Điều 42 Hiến chương chỉ cho phép tiến hành trừng phạt vũ trang trong khuôn khổ Liên hợp quốc khi đáp ứng đủ hai yêu cầu: thứ nhất, tồn tại hành vi vi phạm pháp luật quốc tế bị Hội đồ[r]
Trang 11 MỞ ĐẦU
Trong đời sống quốc tế hiện nay, do bị chi phối bởi quy luật lợi ích quốc gia đặt lên hàng đầu trong giải quyết các mối quan hệ quốc tế, một số quốc gia sẵn sàng vi phạm chính các quy phạm luật quốc tế mà họ đã xây dựng nên nếu việc vi phạm mang lại cho họ nhiều lợi ích hơn là nghiêm chỉnh tuân thủ luật quốc tế Vì thế, để bảo vệ sự tôn nghiêm của pháp luật, trong quá trình xây dựng luật quốc tế, các quốc gia cũng đồng thời thoả thuận xây dựng nên những cơ chế giám sát quốc
tế có chức năng ngăn ngừa khả năng vi phạm luật quốc tế và trừng trị những hành vi vi phạm nghiêm trọng luật quốc tế trong trường hợp cần thiết Một trong các cơ chế giám sát quốc tế được các quốc gia thỏa thuận thành lập nên chính là Liên hợp quốc So với các cơ chế giám sát quốc
tế khác, Liên hợp quốc là thiết chế có quyền lực mạnh mẽ nhất khi được thành viên thỏa thuận trao cho quyền trừng phạt vũ trang Trên phương diện pháp luật, dù có quyền lực mạnh mẽ nhất nhưng không có nghĩa Liên hợp quốc có quyền lực vô hạn Quyền lực của Liên hợp quốc do các quốc gia thành viên trao cho và được ghi nhận
cụ thể trong Hiến chương, Liên hợp quốc buộc phải tuân thủ Hiến chương Nếu Liên hợp quốc
TRỪNG PHẠT VŨ TRANG TRONG KHUÔN KHỔ LIÊN HỢP QUỐC
- QUY CHẾ PHÁP LÝ
VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG
NGUYỄN THỊ HOÀI HƯƠNG
Học viện Khoa học Quân sự
TÓM TẮT
Trong tất cả các tổ chức quốc tế hiện nay,
Liên hợp quốc là tổ chức duy nhất được các
quốc gia thành viên thỏa thuận trao cho
quyền trừng phạt vũ trang những chủ thể
có hành vi đe dọa nghiêm trọng đến hòa
bình và an ninh quốc tế Quyền hạn đặc biệt
này được các quốc gia kỳ vọng sẽ giúp Liên
hợp quốc đủ sức mạnh để hoàn thành chức
năng bảo vệ pháp luật trong lĩnh vực duy trì
hòa bình và an ninh quốc tế Tuy nhiên trên
thực tế, vì nhiều lý do khác nhau, phương
thức triển khai thực hiện quyền trừng phạt
vũ trang của Liên hợp quốc lại không giống
với phương thức mà Hiến chương Liên hợp
quốc đã dự liệu Điều này dẫn đến sự tranh
cãi giữa các quốc gia về cơ sở pháp lý cũng
như phương thức trừng phạt vũ trang trên
thực tế mà Liên hợp quốc đang áp dụng
Từ khóa: cho phép thành viên trừng phạt vũ
trang, Hội đồng Bảo an, Liên hợp quốc, trừng
phạt vũ trang.
