1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Trừng phạt vũ trang trong khuôn khổ Liên hợp quốc - quy chế pháp lý và thực tiễn hoạt động

5 22 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 7,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 42 Hiến chương chỉ cho phép tiến hành trừng phạt vũ trang trong khuôn khổ Liên hợp quốc khi đáp ứng đủ hai yêu cầu: thứ nhất, tồn tại hành vi vi phạm pháp luật quốc tế bị Hội đồ[r]

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

Trong đời sống quốc tế hiện nay, do bị chi phối bởi quy luật lợi ích quốc gia đặt lên hàng đầu trong giải quyết các mối quan hệ quốc tế, một số quốc gia sẵn sàng vi phạm chính các quy phạm luật quốc tế mà họ đã xây dựng nên nếu việc vi phạm mang lại cho họ nhiều lợi ích hơn là nghiêm chỉnh tuân thủ luật quốc tế Vì thế, để bảo vệ sự tôn nghiêm của pháp luật, trong quá trình xây dựng luật quốc tế, các quốc gia cũng đồng thời thoả thuận xây dựng nên những cơ chế giám sát quốc

tế có chức năng ngăn ngừa khả năng vi phạm luật quốc tế và trừng trị những hành vi vi phạm nghiêm trọng luật quốc tế trong trường hợp cần thiết Một trong các cơ chế giám sát quốc tế được các quốc gia thỏa thuận thành lập nên chính là Liên hợp quốc So với các cơ chế giám sát quốc

tế khác, Liên hợp quốc là thiết chế có quyền lực mạnh mẽ nhất khi được thành viên thỏa thuận trao cho quyền trừng phạt vũ trang Trên phương diện pháp luật, dù có quyền lực mạnh mẽ nhất nhưng không có nghĩa Liên hợp quốc có quyền lực vô hạn Quyền lực của Liên hợp quốc do các quốc gia thành viên trao cho và được ghi nhận

cụ thể trong Hiến chương, Liên hợp quốc buộc phải tuân thủ Hiến chương Nếu Liên hợp quốc

TRỪNG PHẠT VŨ TRANG TRONG KHUÔN KHỔ LIÊN HỢP QUỐC

- QUY CHẾ PHÁP LÝ

VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG

NGUYỄN THỊ HOÀI HƯƠNG

Học viện Khoa học Quân sự

TÓM TẮT

Trong tất cả các tổ chức quốc tế hiện nay,

Liên hợp quốc là tổ chức duy nhất được các

quốc gia thành viên thỏa thuận trao cho

quyền trừng phạt vũ trang những chủ thể

có hành vi đe dọa nghiêm trọng đến hòa

bình và an ninh quốc tế Quyền hạn đặc biệt

này được các quốc gia kỳ vọng sẽ giúp Liên

hợp quốc đủ sức mạnh để hoàn thành chức

năng bảo vệ pháp luật trong lĩnh vực duy trì

hòa bình và an ninh quốc tế Tuy nhiên trên

thực tế, vì nhiều lý do khác nhau, phương

thức triển khai thực hiện quyền trừng phạt

vũ trang của Liên hợp quốc lại không giống

với phương thức mà Hiến chương Liên hợp

quốc đã dự liệu Điều này dẫn đến sự tranh

cãi giữa các quốc gia về cơ sở pháp lý cũng

như phương thức trừng phạt vũ trang trên

thực tế mà Liên hợp quốc đang áp dụng

Từ khóa: cho phép thành viên trừng phạt vũ

trang, Hội đồng Bảo an, Liên hợp quốc, trừng

phạt vũ trang.

