Ngoài ra, việc đổi mới phƣơng pháp dạy và học đến nay vẫn chƣa tạo bƣớc đột phá về chất, tình trạng dạy theo kiểu truyền thống, thụ động, một chiều vẫn còn phổ biến, ít có điều kiện[r]
Trang 1TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 9 - Tháng 4/2012
PHÁT TRIỂN NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM THEO TINH THẦN VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TỒN QUỐC
LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG
TĨM TẮT
Với bối cảnh tồn cầu hố hiện nay, giáo dục đã trở thành nhân tố quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội Trong yêu cầu phát triển của đất nước, việc đổi mới giáo dục
là một cuộc cách mạng Nĩ gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, với sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố (CNH, HĐH) đất nước, tạo tiền đề để xây dựng đất nước phát triển nhanh và mạnh trong giai đoạn tới
Từ khố: giáo dục, chiến lược, đại hội, nâng cao, giải pháp
ABSTRACT
In the context of current globalization, education has become an important factor for the socio-economic development Educational reform is a revolution for the requirement of the national development, which has attached the strategy of the socio-economic development of 2011-2020 to the cause of national industrialization and modernization, thus creating good grounds for the rapid and vigorous national development in the coming stage
Key words: educational globalization, strategy, congress, document, revolutionary
cause, to improve, solution
1 MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế
tri thức đã thực sự trở thành “đích ngắm”
trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của nhiều quốc gia Từ sự tác động mạnh
mẽ của khoa học và cơng nghệ hiện đại,
đặc biệt cơng nghệ thơng tin, sinh học, vật
liệu mới, năng lượng… nền kinh tế thế giới
đang dần chuyển mình phát triển một cách
tồn diện, từ kinh tế cơng nghiệp sang kinh
tế tri thức1
Đây là một bước ngoặt cĩ ý nghĩa lịch sử đối với quá trình phát triển
của các quốc gia trên thế giới nĩi chung và
Việt Nam nĩi riêng Ngày nay, vai trị của
nền kinh tế tri thức được khẳng định, nổi bật
trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất,
(*) ThS, Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí
Minh
vai trị của giáo dục lại càng quan trọng hơn bao giờ hết Nhận thức rõ điều này, Đảng ta
đã từng khẳng định “cùng với khoa học và cơng nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”[1, 107], chú trọng
“nâng cao chất lượng giáo dục tồn diện” [3, 216] tạo cơ sở vật chất cho nước ta phát triển nhanh và bền vững Trong cương lĩnh xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta cũng
đã nhấn mạnh “giáo dục và đào tạo cĩ sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, gĩp phần quan trọng phát triển đất nước nền văn hố và con người Việt Nam” [3, 77] Tại Đại hội XI, Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và cơng nghệ
Trang 2là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và
đào tạo là đầu tư phát triển” [3, 77]
Với bối cảnh như vậy, giáo dục và đào
tạo đã trở thành nhân tố quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế xã hội Các nước trên
thế giới kể cả những nước đang phát triển,
đều coi giáo dục là nhân tố hàng đầu quyết
định sự phát triển nhanh và bền vững của
mỗi quốc gia Do xác định giáo dục và đào
tạo là một nhiệm vụ quan trọng của cách
mạng Việt Nam, từ Nghị quyết của Đại hội
lần thứ IV của Đảng (1979) đã ban hành
Quyết định số 14-NQTƯ về cải cách giáo
dục với tư tưởng: Xem giáo dục là bộ phận
quan trong của cuộc cách mạng tư tưởng;
Thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục
thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành;
Thực hiện tốt nguyên lí giáo dục: học đi
đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động
sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội
Tư tưởng chỉ đạo trên được phát triển bổ
sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu
thực tế qua các kì Đại hội VI, VII, VIII, IX,
X của Đảng Cộng sản Việt Nam Đại hội X
đã xác định mục tiêu giáo dục là nhằm bồi
dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, lòng
tự tôn dân tộc, lí tưởng chủ nghĩa xã hội,
lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật,
tinh thần hiếu học, ý chí tiến thủ lập
nghiệp, không cam chịu nghèo nàn, đào tạo
lớp người lao động có kiến thức cơ bản,
làm chủ năng lực nghề nghiệp, quan tâm
hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với chính trị,
có ý chí vươn lên về khoa học – công nghệ
Nhằm đáp ứng yều cầu của sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước và xu thế đổi mới,
hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta chủ
trương phát triển nền giáo dục khoa học,
đại chúng, hướng đến xây dựng một xã hội
học tập thực thụ: “tạo điều kiện để toàn xã
hội học tập và học tập suốt đời” [2, 206 -
207]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng diễn ra từ ngày 11 đến ngày 19- 1-2011 tại thủ đô Hà Nội đã thành công tốt đẹp Ngoài việc bầu ra Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, đại hội đã thông qua Nghị quyết và các văn kiện quan trọng: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội 2011 - 2020, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khoá X tại Đại hội XI của Đảng và Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi) với nhiều đổi mới thiết thực Đại hội XI cũng đã nhấn mạnh việc phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá,
xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc
tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lí giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí là khâu then chốt[3, 130 - 131] Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực[3, 321], gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ Xác định rõ giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng nền văn hoá
và con người Việt Nam, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau[3, 103]
2 NỘI DUNG
2.1 Tầm quan trọng của việc phát triển nền giáo dục Việt Nam
Có thể nói rằng, trong giai đoạn mới của sự nghiệp phát triển giáo dục, với bối cảnh quốc tế chứa nhiều thời cơ và thách thức, trước những yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế - xã hội và xu thế toàn cầu hoá, phát triển kinh tế tri thức[7, 95], yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững,
Trang 3thì việc đổi mới giáo dục là một cuộc cách
mạng sâu sắc, nó gắn liền với chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, với
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, nhằm làm
cho đất nước phát triển nhanh hơn, vững
bền hơn, có khả năng cạnh tranh mạnh mẽ
hơn, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao
hơn trong những giai đoạn tới Trong
không gian giáo dục hội nhập, từ nhu cầu
cấp thiết của sự nghiệp CNH, HĐH, giáo
dục phải đáp ứng những tiêu chuẩn do xã
hội đặt ra và do những nhu cầu đổi mới tự
thân của giáo dục
Hội nhập toàn cầu sẽ tạo ra nhiều cơ
hội to lớn để đất nước ra khỏi khu vực các
nước kém phát triển, nhưng cũng đồng thời
là thách thức lớn Thời gian qua, Việt Nam
tuy đã xoá tên khỏi danh sách các nước
kém phát triển, nhưng trình độ kinh tế vẫn
lạc hậu, tăng trưởng chưa bền vững, phân
tầng xã hội và chênh lệch vùng miền chưa
thu hẹp, nguy cơ tụt hậu cao hơn về kinh tế
kéo theo nguy cơ tụt hậu về giáo dục Có
thể xem rằng, sự tụt hậu của giáo dục Việt
Nam là một trong những nguyên nhân dẫn
đến sự chậm phát triển về kinh tế Chúng ta
đang đứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng
xa với các nước phát triển Để đưa đất
nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu, kém
phát triển thì con người là yếu tố quyết
định, trong đó vai trò của giáo dục đóng
vai trò quan trọng Muốn vậy, cần tập trung
vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền
giáo dục quốc dân, xây dựng một nền giáo