Trang 2vi phạm Hiến chương thì các quyết định của Liên
hợp quốc sẽ mất đi căn cứ pháp lý và giá trị bắt
buộc thi hành Chính vì vậy, khi thực hiện quyền
trừng phạt vũ trang, do không thể triển khai
phương thức trừng phạt vũ trang mà Hiến chương
dự liệu, Liên hợp quốc đã khiến các nước thành
viên tranh cãi về tính hợp pháp của hoạt động
“sáng tạo” ra phương thức trừng phạt vũ trang
khác so với những quy định của Hiến chương
2 NỘI DUNG
2.1 Quy chế pháp lý của quyền trừng phạt vũ trang
Theo quy định của Điều 42 Hiến chương Liên hợp
quốc, Hội đồng Bảo an - cơ quan đại diện cho
Liên hợp quốc thực hiện chức năng duy trì hòa
bình và an ninh quốc tế - có quyền quyết định
áp dụng mọi hành động của lực lượng hải, lục,
không quân để tiến hành các cuộc biểu dương
lực lượng, phong tỏa hay những cuộc hành quân
khác mà Hội đồng Bảo an xét thấy cần thiết cho
việc duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh
quốc tế Điều này có nghĩa, Hiến chương Liên hợp
quốc cho phép Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc có
quyền sử dụng sức mạnh vũ trang đối với những
quốc gia có hành vi đe dọa nghiêm trọng hòa
bình và an ninh quốc tế nhằm trừng phạt cũng
như hạn chế, triệt tiêu các điều kiện cho phép các
quốc gia này tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm
Bên cạnh việc cho phép Liên hợp quốc có quyền
trừng phạt vũ trang, các quốc gia thành viên Liên
hợp quốc cũng thỏa thuận xây dựng trong Hiến
chương phương thức mà Hội đồng Bảo an cần sử
dụng để tiến hành hoạt động trừng phạt ấy Rút
kinh nghiệm từ những thất bại mà tổ chức tiền
thân của Liên hợp quốc - Hội quốc liên - đã mắc
phải khi không đủ năng lực để bảo vệ hòa bình
và an ninh quốc tế, các thành viên sáng lập của
Liên hợp quốc kỳ vọng xây dựng nên một tổ chức
Liên hợp quốc vừa có trong tay sức mạnh quân sự
thực sự, vừa độc lập để không bị chi phối nhiều
bởi lập trường của từng thành viên Sự tồn tại của
lực lượng quân đội quốc tế của Liên hợp quốc
được ghi nhận trong Hiến chương chính là biểu
hiện của kỳ vọng đó Theo đó, Hội đồng Bảo an có
trách nhiệm đại diện cho Liên hợp quốc tổ chức
nên lực lượng này bằng cách ký kết với các quốc
gia thành viên Liên hợp quốc những hiệp định, thỏa thuận về việc ủng hộ quân đội và những trợ giúp cần thiết theo quy định tại Điều 43 Hiến chương Liên hợp quốc Bên cạnh việc thành lập
và sử dụng lực lượng quân đội của Liên hợp quốc, Hội đồng Bảo an cũng có thể sử dụng lực lượng
vũ trang được thành lập bởi những hiệp định hoặc những tổ chức khu vực dưới sự điều khiển của mình theo quy định của Điều 53 Hiến chương Liên hợp quốc Cả hai phương thức sử dụng sức mạnh vũ trang nêu trên đều được triển khai dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Uỷ ban Tham mưu quân sự Uỷ ban này (được thành lập theo Điều
47 Hiến chương) trực thuộc Hội đồng Bảo an có chức năng tư vấn và giúp Hội đồng Bảo an khi Hội đồng Bảo an quyết định triển khai các hoạt động trừng phạt vũ trang Đây là hai phương thức sử dụng sức mạnh vũ trang để cưỡng chế duy nhất
mà Hiến chương ghi nhận cho Liên hợp quốc nói chung và Hội đồng Bảo an nói riêng Không có điều khoản nào khác của Hiến chương Liên hợp quốc, đặc biệt là trong chương VII - chương duy nhất cho phép Hội đồng Bảo an sử dụng sức mạnh vũ trang tập thể - quy định rõ ràng thẩm quyền của Hội đồng Bảo an được sử dụng sức mạnh vũ trang theo bất cứ cách nào khác
