Hạnh phúc của nhà văn là thỏa mãn đam mê nhưng Hộ phải in …chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương -> Hộ tự thấy mình đang đánh mất dần phẩm chất và niềm hạnh phúc đó - Nỗi đau không[r]
Trang 1Đời thừa - Tấn bi kịch của một con người có lương tri
Nhận định về Nam Cao, sách Văn học 11 viết: “Ông có sở trường diễn tả, phân tích tâm lý con người” (Văn học 11, tập một, NXB Giáo dục, tái bản 2004, trang 201) Qua nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa, anh/chị hãy chứng minh nhận định trên (3 điểm)
Nhà văn Nam Cao (1915 - 1951) là cây bút hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam trước cách mạng và cũng là nhà văn có nhiều đóng góp cho nền văn học non trẻ những ngày đầu Trước cách mạng, do bên cạnh việc viết về bi kịch của người nông dân với tác phẩm bất hủ “Chí Phèo” người đọc còn nhớ mãi bi kịch của người trí thức tiểu tư sản trước cách mạng trong tác phẩm “Đời thừa” mà được thể hiện rõ qua nhân vật Hộ Nhà văn Nam Cao với tài năng xuất chúng và một tấm lòng yêu thương nhân ái bao la đã thể hiện rõ được tâm lý của người trí thức tiểu tư sản trong cảnh ngộ bi kịch ấy Chính vì vậy nhận định về Nam Cao, sách Văn học 11 viết “Ông có sở trường về diễn tả, phân tích tâm lý con người”
Truyện ngắn “Đời thừa” ra mắt bạn đọc lần đầu tiên trong “Trang tiểu thuyết số 7” số ra ngày 4/3/1943 Tác phẩm cùng đề tài này có “Mực mài nước mắt” của Lan Khai, “Nợ văn” của Lãng Tử, Đời thừa còn gần gũi về đề tài với một số tác phẩm của Nam Cao như “Trăng sáng”, “Nước mắt” và tiểu thuyết “Sống mòn” Qua tác phẩm Nam Cao đã miêu tả thành công tâm trạng của một người trí thức tiểu tư sản trước cách mạng
Hộ vốn là một nhà văn, một nhà văn mang trong mình hoài bão lớn ấy là viết được một tác phẩm “vượt qua mọi giới hạn và
bờ cõi” ai đó vội cho đó là sự háo danh Nhưng không phải vậy Đó là ước mơ của một con người có lý tưởng, có hoài bão lớn, muốn khẳng định được tài năng của mình Hộ còn là một nhà văn chân chính Điều này được thể hiện qua một loạt quan niệm của anh về văn chương “văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho, văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” với ý nghĩ ấy Hộ đã vô cùng căm ghét sự cẩu thả trong văn chương “cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện” Như vậy qua những quan niệm của Hộ về văn chương ta thấy đây là một nhà văn có hoài bão, một nhà văn chân chính, có lương tri của một người cầm bút chân chính ý thức được trách nhiệm của người nghệ sĩ
Thế nhưng trước khi là một nhà văn Hộ còn là một người chồng, một người cha, hắn còn có một gánh nặng gia đình trên vai Cuộc sống với một gia đình đông con, một người vợ thất nghiệp đã cướp đi ở hắn sự thanh thản sự thanh thản cần thiết
để một tâm hồn văn chương thăng hoa, khi mà cứ hết tháng lại “tiền nhà, tiền gạo, tiền nước mắm”
Hoài bão văn chương có thể nung nấu trong chốc lát nhưng chuyện cơm áo là chuyện phải đối mặt hàng ngày Chả thế mà Xuân Diệu đã từng thốt lên:
“Nỗi đời cay đắng giơ nanh vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ”
Thế là Hộ điên lên, phải xoay tiền Nam Cao đã thật tỉ mỉ khi miêu tả tâm trạng của Hộ trong cảnh túng quẫn ấy “đang ngồi hắn đứng phắt dậy mặt hầm hầm đi ra phố, vừa đi vừa nuốt nghẹn” Chỉ một đoạn văn ngắn mà ông đã tái hiện lại tâm trạng của Hộ: thật bức bách Nanh vuốt của họa cơm áo đang có nguy cơ nuốt chửng nhà văn Hộ đầy tâm huyết ngày nào
Và thế là để có tiền thì Hộ phải viết Nam Cao là một nhà văn hiện thực nên ông biết rằng Hộ muốn có tiền thì phải viết, viết những tác phẩm đáp ứng được nhu cầu của một đám thị dân lúc bấy giờ “những tác phẩm làm người ta quên ngay sau lúc đọc” Hộ phải viết những tác phẩm ấy, nhưng giả dụ có ai bảo hắn viết những tác phẩm cao quý hắn cũng chẳng biết đường nào mà viết bởi tâm trạng bức bách ở trên Thế rồi Hộ bị văng vào quỹ đạo của bi kịch
Hắn thấy xấu hổ khi đọc những tác phẩm ấy “hắn đỏ mặt lên” Đó là sự xấu hổ của một chút lương tri ít nhiều chưa vỡ nát trong Hộ Hộ đau đớn, tủi cực không phải vì không được viết, mà là anh đã tự giẫm lên những nguyên tắc do mình đặt ra, còn gì đau đớn hơn khi mình lại phản bội chính mình Nam Cao tỏ ra rất tinh tế và cảm thông trước tâm trạng của Hộ Phải hiểu, phải cảm thông thế nào thì ông mới có thể viết lên những trang văn đầy giằng xé như vậy
Thế là từ không thực hiện được giấc mộng văn chương và Hộ đã trở thành kẻ phản bội chính mình Nhưng Nam Cao không dừng lại ở đó, ông muốn người đọc đi đến tận cùng sự khổ cực, bi kịch của người trí thức Hộ lại bị đẩy ra khơi – trước từng cơn sóng dữ của cuộc đời Nó đã quăng anh vào bi kịch nghề nghiệp nó lại quật anh vào một bi kịch khác, bi kịch không thực hiện được tình người cho trọn
