMENT OF DOMESTIC WASTEWATER TREATMENT ABILITY OF

CANNA ROMA AND PHRAGITES COMUNIC(L.)TRIN BY SUBSURFACE FLOW

CONSTRUCTED WETLAND IN TAY NGUYEN UNIVERSITY Nguyễn Hoàng Phương1, Phạm Thị Thúy Liễu2, Nguyễn Văn Quý3, Hwik Bkrông, Nguyễn Thành Tạo4

2 Trung tâm Quan trắc Môi trường tỉnh Đăk Nông

3 Công ty Lâm nghiệp Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk

4 Trung tâm Quy hoạch Nông nghiệp Nông thôn tỉnh Bình Định

Tóm tắt - Sử dụng thực vật xử lý nước thải sinh hoạt là giải pháp

được ứng dụng rộng rãi hiện nay bởi hiệu suất xử lý tốt các thông số

ô nhiễm, thân thiện với môi trường, ít tiêu tốn tài nguyên nhiên liệu và

tái sử dụng được chất thải Đề tài được thực hiện nhằm bước đầu

xác định tính hiệu quả và tiềm năng sử dụng thực vật để xử lý ô

nhiễm hữu cơ trong nước thải sinh hoạt Trường Đại học Tây Nguyên

(ĐHTN) thành sinh khối có lợi Kết quả nghiên cứu cho thấy sử dụng

2 loài Sậy Phragmites communis (L.) Trin và chuối nước Canna

Roma trong hệ thống bãi lọc nhân tạo để xử lý nước thải sinh hoạt

đạt kết quả cao Thực vật thích nghi khá tốt trong điều kiện khí hậu

nhiệt đới, sinh trưởng và phát triển tốt tạo sinh khối nhanh: trung bình

đạt 5,2 cm/tuần (cây Chuối nước) và 11,4 cm/tuần (cây Sậy) Hiệu

suất xử lý 5/6 thông số ô nhiễm NH4+, PO43-, COD, BOD5, TSS đều

đạt trên 73%, hiệu quả xử lý NO3- từ 47,8% – 56,1%

Abstract - Nowadays, phytoremediation is a good measure for waste water treatment because it processes pollution parameters well and reuses waste In addition, it is environmentally friendly and less resource consuming This study determines the effectiveness and application potential of using phytoremediation for domestic waste water treatment in Tay Nguyen University

The results of study shows that Phragmites communis(L.) Trin and Canna Roma give high performance in subsurface flow

constructed wetland system Particularly, the plants adapt well to

tropical climate and grow fast with the height of Phragmites

communis(L.) Trin and Canna Roma of 5.2 cm/week and 11.4

cm/week respectively The effective treatment of this model is over 73% for NH 4 , PO 43-, COD, BOD 5 , TSS but it still reaches 47.8% - 56.1% for NO 3-

Từ khóa - xử lý nước thải; bãi lọc ngầm; cây Sậy; cây Chuối

nước; Trường Đại học Tây Nguyên

Key words - Waste water treatment; Subsurface flow constructed wetland; Phragmites communis (L.) Trin; Canna Roma; Tay Nguyen University

