Từ góc nhìn Sinh thái văn hóa, tín ngưỡng Cá Ông là tập hợp của những mô thức ứng xử, trải nghiệm của cư dân Nam Bộ trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên biển đảo[r]
Trang 1ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY
Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: http://sj.sgu.edu.vn/
GÓC NHÌN SINH THÁI VĂN HÓA VỀ CÁC MÔ THỨC ỨNG XỬ,
TRẢI NGHIỆM CỦA CƯ DÂN BIỂN ĐẢO NAM BỘ
TRONG TÍN NGƯỠNG CÁ ÔNG
Eco-cultural view on the models of conduct, experience of South island residents
in Ông Fish beliefs
TS Nguyễn Đăng Khánh
Trường Đại học Sài Gòn
TÓM TẮT
Tín ngưỡng Cá Ông là bộ phận quan trọng của lớp văn hoá biển Nam Bộ với chiều kích của hàng trăm triệu năm thành tạo về sinh thái tự nhiên và hàng trăm năm thành tạo về sinh thái nhân văn Từ góc nhìn
Sinh thái văn hóa, tín ngưỡng Cá Ông là tập hợp của những mô thức ứng xử, trải nghiệm của cư dân
Nam Bộ trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên biển đảo Đó là những mô thức về nhận thức đối tượng thờ, mô thức nhân hóa với hệ thống danh xưng, mô thức thần hóa với quá trình thiêng hóa và biểu tượng hóa, mô thức tang chế với quá trình lập mộ, xây lăng và mô thức nghi lễ thờ cúng Tất cả đều được dung hợp trong tín ngưỡng được xem là nổi bật nhất của cư dân vùng biển đảo phương Nam
Từ khóa: biển đảo, Cá Ông, mô thức, tín ngưỡng, trải nghiệm
ABSTRACT
Ông Fish (the Whale) beliefs are an important part of Southern sea cultural layer with the dimension of hundreds of millions of years of creation on natural ecology and hundreds of years of creation on human ecology From the viewpoint of Cultural Ecology, Ông Fish beliefs are a collection of behaviours and experiences of Southern residents in the process of interacting with the natural environment of the sea and islands These are the models of the awareness of the object for worship, the model of personalization with the name system, the deification model with the process of sanctification and symbolization, the funeral model with the process of setting up a tomb, building the tomb and the rituals
of worship All are integrated in the belief that is considered the most prominent residents of the Southern islands
Keywords: island waters, Ông Fish, model, beliefs, experience
1 Đặt vấn đề
Tín ngưỡng Cá Ông là bộ phận quan
trọng trong chiều kích của văn hoá biển
Nam Bộ, mang dấu ấn của hàng trăm triệu
năm thành tạo về sinh thái tự nhiên và hàng
trăm năm thành tạo về sinh thái nhân văn
Đã có một số công trình của Nguyễn Thanh Lợi, Nguyễn Duy Thiệu, Nguyễn Chí Bền và một vài tác giả khác đề cập đến một vài phương diện về quá trình hình thành, nội dung và một số nghi lễ thờ cúng, nhưng từ góc độ sinh thái văn hóa thì chưa Email: dangkhanhvhdlsgu@gmail.com