Mọi chuyện bắt đầu từ lúc hắn lấy Từ Lấy Từ hắn đã thực hiện được nguyên tắc tình thương của mình đã cứu được ba con người Nhưng rồi, từ đó bi kịch đã mở ra với hắn Gánh nặng gia đình đã đè nặng lên vai khiến hắn thấy mình khổ, đáng trách hơn là hắn coi Từ là nguyên nhân khiến mình khổ Từ đó hắn đã tìm đến rượu, có lúc hắn toan ruồng bỏ vợ con Khi say hắn đã có những hành động vũ phu quá đáng “hắn chỉ tay vào mặt Từ” đuổi mấy mẹ con Từ ra ngoài Nam Cao đã có một lời biện hộ yếu ớt ấy là cho hắn hành động trong lúc say Nhưng tất cả đều đổ nhào trước nguyên tắc: nguyên tắc tình thương Hộ thật đáng trách khi coi vợ con là nguyên nhân làm mình khổ Thế là mọi nguyên tắc tình thương mà hắn đặt ra trước đây “kẻ mạnh là kẻ giúp đỡ người khác trên đôi vai mình” đã bị hắn đạp đổ
Giờ đây đâu còn là một nhà văn Hộ giàu tâm huyết, giàu lòng nhân đạo nữa mà là một con người vũ phu quá đáng Hộ thật đáng trách nhưng có lẽ đáng thương hơn là đáng trách Thế nhưng Nam Cao đã để cho nhân vật của mình dừng lại trên con đường bị tha hóa ấy Sau mỗi lần say, Hộ lại tỉnh và nhận rõ được sai lầm của mình xin lỗi và làm lành với vợ con Phải
Trang 2là một người đầy tài năng, già tay nghệ thuật và vững tin vào con người thì Nam Cao mới có thể đặt nhân vật vào lốc xoáy cuộc đời nhưng cuối cùng tình người vẫn chiến thắng Hộ đã khóc “Anh chỉ là một thằng khốn nạn” Giọt nước mắt ăn năn, hối lỗi Câu chuyện về cuộc đời Hộ đã khép lại bằng câu hát ru đẫm nước mắt của Từ:
“Ai làm cho khói lên giời
Cho mưa xuống đất cho người biệt li”
Như vậy, qua tấn bi kịch của nhà văn Hộ, Nam Cao đã khắc hoạ một cách chân thực và sâu sắc bi kịch của người trí thức tiểu tư sản trước cách mạng Đồng thời lên án xã hội bất công không cho con người phát triển toàn diện về tài năng và nhân cách Qua đây ta cũng thấy được tài năng nghệ thuật về diễn tả và phân tích tâm lý bậc thầy của nhà văn Nam Cao Nhưng
dù cuộc đời có cay nghiệt, lốc xoáy có dữ dội thì nhân vật của ông vẫn hướng về chân trời của cái chân, thiện, mĩ
Tấn bi kịch cũa Hộ
ĐỜI THỪA (NAM CAO)
1 Ý nghĩa của tiêu đề tác phẩm- Đời thừa là cuộc đời vô ích, vô nghĩa.
- Người lâm vào tình trạng sống thừa và ý thức được tình trạng ấy trong tác phẩm là Hộ, nhưng rộng hơn là người trí thức nghèo trong XH cũ Điều đáng nói là không phải ai cũng đủ trung thực, tỉnh táo để ý thức được tình trang sống thừa như thế Người trí thức của Nam Cao cảm nhận và ý thức được nỗi đau sống cảnh đời thừa bởi họ luôn khao khát sống cho có ích,
có ý nghĩa, có giá trị
2 Nhân vật Hộa Mâu thuẫn nội tâm- Mâu thuẫn giữa khát vọng sống có ý nghĩa >< chăm lo cuộc sống gia đình, cái hay
cái đẹp, >< tình thương , Lí tưởng >< hiện thực
- Bi kịch của Hộ là không thể bỏ cái này chọn cái kia, không thể tiến hành đồng thời cả lí tưởng XH và trách nhiệm gia đình
mà cũng không thể chọn cái nào làm trước cái nào làm sau
- Hộ không thể giải quyết được mâu thuẫn này bởi nó tiềm ẩn ngay trong đời sống XH đương thời, nhà văn không thể có cơ hội để thực hiện lí tưởng hoài bão của mình khi đang phải vật lộn với sự nghèo túng
b Nỗi đau tinh thần (bi kịch)
Bi kịch đầu tiên trong tấn bi kịch tinh thần của cuộc đời Hộ là bi kịch về những giấc mộng văn chương Hộ đã đặt
văn chương lên trên hết: Văn chương dường như chính là khát vọng lớn nhất của đời anh Anh muốn trở thành nhà văn chân chính – nhà văn viết “mở hồn đón lấy những vang vọng của đời” Anh mơ ước đến một ngày anh sẽ viết được một tác phẩm lớn chung cho cả loài người “Nó đề cập đến những vấn đề bức xúc của cả xã hội của cả nhân loại Nó nói được những cái lớn lao, mạnh mẽ vừa đau đớn vừa phấn khởi, nó ca tụng lòng thương tình bác ái, sự công bình Nó làm cho người gần người hơn.” Và nhất định anh sẽ giật giải Nobel ! Đó là cuốn tiểu thuyết vĩ đại trong đời viết văn của anh Nó sẽ làm rạng danh cho anh, cho nền văn học nước nhà Đó quả là ước mơ chính đáng ! Không phải người nghệ sĩ nào cũng khao khát như vậy khi bước vào con đường văn chương đầy khổ ải Nhà văn phải biết xây ước mơ đẹp, và khát vọng của
Hộ là khát vọng mạnh mẽ nhất và đẹp nhất Hộ xác định đúng con đường cho mình – xác định tư tưởng cho mình
Anh không sa vào những mơ mộng về nghệ thuật - nghệ thuật là “ánh trăng huyền ảo” (như Điền tron Trăng sáng) Anh thấy ánh trăng của nghệ thuật biết “làm đẹp cả những cảnh thật ra chỉ tầm thường xấu xa” Quan điểm của anh đúng đắn lắm !