1 Đặt vấn đề

Hiện nay Trường Đại học Tây nguyên đào tạo đa

ngành nghề với nhiều hoạt động tiêu thụ tài nguyên, năng

lượng Theo đó là các hoạt động xả thải nước với số

lượng khá lớn và thành phần phức tạp bao gồm cả nước

thải sinh hoạt, từ các giảng đường và các khu chức năng

khác Tuy nhiên, hệ thống xử lý nước thải chỉ dừng lại ở

mức độ sử dụng bể tự hoại 2 hoặc 3 ngăn, không đáp ứng

yêu cầu chất lượng nước thải ra môi trường theo quy định

Nhằm mục đích khắc phục tình trạng xả nước thải, vi

phạm luật bảo vệ môi trường của nhà trường, nghiên cứu

này tiến hành thử nghiệm phương pháp xử lý nước thải

phù hợp Từ nghiên cứu tổng quan cho thấy sử dụng bãi

lọc ngầm trồng cây SFS-V (Subsurface flow

systems-vertical) hiện đang được rất nhiều quốc gia trên thế giới

áp dụng xử lý nước thải thứ cấp sau bể tự hoại như một

giải pháp công nghệ xử lý nước thải trong điều kiện tự

nhiên Đây là giải pháp có hiệu quả khá cao, thân thiện

với môi trường, chi phí thấp và ổn định [1], [2], [4], [5],

[6] đồng thời góp phần làm tăng giá trị sinh học, cải tạo

cảnh quan môi trường Các bài học từ các nghiên cứu

tổng quan là nền tảng để nghiên cứu tiến hành chọn cây

Sậy và cây Chuối nước trong bãi lọc ngầm theo chiều

thẳng đứng để xử lý nước thải của Trường Đại học Tây

Nguyên đạt QCVN 14:2008/BTNMT

2 Giải quyết vấn đề

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Tham khảo, kế thừa mô hình bãi lọc ngầm trồng cây dòng chảy thẳng đứng SFS-V (Cooper, 1996) và các mô

hình nghiên cứu constructed wetlands của Thammarat

Koottatep, Chongrak Polprasert và Kim Oanh (2001) [4],

[6] Tiến hành thiết kế mô hình thí nghiệm phù hợp với

đặc điểm khí hậu nhiệt đới, và khả năng tận dụng vật liệu

rẻ tiền sẵn có tại khu vực Trường Đại học Tây Nguyên

Hình 1 Kích thước và các lớp vật liệu trong bể thí nghiệm

Trang 2

142 Nguyễn Hoàng Phương, Phạm Thị Thúy Liễu, Nguyễn Văn Quý, Hwik Bkrông, Nguyễn Thành Tạo

Mô hình được vận hànhtrong 06 tháng, xử lý nước thải

theo từng mẻ, mỗi mẻ kéo dài 7 ngày Nước thải được bơm

từ bể tự hoại, cấp vào bể thí nghiệm bằng hệ thống ống

PVC có đục lỗ nhỏ nhằm kéo dài thời gian cấp nước và hạn

chế xói cát Lượng nước cung cấp cho mỗi bể/mẻ là 300 lít

và được phân tích kiểm tra các thông số ô nhiễm (thông số

đầu vào) Nước được lưu trong bể 5 ngày và được xả ra vào

ngày thứ 6 để thu mẫu phân tích kiểm tra các thông số ô

nhiễm (đầu ra) Xác định hiệu suất xử lý của từng bể

Tiêu chí thiết kế mô hình thí nghiệm:

+ Lựa chọn cây Sậy và cây Chuối nước: Phù hợp thích

nghi cao với điều kiện môi trường sống khu vực Trường

ĐHTN; khả năng phát triển tốt; ít bị ảnh hưởng bởi sự thay

đổi nồng độ chất trong nước thải, vòng đời dài, đẹp

+ Đối với mô hình xử lý: Đảm bảo c hiệu quả xử lý

hữu cơ trong nước thải, dễ vận hành, dễ áp dụng, phù hợp

với điều kiện thời tiết tại trường ĐHTN

2.2 Nội dung nghiên cứu

Điều tra và lấy mẫu phân tích một số thông số nước

thải của trường ĐHTN

Thiết kế, xây dựng, thử nghiệm xử lý nước thải sinh

hoạt bằng cây Sậy và Chuối nước trong mô hình bãi lọc

ngầm theo chiều thẳng đứng

Tiến hành chạy mô hình và quan trắc Xác định hiệu

suất xử lý của mô hình

Thảo luận, đánh giá khả năng áp dụng xử lý nước thải

sinh hoạt cho trường

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu thứ cấp

Kế thừa các tài liệu, nghiên cứu thiết kế, vận hành mô

hình xử lý nước thải bằng thực vật kết hợp công trình Các

tài liệu này được thu thập bằng công cụ Google Scholar và

từ một số nguồn thông tin học thuật trên Intenet Tham

khảo và tổng hợp các tài liệu liên quan đến môi trường

nước và từ các phòng, ban quản lý của Trường ĐHTN

2.3.2 Phương pháp phân tích các thông số ô nhiễm

trong nước thải

Lấy mẫu theo nguyên tắc lấy mẫu, bảo quản mẫu nước

thải TCVN 4556-88 Mẫu được đưa phân tích tại phòng

thí nghiệm bộ môn Khoa học Đất và Phòng thí nghiệm Viện Công nghệ Sinh học và Môi Trường, Trường ĐHTN Các thông số và phương pháp phân tích: pH, BOD5, COD,TSS,NH4, NO3-, PO43-

2.3.3 Phương pháp phân tích SWOT

Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức

về khả năng sử dụng cây Sậy và cây Chuối nước xử lý nước thải sinh hoạt tại Trường ĐHTN

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Từ các giá trị tuyệt đối của các thông số trong nước thải đầu vào và đầu ra của mô hình, đề tài tính toán hiệu suất xử

lý của các bể trong từng mẻ Từ đó xác định hiệu suất xử lý trung bình các thông số được quan sát trong mô hình Đề tài xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel 2010

3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận

3.1 Các thông số phân tích nước thải trường ĐHTN

Nước thải của trường ĐHTN chủ yếu là nước thải sinh hoạt từ các khu ký túc xá và một phần từ các khu giảng đường, bao gồm cả nước thải từ các khu vực chức năng khác Các nguồn thải này đổ xuống đầu mương nước, hồ

Tự Do và chứa trong các bể tự hoại

Bảng 1 Giá trị các thông số nước thải sinh hoạt

Thông số (mg/l ngoại trừ pH)

Trung bình đợt 1

Trung bình đợt 2

Trung bình chung

QCVN 14: 2008/BTNMT Cột A

Ghi chú:- Phân tích 2 đợt, mỗi đợt lấy 3 mẫu nước thải sinh hoạt

- Thu mẫu tại các bể tự hoại và hồ Tự Do của trường

Kết quả xét nghiệm mẫu cho thấy nước thải sinh hoạt của nhà trường có giá trị trung bình các thông số ô nhiễm chưa cao, ngoại trừ thông số NH4và BOD5 vượt quá cột

A QCVN 14:2008/BTNMT Giá trị các thông số thấp do thời điểm lấy mẫu vào mùa mưa, các yếu tố ô nhiễm đã bị pha loãng một phần Ngoài giá trị các thông số nước thải trong Bảng 1, các giá trị thông số trong nước thải đầu vào của mô hình xử lý cũng phản ánh mức độ ô nhiễm nước

thải tại Trường ĐHTN

3.2 Xác định khả năng xử lý ô nhiễm hữu cơ trong nước thải sinh hoạt trường ĐHTN

3.2.1 Sinh trưởng và sinh sản của cây Sậy và cây Chuối nước trong mô hình

Cả hai loài đều sinh trưởng phát triển nhanh, sinh sản nhiều, thích nghi khá tốt với điều kiện khí hậu và nồng độ nước thải sinh hoạt của Trường ĐHTN

Cây Chuối nước có tỉ lệ sống sót rất cao, tỉ lệ sống ở

cả 2 bể B1 và B2 đều đạt 100% Sinh trưởng khá tốt, trung bình phát triển chiều cao đạt 5,2 cm/tuần (Bể 1), 4,3 cm/tuần (Bể 3) Khoảng 2 tháng sau khi trồng cây chuối

đã cho hoa rất đẹp Cây Sậy có tỉ lệ mọc mầm ít hơn với 22/30 cây ở Bể 2 và 13/15 cây ở Bể 3 Cây Sậy cũng sinh trưởng khá tốt ở giai đoạn đầu khi chưa cho nước thải vào