Trang 2có một công trình nào bàn tới một cách
toàn diện, chuyên sâu và tường minh Bài
viết này, đứng từ góc độ sinh thái văn hóa
(cultural ecology) của ngành nhân học biển
(maritime anthropology), tìm hiểu những
mô thức ứng xử và sự trải nghiệm, sáng tạo
văn hóa dựa trên tâm lý và bản sắc cộng
đồng thông qua sự thích ứng (adaptation)
giữa cư dân và ngư dân người Việt, người
Hoa, người Khmer trong quá trình tương
tác với môi trường biển đảo Qua đó, bản
chất và giá trị của tín ngưỡng Cá Ông được
nhìn nhận đúng với vai trò của nó trong đời
sống văn hóa tâm linh của cư dân tại vùng
đất mới phương Nam
2 Các mô thức ứng xử, trải nghiệm
trong tín ngưỡng Cá Ông
Tín ngưỡng Cá Ông là tập hợp của
những niềm tin, thái độ, hành vi ứng xử
của con người với tự nhiên và với chính
mình nhằm biểu hiện sự tôn kính đối với
Cá Ông, vị Phúc thần của cư dân biển đảo
Nam Bộ Từ phương diện sinh thái, tín
ngưỡng này là kết quả của sự ứng xử, trải
nghiệm cuộc sống sinh tồn của cư dân làm
nghề đánh bắt và đi lại trên biển với sự
may rủi, bất trắc, phụ thuộc vào tự nhiên,
cũng như những kinh nghiệm ứng xử thực
tiễn với môi trường - một phần tri thức bản
địa vốn được hình thành, tích lũy bao đời
trên nền cảnh sinh thái biển đảo Nam Bộ
Đó là sản phẩm của sự tương tác
(interaction) với môi trường tự nhiên do
chính cư dân Nam Bộ đạt được và có sự
trải nghiệm thông qua những mô thức ứng
xử dưới đây
2.1 Mô thức ứng xử, trải nghiệm qua
nhận thức đối tượng thờ
Cá Ông trong số đối tượng thờ của cư
dân và ngư dân Nam Bộ, trước hết được
quan niệm là loài sinh vật biển, to lớn bậc
nhất trong đại dương, một đại diện của môi
trường tự nhiên, của hệ sinh thái biển đảo
Về mặt nhận thức tín ngưỡng, Cá Ông bắt nguồn từ quan niệm “vạn vật hữu linh” (animistic religions) có trong truyền thống tâm linh xa xưa Với người Chăm, trong tín ngưỡng của họ, đối tượng thờ là Cá Voi sống dưới nước qua linh hồn Pô Riyak -Thần Sóng Biển Với tín ngưỡng người Việt ở Trung Bộ, Cá Ông được thần hóa thành Thần Biển- một nam thần nên nhà Nguyễn phong là “Nam Hải Long Vương” Còn với người dân vùng đất mới Nam Bộ, nhất là cư dân từ vùng biển đảo Kiên Giang tới Bạc Liêu lại xem Cá Ông là nữ thần biển, do được giao phối với con Rồng trên Trời nên rất linh thiêng (Phan Thị Yến Tuyết, 2016, tr 409) Từ đó, Cá Ông được siêu thăng thành đối tượng thờ trong tín ngưỡng nghề ngư Đây là sản phẩm nhận thức kết hợp giữa truyền thống tâm linh và
tư duy hướng biển của chủ thể người Việt
Sự xác tín khác biệt rõ nhất trong mô thức nhận thức về đối tượng thờ, bên cạnh các
cơ tầng văn hóa biển khác, đó chính là quan niệm “tại Nam vi thần, tại Bắc vi ngư” (ở phía Nam là thần, ở phía Bắc chỉ là cá) Đây là lí do Cá Ông luôn chiếm một
vị trí đặc biệt trong hệ thống thần linh ở Nam Bộ