Trang 2

vi phạm Hiến chương thì các quyết định của Liên

hợp quốc sẽ mất đi căn cứ pháp lý và giá trị bắt

buộc thi hành Chính vì vậy, khi thực hiện quyền

trừng phạt vũ trang, do không thể triển khai

phương thức trừng phạt vũ trang mà Hiến chương

dự liệu, Liên hợp quốc đã khiến các nước thành

viên tranh cãi về tính hợp pháp của hoạt động

“sáng tạo” ra phương thức trừng phạt vũ trang

khác so với những quy định của Hiến chương

2 NỘI DUNG

2.1 Quy chế pháp lý của quyền trừng phạt vũ trang

Theo quy định của Điều 42 Hiến chương Liên hợp

quốc, Hội đồng Bảo an - cơ quan đại diện cho

Liên hợp quốc thực hiện chức năng duy trì hòa

bình và an ninh quốc tế - có quyền quyết định

áp dụng mọi hành động của lực lượng hải, lục,

không quân để tiến hành các cuộc biểu dương

lực lượng, phong tỏa hay những cuộc hành quân

khác mà Hội đồng Bảo an xét thấy cần thiết cho

việc duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh

quốc tế Điều này có nghĩa, Hiến chương Liên hợp

quốc cho phép Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc có

quyền sử dụng sức mạnh vũ trang đối với những

quốc gia có hành vi đe dọa nghiêm trọng hòa

bình và an ninh quốc tế nhằm trừng phạt cũng

như hạn chế, triệt tiêu các điều kiện cho phép các

quốc gia này tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm

Bên cạnh việc cho phép Liên hợp quốc có quyền

trừng phạt vũ trang, các quốc gia thành viên Liên

hợp quốc cũng thỏa thuận xây dựng trong Hiến

chương phương thức mà Hội đồng Bảo an cần sử

dụng để tiến hành hoạt động trừng phạt ấy Rút

kinh nghiệm từ những thất bại mà tổ chức tiền

thân của Liên hợp quốc - Hội quốc liên - đã mắc

phải khi không đủ năng lực để bảo vệ hòa bình

và an ninh quốc tế, các thành viên sáng lập của

Liên hợp quốc kỳ vọng xây dựng nên một tổ chức

Liên hợp quốc vừa có trong tay sức mạnh quân sự

thực sự, vừa độc lập để không bị chi phối nhiều

bởi lập trường của từng thành viên Sự tồn tại của

lực lượng quân đội quốc tế của Liên hợp quốc

được ghi nhận trong Hiến chương chính là biểu

hiện của kỳ vọng đó Theo đó, Hội đồng Bảo an có

trách nhiệm đại diện cho Liên hợp quốc tổ chức

nên lực lượng này bằng cách ký kết với các quốc

gia thành viên Liên hợp quốc những hiệp định, thỏa thuận về việc ủng hộ quân đội và những trợ giúp cần thiết theo quy định tại Điều 43 Hiến chương Liên hợp quốc Bên cạnh việc thành lập

và sử dụng lực lượng quân đội của Liên hợp quốc, Hội đồng Bảo an cũng có thể sử dụng lực lượng

vũ trang được thành lập bởi những hiệp định hoặc những tổ chức khu vực dưới sự điều khiển của mình theo quy định của Điều 53 Hiến chương Liên hợp quốc Cả hai phương thức sử dụng sức mạnh vũ trang nêu trên đều được triển khai dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Uỷ ban Tham mưu quân sự Uỷ ban này (được thành lập theo Điều

47 Hiến chương) trực thuộc Hội đồng Bảo an có chức năng tư vấn và giúp Hội đồng Bảo an khi Hội đồng Bảo an quyết định triển khai các hoạt động trừng phạt vũ trang Đây là hai phương thức sử dụng sức mạnh vũ trang để cưỡng chế duy nhất

mà Hiến chương ghi nhận cho Liên hợp quốc nói chung và Hội đồng Bảo an nói riêng Không có điều khoản nào khác của Hiến chương Liên hợp quốc, đặc biệt là trong chương VII - chương duy nhất cho phép Hội đồng Bảo an sử dụng sức mạnh vũ trang tập thể - quy định rõ ràng thẩm quyền của Hội đồng Bảo an được sử dụng sức mạnh vũ trang theo bất cứ cách nào khác

2.2 Thực tiễn áp dụng quyền trừng phạt vũ trang

Trên thực tế, kể từ năm 1945 khi Liên hợp quốc bắt đầu đi vào hoạt động cho đến nay, chưa

có một hiệp định song phương theo quy định tại Điều 43 nào được ký kết Điều này có nghĩa, không có bất kỳ quốc gia thành viên nào trong

số 193 thành viên của Liên hợp quốc hiện nay sẵn sàng ký với Hội đồng Bảo an một hiệp định cung cấp cho Liên hợp quốc lực lượng quân đội quốc tế mà Điều 43 đề cập Và như vậy, một đội quân thường trực của Liên hợp quốc mới chỉ tồn tại trên lý thuyết theo ghi nhận của Hiến chương chứ không hề tồn tại trên thực tế Thêm vào đó,