Tư tưởng của anh tiến bộ lắm ! Thế nhưng, trong sáng tác của mình anh đã viết những gì ? Anh đã cho ra đời những sáng tác như thế nào ? Anh không hướng nghệ thuật vào “thứ văn chương của bọn nhàn rỗi”; anh không biết để cho những cô gái áo xanh, áo đỏ tha thướt đọc, nhưng anh viết những gì từ khi anh bắt tay vào sáng tác? Chao ôi ! Anh đã viết những bài
mà thậm chí khi đọc thấy tên của mình dưới bài viết, anh phải “đỏ mặt” xấu hổ Anh giận dữ với chính anh Anh khinh ghét những tác phẩm chỉ biết “gợi những tình cảm rất nhẹ rất nông bằng một thứ văn quá ư bằng phẳng dễ dãi” của chính mình Dường như anh hoảng hốt, anh ngạc nhiên trước những bài viết của mình mới ra đời Anh dằn vặt ghê gớm Anh muốn nhưng có phải bao giờ ý muốn cũng thành viện thực đâu ! Và đó chính là cái bi kịch của anh – bi kịch của một đời viết văn –
bi kịch của người hiểu mình biết mình phải làm gì và đành lựa bút theo những điều mình chẳng hề muốn Tôi cảm thấy cái đau đớn khủng khiếp tự chốn sâu thẳm của tâm hồn anh Một cái gì đó bỗng chốc sụp đổ trong anh Đấy chính là sự sụp đổ của một khát vọng đẹp và chân chính
Anh phải sống như thế, bôi bác như thế cũng chính là vì những ràng buộc của “áo cơm” Chao ôi ! Giá như anh đựơc bay nhảy với những giấc mơ ấy !Nhưng “cơm áo không đùa với khách thơ” (Xuân Diệu) Anh còn vợ và một đàn con nhỏ Kiếp người với bao toan tính bộn bè níu kéo anh, không cho anh bay lên cùng giấc mộng của đời trai trẻ Chính nỗi lo về tiền bạc
đã buộc anh phải viết những bài trái với lương tâm và trách nhiệm Trong đầu anh luôn quay cuồng với những tính toán về giá cả sinh hoạt, về bữa ăn hằng hàng… thì đâu còn chỗ cho văn chương nữa Anh phải viết thật nhanh, thật nhiều để người vợ, đàn con và chính anh khỏi chết đói Giá như anh cứ bỏ dứt cái mộng văn chương thì chắc đời anh chẳng khốn đốn đến thế ! Nhưng anh cần nghĩ tới tác phẩm của anh – các tác phẩm cho toàn nhân loại nên anh lại càng đau đớn ! Nước mắt anh không chảy nhưng đớn đau thì chồng chất tập trung hơn Chao ôi ! “Đau đớn thay cho những kiếp sống muốn cất cánh bay cao nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất” (Sống mòn) Đó chính là bi kịch của cuộc đời viết văn của anh – bi kịch của những giấc mộng văn chương chính là ở chỗ đó ! Và tưởng như giấc mộng văn chương ấy chính là điều day dứt trong anh mãi không thôi
Lop11.com
Trang 3Phải có những hiểu biết sâu sắc về tâm tư tình cảm con người thì Nam Cao mới viết được những dòng đầy cảm xúc như thế ! Dường như những day dứt trong cuộc đời ông - cuộc đời văn sĩ khổ ải – đã nhập vào những suy tư của Hộ, đã nhập vào tấn bi kịch tinh thần của Hộ Có người nói, Hộ chính là hình ảnh của nhà văn Nam Cao thời kì trước Cách mạng Tôi không hoàn toàn nghĩ thế Nam Cao đã có thể bị cơm áo ghì chặt nhưng Nam Cao hơn hẳn Hộ; ông đã biết vượt lên trên những lo toan ấy để biến giấc mơ thành hiện thực Ông đã viết những lời văn hay nhất, đẹp nhất về cuộc đời những kiếp lầm than và chắc chắn Nam Cao không phải đỏ mặt khi thấy tên mình sau những tác phẩm như Chí Phèo, Đời thừa… Bởi chính đó là giấc mơ văn chương nẩy nở Có thể tự tin mà nói rằng với Đời thừa, Nam Cao đã bộc lộ được tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo của mình khi viết những dòng bi kịch về Hộ Kinh nghiệm và vốn sống đã cho ông viết những điều có sức rung động, lay chuyển lòng người đến thế! Đó chính là nhờ tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo của nhà văn Nam Cao Nhân đạo ở sự ca ngợi khát vọng đẹp đẽ của Hộ, nhân đạo ở sự cảm thông sâu sắc với ngừoi tri thức… Và viết lên được những dòng như thé cũng là nhờ cái nhân đạo “mới mẻ” độc đáo của Nam Cao Qua bi kịch tinh thần đầu tiên này của Hộ, Nam Cao đã bộc lộ được sự cảm thông, trân trọng bao kiếp người lao khổ trong cuộc đời này Và phải chăng tư tưởng ấy
đã kế thừa được của cha ông lòng nhân đạo truyền thống Nhà văn không “phản ánh để phản ánh” mà sau những câu chữ tưởng như lãnh đạm, thờ ơ chính là một trái tim nhiệt thành, sôi nổi - một trái tim của tình nghĩa
Hộ, nhân vật chính của Đời thừa, là một nhà văn có tài và đầy tâm huyết Người đọc có thể nhận ra ở Hộ nhiều nét tự truyện của chính Nam Cao Hộ đã từng viết được những tác phẩm có giá trị, được bạn bè cùng giới viết văn và người đọc yêu mến, cổ vũ Nhưng, không muốn dừng lại ở bất kỳ chặng nào của thành công, không bao giờ mãn nguyện với những gì đã được viết ra Hộ luôn luôn khao khát vươn tới cái tận thiện, tận mĩ của nghệ thuật Hộ thèm khát nghĩ đến một tác phẩm “nó
sẽ làm mờ hết các tác phẩm cùng ra một thời”
Hộ (và cả Nam Cao nữa) có là một nhà văn “nghệ thuật vị nghệ thuật” không? Không Bởi với Hộ, nghề văn thật là một nghề cao đẹp trong đời, là một nghề có ý nghĩa phục vụ con người, phụng sự nhân loại ở mức độ cao Nó làm cho con người trở nên phong phú hơn, cao thượng hơn, nhân ái và độ lượng hơn, gần gũi nhau hơn Hộ tự đòi hỏi cao và không bao giờ tự bằng lòng về mình, vì cái đẹp, sự tuyệt đối của nghệ thuật, đồng thời cũng vì một ý thức trách nhiệm cao đối với người đọc, đối với nhân loại mà Hộ phụng sự Đối với Hộ, đưa ra cho người đọc một tác phẩm mờ nhạt, nông cạn, hơn nữa, lại viết cẩu thả, là một việc làm thiếu lương tâm, tệ hơn nữa, đó là một sự lừa gạt Không muốn chỉ làm “một người thợ khéo tay” trong nghề văn Hộ muốn “khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có” Cuộc đời mà sống với những hoài bão như của Hộ, luôn phấn đấu để vươn tới, để hoàn thiện, luôn nhìn thấy mối mâu thuẫn giữa điều đã làm được và điều đáng phải làm được, luôn cố gắng để xoá bỏ sự mâu thuẫn giữa điều mình đang có và cái mình phải có, phải vươn tới; nguyên chừng ấy thôi đã đủ để
cho người ta không yên, đã đủ để người ta phải sầu khổ, nhiều khi cảm thấy đổ vỡ Nhưng không chỉ có thế, tấn bi kịch của
Hộ còn lớn hơn nhiều!