2.2 Thực tiễn áp dụng quyền trừng phạt vũ trang
Trên thực tế, kể từ năm 1945 khi Liên hợp quốc bắt đầu đi vào hoạt động cho đến nay, chưa
có một hiệp định song phương theo quy định tại Điều 43 nào được ký kết Điều này có nghĩa, không có bất kỳ quốc gia thành viên nào trong
số 193 thành viên của Liên hợp quốc hiện nay sẵn sàng ký với Hội đồng Bảo an một hiệp định cung cấp cho Liên hợp quốc lực lượng quân đội quốc tế mà Điều 43 đề cập Và như vậy, một đội quân thường trực của Liên hợp quốc mới chỉ tồn tại trên lý thuyết theo ghi nhận của Hiến chương chứ không hề tồn tại trên thực tế Thêm vào đó,
Uỷ ban Tham mưu quân sự quy định ở Điều 47 Hiến chương Liên hợp quốc dù đã được thành lập nhưng cũng đã giải tán, bộ phận dân sự của
Uỷ ban này được sáp nhập vào Ban thư ký Liên hợp quốc năm 1957 Khi không tồn tại cả quân đội của Liên hợp quốc lẫn Uỷ ban tham mưu quân
sự hỗ trợ Liên hợp quốc chỉ huy các chiến dịch
Trang 3trừng phạt vũ trang thì phương thức sử dụng vũ
lực theo quy định của chương VII Hiến chương
Liên hợp quốc cũng không thể vận hành Để khắc
phục thực trạng này, khi cần sử dụng lực lượng
vũ trang để triển khai các chiến dịch trừng phạt,
một mặt, Hội đồng Bảo an áp dụng Điều 53 Hiến
chương tăng cường sử dụng lực lượng quân đội
hình thành từ các Hiệp định hay tổ chức khu vực
theo sự thỏa thuận giữa hai bên Mặt khác, Hội
đồng Bảo an đã có “sáng kiến” ban hành nghị
quyết cho phép các quốc gia thành viên sử dụng
mọi biện pháp cần thiết, tức là cho phép sử dụng
sức mạnh vũ trang dưới “lá cờ” Liên hợp quốc để
trừng phạt những chủ thể có hành vi vi phạm
nghiêm trọng luật pháp quốc tế
Hội đồng Bảo an cho phép các quốc gia thành
viên tiến hành trừng phạt vũ trang lần đầu trong
cuộc chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên năm
1950, song đó cũng là lần duy nhất trong suốt 45
năm Bởi lẽ, trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, do sự
đối đầu giữa hai phe Đông - Tây, các thành viên
thường trực, đặc biệt là Mỹ và Liên Xô, thường
sử dụng quyền phủ quyết khiến Hội đồng Bảo
an tê liệt Mãi cho đến năm 1990, với sự chấm
dứt của Chiến tranh Lạnh, Hội đồng Bảo an mới
lại thông qua nghị quyết 665 và 678 cho phép
các nước thành viên Liên hợp quốc sử dụng tất
cả những biện pháp cần thiết (bao gồm cả biện
pháp quân sự) đối với Irắc nhằm khôi phục hòa
bình và an ninh quốc tế ở khu vực vùng Vịnh Kể
từ cuộc chiến tranh Irắc năm 1990, Hội đồng Bảo
an đã thông qua một loạt nghị quyết cho phép
các nước thành viên trừng phạt vũ trang dựa trên
các quy định ở chương VII Hiến chương như: các
Nghị quyết 770, 787, 816, 836, 908, 1031, 1088,
1174, 1244, 1247 về xung đột ở Nam Tư cũ; Nghị
quyết 794 về Xômali; Nghị quyết 929 về Ruanđa;
Nghị quyết 940 về Haiti; Nghị quyết 1264 về Đông
Timo và gần đây là Nghị quyết 1973 cho phép
các nước thành viên sử dụng sức mạnh vũ trang
với chính quyền Gaddafi nhằm bảo vệ thường
dân trong cuộc nổi dậy tại Libi năm 2011
2.3 Những tranh cãi về việc áp dụng quyền
trừng phạt vũ trang
Việc Hội đồng Bảo an ban hành nghị quyết cho
phép các quốc gia thành viên tiến hành trừng
phạt vũ trang dưới “lá cờ” của Liên hợp quốc đã gây ra nhiều ý kiến tranh cãi khác nhau giữa các nước trong cộng đồng quốc tế về tính hợp pháp của những hoạt động này Ý kiến không đồng tình với hoạt động này của Hội đồng Bảo an (ví
