1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vị trí học thuyết giá trị - lao động trong các học thuyết kinh tế của Karl Marx và trong lịch sử phát triển các lý thuyết về giá trị

5 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 460,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

động của người sản xuất hàng hóa tạo nên (gọi tắt là giá trị - lao động) do những nhà kinh tế cổ điển Anh sáng lập, được Karl Marx kế thừa, chọn lọc và phát triển thành một học thuyết [r]

Trang 1

VỊ TRÍ HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ - LAO ĐỘNG TRONG CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA KARL MARX

VÀ TRONG LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC LÝ THUYẾT VỀ GIÁ TRỊ

THE POSITION OF LABOR- VALUE THEORY

IN KARL MARX'S ECONOMIC THEORIES AND IN THE HISTORY

OF THE DEVELOPMENT OF THEORIES OF VALUE

HỒ TẤN PHONG

 TS Trường Đại học Văn Lang, hotanphong@vanlanguni.edu.vn, Mã số: TCKH09-28-2018

TÓM TẮT: Trong nhiều lý thuyết khác nhau về giá trị, học thuyết giá trị do hao phí lao

động của người sản xuất hàng hóa tạo nên (gọi tắt là giá trị - lao động) do những nhà kinh

tế cổ điển Anh sáng lập, được Karl Marx kế thừa, chọn lọc và phát triển thành một học thuyết khoa học Phân tích nền sản xuất tư bản trên cơ sở học thuyết giá trị - lao động, Karl Marx đã xây dựng nên học thuyết giá trị thặng dư, cũng như toàn bộ các học thuyết kinh tế khác Điều đó xác định vị trí của học thuyết này trong các học thuyết kinh tế của Karl Marx, cũng như trong lịch sử phát triển các lý thuyết về giá trị

Từ khóa: Karl Marx, học thuyết giá trị, học thuyết giá trị thặng dư, các học thuyết kinh tế ABSTRACT: In various theories of value, the doctrine of value created by the labor cost of

the commodity maker (referred to as value-labor) founded by classical British economists, is Karl Marx inherits, selects and develops into a scientific theory Based on an analysis of capitalist production based on the doctrine of value-labor, Karl Marx created the theory of surplus value, as well as all other economic theories That determines the position of this theory in Karl Marx's economic theories, as well as in the history of the development of theories of value

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Học thuyết giá trị - lao động là cơ sở

của tất cả các học thuyết kinh tế của Karl

Marx, đồng thời học thuyết này cũng chiếm

một vị trí hết sức quan trọng trong lịch sử

phát triển các lý thuyết khác nhau về giá trị

Bài viết này nhằm làm rõ hơn vị trí học

thuyết giá trị của Karl Marx trong lịch sử

phát triển các học thuyết về giá trị, nhận

thức đầy đủ hơn những cống hiến khoa học

của ông về lý luận giá trị, giá trị - lao động

(giá trị do hao phí lao động của người sản xuất hàng hóa tạo ra)

2 NỘI DUNG

Karl Marx (1818-1883) không phải là người đầu tiên nêu lên lý luận giá trị, giá trị

- lao động Trước ông và cùng thời gian đó,

có nhiều nhà khoa học đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về giá trị

Từ thời cổ đại, Aristoteles (384-322 TCN) đã nói về giá trị trao đổi khi phân tích phương trình “5 cái giường = 1 ngôi nhà” Nhận xét về phương trình này Karl

Trang 2

Marx viết: “Sự thiên tài của Aristoteles là

ở chỗ, trong lúc thể hiện giá trị của hàng

hóa ông đã khám phá ra quan hệ ngang

giá, có nghĩa là đang bước theo con đường

dẫn tới lý thuyết giá trị lao động” [1, tr.26]

Thời trung cổ, một linh mục người Ý,

Augustin Saint (354-340) là người đầu tiên

đưa ra thuật ngữ “giá cả công bằng” theo

hai nghĩa: Thứ nhất, giá cả công bằng phù

hợp với chi phí lao động; Thứ hai, cùng

một hàng hóa có thể có giá cả công bằng

khác nhau tùy theo sự đánh giá của các

đẳng cấp khác nhau [1, tr.36]