Qua thực tiễn tương tác, trải nghiệm của việc đánh bắt cá và đi lại trên biển, việc
Cá Ông thở bằng phổi và thường ngoi lên mặt biển để hít thở được cư dân và ngư dân
Nam Bộ gọi là “lên vọi”, phát âm theo phương ngữ Nam Bộ là “lên dọi” Hiện
tượng này được họ quan niệm là may mắn, thuyền ghe sẽ được nhiều tôm cá và làm ăn phát tài Điều này cũng là sự giải thích tại
sao Ông vọi lại là một phần nghi thức quan
trọng trong lễ Nghinh Ông trên biển Cũng chính từ thực tiễn trải nghiệm mà hai tập tính sinh vật học: (i) Cá Ông thường men
Trang 3theo những vật nổi trên mặt biển để bơi vào
bờ, tránh sóng lớn khi biển động; (ii) do
phải ăn nhiều cá nhỏ, nên nơi nào Cá Ông
xuất hiện thì nơi ấy chắc chắn có nhiều cá
(đã được ngư dân đúc kết thành kinh
nghiệm và khi ra khơi, họ dựa vào đó thả
lưới là có mẻ cá đầy) Sự tương tác ấy thật
sự có ý nghĩa bởi hai tập tính đó của Cá
Ông được thể hiện trên cả hai phương diện:
sự chỉ dẫn nơi có nhiều cá để ngư dân đánh
bắt (thế tục); sự cứu độ, hộ mạng người gặp
nạn trên biển (thần linh) Đây có thể xem là
giá trị của sự tương tác đáng chú ý nhất
trong tín ngưỡng Cá Ông, minh chứng cho
mối quan hệ mang tính cộng tồn
(coexistence) giữa con người với sinh vật tự
nhiên trong biển cả Từ đây, mô thức ứng
xử, trải nghiệm thứ nhất về đối tượng thờ
được khái quát như sau:
Đối tượng
thờ Cá Ông
=
Vật linh +
tín niệm
Nho, Phật,
Đạo
Yếu tố tự nhiên
Yếu tố thần hóa
Sinh vật biển: sự chỉ
dẫn nơi biển
có nhiều cá
để đánh bắt
Thần Biển: sự
cứu độ, hộ mạng người gặp nạn trên biển
Mô thức khái quát này chỉ rõ hai
phương diện mà cư dân biển đảo Nam Bộ
đã ứng xử, trải nghiệm Bởi không ai có thể
hiểu hơn về cuộc sống của chính họ gắn
với nhận thức truyền đời: tàu thuyền là
nhà, biển cả là quê hương Đã bao lần
quăng quật với sóng biển, đối mặt với hiểm
nguy, có khi gặp sóng to, gió lớn, mưa bão
dữ dội, tàu thuyền nhỏ bé không thể chống
đỡ, bao nhiêu lần tử thần gọi tên nhưng họ
tin rằng có Cá Ông là vị cứu tinh, sẵn sàng
giúp đỡ nên họ được tiếp thêm động lực để
kiên cường bám biển Họ coi Cá Ông xuất
hiện là một điềm lành, một sự may mắn, và
coi như một điểm tựa, một chỗ dựa tâm linh Qua những nơi điền dã, tiếp xúc với nhiều ngư dân, chúng tôi nhận thấy, họ có một xác tín gần như mặc định rằng, Cá Ông có thể nghe được tiếng người và khi nghe những lời cầu khấn thì đến ngay lập tức Do vậy, tại thị trấn Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh, trên Ngọc cốt
Cá Ông của Lăng Ông Thủy tướng, ngư
dân ở đây đã tri ân bằng hàng chữ trang
trọng “Hữu cầu tất ứng” cùng câu thơ:
“Biển trời bát ngát mênh mông/ Trong cơn bão tố Cá Ông cứu người” Còn tại Bà Rịa
- Vũng Tàu, người dân lại đặt tên cho một
hòn đảo ngoài khơi chưa có người ở là Hòn
Cá Ông hay Hòn Ông
Điều đáng chú ý trong mô thức ứng