Uỷ ban Tham mưu quân sự quy định ở Điều 47 Hiến chương Liên hợp quốc dù đã được thành lập nhưng cũng đã giải tán, bộ phận dân sự của

Uỷ ban này được sáp nhập vào Ban thư ký Liên hợp quốc năm 1957 Khi không tồn tại cả quân đội của Liên hợp quốc lẫn Uỷ ban tham mưu quân

sự hỗ trợ Liên hợp quốc chỉ huy các chiến dịch

Trang 3

trừng phạt vũ trang thì phương thức sử dụng vũ

lực theo quy định của chương VII Hiến chương

Liên hợp quốc cũng không thể vận hành Để khắc

phục thực trạng này, khi cần sử dụng lực lượng

vũ trang để triển khai các chiến dịch trừng phạt,

một mặt, Hội đồng Bảo an áp dụng Điều 53 Hiến

chương tăng cường sử dụng lực lượng quân đội

hình thành từ các Hiệp định hay tổ chức khu vực

theo sự thỏa thuận giữa hai bên Mặt khác, Hội

đồng Bảo an đã có “sáng kiến” ban hành nghị

quyết cho phép các quốc gia thành viên sử dụng

mọi biện pháp cần thiết, tức là cho phép sử dụng

sức mạnh vũ trang dưới “lá cờ” Liên hợp quốc để

trừng phạt những chủ thể có hành vi vi phạm

nghiêm trọng luật pháp quốc tế

Hội đồng Bảo an cho phép các quốc gia thành

viên tiến hành trừng phạt vũ trang lần đầu trong

cuộc chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên năm

1950, song đó cũng là lần duy nhất trong suốt 45

năm Bởi lẽ, trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, do sự

đối đầu giữa hai phe Đông - Tây, các thành viên

thường trực, đặc biệt là Mỹ và Liên Xô, thường

sử dụng quyền phủ quyết khiến Hội đồng Bảo

an tê liệt Mãi cho đến năm 1990, với sự chấm

dứt của Chiến tranh Lạnh, Hội đồng Bảo an mới

lại thông qua nghị quyết 665 và 678 cho phép

các nước thành viên Liên hợp quốc sử dụng tất

cả những biện pháp cần thiết (bao gồm cả biện

pháp quân sự) đối với Irắc nhằm khôi phục hòa

bình và an ninh quốc tế ở khu vực vùng Vịnh Kể

từ cuộc chiến tranh Irắc năm 1990, Hội đồng Bảo

an đã thông qua một loạt nghị quyết cho phép

các nước thành viên trừng phạt vũ trang dựa trên

các quy định ở chương VII Hiến chương như: các

Nghị quyết 770, 787, 816, 836, 908, 1031, 1088,

1174, 1244, 1247 về xung đột ở Nam Tư cũ; Nghị

quyết 794 về Xômali; Nghị quyết 929 về Ruanđa;

Nghị quyết 940 về Haiti; Nghị quyết 1264 về Đông

Timo và gần đây là Nghị quyết 1973 cho phép

các nước thành viên sử dụng sức mạnh vũ trang

với chính quyền Gaddafi nhằm bảo vệ thường

dân trong cuộc nổi dậy tại Libi năm 2011

2.3 Những tranh cãi về việc áp dụng quyền

trừng phạt vũ trang

Việc Hội đồng Bảo an ban hành nghị quyết cho

phép các quốc gia thành viên tiến hành trừng

phạt vũ trang dưới “lá cờ” của Liên hợp quốc đã gây ra nhiều ý kiến tranh cãi khác nhau giữa các nước trong cộng đồng quốc tế về tính hợp pháp của những hoạt động này Ý kiến không đồng tình với hoạt động này của Hội đồng Bảo an (ví