Từ cuối thế kỷ XVIII, ở Anh và Pháp

học thuyết kinh tế cổ điển ra đời Học

thuyết kinh tế cổ điển Anh (một trong ba

tiền đề lý luận của chủ nghĩa Marx) bắt

đầu từ W Petty (1623-1687) và kết thúc ở

D.Ricardo (1772-1823) Lần đầu tiên, các

nhà kinh tế cổ điển Anh đã nêu lên phạm

trù giá trị hàng hóa do hao phí lao động

của người sản xuất hàng hóa tạo ra Trên

cơ sở phạm trù giá trị - lao động họ đã

phân tích, xây dựng nên hàng loạt các lý

luận về tiền tệ, lợi nhuận, tiền lương, địa

tô, của nền kinh tế hàng hóa tư bản Tuy

nhiên, bên cạnh những luận điểm khoa học

về giá trị, những nhà kinh tế cổ điển Anh

lại có những quan điểm sai khác, không

khoa học

W Petty - người đặt nền móng lý

thuyết giá trị lao động khi ông khẳng định,

giá cả tự nhiên (tức giá trị hàng hóa) do lao

động của người sản xuất hàng hóa tạo ra

Nhưng ông lại cho rằng, lao động tạo nên

giá trị chỉ là lao động khai thác bạc (tiền

tệ) Lao động trong các ngành khác chỉ tạo

nên của cải khi so sánh với lao động tạo ra

tiền Ông nói, giá trị hàng hóa là sự phản

ánh giá trị của tiền như ánh sáng Mặt Trăng phản chiếu ánh sáng Mặt Trời vậy [2, tr.12] Trong luận điểm nổi tiếng của ông, “lao động là cha còn đất là mẹ của mọi của cải” ông đã xa rời tư tưởng giá trị - lao động khi kết luận, “lao động và đất đai là cơ sở tự nhiên của giá cả mọi vật phẩm”, nghĩa là lao động, đất đai đều là nguồn gốc của giá trị Đây là mầm mống lý thuyết các nhân tố của sản xuất đều tạo ra giá trị về sau của J.B Say (1767-1832)

A Smith (1723-1790), bên cạnh định nghĩa đúng về giá trị: giá trị do lao động hao phí để sản xuất hàng hóa quyết định Lao động là thước đo thực tế của mọi giá trị (lao động mà ông nói ở đây là tất cả các loại lao động sản xuất), ông lại sai lầm khi đưa ra định nghĩa khác: giá trị là do lao động mà người ta có thể mua được bằng hàng hóa đó quyết định Theo định nghĩa này, ông suy ra giá trị do lao động tạo ra chỉ đúng trong điều kiện sản xuất hàng hóa giản đơn, còn trong kinh tế tư bản giá trị do các nguồn thu nhập tạo thành Ông viết

“tiền lương, lợi nhuận, địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập cũng như là của bất kỳ giá trị trao đổi nào” [1, tr.65] Ở

đây, ông đã lẫn lộn giữa sự hình thành giá trị và phân phối giá trị, ông bỏ qua chi phí

tư liệu sản xuất trong việc hình thành giá trị Tư tưởng này của A Smith đã xa rời lý luận giá trị lao động

D Ricardo (1772-1823), gạt bỏ được những sai lầm, mâu thuẫn trong lý luận giá trị của A Smith Ông cho rằng, chỉ định nghĩa thứ nhất của A Smith là đúng: giá trị

do lao động hao phí để sản xuất hàng hóa quyết định Trong kinh tế tư bản, giá trị phải bao gồm cả ba bộ phận (c+ v+m) Tuy