Hình 2 Sơ đồ vận hành mô hình xử lý

Trang 3

ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 11(96).2015, QUYỂN 2 143

mô hình, phát triển chiều cao đạt 11,4 cm/tuần (Bể 2), 9,3

cm/tuần (Bể 3) Khảo sát thực tế cho thấy cây Chuối nước

chống chịu với sâu bệnh kém hơn cây Sậy trong thời gian

vận hành mô hình xử lý

Hình 3 Cây S1EADy và chuối nước sau 2 tuần và 4 tháng

3.2.2 Kết quả hiệu suất xử lý ô nhiễm của cây Sậy và cây

Chuối nước trong mô hình

Về cảm quan, mô hình thể hiện sự thay đổi về màu sắc

và mùi của nước thải đầu và nước thải sau khi xử lý.Kết

quả xử lý một số thông số ô nhiễm hữu cơ của mô hình

trình bày trong phần dưới đây:

a Kết quả xử lý BOD5

Hình 4 Biểu đồ giá trị tuyệt đối và hiệu suất xử lý BOD 5 của

4 bể trong mô hình xử lý

Giá trị thông số BOD5 và hiệu suất xử lý của các bể

qua các mẻ có sự chênh lệch rõ rệt giữa các bể trồng cây

so với bể đối chứng Đối với các bể trồng cây, hiệu suất

xử lý dao động ở mức độ không đáng kể (19,3% ở bể 1,

14,9% ở bể 2, và 14,3% ở bể 3) Vì vậy có thể kết luận

rằng cây Sậy và cây Chuối nước có khả năng xử lý BOD

trong nước thải đạt cột A (QCVN 144:2008/BTNMT) tại

khu vực nghiên cứu

b Kết quả xử lý COD

Hình 5 cho thấy các bể trồng cây luôn có hiệu suất xử

lý COD cao hơn bể đối chứng Trong đó, hiệu suất của

các bể trồng cây trung bình từ 71,2% - 79,6 % so với hiệu

suất trung bình bể đối chứng khoảng 44,0%

Hình 5 Biểu đồ giá trị tuyệt đối và hiệu suất xử lý COD của

4 bể trong mô hình xử lý

c Kết quả xử lý TSS Hình 6 dưới đây cho thấy hiệu suất xử lý TSS của 4 bể tương đối cao, tăng theo thời gian và ổn định Trong đó các bể trồng cây thể hiện ưu thế hơn so với bể không trồng cây, bể 1 có hiệu suất xử lý 88%

Hình 6 Biểu đồ giá trị tuyệt đối và hiệu suất xử lý TSS của

4 bể trong mô hình xử lý

Kết quả mô hình cho thấy vai trò rất lớn của vật liệu trong việc xử lý TSS (77,5%) Đồng thời sự đóng góp của thực vật cũng không kém quan trọng, mô hình trồng riêng

lẻ có hiệu suất cao hơn khi kết hợp trồng chung (hiệu suất

bể 3 đạt 84,1% trong khi bể 1 đạt 88%, bể 2 đạt 87,8%) Tuy nhiên, kết quả này chỉ đại diện cho mẫu thực tế có giá trị TSS chưa cao tại khu vực nghiên cứu

d Kết quả xử lý PO43-

Với nồng độ PO43- trong nước thải đầu vào mô hình từ 3,6 đến 15,6 mg/l, hiệu suất xử lý của các bể rất cao, từ