xử, trải nghiệm thứ nhất này là có sự mở rộng, bổ sung những tín niệm tôn giáo vào sắc màu “vật linh” quen thuộc Đó là tín niệm “âm dương đồng nhất lý” của Nho giáo, tín niệm mang tính huyền bí trong nghi lễ thờ cúng của Đạo giáo, và tín niệm
Cá Ông nằm trong thập loại cô hồn, gồm mười loại của tứ sanh và lục đạo theo quan niệm của Phật giáo Vì vậy, các nhà sư đóng vai trò khá lớn khi thực hành nghi lễ thờ cúng tại các lăng Ông hay nơi đình làng Đây là điểm khác biệt về ứng xử và trải nghiệm trong quá trình phát triển tín ngưỡng Cá Ông ở Nam Bộ so với Trung
Bộ Mô thức nhận thức ấy có ý nghĩa nhân bản, nhân sinh, lan tỏa những giá trị tâm linh sang cộng đồng người Hoa, người Khmer và được họ đón nhận, cộng cảm, lập bài vị thờ cúng Nhờ vậy, ý thức bảo vệ
Cá Ông nói riêng và môi trường sinh thái biển nói chung được ngư dân gìn giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ, tạo nên những giá trị truyền thống văn hóa tín ngưỡng đặc sắc Nhìn rộng ra một chút, một số cộng đồng vùng ven biển Thái Bình Dương vẫn
Trang 4thờ cá voi, song cách nhận thức, cách thần
hóa như trường hợp Cá Ông ở Nam Bộ thì
hầu như không thấy Vì tính tiêu biểu, điển
hình ấy mà có nhà nghiên cứu đã mạnh dạn
đề xuất lấy Cá Ông làm hình ảnh đại diện
cho “thương hiệu biển Việt Nam” (Nguyễn
Duy Thiệu, 2011, tr.66)
2.2 Mô thức ứng xử trải nghiệm qua
nhân hóa Cá Ông
Mô thức ứng xử trải nghiệm qua nhân
hóa (personification) là mô thức gắn những
đặc điểm thuộc tính của người cho đối
tượng thuộc thế giới tự nhiên là Cá Ông,
nhằm đưa đối tượng sinh vật đó gia nhập
vào đời sống con người, và đồng thời, ở
chiều ngược lại, là cách đưa con người hòa
hợp với tự nhiên, trở về mái nhà quen thuộc
của Mẹ Tự nhiên (Mother Nature) Bản
chất của quá trình này là sự chuyển dịch
các giá trị từ thiên sinh đến nhân sinh, tạo
ra hệ giá trị mới bằng chính sự trải nghiệm
mà con người đạt được, nhất là sự tiếp thu
và tôn vinh một số đạo lý cổ truyền thấm
đượm tính nhân văn của dân tộc qua hình
tượng Cá Ông, một sinh vật biển có ích
được nhân hoá và biết ơn, kính nghĩa Đây
là cái lõi nhân văn, lõi hiện thực của tín
ngưỡng Cá Ông Sự trải nghiệm qua việc
đặt ra một hệ thống danh xưng
(onomasiolgy) bao gồm hàng chục tên gọi
để định danh cho một loài sinh vật biển và
sử dụng rộng rãi cả trong đời sống dân dã
lẫn đời sống cung đình là trường hợp chưa
từng thấy trong các cộng đồng cư dân biển
đảo ở nhiều khu vực trên thế giới Trong
khi người Chăm chỉ gọi cá Voi là Ông
Limân (ikan limưn) do thần Pô Riyak hóa
thân thì người Việt, ngoài tên gọi “Hải
Thu”, “Hải Tù”, “cá Kiến Đồng”, “Bạch
Tượng” được ghi trong các sách cổ Việt
Nam và Trung Hoa mà nhà nghiên cứu
Nguyễn Thanh Lợi có nhắc đến (trong