dụ như Cu Ba, Yêmen và Trung Quốc trong chiến dịch quân sự của Liên hợp quốc tại Irắc năm 1990; Trung Quốc và Ấn Độ trong vụ Xômali năm 1992, Mêhicô trong vụ Haiti năm 1993 ) cho rằng, Liên hợp quốc là một thiết chế giám sát quốc tế, mọi hành vi của Liên hợp quốc phải tuân thủ Hiến chương Điều 42 Hiến chương chỉ cho phép tiến hành trừng phạt vũ trang trong khuôn khổ Liên hợp quốc khi đáp ứng đủ hai yêu cầu: thứ nhất, tồn tại hành vi vi phạm pháp luật quốc tế bị Hội đồng Bảo an quy kết là hành vi đe dọa, phá hoại hòa bình hay hành vi xâm lược cần thiết phải áp dụng biện pháp trừng phạt vũ trang; thứ hai, hành động trừng phạt vũ trang của Liên hợp quốc phải được triển khai theo phương thức đã được dự liệu tại chương VII Hiến chương, tức là phải sử dụng lực lượng quân đội của Liên hợp quốc hoặc lực lượng vũ trang được hình thành từ các Hiệp định hoặc tổ chức khu vực dưới sự chỉ huy của Hội đồng Bảo an mà đại diện là Uỷ ban tham mưu quân sự Điều 42 Hiến chương Liên hợp quốc vì thế không thể là căn cứ chứng minh cho tính hợp pháp của các nghị quyết cho phép các nước thành viên sử dụng sức mạnh vũ trang
để trừng phạt dưới “lá cờ” Liên hợp quốc của Hội đồng Bảo an Quyền tự vệ tập thể được quy định tại Điều 51 Hiến chương cũng không thể là căn cứ chứng minh cho hành động trên thực tế này của Hội đồng Bảo an Do đó, những nghị quyết cho phép các quốc gia thành viên sử dụng sức mạnh
vũ trang để trừng phạt dưới “lá cờ” Liên hợp quốc của Hội đồng Bảo an là bất hợp pháp Ngoài ra, ý kiến không đồng tình với hoạt động thực tiễn này của Hội đồng Bảo an cho rằng sáng kiến của Hội đồng Bảo an không phải là một sáng kiến lưỡng toàn trong mọi trường hợp Việc xây dựng thành công một đội quân của Liên hợp quốc nằm dưới quyền chỉ huy của Uỷ ban tham mưu quân sự theo đúng quy định của chương VII Hiến chương Liên hợp quốc vẫn là giải pháp tối ưu hơn so với sáng kiến cho phép thành viên sử dụng sức mạnh
vũ trang để trừng phạt của Hội đồng Bảo an nếu xét theo nghĩa nó giúp Hội đồng Bảo an có quyền
Trang 4chủ động hơn trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ của mình Bởi lẽ, áp dụng sáng kiến của Hội
đồng Bảo an sẽ khiến Liên hợp quốc phụ thuộc
rất lớn vào các nước thành viên, chiến dịch quân
sự mà Hội đồng Bảo an dự định tiến hành khó có
thể triển khai ở những khu vực không có vị trí địa
chiến lược quan trọng - nơi lời kêu gọi, cho phép
trừng phạt vũ trang không thu hút được sự quan
tâm của các nước thành viên Liên hợp quốc
Ngược lại với ý kiến nêu trên, nhiều chủ thể khác
trong cộng đồng quốc tế như Anh, Mỹ, Itxaren
thông qua quá trình bỏ phiếu tại Liên hợp quốc
lại thể hiện quan điểm cho rằng Liên hợp quốc
hoàn toàn có “quyền hạn ngầm” cho phép quốc
gia thành viên sử dụng sức mạnh vũ trang để
cưỡng chế trong trường hợp cần thiết Quyền hạn
này không được quy định một cách rõ ràng trong
Hiến chương nhưng có thể rút ra từ việc giải thích
một cách linh hoạt chương VII Hiến chương Liên
hợp quốc Theo họ, Hội đồng Bảo an có quyền
đại diện cho Liên hợp quốc sử dụng sức mạnh vũ
trang để trừng phạt theo Điều 42 Hiến chương,
nhưng lại không thể thiết lập lực lượng quân đội
của Liên hợp quốc theo Điều 43 Hiện thực này
không phải do Liên hợp quốc mà là do các quốc
gia thành viên của Liên hợp quốc không sẵn sàng
ký hiệp định giúp Hội đồng Bảo an xây dựng lực
lượng quân đội được Hiến chương dự liệu Thêm