Bi kịch đầu tiên của cuộc đời nhà văn Hộ và đó cũng là nguyên nhân cho bi kịch thứ hai – bi kịch của một con người Giấc mộng văn chương sụp đổ qua những bài viết ẩu Thế nhưng Hộ vẫn còn chút an ủi Đó chính là cuộc sống, sự
tồn tại của vợ con anh Anh chưa thực hiện đuợc khát vọng của mình – anh chưa viết được cuốn tiểu thuyết của đời anh, nhưng anh nuôi đủ vợ con Anh đã kéo dài đươc sự tồn tại của gia đình mình Và đó có thể goi là việc làm hữu ích Đó cũng
là cái an ủi cho cái “đời thừa” của một nhà văn Thế cũng đáng an ủi lắm chứ !
Vì anh là người đặt “tình thương” lên hàng đầu, lẽ sống của anh là tình thương Tình thương là trên hết Chính trong lời khẳng định về tác phẩm trong tương lai của mình, anh đã nói: tác phẩm có giá trị là tác phẩm “ca tụng lòng tương, tình bác
ái, sự công bình” Trong văn chương, anh muốn ca ngợi tình thương và trong cuộc đời thực, tình thương là tất cả Chính vì
lẽ sống tình thương của mình, anh đã đón Từ, giúp Từ thoát khỏi những tủi nhục khi một mình trơ trọi với đứa con không cha Những giọt nước mắt của Từ và của bà mẹ già của Từ đã khiến anh xúc động Họ muốn khóc cho đến khi “bao nhiêu xương thịt cứ tan ra thành nước mắt” nhưng gặp anh, tình thương của anh đã toả rạng đến giúp họ thoát khỏi những đớn đau Một người dám bỏ cái đời bay nhảy của tuổi xanh để nuôi nấng vợ con chẳng là người dũng cảm lắm sao ! Chính tình thương - lẽ sống tình thương đã khiến anh làm việc ấy Anh cao đẹp quá ! Đời anh không phải là “đời thừa” với gia đình nho nhỏ của anh Anh đau khổ vì tên anh cứ “lu mờ dần sau những tên khác mới xuất hiện rực rỡ” nhưng với Từ và đàn con – anh là biểu tượng sáng chói của tình thương Tình thương ấy là rất đáng trân trọng Trong một xã hội rác rưởi “chó đểu” như thế, thành động của anh chẳng là một hành động tốt đẹp hiếm hoi hay sao ? Thế nhưng, anh cũng chẳng giữ đựơc trọn vẹn cái lẽ sống cao quý ấy của mình nữa Quả là một sai lầm khi anh kết luận: nguyên nhân trực tiếp cho sự sụp đổ các giấc mộng văn chương chính là vợ anh và đàn con nheo nhóc kia Anh cạn nghĩ quá ! Đó không phải hoàn toàn là lỗi của vợ con anh Thất vọng trong văn chương, buồn chán trong không khí gia đình đã khiến nah tìm niềm vui trong men rượu Anh muốn quên, quên đi tất cả
Anh không say trong men tình ái, trong khúc nhạc đong đưa… mà sau khủng khiếp trong men rượu Chính anh cũng không hiểu tại sao anh về được đến nhà Anh chỉ biết anh đã tỉnh dậy trên giường nhà mình khi tay chân rã rời Men rượu “chết tiệt” ấy chính là cái trực tiếp làm cho bi kịch trong anh xuất hiện Rượt đã khiến anh trở thành kẻ vô học, rượu đánh đồng loạt những người xấu, người tốt, kẻ giàu, người nghèo trong những cơn say Khi say, ai cũng như ai hết ! Men rượu của anh không giúp anh có được cái tình của Chí Phèo giúp hắn hướng về cái “thiên lương” Men rượu đã khiến anh trở thành một
kẻ tiểu nhân vô học Anh đã vi phạm lẽ sống tình thương của mình Anh đã đánh vợ chon anh như một kẻ vũ phu Vâng, chính lúc đó anh là kẻ vũ phu Anh đã đánh đập vợ, người vợ hiền lành tận tuỵ của mình không biết bao nhiêu lần nữa mà
kể Anh chỉ mặt Từ mà quát mắng:
Trang 4- “Cả con mẹ mày nữa cũng đáng vật chết” Anh đã làm tất cả, tất cả trong say Sao mà tai hại quá ! Anh đã vi phạm lẽ sống của mình, vi phạm cái tốt đẹp – cái phần “người” vô cùng cao đẹp tưởng còn được an ủi bởi anh đã giữ trong lẽ sống tình thương của mình Ai ngờ, cuộc sống vẫn không cho phép anh thực hiện điều đó Thế mà nay, chính cái lẽ sống ấy anh cũng chà đạp nốt Anh - cuộc sống đời anh quả là “đời thừa” Bi kịch đầu tiên là bi kịch của những giấc mộng văn chương nên cái
“thừa” còn không quá nhiều đau đớn như bi kịch này, bi kịch mà kết cục là cái “thừa” ấy của anh đã được được thể hiện đầy
đủ Anh đã động đến phần cao quý nhất Đó là bi kịch tinh thần của một con người mà đau đớn hơn, đó lại là con người ý thức được phẩm giá nhân cách của mình nhiều nhất Ở bi kịch trước, cái mặc cảm tội lỗi trong anh rất lớn vì anh là một nhà văn Nếu Chí Phèo chỉ gieo rắc tội lỗi của hắn cho dân làng Vũ Đại, anh giáo Thứ chỉ truyền thụ sự chán nản lên đầu học sinh thì anh – anh gieo những “tình cảm rất nhẹ, rất nông” những tình cảm qua ư tầm thường ấy vào bao nhiêu độc giả Sự nhiễm hại ấy lớn hơn Dù thế bi kịch thứ hai này – bi kịch của một người mặc cảm tội lỗi còn lớn hơn nhiều.Với tư cách của một nhà văn anh đã gây ảnh hưởng đến người đọc từ những bài văn viết lấy lợi nhuận Với tư cách của một con người, anh
đã gây ra những điều ghê gớm hơn Xã hội này đã quá nhiều, quá thừa những cái xấu Anh cố giữ tốt đẹp trong mình thế
mà anh cũng phá hỏng nốt Mặc cảm này quá lớn và không hề có gì để an ủi được Lẽ sống tình thương là cái được anh đề cao nhất mà anh còn vi phạm thì chẳng còn gì nữa cả Bi kịch này của anh, lớn hơn gấp bội bi kịch kia bởi lẽ sống tình thương, chỗ dựa của bao giá trị nhân phẩm khác sụp đổ
Là một người tôn thờ cái đẹp, cái cao thượng trong văn chương, Hộ cũng muốn sống đẹp trong tư cách một con người Và