2007, tr.62) thì còn hàng loạt danh xưng do dân gian và do nhà nước phong kiến đặt cho Cá Ông với mức tôn kính, trang trọng nhất Nếu danh xưng do dân gian đặt thì theo đặc điểm hình dáng, kích thước, nơi vùng biển xuất hiện hay đặc điểm liên quan đến nghề biển như Ông Lớn, Ông Cậu, Ông Khơi, Ông Lộng, Ông Thông, Ông Chuông, Ông Kìm, Ông Xưa, Ông Đựng, Ông Hoa, Ông Ngư, Ông Máng, Ông Thoi, Ông Mun, Ông Đăng, Ngư Ông, Ông Ngư.v.v Song
danh xưng Cá Ông/ Ông là thông dụng
trong giao tiếp tự nhiên lẫn trong nghi thức
tế lễ Nếu do triều đình Nguyễn đặt trong
các sắc phong, ngoài Nhân Ngư (đời Minh Mạng), Đức Ngư (đời Tự Đức), thì danh
xưng trong phong tước “Đại tướng quân”
hay phong thần, từ “Trung đẳng thần” cho đến “Thượng đẳng thần” Cũng để tránh kỵ húy và tiện việc xưng gọi Nam Hải tướng quân hay Đức Ngư Ông Nam Hải/ Ông Nam Hải, tại Cần Giờ, dân biển ở đây trang trọng gọi là Ông Thủy Tướng Còn thần hiệu Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tướng Quân Cự Tộc Ngọc Lân Tôn Thần xuất
hiện là do tín ngưỡng Cá Ông có sự đồng nhất với tín ngưỡng Đại Càn (Tứ vị Thánh Nương) ở một số nơi tại Nam Bộ Điều quan trọng là nội dung danh xưng và tính chất danh xưng Cá Ông đã bao hàm và phát triển được ý nghĩa ở hai cấp độ hóa Người
và hóa Thần Cả hai cấp độ này được hòa quyện trong mô thức ứng xử, trải nghiệm
vừa Nhân thế vừa Nhiên thế, đặc biệt hơn còn là Thiên thế Nhân thế là trong trải nghiệm giao tiếp với người, Nhiên thế là
trong trải nghiệm giao tiếp với tự nhiên và
Thiên thế là trong trải nghiệm giao tiếp với
thần linh Sự gặp gỡ về nhân hóa và thần hóa trong mô thức ứng xử, trải nghiệm được khái quát sau đây cho thấy ý nghĩa đặc biệt của quá trình tương tác:
Trang 5Nhân hóa
Cá Ông =
Hệ thống
danh xưng
Giao tiếp với
tự nhiên
Giao tiếp với thần linh theo đặc điểm
hình dáng, kích thước, nơi xuất hiện…
theo đặc điểm tôn xưng phong tước, phong thần
Đây là một mô thức mở, giàu tính trải
nghiệm, cho thấy mức độ tương tác rất sâu
sắc giữa cư dân biển đảo Nam Bộ với môi
trường tự nhiên Điều đó góp phần giải
thích vì sao Cá Ông luôn giữ một vị trí đặc
biệt trong hệ thống thần linh ở Nam Bộ
2.3 Mô thức ứng xử trải nghiệm qua
thần hóa Cá Ông
Đây là mô thức mà con người ứng xử
trải nghiệm sự thiêng hóa và biểu tượng
hóa trong quá trình thần hóa Cá Ông Khi
thiêng hóa, Cá Ông trở thành một linh thần,
một đấng cứu nhân độ thế, được con người
tôn sùng, thờ phụng Khi biểu tượng hóa,
Cá Ông sẽ nâng lên thành giá trị vượt thời
gian, không gian của một hình tượng đại
diện cho tinh thần của cả cộng đồng ngư
dân Vì vậy, qua hàng thế kỉ tồn tại, mô
thức này trở thành một giá trị tâm linh nổi
bật, được cư dân biển đảo gìn giữ, trao
truyền cho các thế hệ đời sau
Ở phương diện ứng xử, trải nghiệm sự
thiêng hóa, Cá Ông được bao phủ bởi bức
màn kì bí của huyền thoại, truyền thuyết
không chỉ của người Chăm mà còn cả