dục trung thực, lành mạnh và hiện đại, đủ
sức tạo ra chất lượng và hiệu quả thật sự
trong sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển
nguồn nhân lực2, đặc biệt là nguồn nhân
lực chất lượng cao, đủ sức đáp ứng những
đòi hỏi ngày càng cao của kinh tế tri thức,
góp phần vào quá trình phát triển kinh tế và
thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH của Việt
Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu như hiện nay[11, 246] Tuy nhiên, cho đến nay, nền giáo dục nước ta vẫn trong tình trạng chậm đổi mới, thể hiện qua việc được tăng đầu tư tài chính nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao3, công tác tổ chức, cán bộ, chế
độ, chính sách chậm đổi mới, chất lượng giáo dục còn thấp và không đồng đều giữa các vùng miền, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng, quản lí của nhà nước về giáo dục nhiều lúc còn lúng túng, chưa có biện pháp để khắc phục triệt
để xu hướng thương mại hoá, sa sút về đạo đức trong giáo dục Chương trình, giáo trình, tài liệu tham khảo thiếu cập nhật những thông tin mới, kiến thức mới, chậm hiện đại hoá để đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của xã hội, của thực tiễn đặt
ra, đặc biệt là trong quá trình hội nhập4 Thêm nữa, cơ chế hoạt động và hệ thống văn bản pháp quy từ Trung ương chưa đầy
đủ, rõ ràng, thiếu tính cập nhật thường xuyên, việc nhận thức về xã hội hoá giáo dục chưa đồng đều, chưa thống nhất giữa các lực lượng xã hội [10, 502] Ngoài ra, việc đổi mới phương pháp dạy và học đến nay vẫn chưa tạo bước đột phá về chất, tình trạng dạy theo kiểu truyền thống, thụ động, một chiều vẫn còn phổ biến, ít có điều kiện
để thực hành, chưa có thống nhất về phương pháp và tài liệu phục vụ đổi mới phương pháp dạy và học, một bộ phận nhà giáo có trình độ ngoại ngữ, tin học còn hạn chế, việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy và học chưa được thực hiện rộng rãi Đánh giá và nhận định về điều này, văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội Chưa giải quyết tốt
Trang 4mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô
với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và
dạy người Chương trình, nội dung,
phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới
chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lí giữa
các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất
lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa
đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá Quản lí nhà nước
về giáo dục còn bất cập Xu hướng thương
mại hoá và sa sút đạo đức trong giáo dục
khắc phục còn chậm, đang trở thành nỗi
bức xúc của xã hội” [3, 107 – 168]
2.2 Nội dung phát triển nền giáo dục
Việt Nam theo tinh thần văn kiện Đại hội
Nhận thức được tầm quan trọng của
việc đổi mới căn bản, toàn diện và mạnh
mẽ nền giáo dục Việt Nam, nhất là trước
yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền
vững trong bối cảnh thế giới hội nhập và
phát triển, Bộ Chính trị đã nêu rõ bảy
nhóm nhiệm vụ, giải pháp cần thực hiện tốt
để phát triển giáo dục và đào tạo đến năm
2020: Thứ nhất, nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện, coi trọng giáo dục nhân
cách, đạo đức, lối sống cho HSSV, mở
rộng quy mô giáo dục hợp lí Phát triển quy
mô hợp lí cả giáo dục đại trà và mũi nhọn,
rà soát và bổ sung cơ chế, chính sách, tổ
chức phát hiện, bồi dưỡng nhân tài ngay từ
bậc học phổ thông Nhóm giải pháp thứ
hai là đổi mới mạnh mẽ quản lí nhà nước
đối với giáo dục và đào tạo Trong đó cần
“chấn chỉnh, sắp xếp lại hệ thống các
trường đại học, cao đẳng, đội ngũ cán bộ
giảng dạy, cơ sở vật chất, trang thiết bị và
đầu vào của sinh viên, không duy trì các
trường đào tạo có chất lượng kém” Hai
nhóm giải pháp tiếp theo là xây dựng đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục đủ
về số lượng, chất lượng và tiếp tục đổi mới
chương trình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về