Hộ đã có một hành động đẹp, tuyệt đẹp của lòng nhân ái Hộ đã cứu danh dự của Từ, cứu sống đời Từ, cưu mang Từ đúng vào lúc Từ cần đến những điều ấy nhất Trong tư cách một người chồng, một người cha, Hộ muốn Từ và các con mình hạnh phúc, ít nhất là không khổ, không đau khổ Nhưng Hộ đã làm được những gì? Từ càng ngày càng khổ, càng gầy gò, xanh xao vì thiếu thốn, đói khát Các con Hộ thì càng nheo nhóc, tật bệnh Nguyên chỉ nhìn thấy cái cảnh ấy cũng đã đau khổ rồi, đầy bi kịch rồi, bi kịch của một người muốn làm điều tốt, muốn hạnh phúc cho người khác mà không sao làm được Tuy nhiên bi kịch chính của Hộ là ở chỗ này: mối mâu thuẫn giữa khát vọng của một người nghệ
sĩ với ước muốn làm một con người tốt đẹp Để có tiền có thể nuôi vợ nuôi con (dầu chỉ có mức độ thiếu đói), Hộ phải viết vội những tác phẩm mà ngay khi biết ra xong, chính Hộ đã thấy chán Hộ phải chống lại ngay chính mình, vi phạm ngay những tiêu chuẩn mà Hộ đặt ra cho mình trong tư cách nhà nghệ sĩ Viết văn để kiếm tiền, viết vội, viết cẩu thả, đó là điều không thể tha thứ, không thể bào chữa được, đối với Hộ Nhưng để làm một người nghệ sĩ chân chính ư? Thì
Hộ phải bỏ mặc vợ con, thậm chí tàn nhẫn với vợ con Nhưng như thế, với Hộ, lại là hèn nhát, là vô lương tâm, cũngkhông thể tha thứ được Hộ đã chẳng từng nêu như một tiêu chuẩn sống là gì: “Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình” Hộ không thể chọn lấy một trong hai con đường: hi sinh nghệ thuật để làm một người chồng, người cha tốt, hoặc vì cái đẹp tối thượng của nghệ thuật mà hi sinh phần con người, làm một con người nhẫn tâm, vô trách nhiệm
Cả hai thứ trách nhiệm ở Hộ đều được ý thức rất cao Hộ không có quyền, và không thể chọn lấy và hi sinh bất kỳ phần nào Tấn bi kịch thường xuyên dai dẳng của Hộ chính là ở đó Trên cả hai phương diện trách nhiệm, Hộ đều cảm thấy mình làm được ở mức tồi nhất Vì thế mà Hộ luôn luôn lên án mình, tự xỉ vả mình Tấn bi kịch ấy trở thành một chứng u uất trầm kha nơi Hộ, có những lúc đã bộc phát lên Những lúc ấy, những lúc say rượu, Hộ đã chọn lấy một, đã muốn tìmmột giải phóng cực đoan nhất Nhưng rồi tỉnh cơn say, tình thế vẫn vậy, cái vòng lẩn quẩn vẫn vậy, xem chừng lại nặng nề, bi đát hơn Đời thừa kết thúc bằng một lần tỉnh rượu của Hộ sau một cơn say (trước đó đã bao nhiêu lần như thế?), Hộ khóc trước cái dáng nằm ngủ khổ sở của Từ, trong vòng tay gầy yếu của Từ CảTừ cũng khóc Hộ khóc vì hối hận đã tệ bạc, đã tỏ ra thô bạo với Từ Nhưng nguyên nhân chính, hẳn Hộ đã khóc cho nỗi đau của mình, khóc vì cái bế tắc của đời mình, khóc sự tan
vỡ thảm thương của hoài bão to tát và đẹp nhất của mình Rồi cả Từ nữa, Từ cũng khóc vì cô đã mơ hồ
nhận ra điều đó Đời thừa có phải là tấn bi kịch muôn đời của người trí thức? Người ta có thể vừa sống với hoài
bão lớn lao hiến dâng cho sự nghiệp, vừa sống với phần con người tốt đẹp của mình không?Được lắm chứ Thế thì nguyên nhân bi kịch của Hộ ở đâu? Chính là ở sự bế tắc chật hẹp của đời sống Cái vòng lẩn quẩn mà xã hội đã khép chặt lại trên thân phận người trí thức nghèo trong xã hội cũ, đặc biệt xã hội Việt Nam thời kỳ 1930-1945
Nam Cao, với Đời thừa, đã để lại cho ta một bức tranh hiện thực, đồng thời cũng để lại cho ta một thông điệp Người ta có thể sống mà không cảm thấy đời mình là đời thừa; không cảm thấy sống là sống mòn, là một cách chết mòn Muốn thế, phải giật tung hết những cái lẩn quẩn, những bế tắc của đời sống đi - Nỗi đau không được sống xứng đáng là một nhà văn: Phẩm chất quan trọng của nhà văn là tinh thần nhân văn, sức sáng tạo đời dào Hạnh phúc của nhà văn là thỏa mãn đam
mê nhưng Hộ phải in …chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương -> Hộ tự thấy mình đang đánh mất dần phẩm chất và niềm hạnh phúc đó
- Nỗi đau không được sống xứng đáng là một con người: Phẩm chất quan trọng nhất của “người” và niềm kiêu hãnh cao cả của kẻ “mạnh” là yêu thương giúp đỡ “kẻ khác”- nguyên tắc tình thương nhưng Hộ phải trở thành kẻ hèn kém thẫm chí vũ phu -> Hộ tự thấy phẩm chất ấy đang chết mòn, tự mình đang vi phạm nguyên tắc tình thương
+ Nhà văn đã hóa thân vào nhân vật để khơi sâu thêm nỗi buồn nỗi đau, cảm thương và đặc biệt còn thể hiện niềm trân trọng đối với nhân vật: hiểu những băn khoăn trăn trở, nỗi đau của nhân vật, thấy những day dứt trong nội tâm nhân vật: thấy trách nhiệm với văn chương, với gia đình, tưởng tượng ra tác phẩm của mình đựoc giải Nôben, con mình được ăn ngon …để rồi phải khóc nức nở và tự xỉ vả mình là thằng khốn nạn
4 Nghệ thuật
a Miêu tả tâm lí nhân vật - Tâm lí nhân vật là một quá trình theo đúng lôgic của phép biện chứng tâm hồn: cảm giác mệt
mỏi, khát nước sau cơn say -> cảm giác được sự chăm sóc của vợ (ấm nước đầy …) -> nỗi buồn nao nao -> đột nhiên hoảng sợ -> tỉnh rượu hẳn, nhận ra sự có mặt của vợ trong dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não -> bùi ngùi ngắm vợ, ái ngại và thương xót -> tự vấn về bổn phận và tình thương, tư cách làm chồng làm cha -> khóc nức nở
Lop11.com
Trang 5- Nam Cao không đứng ngoài quan sát cảm nhận miêu tả mà ông đã nhập vai, hóa thân vào nhân vật để cất tiếng nói bên trong Điều này thể hiện một cách hiệu quả bằng cách cho nhân vật độc thoại nội tâm bằng giọng tự vấn đầy thổn thức, ân hận, đau đớn, bằng lời văn dày đặc những câu hỏi câu cảm …
b Nghệ thuật kể chuyện
- Đan xen giữa hiện tại và quá khứ: thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật Thời gian trần thuật chỉ khoảng một ngày( sáng hôm trước -> sáng hôm sau), thời gian được trần thuật là cả quãng đời dài (từ lúc còn là gã tuổi trẻ say mê lí tưởng -> khi tha hóa, một con người đáng yêu đã chẳng là mình nữa ) Sự đan xen hiện tại và quá khứ một cách khéo léo qua các đoạn kể, hồi tưởng và độc thoại nội tâm tạo tính hàm súc và thể hiện sắc nét tính cách nhân vật: đau xót, khốn khổ không lối thoát