người Việt Nếu trong tín ngưỡng của
người Chăm, Pô Riyak (thần Sóng hay vua
Đại Dương), sự ứng xử, trải nghiệm thông
qua hiện tượng “lịch sử chuyển thành
huyền thoại, truyền thuyết”, thì đối với
người Việt, nó lại đến từ nhiều truyền
thuyết liên quan đến những yếu tố thiêng
hóa trong tôn giáo Chẳng hạn, trong dân
gian vẫn kể chuyện Cá Ông là hóa thân của
Phật Bà Quan Âm chuyên cứu khổ cứu nạn
người đi biển; hay sự thiêng hóa liên quan đến yếu tố lịch sử, với sự hiển linh của Cá Ông Ở mỗi địa phương vùng biển Nam
Bộ, từ biển Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh), qua Vàm Láng (Tiền Giang) đến vịnh Xiêm La, đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu (Kiên Giang)… đều có truyền thuyết gắn với Cá Ông hiển linh liên quan đến sự kiện cứu Nguyễn Ánh - vị vua sáng lập vương triều Nguyễn thời kì trốn chạy quân Tây Sơn truy đuổi Theo đó, Cá Ông đã đi vào lịch sử nhà Nguyễn như một trong những yếu tố thiêng của đất trời, giúp vua lên ngôi Thiên tử, đúng với quan niệm "tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên" của đạo Nho Điều này cho thấy yếu tố đặc biệt trong mô thức trải nghiệm về sự thiêng hóa đó là có
sự dung hợp về màu sắc lịch sử, màu sắc Phật giáo và cả Nho giáo, phù hợp với cấu trúc đa nguyên trong tín ngưỡng tâm linh của người Việt
Ở phương diện ứng xử, trải nghiệm về biểu tượng hóa, từ ngọn nguồn khởi sinh,
Cá Ông là biểu tượng cho môi trường biển, cho hệ sinh thái tự nhiên Khi hóa thần, Cá Ông trở thành biểu tượng của đấng cứu độ, bảo trợ cư dân miền biển, hướng dẫn thuyền bè và cứu vớt những ngư dân bị đắm thuyền Bên cạnh đó, sự trải nghiệm
về Cá Ông còn ở biểu tượng của con vật dẫn hồn trong nghi lễ cầu khấn xin thần đưa con người về xứ sở của thần tiên Từ
đó, mô thức ứng xử, trải nghiệm thứ ba về thần hóa Cá Ông cũng được khái quát: Thần hóa
Cá Ông =
Hệ thống truyền thuyết, biểu tượng
Thiêng hóa Biểu tượng
hóa Ứng xử, trải
nghiệm qua huyền thoại hóa, truyền thuyết hóa
có yếu tố Phật giáo, Nho giáo
Ứng xử, trải nghiệm qua biểu tượng hóa
Trang 62.4 Mô thức ứng xử, trải nghiệm qua
nghi lễ lập mộ, xây lăng Cá Ông
Thờ cúng Cá Ông là tổng thể của các
hình thức biểu trưng và hành động gắn liền
với nhiều nghi thức (rituals) khác nhau
Đây là mô thức ứng xử trải nghiệm đặc biệt
về mối quan hệ cộng cảm, cộng mệnh và
niềm tin thiêng đối với Cá Ông
Sự tương tác và trải nghiệm trong mô
thức ứng xử này đạt được qua nghi thức lập
mộ, xây lăng chính là những giá trị tín
ngưỡng cụ thể trong văn hóa sinh thái biển
đảo Nam Bộ Trước khi trở thành thần, là
một sinh vật biển được “người hóa” như
vậy, Cá Ông không thể thoát khỏi vòng
sinh tử Vì thế, khi Cá Ông “lụy” (phát âm
theo phương ngữ Nam Bộ là “lị”, có nghĩa
là “ngã gục, không còn khả năng hoạt