vào đó, Uỷ ban tham mưu quân sự có nhiệm vụ
giúp Liên hợp quốc chỉ huy các chiến dịch trừng
phạt vũ trang cũng không còn tồn tại trên thực
tế Nếu cứ rập khuôn đúng những quy định rõ
ràng về phương thức sử dụng vũ lực được ghi
nhận trong Hiến chương thì Hội đồng Bảo an sẽ
không bao giờ thực hiện được quyền trừng phạt
vũ trang Vấn đề là, dù không triển khai được các
chiến dịch quân sự theo đúng phương thức quy
định ở chương VII Hiến chương Liên hợp quốc,
Hội đồng Bảo an vẫn phải thực hiện chức năng
duy trì hòa bình và an ninh quốc tế mà các nước
thành viên Liên hợp quốc đã giao phó Thực tế cho
thấy Hội đồng Bảo an khó có thể đảm nhận thành
công chức năng ấy nếu như không sử dụng được
quyền hạn có tính răn đe và trừng phạt mạnh mẽ
nhất mà mình có là quyền trừng phạt vũ trang đối
với quốc gia có hành vi đe dọa nghiêm trọng hòa
bình và an ninh quốc tế Vì thế, cần thiết phải để
Hội đồng Bảo an sử dụng phương thức khác ngoài phương thức đã được dự liệu trong Hiến chương
để hiện thực hóa quyền trừng phạt vũ trang của mình Đó chính là quyền kêu gọi, cho phép các quốc gia thành viên nhân danh Liên hợp quốc trừng phạt vũ trang Hơn nữa, về nguyên tắc, bản thân Hiến chương cũng không hoàn toàn cấm Hội đồng Bảo an ra nghị quyết cho phép sử dụng sức mạnh vũ trang trong quan hệ quốc tế Theo Điều 53 Hiến chương, Hội đồng Bảo an có thể
sử dụng những hiệp định hoặc tổ chức khu vực
để đảm bảo các hành động cưỡng chế dưới sự điều khiển của mình Điều 53 cũng quy định rõ
“không một hành động cưỡng chế nào được thi hành chiếu theo các hiệp định khu vực hay do các
tổ chức khu vực, nếu không được Hội đồng Bảo
an cho phép ” Điều này cho thấy, dù không phải
là phương thức trừng phạt vũ trang nằm trong
ý tưởng ban đầu của Hiến chương, nhưng hành động cho phép thành viên trừng phạt vũ trang của Hội đồng Bảo an cũng không trái với Hiến chương Liên hợp quốc Áp dụng sáng kiến này không chỉ giúp Hội đồng Bảo an sử dụng được trên thực tế công cụ mạnh mẽ nhất mà thành viên của Liên hợp quốc trao cho để bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế, mà còn giúp Liên hợp quốc giải quyết được gánh nặng tài chính khi không phải duy trì hoạt động thường xuyên của lực lượng quân đội của Liên hợp quốc và Uỷ ban tham mưu quân sự như Hiến chương đã đề cập Vấn đề đặt ra ở đây hiện nay là khi cho phép các thành viên thay mặt Liên hợp quốc sử dụng sức mạnh vũ trang để trừng phạt quốc gia có hành vi
đe dọa, phá hoại hòa bình hay hành vi xâm lược, Hội đồng Bảo an không nắm trong tay quyền chỉ huy trực tiếp hoạt động tác chiến trên chiến trường Do vậy, khả năng kiểm soát của Hội đồng Bảo an đối với hoạt động của liên quân cũng rất hạn chế Trong các chiến dịch quân sự được sự cho phép của Hội đồng Bảo an, hiện tượng các quốc gia thành viên vì lợi ích riêng của mình
mà lạm dụng vũ lực, vi phạm luật lệ và tập quán chiến tranh, tấn công “nhầm” vào mục tiêu dân sự
và dân thường, không thực hiện đúng quy chế dành cho tù nhân chiến tranh hay giam giữ bất hợp pháp, tra tấn tù nhân vẫn còn xảy ra Hiện thực này không chỉ đặt Liên hợp quốc trước thử
Trang 5thách mới về đảm bảo nhân quyền tại những khu
vực mà Hội đồng Bảo an cho phép thành viên
trừng phạt vũ trang, mà còn làm suy giảm lòng
tin của cộng đồng quốc tế vào tính chính nghĩa
trong hoạt động cho phép thành viên trừng phạt