dụ như Cu Ba, Yêmen và Trung Quốc trong chiến dịch quân sự của Liên hợp quốc tại Irắc năm 1990; Trung Quốc và Ấn Độ trong vụ Xômali năm 1992, Mêhicô trong vụ Haiti năm 1993 ) cho rằng, Liên hợp quốc là một thiết chế giám sát quốc tế, mọi hành vi của Liên hợp quốc phải tuân thủ Hiến chương Điều 42 Hiến chương chỉ cho phép tiến hành trừng phạt vũ trang trong khuôn khổ Liên hợp quốc khi đáp ứng đủ hai yêu cầu: thứ nhất, tồn tại hành vi vi phạm pháp luật quốc tế bị Hội đồng Bảo an quy kết là hành vi đe dọa, phá hoại hòa bình hay hành vi xâm lược cần thiết phải áp dụng biện pháp trừng phạt vũ trang; thứ hai, hành động trừng phạt vũ trang của Liên hợp quốc phải được triển khai theo phương thức đã được dự liệu tại chương VII Hiến chương, tức là phải sử dụng lực lượng quân đội của Liên hợp quốc hoặc lực lượng vũ trang được hình thành từ các Hiệp định hoặc tổ chức khu vực dưới sự chỉ huy của Hội đồng Bảo an mà đại diện là Uỷ ban tham mưu quân sự Điều 42 Hiến chương Liên hợp quốc vì thế không thể là căn cứ chứng minh cho tính hợp pháp của các nghị quyết cho phép các nước thành viên sử dụng sức mạnh vũ trang

để trừng phạt dưới “lá cờ” Liên hợp quốc của Hội đồng Bảo an Quyền tự vệ tập thể được quy định tại Điều 51 Hiến chương cũng không thể là căn cứ chứng minh cho hành động trên thực tế này của Hội đồng Bảo an Do đó, những nghị quyết cho phép các quốc gia thành viên sử dụng sức mạnh

vũ trang để trừng phạt dưới “lá cờ” Liên hợp quốc của Hội đồng Bảo an là bất hợp pháp Ngoài ra, ý kiến không đồng tình với hoạt động thực tiễn này của Hội đồng Bảo an cho rằng sáng kiến của Hội đồng Bảo an không phải là một sáng kiến lưỡng toàn trong mọi trường hợp Việc xây dựng thành công một đội quân của Liên hợp quốc nằm dưới quyền chỉ huy của Uỷ ban tham mưu quân sự theo đúng quy định của chương VII Hiến chương Liên hợp quốc vẫn là giải pháp tối ưu hơn so với sáng kiến cho phép thành viên sử dụng sức mạnh

vũ trang để trừng phạt của Hội đồng Bảo an nếu xét theo nghĩa nó giúp Hội đồng Bảo an có quyền