động”), ngư dân tổ chức theo Thọ Mai gia
lễ - nghi thức dành cho người, và thực hiện
nghi lễ linh đình trong ba ngày Việc đó
được dân làng hồ hởi đón mừng, xem như
một sự kiện trọng đại, bởi Cá Ông không
chỉ thuộc trường hợp “sinh vi tướng, tử vi
thần” mà còn là điềm lành, là phúc đến, bởi
mảnh đất Ông chọn làm nơi yên nghỉ, dân
biển tin rằng sẽ được “Ông phù hộ”, ban
nhiều phúc lộc, vì thế họ có câu truyền
miệng “thấy Ông vào làng như vàng vào
tủ” Ngư dân từ Bạc Liêu đến Kiên Giang,
cho “Cá Ông lụy là do mải mê nhọc nhằn ra
vào cứu người bị nạn giữa biển khơi nên bị
sẩy thai rồi lụy, còn các Cá Ông con do
chưa đủ ngày tháng ra đời nên khi mẹ lụy,
các Ông cũng lụy theo, vì vậy ngư dân cũng
lập lăng, miếu thờ các Ông Lộng, Ông
Khơi” (Phan Thị Yến Tuyết, 2016, tr.409)
Việc Cá Ông lụy luôn ngửa bụng là vì
muốn giữ trọn tấm lòng thánh thiện gửi trọn
chốn đất lành nơi Ông chọn để con người
thờ phụng Do vậy, nghi thức dùng tấm vải
điều bọc thi thể Cá Ông trong mai táng
cũng như nghi thức bọc vải đỏ cho Ngọc cốt Cá Ông ở lăng thờ là thể hiện lòng trân trọng, sự tri ân thành giá trị biểu tượng Bởi màu đỏ của tấm vải hàm nghĩa sự thiêng lỉêng và bí ẩn, hàm chứa cái huyền bí của
sự sống ẩn giấu nơi đáy sâu của đại dương nguyên thủy, hòa hợp với màu đen của đất, tạo thành biểu tượng cặp đôi Đất - Nước trong dòng mạch truyền thống Đồng thời màu đỏ của tấm vải ấy còn là màu của may mắn, màu của sự bình an Đây là một trong những ý nghĩa tiêu biểu, giá trị bậc nhất trong tương tác và trải nghiệm giữa con người với môi trường sinh thái biển Có lẽ
vì vậy, người phát hiện Cá Ông dạt vào bờ
trước tiên, dân biển gọi là “được Ông”, và
sẽ được coi là con cả của Ông tức “trưởng nam”, có nghĩa vụ chăm lo thờ phụng Ông trong ba năm để dân làng được phù hộ nhiều may mắn, thuyền đầy tôm cá và bình
an Đây là trải nghiệm mang tính chất thuận
tự nhiên mà từ xưa, con người luôn tìm kiếm và theo đuổi
Hình 1 Lăng Ông Nam Hải, với bộ xương
Cá Ông dài 13m, tại Khu Di tích lịch sử Quốc gia Hòn Đá Bạc (xã Khánh Bình
Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau)
[Ảnh: Tác giả]
Việc tìm đất lập mộ là một ứng xử, trải nghiệm đặc biệt, với sự cẩn thận, kỹ lưỡng,
vì với tâm linh của cư dân biển đảo, đó không chỉ là sự trân trọng, tôn kính dành cho Cá Ông mà còn ảnh hưởng đến sự phát
Trang 7đạt, hưng thịnh của làng vạn về sau Do đó,
gần như thống nhất ở các tỉnh có biển của
Nam Bộ, đó là các mộ, lăng đều ở những
nơi có địa hình cao ráo, thoáng đãng,
hướng nhìn ra biển Nếu lăng nằm xa ven
biển (như ở các địa phương không giáp
biển là Cần Thơ, Long An và Vĩnh Long)
thì vẫn phải hướng về phía biển Đó là
nguyên tắc chung mang ý nghĩa lễ bái vị
thần của biển cả, do tâm thức biển, sự tôn
kính hướng về Cá Ông rất mạnh, cư dân