0

20

40

60

80

58.5

%

HIỆU SUẤT XỬ LÝ BOD5 CỦA CÁC BỂ

0 20 40 60 80

46.6

70 80 90

Bể 1 Bể 2 Bể 3 Bể 4

77.5

% HIỆU SUẤT XỬ LÝ TSS CỦA CÁC BỂ

Trang 4

144 Nguyễn Hoàng Phương, Phạm Thị Thúy Liễu, Nguyễn Văn Quý, Hwik Bkrông, Nguyễn Thành Tạo 88,4 đến 92,8% Khả năng xử lý PO43- của các bể trồng

cây cao hơn một ít so với bể đối chứng

Hình 7 Biểu đồ giá trị và hiệu suất xử lý PO 4 3- của 4 bể

e Kết quả xử lý NO3

-Hình 8 Biểu đồ giá trị và hiệu suất xử lý NO 3 - của 4 bể

Từ biểu đồ Hình 8 cho thấy hiệu suất xử lý giữa 4 bể

có sự khác biệt đáng kể và thay đổi theo từng mẻ Trong

đó, hiệu suất xử lý của bể 1 cao nhất, khoảng 45,5% Hiệu

suất của bể đối chứng chỉ khoảng 10,2%, thấp hơn rất

nhiều so với các bể trồng cây Số liệu trên chỉ ra vai trò

của thực vật đối với khả năng xử lý NO3- trong nước thải

f Kết quả xử lý NH4+

Biểu đồ Hình 9 thể hiện cả 4 bể đều có khả năng xử lý

NH4rất cao, từ 95,8% ở bể đối chứng và đến >98% ở các

bể trồng cây Kết quả trên không thể hiện rõ vai trò của

cây Sậy và Chuối nước trong xử lý thông số NH4+ với

nồng độ đầu vào mô hình từ 8,07 đến 34,6 mg/l

Hình 9 Biểu đồ giá trị và hiệu suất xử lý NH 4 + của 4 bể 3.2.3 Đánh giá khả năng xử lý nước thải trường ĐHTN của cây Sậy và cây Chuối nước tại Trường ĐHTN

Cả hai loài Sậy và chuối nước đều sinh trưởng, phát triển tốt.Ở bể trồng chung, cả 2 loài đều sinh trưởng chậm hơn các bể trồng riêng

Nước thải đầu vào mô hình có nồng độ ô nhiễm còn thấp, đa số thông số ô nhiễm cao hơn cột A QCVN 14:2008/BTNMT Nồng độ các thông số được khảo sát cũng đại diện cho mức độ ô nhiễm thực tế trong nước thải của trường ĐHTN

Cây Sậy có hiệu suất xử lý cao hơn cây Chuối nước về các chỉ tiêu: COD, PO43-, NH4 và thấp hơn ở các chỉ tiêu: TSS và BOD

Bảng 2 So sánh hiệu suất xử lý trung bình của 4 bể trong mô hình

Sậy+Chuối nước 98,2 91,7 31,0 84,1 76,1 76,1

Như vậy, cây Sậy và cây Chuối nước trong mô hình bãi lọc ngầm dòng chảy thẳng đứng có khả năng xử lý nước thải sinh hoạt Trường ĐHTN đạt cộtA QCVN 14:2008/BTNMT

3.2.4 Thảo luận và đánh giá khả năng áp dụng xử lý nước thải cho trường ĐHTN

Bảng 3 Phân tích SWOT về khả năng khả năng áp dụng

của mô hình xử lý

• Dễ xây dựng và vận hành

• Kinh phí xây dựng và vận hành thấp

• Có thể xuất hiện mùi hôi và sinh vật như ruồi

• Cần diện tích đất lớn

86

88

90

92

94

92.7 92.8

91.7

88.4

% HIỆU SUẤT XỬ LÝ PO43-CỦA CÁC BỂ

0

20

40

60

31 10.2

% HIỆU SUẤT XỬ LÝ NO3-CỦA CÁC BỂ

94 95 96 97 98 99

95.8

% HIỆU SUẤT XỬ LÝ NH4 CỦA CÁC BỂ

Trang 5

ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 11(96).2015, QUYỂN 2 145

• Có thể lợi dụng độ cao để

xây dựng mô hình

• Thân thiện với môi trường,

tạo cảnh quan đẹp

• Tuổi thọ của mô hình dài

• Hiệu suất xử lý nước thải

sinh hoạt khá cao

• Tận dụng được sinh khối

của cây…

• Có thể xuất hiện bệnh trên cây

• Chịu ảnh hưởng một

số điều kiện khí hậu như:

mưa, gió…

• Có thể thấm nước vào nước ngầm

• Xã hội quan tâm đến xử lý

nước thải thân thiện tự nhiên

• Hiện tại trường ĐHTN chưa

áp dụng biện pháp xử lý nước

thải thứ cấp

• Địa bàn trường rất thuận lợi

cho việc áp dụng mô hình (có

sẵn hệ thống mương, hồ )