5 Đời thừa- tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao- “Sự cẩu thà trong văn chương thì thật là đê tiện…Văn chương không
cần những người thợ khéo tay…sáng tạo những gì chưa có” -> Văn chương đồng nghĩa với sáng tạo, yêu cầu rất cao ở tính mới mẻ, độc đáo
- “Một tác phẩm thật giá trị phải vượt lên…người gần người hơn”: tác phẩm văn chương có giá trị nhất thiết phải mang nội dung nhân đạo sâu sắc
6.Giá trị nội dung
Bi kịch khủng khiếp hoàn toàn không có lối thoát của Hộ và dường như nó bao trùm thành bi kịch của cả đời anh - một “đời thừa” Anh đổ lỗi tất cả cho gia đình, nhưng tất cả là tại anh Tuy vậy cũng cần nói thêm rằng, bi kịch ấy có nguyên nhân sâu
xa chính từ xã hội đương thời Chính xã hội ấy đã đẩy anh phải lo “cơm áo gạo tiền” Nỗi lo sinh kế đã khiến anh phải từ bỏ giấc mộng văn chương Và chính những thất vọng ấy đã khiến anh chà đạp lên lẽ sống tình thương của mình Nguyên nhân
ấy có lẽ anh không hiểu được – nguyên nhân của xã hội thực dân nửa phong kiến – nguyên nhân mà ngày ấy người ta đã nhận ra Anh chưa tìm được lối thoát cho sự bế tắc Đó là cái bế tắc của thời đại mà anh đang sống
Nhưng đó phải chăng là nét hạn chế trong tư tưởng nhân đạo của Nam Cao ? Ông đã biết đề cao những khát vọng đẹp của người trí thức, đã biết thông cảm với những nổi khổ của họ nhưng chưa đề ra được lối thoát cho họ Nhưng những “tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo” ấy đã là đáng quý, đáng trân trọng biết bao ! Độc đáo, mới mẻ chính là ở lòng thương người – tình người nồng đượm bao la đằng sau lối viết văn tưởng như dửng dưng lãnh đạm
III.Kết luận:
Ngày nay cuộc đời đã được đổi thay Lớp văn sĩ đã thoát khỏi dù là một phần những nỗi lo “cơm áo” không còn những bi kịch tinh thần như Hộ nữa Nhà văn ngày nay được ưu đãi hơn Chúng ta không thể quên thời kỳ mà người trí thức văn nghệ sĩ mang những bi kịch tinh thần
Tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo của Nam Cao đã khiến cho nhân vật dù qua bao thăng trầm vẫn đứng vững với tư cách một con người chân chính
Vĩnh biệt cửu trùng đài
1 Tìm hiểu các xung đột kịch trong đoạn trích:
+ Mâu thuẫn 1: Tình huống kịch xảy ra trong hồi V xuất phát từ mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm than và bọn hôn quân bạo chúa cùng các phe cánh của chúng
- Qúa trình phát triển của mâu thuẫn này đã chỉ ra tính tất yếu của hồi V :
+Mục đích xây Cửu Trùng Đài nguy nga tráng lệ để ăn chơi hưởng lạc
+Nguyên liệu và công sức để xây Cửu Trùng Đài, là tiền bạc,của cải mà vua đã ra sức bắt thuế, tróc thợ từ dân lành, làm cho nhân dân vất vả, đói khát, chết vì bệnh dịch, tai nạn
->Tương Dực không phải là một ông vua yêu nước, thương dân Điều này tất yếu dẫn đến “loạn” và “biến” -Kết quả : hôn quân bị giết, hoàng hậu nhảy vào lửa… Cửu Trùng Đài hiện thân cho tham vọng ăn chơi của Lê Tương Dực bị đốt thành tro
+ Vũ Như Tô coi Cửu Trùng Đài là cả phần xác và phần hồn của cuộc đời mình ( vì đây là công trình nghệ thuật tô điểm cho vẻ đẹp của đất nước)
->Vì nó, Ông sẵn sàng chấp nhận làm việc cho hôn quân bạo chúa; dù bị thương vẫn tiếp tục chỉ đạo công việc; trị tội những thợ bỏ trốn…
- Mâu thuẫn 2 : Giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần tuý và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân cha đẻ của nó –Vũ Như Tô- chính là kẻ thù của họ cần phải bị trị tội-Ngược lại trong mắt dân chúng, Cửu Trùng Đài là hiện thân của sự ăn chơi xa xỉ, hiện thân của tội ác
-> Họ vui mừng khi Cửu Trùng Đài chaý, Vũ Như Tô ra pháp trường
- Vũ Như Tô chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ thuần tuý, hết mình phụng sự cái đẹp
- Ông không đứng về phía Lê Tương Dực, nhưng lại muốn mượn uy quyền, tiền bạc của hắn để thực hiện hoài bão nghệ thuật của mình
- Nhưng lợi ích nghệ thuật mà Vũ Như Tô theo đuổi đã mâu thuẫn với thực tế đời sống của nhân dân
=>Kết thúc trên chỉ ra tính bi kịch không thể điều hoà của mâu thuẫn
2 Nhân vật Đan Thiềm và Vũ Như Tô :
Trang 6a Nhân vật Đan Thiềm :
- Đan Thiềm là một cung nữ nhưng lại có “bệnh” đam mê , trân trọng, nâng niu cái đẹp, cái tài của Vũ Như Tô
- một kiến trúc sư biết sáng tạo cái đẹp
- Vì mê đắm cái tài mà Đan Thiềm không quản ngại những điều thị phi, quên cả nguy hiểm của bản thân để bảo vệ Vũ Như Tô
->Đan Thiềm là một người biết “ biệt nhỡn liên tài”
+ Đan Thiềm là người khuyên Vũ Như Tô ở lại để xây Cửu Trùng Đài (ở hồi 1), nhưng khi có biến lại tìm mọi cách thuyết phục ông trốn đi
-> Cả 2 lời khuyên này đều “có ý nghĩa” duy nhất : bảo vệ cái tài, cái đẹp ( “khi trước trốn đi thì ông nguy, bây giờ trốn đi thì ông thoát chết”)
=> Đan Thiềm là một người không mơ mộng mà tỉnh táo, thức thời, hiểu đời, hiểu người (đây là điểm khác biệt giữa nàng và Vũ Như Tô)
-Tâm trạng của Đan Thiềm khi nhận ra thất bại của giấc mộng Cửu Trùng Đài:
+ Nàng đau đớn khi nghĩ đến sự sống chết của Vũ Như Tô
+ Có đến 20 lần nàng thúc giục Vũ Như Tô
“ trốn đi, lánh đi, đi đi, chạy đi”
+ Lời thúc giục vừa van xin, vừa khẩn thiết, quyết liệt:
“ Ông nghe tôi ! … Đợi thời là thượng sách ! Đừng để phí tài trời Trốn đi !”