Trang 3

nhiên, trong lý luận giá trị của ông vẫn còn

nhiều hạn chế, sai lầm: Ông không chỉ ra

được việc chuyển dịch giá trị tư liệu sản

xuất sang sản phẩm, không thấy mâu thuẫn

giữa giá trị sử dụng và giá trị, coi giá trị là

phạm trù vĩnh viễn, là thuộc tính của mọi

vật, và cho rằng lao động xã hội cần thiết,

quy định lượng giá trị, do điều kiện sản

xuất xấu nhất quyết định, chưa phân biệt

được giá trị với giá cả sản xuất

Karl Marx là người đã kế thừa biện

chứng các lý thuyết về giá trị - lao động của

trường phái kinh tế chính trị cổ điển Anh,

gạt bỏ những hạn chế, sai lầm trong các lý

thuyết đó, phát triển thành học thuyết khoa

học về giá trị Ông đã xem xét phạm trù giá

trị trên tất cả các mặt: chất giá trị, lượng giá

trị, hình thức biểu hiện của giá trị, quy luật

giá trị

Một nhân tố quan trọng đã giúp Karl

Marx xây dựng nên học thuyết khoa học về

giá trị là phát minh của ông về tính chất hai

mặt của lao động sản xuất hàng hóa: lao

động cụ thể và lao động trừu tượng Vì lao

động sản xuất hàng hóa có tính hai mặt nên

tất cả các hiện tượng kinh tế, các quá trình

kinh tế hàng hóa đều có tính hai mặt: hàng

hóa có hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá

trị; cơ cấu giá trị gồm giá trị cũ và giá trị

mới; năng suất lao động liên quan tới sức

sản xuất của lao động và cường độ lao

động; của cải xã hội tồn tại dưới hai hình

thái: của cải là những giá trị sử dụng, và

của cải là giá trị (tiền tệ), nhờ có phát

minh tính chất hai mặt của sản xuất hàng

hóa mà Karl Marx đã phân tích quá trình

hai mặt của sản xuất của tư bản: “với tư

cách là sự thống nhất giữa quá trình lao

động và quá trình tạo ra giá trị thì quá

trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hóa; với tư cách là sự thống nhất của quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hóa” [3, tr.294-295] Từ đó, Karl

Marx đưa ra công thức giá trị hàng hóa trong kinh tế tư bản là “c+v+m” Phạm trù giá trị thặng dư (m), do chi phí lao động của công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt Ông chỉ ra bản chất của

quan hệ sản xuất tư bản: “Bí quyết của sự

tăng thêm giá trị của tư bản quy lại là ở chỗ tư bản chi phối được một số lượng lao động không công nhất định của người khác” [3, tr.753]

Công thức giá trị hàng hóa nêu trên là kết quả chi phí lao động (chi phí lao động sống và chi phí lao động quá khứ), là chi phí thực tế sản xuất hàng hóa Kết luận đó bác bỏ “tín điều khổng lồ” của A Smith cho giá trị hàng hóa chỉ bao gồm các nguồn thu nhập (v+m), vạch rõ sự khác biệt (về chất và lượng) giữa chi phí lao động và chi phí sản xuất của tư bản (k=c+v), chỉ ra mối liên hệ giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận:

“Giá trị thặng dư, hay là lợi nhuận, chính

là phần giá trị dôi ra ấy của giá trị hàng hóa so với chi phí sản xuất của nó, nghĩa là phần dôi ra của tổng số lượng lao động chứa đựng trong hàng hóa so với số lượng lao động được trả công chứa đựng trong hàng hóa” [4, tr.74]

Nếu như Karl Marx và các nhà kinh tế

cổ điển Anh phân tích phạm trù giá trị (là

cơ sở của giá trị trao đổi, của giá cả) từ phương diện khách quan: từ chi phí lao động thực tế để sản xuất ra hàng hóa, thì có

Trang 4

những nhà kinh tế khác xem xét phạm trù

giá trị từ góc độ chủ quan, từ việc hàng hóa

đáp ứng nhu cầu người mua như thế nào

Đó là lý thuyết giá trị của các nhà kinh tế

trường phái cổ điển mới Họ phê phán học

thuyết giá trị - lao động, đưa ra tư tưởng ích

lợi giới hạn, là ích lợi của vật phẩm cuối

cùng (sản phẩm giới hạn) đưa ra thỏa mãn

nhu cầu, ích lợi đó là nhỏ nhất, nó quy định

giá trị giới hạn của vật phẩm Giá trị giới

hạn quyết định giá trị tất cả các sản phẩm

khác “Giá trị của vật phẩm được quy định

bởi số lượng ích lợi giới hạn” [5, tr.279]