phương pháp giáo dục Rà soát toàn bộ chương trình và sách giáo khoa phổ thông, sớm khắc phục tình trạng quá tải, nặng về
lí thuyết, nhẹ về thực hành, chưa khuyến khích đúng mức tính sáng tạo của người học; chuẩn bị kĩ việc xây dựng và triển khai thực hiện bộ chương trình giáo dục phổ thông mới theo hướng hiện đại, phù
hợp và có hiệu quả Nhóm giải pháp thứ
năm, yêu cầu tăng đầu tư nhà nước cho
giáo dục và đào tạo, đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo nhằm góp
phần quan trọng nâng cao chất lượng Hai
nhóm giải pháp cuối cùng, Bộ Chính trị
yêu cầu Chính phủ, các cấp ủy, chính quyền thực hiện để phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 là bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục và tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo Trong quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay, giáo dục ở nước ta đã bắt đầu thực hiện lộ trình hội nhập với thế giới và
đã đạt được một số kết quả bước đầu Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo đạt trên 20% tổng chi; việc huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục, đào tạo, phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm Quy mô giáo dục tiếp tục được phát triển Đến năm
2010, tất cả các tỉnh thành, thành phố đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ
sở Tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng, năm
2010 đạt 40% tổng số lao động đang làm việc Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến
bộ khoa học, công nghệ được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội [2, 12 - 13]
Trong điều kiện giáo dục đã trở thành đại chúng, giáo dục đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân và nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao
Trang 5cho phát triển kinh tế - xã hội, với mạng
lưới trường lớp và quy mô giáo dục phát
triển rộng khắp trên phạm vi toàn quốc thì
việc chuyển từ mô hình giáo dục hiện nay
sang mô hình phát triển mới, năng động
hơn, chất lượng và hiệu quả hơn là một yêu
cầu khách quan Chúng ta cần thật sự thực
hiện phương châm "giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu" [1, 107] Cần nhận
thức rõ “đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát
triển” và cần phải xem việc “phát triển giáo
dục là quốc sách hàng đầu” [3, 130], thực
hiện lời dạy "vì lợi ích mười năm thì phải
trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải
trồng người" [5, 180] của Chủ tịch Hồ Chí
Minh Xây dựng nên một nền giáo dục có
tính toàn diện: Từ thể chất, đến tinh thần,
đạo đức và tri thức; giáo dục toàn dân: xã
hội hoá giáo dục; và một nền giáo dục trọn
đời, một xã hội học tập Tập trung nâng
cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng
giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng
tạo, kĩ năng thực hành, khả năng lập nghiệp
[3, 131] Cần xây dựng tư tưởng: dạy và
học để phục vụ Tổ quốc, giáo dục phải
toàn diện, phải nhằm mục tiêu đào tạo con
người lao động mới, phải coi trọng cả tài
lẫn đức [8, 32] Không những phải giàu về
tri thức mà còn phải có đạo đức cách mạng
Bên cạnh đó, cần nhanh chóng khắc phục
những yếu kém trầm kha nhiều năm qua
của nền giáo dục nước nhà Đảng, Nhà
nước, và toàn thể cộng đồng hãy cùng
hưởng ứng thiết thực phong trào xóa bỏ
tiêu cực trong giáo dục, tôn vinh giá trị
thực học Chúng ta phải phát huy truyền
thống cần cù, thông minh, hiếu học của dân
tộc; biến đó thành một lợi thế cạnh tranh
trong nền kinh tế tri thức
3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN
Xuất phát từ nhận thức: yêu cầu phát
triển đất nước nhanh và bền vững trong bối
cảnh thế giới hội nhập và phát triển, có nhiều cơ hội nhưng cũng lắm thách thức, bắt buộc nền giáo dục nước ta phải được đổi mới toàn diện và căn bản Đặc biệt, từ yêu cầu đổi mới tư duy trong quản lí giáo dục mà Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã có những chỉ thị, nghị quyết và các quyết định quan trọng về giáo dục Để làm được điều này, theo chúng tôi thì cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:
3.1 Trong xu thế hội nhập và mở cửa
như hiện nay cần phải tiến hành đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cơ chế quản lí giáo dục Phát triển môi trường pháp lí về giáo dục hoàn chỉnh theo hướng xây dựng và phát triển một nền giáo dục hiện đại, có tính
mở, phù hợp với khuynh hướng và xu thế vận động của các nước trong khu vực và trên thế giới Nên thay đổi quan điểm về qui trình giáo dục, luôn có một chiến lược linh hoạt và đổi mới để theo kịp một nền kinh tế và một quốc gia đang trên đà phát triển mạnh mẽ như Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu tổng quát mà Đại hội XI
đề ra đó là: Phấn đấu đến năm 2020, nước
ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỉ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững;
vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau [3, 103]
3.2 Tăng cường công tác bồi dưỡng,
phát hiện, giáo dục và đào tạo đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục [12] Các nghiên cứu khoa học quản lí giáo dục mới đây đã cho thấy rằng, chính chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục đóng vai trò quyết định tới hiệu quả của đổi mới
Trang 6giáo dục và có ảnh hưởng quan trọng đến
sự phát triển cộng đồng; Chất lượng quản lí
quyết định tới chất lượng đào tạo trong các
nhà trường Việc hoàn thiện hệ thống cơ
chế, chính sách trong các khâu tuyển dụng,
bố trí, sử dụng, đãi ngộ được hoàn thiện,
tạo điều kiện cho việc ổn định, thu hút và
phát triển đội ngũ nhà giáo, nhằm đảm bảo
tốt yêu cầu Chỉ thị 40-CT/TW của Trung
ương về xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lí giáo dục đáp ứng công cuộc
CNH, HĐH thời hội nhập, thực hiện chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
2011 – 2020 theo tinh thần của Nghị quyết
Đại hội lần thứ XI của Đảng
3.3 Có chính sách cụ thể khuyến khích
tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục
theo hướng song phương, đa phương, đa
dạng hoá, đẩy mạnh liên kết đào tạo, huy
động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn
O.D.A, thu hút và phát huy sự đóng góp
của các chuyên gia nước ngoài và người
Việt Nam ở nước ngoài với hướng tiên
quyết là cần xác định rõ lại mục tiêu hợp
tác quốc tế về giáo dục và coi đó như một
tiêu chí, thước đo về chất lượng, thương
hiệu của cơ sở đào tạo Theo tinh thần đó,
giáo dục phải gắn chặt giảng dạy với
nghiên cứu khoa học và tăng cường quan
hệ, hợp tác quốc tế, trao đổi, giao lưu học
thuật Đi đôi với việc đổi mới phương pháp
dạy và học, cần phát huy tối đa nguồn lực
cho công tác hợp tác quốc tế về giáo dục
theo hướng tạo ra bước chuyển mình lớn
để phát triển giáo dục, từng bước chuyển
sang mô hình giáo dục mở, với ưu tiên
hàng đầu trong đào tạo nhân lực, nhân tài
và nâng cao chất lượng, xây dựng nền giáo
dục hiện đại, tiếp cận trình độ tiên tiến của
khu vực và thế giới
3.4 Trong giai đoạn mới của sự nghiệp
phát triển giáo dục, với bối cảnh quốc tế
chứa nhiều thời cơ và thách thức, trước những yêu cầu mới của sự phát triển kinh
tế - xã hội, cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc
tế, nên chăng cần xây dựng một triết lí giáo dục mới cho nền giáo dục quốc dân, với những yêu cầu mới để phù hợp hơn với nền
xu thế, khuynh hướng giáo dục thời kì đổi mới và hội nhập về mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, phương pháp đào tạo… Bên cạnh đó, nên kết hợp đồng thời đổi mới việc tuyển sinh theo hướng gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng của xã hội, của nền kinh tế, có tính đến sự phát triển của xã hội và của nền kinh tế trong tương lai trung và dài hạn