+ Có đến 4 lần nàng nhắc lại yêu cầu khẩn thiết đó + Nàng sẵn sàng lấy tính mạng của mình để đánh đổi sự sống còn của Vũ Như Tô “Đừng giết ông Cả Kẻo tướng quân mang hận về muôn đời Tha cho ông Cả Tôi xin chịu chết”
+ Đến khi “có trốn cũng không được nữa”, Đan Thiềm tìm mọi cách van xin tha tội cho Vũ Như Tô
+ “Ông Cả! Đài lớn tanh tành! Ông Cả ơi! Xin cùng ông vĩnh biệt!” + “ Xin cùng ông vĩnh biệt”
+ Kết thúc lớp kịch thứ VII, chỉ còn tiếng kêu thảng thốt, đau đớn, nghẹn ngào, nức nở của Đan Thiềm
+ Những đổ vỡ của một giấc mộng lớn bây giờ thật tan hoang : ông cả, Đài lớn, cái tài, cái đẹp, tất cả đền tan tành trong cơn biến loạn
=> Mọi cố gắng giữ gìn, bảo vệ không thành Câu nói cuối cùng của Đan Thiềm là lời vĩnh biệt mãi mãi Cửu Trùng Đài – vĩnh biệt một giấc mộng lớn trong máu và nước mắt
b.Nhân vật Vũ Như Tô :
+ Cái tài của ông được ngợi ca đến mức siêu phàm, một thiên tài “ngàn năm chưa dễ có một”, “có thể sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân” + “ Tài kia không nên để uổng Ông mà có mệnh hệ nào thì nước
ta không còn ai để tô điểm nữa”, “đừng để phí tài trời”
- Vũ Như Tô là một kiến trúc sư tài ba
- Nhưng Vũ Như Tô vì quá khao khát đam mê chìm đắm trong cái đẹp mà trở nên mơ mộng, ảo vọng
+ Gíâc mộng ấy bắt đầu từ khi ông quyết định xây Cửu Trùng Đài cho Lê Tương Dực, mượn tay bạo chúa để xây dựng một công trình tô điểm cho đời
+ Càng sáng suốt trong sáng tạo, thiết kế, thi công Cửu Trùng Đài, ông càng xa rời thực tế, càng ảo vọng -Trong thời khắc biến loạn dữ dội, Vũ Như Tô vẫn không tỉnh, vẫn say sưa với giấc mơ Cửu Trùng Đài
+ “ Ai ai cũng cho ông là thủ phạm Vua xa xỉ là vì ông, công khố hao hụt là vì ông, dân gian lầm than là vì ông…”, ông vẫn cho là “họ hiểu nhầm”
+ Tận mắt chứng kiến cảnh đốt phá, nghe tiếng quân reo tìm mình phanh thây, ông vẫn cho là điều “vô lý” + Bị bắt dẫn về trình chủ tướng, ông hy vọng có thể “phân trần”, “giảng giải cho người đời biết rõ nguyện vọng của ta”
- Chỉ đến khi Cửu Trùng Đài bị cháy, Vũ Như Tô mới nhận ra sự thực về giấc mộng lớn đã tan tành
+ Vũ Như Tô “rú lên” kinh hoàng và tuyệt vọng “Đốt thực rồi! Đốt thực rồi! Ôi mộng lớn, Đan Thiềm, Cửu Trùng Đài!”