Trang 4

chủ động hơn trong quá trình thực hiện nhiệm

vụ của mình Bởi lẽ, áp dụng sáng kiến của Hội

đồng Bảo an sẽ khiến Liên hợp quốc phụ thuộc

rất lớn vào các nước thành viên, chiến dịch quân

sự mà Hội đồng Bảo an dự định tiến hành khó có

thể triển khai ở những khu vực không có vị trí địa

chiến lược quan trọng - nơi lời kêu gọi, cho phép

trừng phạt vũ trang không thu hút được sự quan

tâm của các nước thành viên Liên hợp quốc

Ngược lại với ý kiến nêu trên, nhiều chủ thể khác

trong cộng đồng quốc tế như Anh, Mỹ, Itxaren

thông qua quá trình bỏ phiếu tại Liên hợp quốc

lại thể hiện quan điểm cho rằng Liên hợp quốc

hoàn toàn có “quyền hạn ngầm” cho phép quốc

gia thành viên sử dụng sức mạnh vũ trang để

cưỡng chế trong trường hợp cần thiết Quyền hạn

này không được quy định một cách rõ ràng trong

Hiến chương nhưng có thể rút ra từ việc giải thích

một cách linh hoạt chương VII Hiến chương Liên

hợp quốc Theo họ, Hội đồng Bảo an có quyền

đại diện cho Liên hợp quốc sử dụng sức mạnh vũ

trang để trừng phạt theo Điều 42 Hiến chương,

nhưng lại không thể thiết lập lực lượng quân đội

của Liên hợp quốc theo Điều 43 Hiện thực này

không phải do Liên hợp quốc mà là do các quốc

gia thành viên của Liên hợp quốc không sẵn sàng

ký hiệp định giúp Hội đồng Bảo an xây dựng lực

lượng quân đội được Hiến chương dự liệu Thêm

vào đó, Uỷ ban tham mưu quân sự có nhiệm vụ

giúp Liên hợp quốc chỉ huy các chiến dịch trừng

phạt vũ trang cũng không còn tồn tại trên thực

tế Nếu cứ rập khuôn đúng những quy định rõ

ràng về phương thức sử dụng vũ lực được ghi

nhận trong Hiến chương thì Hội đồng Bảo an sẽ

không bao giờ thực hiện được quyền trừng phạt

vũ trang Vấn đề là, dù không triển khai được các

chiến dịch quân sự theo đúng phương thức quy

định ở chương VII Hiến chương Liên hợp quốc,

Hội đồng Bảo an vẫn phải thực hiện chức năng

duy trì hòa bình và an ninh quốc tế mà các nước

thành viên Liên hợp quốc đã giao phó Thực tế cho

thấy Hội đồng Bảo an khó có thể đảm nhận thành

công chức năng ấy nếu như không sử dụng được

quyền hạn có tính răn đe và trừng phạt mạnh mẽ

nhất mà mình có là quyền trừng phạt vũ trang đối

với quốc gia có hành vi đe dọa nghiêm trọng hòa

bình và an ninh quốc tế Vì thế, cần thiết phải để

Hội đồng Bảo an sử dụng phương thức khác ngoài phương thức đã được dự liệu trong Hiến chương

để hiện thực hóa quyền trừng phạt vũ trang của mình Đó chính là quyền kêu gọi, cho phép các quốc gia thành viên nhân danh Liên hợp quốc trừng phạt vũ trang Hơn nữa, về nguyên tắc, bản thân Hiến chương cũng không hoàn toàn cấm Hội đồng Bảo an ra nghị quyết cho phép sử dụng sức mạnh vũ trang trong quan hệ quốc tế Theo Điều 53 Hiến chương, Hội đồng Bảo an có thể

sử dụng những hiệp định hoặc tổ chức khu vực

để đảm bảo các hành động cưỡng chế dưới sự điều khiển của mình Điều 53 cũng quy định rõ

“không một hành động cưỡng chế nào được thi hành chiếu theo các hiệp định khu vực hay do các

tổ chức khu vực, nếu không được Hội đồng Bảo

an cho phép ” Điều này cho thấy, dù không phải

là phương thức trừng phạt vũ trang nằm trong

ý tưởng ban đầu của Hiến chương, nhưng hành động cho phép thành viên trừng phạt vũ trang của Hội đồng Bảo an cũng không trái với Hiến chương Liên hợp quốc Áp dụng sáng kiến này không chỉ giúp Hội đồng Bảo an sử dụng được trên thực tế công cụ mạnh mẽ nhất mà thành viên của Liên hợp quốc trao cho để bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế, mà còn giúp Liên hợp quốc giải quyết được gánh nặng tài chính khi không phải duy trì hoạt động thường xuyên của lực lượng quân đội của Liên hợp quốc và Uỷ ban tham mưu quân sự như Hiến chương đã đề cập Vấn đề đặt ra ở đây hiện nay là khi cho phép các thành viên thay mặt Liên hợp quốc sử dụng sức mạnh vũ trang để trừng phạt quốc gia có hành vi

đe dọa, phá hoại hòa bình hay hành vi xâm lược, Hội đồng Bảo an không nắm trong tay quyền chỉ huy trực tiếp hoạt động tác chiến trên chiến trường Do vậy, khả năng kiểm soát của Hội đồng Bảo an đối với hoạt động của liên quân cũng rất hạn chế Trong các chiến dịch quân sự được sự cho phép của Hội đồng Bảo an, hiện tượng các quốc gia thành viên vì lợi ích riêng của mình

mà lạm dụng vũ lực, vi phạm luật lệ và tập quán chiến tranh, tấn công “nhầm” vào mục tiêu dân sự

và dân thường, không thực hiện đúng quy chế dành cho tù nhân chiến tranh hay giam giữ bất hợp pháp, tra tấn tù nhân vẫn còn xảy ra Hiện thực này không chỉ đặt Liên hợp quốc trước thử