muốn được bảo trợ của vị Phúc thần này
cho cuộc sống bình an
Do địa hình có các giồng cát cao ven
biển chạy theo hình vòng cung hoặc các đồi
núi chạy dọc ven biển hay tại các hòn đảo
cao thấp, lớn nhỏ khác nhau nên yếu tố
phong thủy “thượng nhất thốn vi sơn, hạ
nhất thốn vi thuỷ” (nghĩa là, đất cao hơn
một tấc là núi, thấp hơn một tấc là nước)
của vùng biển đảo Nam Bộ là hết sức thuận
lợi để lập đàn cúng tế xin thần linh, thổ địa
được an táng khi Cá Ông lụy Có thể lấy ví
dụ minh chứng cho việc lựa chọn đất lập
mộ là nghĩa địa dành riêng cho việc mai
táng, lưu trữ những hài cốt Cá Ông ở làng
chài Phước Hải (huyện Đất Đỏ, Bà
Rịa-Vũng Tàu) Trên một diện tích đất cao ráo,
rộng khoảng 3.000m2, nghĩa địa ấy chia
thành năm khu hướng ra mặt biển, do người
dân tin rằng biển là nơi Cá Ông sống, đất là
nơi Cá Ông tìm về Mỗi khu có khoảng từ
20 đến 40 mộ Cá Ông Phía đầu mỗi ngôi
mộ đều có bát nhang và bia đúc xi măng
ghi rõ hàng chữ “Nam Hải chi mộ” cùng
ngày tháng Ông lụy Phía sau ngôi mộ là
tên người phát hiện ra Ông lụy đầu tiên
Việc xây lăng làm nơi thờ cúng Cá
Ông, nơi cất giữ hài cốt và tổ chức nghi lễ
mà ngư dân Nam Bộ gọi là “thượng Ngọc
cốt”, cũng thực sự là một ứng xử, trải
nghiệm phản ánh tính hòa hợp sinh thái
Khi thỉnh vào lăng thờ, ngư dân thường lấy tro hòa với nước tưới vào lưới hy vọng sẽ đánh được nhiều cá tôm, mang bình yên đến Cách xếp Ngọc cốt Cá Ông cũng khá đặc biệt, khác với hài cốt người, đó là xếp xương đuôi trước, xương đầu sau rồi mới đến mình Bởi ngư dân quan niệm, mỗi lần ghe thuyền gặp nạn, Cá Ông đã dùng đuôi mình để dìu đỡ ghe thuyền vượt qua Việc xếp xương đuôi đầu tiên là nhằm đề cao, tri
ân thần ở chức năng cứu giúp của Cá Ông Một ứng xử, trải nghiệm đáng chú ý nữa là các lăng miếu thờ Cá Ông ở Nam Bộ có xu hướng tích hợp về mặt kiến trúc theo kiểu đình lăng hợp nhất, và phối thờ thần Nam Hải với Thiên - Yana và Vạn Lạch, hoặc với Thần (thần Nam Hải), Mẫu (Đại Càn Thánh Nương) nhập làm một, thể hiện qua bài vị “Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Đại Tướng Quân Cự Tộc Ngọc Lân Tôn Thần” Ngay cả người Khmer ở Vĩnh Châu (Sóc Trăng), do ảnh hưởng của sự cộng cư nên trong tâm linh, họ cũng ứng xử, trải nghiệm qua việc dựng mô hình đắp nổi hình dạng
Cá Ông tại Chùa Đại Bái (tiếng Khmer Day Tapay, viết theo chữ Pali là Srei Prochum Bonso Vansa Koor), bởi trước kia
có một Cá Ông lụy dạt vào trước cửa chùa này Đây là hình thức độc đáo, thể hiện chiều kích văn hóa biển mà chủ thể người Khmer đóng góp vào vùng văn hóa Nam
Bộ Từ đây, mô thức ứng xử, trải nghiệm thứ tư về nghi thức lập mộ, xây lăng Cá Ông được khái quát chung như sau:
Nghi thức lập mộ, xây lăng Cá Ông
= Chọn thế đất phong thủy tốt
Tính chất người hóa
Tính chất thần hóa Tang chế
theo Thọ Mai gia lễ
Phối thờ với Thần/ Mẫu…