Lý thuyết giá trị của họ là lý thuyết giá

trị ích lợi chủ quan Bằng việc ứng dụng

toán học vào phân tích, lượng hóa các quan

hệ kinh tế, trường phái cổ điển mới được

gọi là trường phái kinh - toán học Các lý

thuyết của trường phái cổ điển mới như:

Các lý thuyết kinh tế của phái thành Viên

(các đại biểu như C Menger (1840-1921),

Bohm Bawerk (1851-1914); Lý thuyết

“giới hạn” ở Mỹ, tiêu biểu là J.B Clark

(1847-1938); Lý thuyết kinh tế của trường

phái Cambridge (Anh), người sáng lập là

A Marshall (1842-1924), ông đồng ý với

các nhà kinh tế cổ điển khi cho rằng, giá trị

hàng hóa “chính là cái vừa đủ để trang trải

toàn bộ chi phí sản xuất, tiền lương, lợi tức

và lợi nhuận, ” nhưng ông phê phán quan

điểm cổ điển (kể cả Karl Marx) chỉ xem xét

giá trị dưới góc độ khách quan, chỉ thấy chi

phí của các yếu tố sản xuất quy định giá cả,

coi nhẹ những ảnh hưởng của cầu; Trường

phái giới hạn lại quá coi trọng mức độ ích

lợi hàng hóa thỏa mãn nhu cầu con người,

bỏ qua tác động của chi phí sản xuất

Tuy có đưa ra quan điểm về giá trị hàng hóa, nhưng A Marshall cho rằng, một khi hàng hóa đã đưa ra thị trường thì người

ta không quan tâm cái gì tạo nên giá trị, mà chỉ quan tâm tới giá cả hàng hóa dưới tác động của cung, cầu Vì vậy, theo ông tiếp tục bàn luận về giá trị là không cần thiết Quan điểm này của ông mở ra hướng nghiên cứu thực dụng trong kinh tế [6, tr.52]

3 KẾT LUẬN

Karl Marx không nghiên cứu thực dụng kinh tế hàng hóa nói chung, ông nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản bắt đầu từ nghiên cứu hàng hóa (tức là nghiên cứu dưới giác độ kinh tế - chính trị) Học thuyết giá trị - lao động mà ông kế thừa chọn lọc từ trường phái cổ điển và phát triển, hoàn thiện nó, là cơ sở để ông xây dựng nên tất cả các học thuyết kinh tế của mình, trực tiếp là học thuyết giá trị thặng

dư - phát hiện vĩ đại của Karl Marx, vạch rõ bản chất quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Quá trình phân tích quan hệ sản xuất tư bản, Karl Marx cũng phát hiện, làm sáng tỏ nhiều quy luật, phạm trù của nền sản xuất hàng hóa tư bản (giai đoạn tự do cạnh tranh), như quy luật giá trị thặng dư, quy luật tích lũy, sự nâng cao cấu tạo hữu cơ tư bản, quy luật hình thành lợi nhuận bình quân, giá cả sản xuất, xu hướng hạ thấp tỷ suất lợi nhuận, Tất cả những nội dung nêu trên cho thấy vị trí đặc biệt quan trọng của học thuyết giá trị - lao động trong toàn

bộ các học thuyết kinh tế của Karl Marx, cũng như trong lịch sử phát triển các lý thuyết khác nhau về gíá trị hàng hóa

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Đại học kinh tế quốc dân (1996), Môn lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb Thống kê, Hà Nội [2] Nguyễn Văn Trình (2002), Sự phát triển các học thuyết kinh tế, Nxb Lao động - xã hội [3] C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội [4] C Mác và Ph.Ăngghen (1999), Toàn tập, tập 25, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội [5] Trường phái Áo trong kinh tế chính trị, M, 1992, (tiếng Nga)

[6] Hoàng Lan Hương, Lý thuyết kinh tế của Alfred marshall, người sáng lập trường phái

tân cổ điển, Tạp chí: Những vấn đề kinh tế thế giới, Số 6(26)

Ngày nhận bài: 16-4-2018 Ngày biên tập xong: 23-4-2018 Duyệt đăng: 19-5-2018

Ngày đăng: 01/04/2021, 12:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w