Có thể nói rằng, trong giai đoạn mới của sự nghiệp phát triển giáo dục, với bối cảnh quốc tế chứa nhiều thời cơ và thách thức, trước những yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế - xã hội, cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Việc chúng ta chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với cam kết mở cửa thị trường giáo dục đại học đã tạo áp lực trực tiếp buộc chúng ta phải đổi mới tư duy giáo dục – đào tạo Một khi nguồn nhân lực đã được khẳng định là chìa khoá thắng lợi trong cạnh tranh kinh tế thì hậu quả của khủng hoảng, tụt hậu trong giáo dục – đào tạo mà trực tiếp là đào tạo đại học đối với phát triển kinh tế là vô cùng nặng nề Chính vì vậy, chủ trương hướng toàn bộ nền đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp cho mục tiêu đáp ứng nhu cầu của xã hội mà trước hết là nhu cầu của doanh nghiệp, đối tượng có nhu cầu lớn nhất về nhân lực đã qua đào tạo, hay nói một cách nôm na là
chuyển từ "đào tạo cái mình có" sang "đào
tạo cái mà xã hội (cụ thể ở đây là doanh nghiệp) cần" [9, 157] và việc vận dụng các
Trang 7nguyên tắc của của thị trường trong đào tạo
và sử dụng là cần thiết Nó không những
giải quyết nhanh chóng vấn đề nguồn nhân
lực, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và
trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành
nghề [3, 130] của hiện tại mà còn trở thành
một động lực to lớn thúc đẩy nước ta phát
triển nhanh và bền vững
3.5 Đẩy mạnh hơn nữa công tác xã hội
hoá giáo dục, huy động các nguồn lực để
tăng cường xây dựng trường, lớp, đầu tư
thêm vào cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục,
ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí
giáo dục, đổi mới phương pháp dạy và học,
gắn với thực tiễn, thực hành nhiều hơn
quyết tâm nâng cao chất lượng giáo dục vì
sự phát triển bền vững của đất nước Xây
dựng một xã hội học tập là tạo dựng hình
ảnh một xã hội có tiền đồ, là cơ sở cho sự
phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay, góp phần thực hiện thành công và thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011 –
2015 trong Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI
4 KẾT LUẬN
Tóm lại, có thể nói rằng, những đánh
giá và định hướng phát triển giáo dục và đào tạo mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra
chính là sự tiếp nối và “kết nối” đường lối
chủ trương của Đảng về phát triển giáo dục, đào tạo trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta Việc tiến hành đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo là một điều kiện quan trọng, tiên quyết để đưa Việt Nam tiến nhanh và vững trên con đường hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế
Chú thích:
1
Khái niệm nền kinh tế tri thức ra đời từ năm 1995 do tổ chức OPDC nêu ra Kinh tế tri thức còn gọi là kinh tế dựa vào tri thức (KBE - Knowledge - Based Economy), là nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức, trên cơ sở phát triển khoa học và công nghệ cao Nền kinh tế tri thức có
4 cột trụ là công nghệ cao, nhân lực chất lượng cao, cơ sở hạ tầng kinh tế và thị trường
2
Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), (năm 2005), chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam xếp thứ 53 trong số 59 quốc gia được khảo sát Báo cáo về phát triển con người của Liên hiệp quốc (UNDP) đánh giá: Việt Nam tụt hậu so với Trung Quốc 10 năm, Thái Lan
15 năm, Malaysia 20 năm, Hàn Quốc 25 năm, Singapore 35 năm, Nhật Bản 40 năm Nếu tiếp tục tốc độ phát triển như hiện nay (GDP tăng 8% - 8,6% mỗi năm và GDP/người cứ
10 năm tăng gấp đôi) thì đến năm 2020, Việt Nam vẫn đi sau Thái Lan 15 năm và GDP/người vẫn thấp hơn nhiều nước trong ASEAN
3
Hiện nay, mức đầu tư cho GD-ĐT tính theo đầu người của Việt Nam chỉ bằng 1/8 của
Thái Lan và chỉ bằng 1/20 mức trung bình của các nước phát triển
4
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2006: Giáo dục Việt Nam đang bị tụt hậu so với các nước khác trong khu vực, chỉ có 2% dân số được học trong thời gian trên 13 năm Việt Nam xếp hàng chót trong khu vực châu Á nếu xét trong độ tuổi từ 20 đến 24 chỉ
có 10% học lên tới đại học (so với Trung Quốc 15%, Thái Lan 41%, Hàn Quốc 89%) Tỉ lệ
167 sinh viên/1 vạn dân là rất thấp so với khu vực và các nước phát triển