• Có thể sử dụng làm mô hình

thực tập cho học sinh, sinh viên

• Hợp tác các tổ chức môi

trường trong nước và quốc tế

• Phương pháp này chưa được phổ biến rộng

ở nước ta nên khó được chấp nhận để thực hiện

• Thiếu kiến thức và kinh nghiệm thiết kế xây dựng mô hình sử dụng thực vật để xử lý nước nước thải

• Cần nguồn kinh phí xây dựng và duy trì hệ thống xử lý đạt yêu cầu

Qua phân tích SWOT về khả năng áp dụng của mô

hình tại trường, nghiên cứu đề xuất quy trình sơ lược xử

lý nước thải cho Trường ĐHTN trong Hình 10 sau:

Hình 10 Hướng xử lý nước thải trường ĐHTN

4 Kết luận Khả năng xử lý ô nhiễm hữu cơ trong nước thải sinh hoạt của hệ thống SFS-V trồng cây Sậy và Chuối nước tại Trường ĐHTN khá cao Thực vật thích khá tốt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, sinh trưởng và phát triển tốt, tạo sinh khối nhanh: trung bình đạt 5,2 cm/tuần (cây Chuối nước) và 11,4 cm/tuần (cây Sậy) Hiệu suất xử lý 5/6 thông số ô nhiễm NH4, PO43-, COD, BOD5, TSS đều đạt trên 73%, xử lý NO3- từ 47,8%-56,1%

So với vể đối chứng, hiệu suất của các bể trồng cây cao hơn Có thể khẳng định 2 loại cây này đều có khả năng xử lý nước thải sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu Khả năng xử lý TSS của bể đối chứng cũng khá cao cho thấy vật liệu cát, đá có khả năng lọc TSS trong mô hình tốt

Trường ĐHTN có thể áp dụng mô hình này để xử lý nước thải trong Nhà trường đạt cột A QCVN 14:2008/BTNMT

Lời cảm ơn: Tập thể tác giả chân thành cảm ơn

Trường Đại học Tây Nguyên đã tài trợ kinh phí và tạo điều kiện cơ sở vật chất để hoàn thành nghiên cứu này

TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Nguyễn Việt Anh (2006.), Xử lý nước thải bằng bãi lọc ngầm trồng cây dòng thẳng đứng trong điều kiện Việt Nam

[2] B.Cheng, C W Hu, Y J Zhao, China (2010), Effects of plants development and pollutant loading on performance of vertical subsurface flow constructed wetlands

[3] Bộ Tài nguyên Môi trường, QCVN 14: 2008/BTNMT: Quy chuẩn

kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt, Bộ Tài nguyên Môi

trường, 2008

[4] Cooper, P.F., Job, G.D., Green, M.B., and Shutes, R.B.E,Reed

Beds and Constructed Wetlands for Wastewater Treatment, WRc

Swindon, Wiltshire, 1996

[5] Dennis Konnerupa, Thammarat Koottatepb, Hans Brix, Treatment

of domestic wastewater in tropical, subsurface flow constructed wetlands planted with Canna and Heliconia, Ecological Engineering, 35 (2), Elsevier, 2009, 248-257

[6] Thammarat Koottatep, Chongrak Polprasert, Kim Oanh và ccs, Sludges from on-site sanitation systems–low-cost treatment alternatives, AIT, 2001

(BBT nhận bài: 30/07/2015, phản biện xong: 05/10/2015)

Ngày đăng: 01/04/2021, 13:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w