vũ trang của Hội đồng Bảo an Đây chính là lý do
để nhiều nước trong cộng đồng quốc tế tiếp tục
nghi ngờ tính hợp pháp cũng như phản đối sự
tồn tại của hoạt động sáng tạo pháp luật mà Liên
hợp quốc đang áp dụng
3 KẾT LUẬN
Trong hai quan điểm nêu trên, quan điểm áp dụng
phương thức cho phép thành viên trừng phạt vũ
trang đã được Hội đồng Bảo an vận dụng nhiều
lần trong thực tiễn hoạt động Điều đó cho thấy,
dù có hợp pháp hay không thì những nghị quyết
cho phép thành viên sử dụng sức mạnh vũ trang
để trừng phạt dưới “lá cờ” Liên hợp quốc của Hội
đồng Bảo an đã trở thành một thực tiễn phổ biến
khó có thể phủ nhận Để thuyết phục các quốc
gia chấp nhận phương thức này, bên cạnh việc
thúc đẩy Hội đồng Bảo an quản lý chặt chẽ hơn
nữa hoạt động trừng phạt vũ trang dưới “lá cờ”
Liên hợp quốc của các quốc gia thành viên, cộng
đồng quốc tế cần phải thiết lập nên cơ chế ràng
buộc trách nhiệm của các quốc gia có hành vi lạm
dụng vũ lực và cả trách nhiệm của Hội đồng Bảo
an khi không quản lý chặt chẽ để những hành vi
như vậy xảy ra trên thực tế Chỉ có vậy mới răn
đe, khống chế được các quốc gia thành viên
cũng như tăng cường trách nhiệm quản lý, giám
sát của Hội đồng Bảo an đối với quyết định cho
phép trừng phạt vũ trang của mình Bên cạnh đó,
trong tiến trình cải tổ Liên hợp quốc, các quốc
gia cũng cần thỏa thuận sửa đổi các quy định của
Hiến chương về phương thức sử dụng sức mạnh
vũ trang để trừng phạt trong khuôn khổ Liên hợp
quốc nhằm tránh những tranh cãi không cần
thiết liên quan đến cơ sở pháp lý của hoạt động
này trên thực tế./
Tài liệu tham khảo:
1 Lý Vân Anh (2004), “Những thực tiễn mới trong
an ninh tập thể hiện nay: giải thích chương VII
Hiến chương Liên hợp quốc”, Nghiên cứu quốc tế,
số 3(58), tr.28-29
2 Bùi Trường Giang (2007), “Cải cách Hội đồng bảo an Liên hợp quốc - một số chiều hướng và
nhận định”, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế
giới, số 1, tr.8-12.
3 Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Quốc
t, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
4 Trần Thanh Hải (2001), Cơ cấu tổ chức của Liên
hợp quốc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
5 Nguyễn Thị Hoài Hương (2008), Luận văn cao
học Luật “Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong duy
trì hòa bình và an ninh quốc tế” - Khoa Luật Đại học
Quốc gia
6 Hiến chương Liên hợp quốc
7 Các trang web: nghiencuuquocte.org; www mof.gov.vn
THE UNITED NATIONS’ FRAMEWORK OF MUSCLE PUNISHMENT – LEGAL REGULATIONS
AND PRACTICES Abstract: Among all present international
organizations, the United Nations is the only organization which is authorized by member states
to use armed force to punish those who poses threats to international peace and security With this special power, the United Nations is expected to better safeguard international peace and security Unfortunately, the Articles on this power of the UN Charter have ever been misinterpreted, and the concerted use of force under the banner of the
UN has been abused in reality This has triggered debates among countries on the legal bases for the UN’s use of force and the degree, domain and method of UN armed operations in certain cases
Keywords: United Nation, Security Coucil,
armed punishment, authorice members use all necessary means.
Ngày nhận: 22/6/2016 Ngày phản biện: 13/7/2016 Ngày duyệt đăng: 21/7/2016