Trang 5

thách mới về đảm bảo nhân quyền tại những khu

vực mà Hội đồng Bảo an cho phép thành viên

trừng phạt vũ trang, mà còn làm suy giảm lòng

tin của cộng đồng quốc tế vào tính chính nghĩa

trong hoạt động cho phép thành viên trừng phạt

vũ trang của Hội đồng Bảo an Đây chính là lý do

để nhiều nước trong cộng đồng quốc tế tiếp tục

nghi ngờ tính hợp pháp cũng như phản đối sự

tồn tại của hoạt động sáng tạo pháp luật mà Liên

hợp quốc đang áp dụng

3 KẾT LUẬN

Trong hai quan điểm nêu trên, quan điểm áp dụng

phương thức cho phép thành viên trừng phạt vũ

trang đã được Hội đồng Bảo an vận dụng nhiều

lần trong thực tiễn hoạt động Điều đó cho thấy,

dù có hợp pháp hay không thì những nghị quyết

cho phép thành viên sử dụng sức mạnh vũ trang

để trừng phạt dưới “lá cờ” Liên hợp quốc của Hội

đồng Bảo an đã trở thành một thực tiễn phổ biến

khó có thể phủ nhận Để thuyết phục các quốc

gia chấp nhận phương thức này, bên cạnh việc

thúc đẩy Hội đồng Bảo an quản lý chặt chẽ hơn

nữa hoạt động trừng phạt vũ trang dưới “lá cờ”

Liên hợp quốc của các quốc gia thành viên, cộng

đồng quốc tế cần phải thiết lập nên cơ chế ràng

buộc trách nhiệm của các quốc gia có hành vi lạm

dụng vũ lực và cả trách nhiệm của Hội đồng Bảo

an khi không quản lý chặt chẽ để những hành vi

như vậy xảy ra trên thực tế Chỉ có vậy mới răn

đe, khống chế được các quốc gia thành viên

cũng như tăng cường trách nhiệm quản lý, giám

sát của Hội đồng Bảo an đối với quyết định cho

phép trừng phạt vũ trang của mình Bên cạnh đó,

trong tiến trình cải tổ Liên hợp quốc, các quốc

gia cũng cần thỏa thuận sửa đổi các quy định của

Hiến chương về phương thức sử dụng sức mạnh

vũ trang để trừng phạt trong khuôn khổ Liên hợp

quốc nhằm tránh những tranh cãi không cần

thiết liên quan đến cơ sở pháp lý của hoạt động

này trên thực tế./

Tài liệu tham khảo:

1 Lý Vân Anh (2004), “Những thực tiễn mới trong

an ninh tập thể hiện nay: giải thích chương VII

Hiến chương Liên hợp quốc”, Nghiên cứu quốc tế,

số 3(58), tr.28-29

2 Bùi Trường Giang (2007), “Cải cách Hội đồng bảo an Liên hợp quốc - một số chiều hướng và

nhận định”, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế

giới, số 1, tr.8-12.

3 Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Quốc

t, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

4 Trần Thanh Hải (2001), Cơ cấu tổ chức của Liên

hợp quốc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

5 Nguyễn Thị Hoài Hương (2008), Luận văn cao

học Luật “Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong duy

trì hòa bình và an ninh quốc tế” - Khoa Luật Đại học

Quốc gia

6 Hiến chương Liên hợp quốc

7 Các trang web: nghiencuuquocte.org; www mof.gov.vn

THE UNITED NATIONS’ FRAMEWORK OF MUSCLE PUNISHMENT – LEGAL REGULATIONS

AND PRACTICES Abstract: Among all present international

organizations, the United Nations is the only organization which is authorized by member states

to use armed force to punish those who poses threats to international peace and security With this special power, the United Nations is expected to better safeguard international peace and security Unfortunately, the Articles on this power of the UN Charter have ever been misinterpreted, and the concerted use of force under the banner of the

UN has been abused in reality This has triggered debates among countries on the legal bases for the UN’s use of force and the degree, domain and method of UN armed operations in certain cases

Keywords: United Nation, Security Coucil,

armed punishment, authorice members use all necessary means.

Ngày nhận: 22/6/2016 Ngày phản biện: 13/7/2016 Ngày duyệt đăng: 21/7/2016

Ngày đăng: 01/04/2021, 13:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w