->Nỗi đau vỡ mộng hoá thành tiếng kêu bi thiết, não nùng, khắc khoải – Vũ Như Tô đã chết trước khi ra pháp trường
- Bi kịch Vũ Như Tô đã thức tỉnh ý thức của chúng ta về vấn đề muôn thuở : Mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống- NGHỆ THUẬT PHẢI VỊ NHÂN SINH thì nghệ thuật mới tồn tại và được nhân dân tôn thờ, nâng niu, bảo vệ
- Đoạn trích đã thể hiện một ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao
- Cách dẫn đắt các xung đột kịch thể hiện tính cách, tâm trạng nhân vật thông qua ngôn ngữ và hành động rất thành công
- Các lớp kịch ngắn, thay đổi liên tục, lời thoại gấp gáp, các tiếng reo, tiếng thét…tạo một không gian bạo lực kinh hoàng đến chóng mặt
- Việc đặt nhân vật trong không gian cung cấm với các tên đất , tên người cụ thể ít nhiều có yếu tố sử sách làm cho vở kịch hoành tráng, có không khí lịch sử
Lop11.com
Trang 7“VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI” VÀ BI KỊCH VỠ MỘNG CỦA VŨ NHƯ TÔ
T.S NGUYỄN THÀNH THI (Phó chủ nhiệm khoa Ngữ văn ĐHSPTPHCM)
1 Hồi thứ năm, hồi cuối bi kịch lịch sử VŨ NHƯ TÔ xoay quanh một sự kiện chính: Sự kiện đốt phá Cửu trùng đài, bắt, giết những người đã sáng tạo ra nó, chôn vùi họ trong tro tàn Cửu Trùng đài và trong tro tàn của lịch
sử một triều đại mục ruỗng của hôn quan bạo chúa Bao trùm hồi kịch là một nỗi đau và một niềm hoang mang lớn thấm đượm một ý vị triết mỹ sâu xa
Hành động, sự kiện chính của hồi này có thể tóm tắt như sau:
Lợi dụng tình hình rối ren và mâu thuẫn giữa nhân dân, thợ xây đài với Vũ Như Tô và bạo chúa Lê Tương Dực, Trịnh Duy Sản cầm đầu một phe cánh đối nghịch trong triều đình đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ thuyền làm phản
Biết tin có binh biến, bạo loạn trong phủ chúa, nguy hiểm đến tính mạng Vũ Như Tô, Đan Thiềm hết lời
khuyên và giục chàng đi trốn Nhưng Vũ khăng khăng không nghe vì tự tin mình “quang minh chính đại”,
“không làm gì nên tội” và hi vọng ở chủ tướng An Hòa Hầu
Tình hình càng lúc càng nguy kịch Lê Tương Dực bị giết; đại thần, hoàng hậu, cung nữ của y cũng vạ lây; Đan Thiềm bị bắt, … Kinh thành điên đảo
Khi quân khởi loạn đốt Cửu trùng đài thành tro, Vũ Như Tô mới tỉnh ngộ Chàng trơ trọi, đau đớn vĩnh việt cửu trùng đài rồi bình thản ra pháp trường
Ở hồi này, mâu thuẫn, xung đột kịch đã được đẩy lên đến đỉnh điểm Hai mâu thuẫn[1] cơ bản của vở kịch đã hòa vào nhau, “cô đặc các mâu thuẫn bên trong, phơi bày những xung đột sâu sắc của thực tại dưới dạng bão hòa và căng thẳng đến cực độ mang ý nghĩa tượng trưng nghệ thuật”[2] Và, nếu như trong những hồi đầu mâu thuẫn thứ hai chỉ tiềm ẩn, có vẻ mờ nhạt thấp thoáng đằng sau mâu thuẫn thứ nhất, thì giờ đây, nó hầu như đã nhập hòa làm một với mâu thuẫn thứ nhất Nó hầu như “không thể giải quyết” và, mọi khắc phục mâu thuẫn đều dẫn đế “sự diệt vong những giá trị quan trọng” Những giá trị quan trọng ấy là Cửu Trùng Đài và những người đã dày công sáng tạo nên nó: Trớ trêu thay, gần cuối vở kịch, những người dân nổi loạn (trong
đó có những người thợ xây đài, vốn trước đây nặng ân nghĩa với Vũ Như Tô) thậm chí, hầu như đã không mấy quan tâm đến việc trả thù bạo chúa Lê Tương Dực – việc này đã có phe cánh Trịnh Duy Sản đảm nhiệm – mà chỉ mải mê đốt phá Cửu Trùng Đài và chăm chăm truy diệt Vũ Như Tô, truy diệt người cung nữ “đồng bệnh” với ông là Đan Thiềm!
Tính đa nghĩa, thâm trầm, giàu sắc thái triết mỹ của vở kịch liên quan nhiều đến các biểu tưởng mà tác giả đã dụng công tạo ra, hướng độc giả ít nhiều các suy tư về Tự do, Quyền lực, Sắc, Tài, Tình, Nhân dân, Cái Thiện, Cái Ac, Cái Đẹp,… Trong đó hình tượng đa nghĩa mang tính biểu tượng nghệ thuật cần phải nói đến trước tiên
là Cửu Trùng Đài
Một mặt, Cửu Trùng Đài – như cái tên của nó – là một công trình kiến trúc mà tầm vóc không thể chỉ tính đếm bằng lượng gỗ cây, đá khối, cho dù đó là những con số nghe qua cũng đã đủ kinh hoàng (“hai trăm vạn cây gỗ chất đống cao như núi, toàn những gỗ quý vô ngần”,“hai mươi vạn phiến đá lớn, bốn mươi vạn phiến
đá nhỏ, từ Chân Lạp tải ra”) Tầm vóc của nó, phải hình dung bằng chính tầm vóc ý tưởng, khát vọng đầy ngạo nghễ của người sẽ tạo ra nó: một công trình độc nhất vô nhị, vượt xa tất cả những kỳ quan ở Trung Quốc, An Độ, Chiêm Thành,… và những công trình mà người đời từng biết đến, từng truyền tụng Lại là một
kỳ quan bền vững, bất diệt Xây công trình, tác giả của nó không thèm “tranh tinh xảo” với người, chỉ “tranh tinh xảo với Hóa công”! Đó là hiện thân của cái Đẹp, không phải cái Đẹp nó chung mà là cái Đẹp “siêu đẳng” Với những nhà kiến trúc tài cao, đây là dịp thi thố tài năng, thực hiện “mộng lớn”, khẳng định thiên tài kỳ vĩ của mình
Mặt khác, Đài Cửu Trùng còn là hiện thân cho cái Đẹp xa hoa Xây nên kỳ quan ấy, tất nhiên cực kỳ tốn kém, một sự tốn kém không chỉ tính bằng tiền của ngân khố quốc gia, mà còn phải tính bằng cả mồ hôi, nước mắt
và máu nữa Đánh đổi bằng tất cả những thứ đó, Đài Cửu Trùng được xây lên với mục đích gì? Chưa biết trong tương lai thế nào, còn trước mắt, nhất là nhìn từ lợi ích của hôn quân Lê Tương Dực, thì “xây đài” chỉ là để
“cho vua chơi”! Nhưng ví thử, không gặp một ông vua hưởng thụ xa hoa như Lê Tương Dực, thì chưa chắc và cũng chưa biết đến bao giờ, Vũ Như Tô được thi thố tài năng? Cái oái oăm là ở đó, và mầm mống bi kịch của
Vũ Như Tô cũng là ở đó
Trang 8Theo đó, ý nghĩa biểu tưởng thâm trầm của Cửu Trùng Đài được xác lập trên nhiều mối quan hệ Cho dù đó không phải là một nhân vật bi kịch, song người đọc có thể từ hình tượng này gạch các dấu gạch nối về nhiều phía, xác lập quan hệ với nhiều nhân vật trong vở kịch để tìm hiểu ý nghĩa phong phú của nó: Với Vũ Như Tô, Cửu Trùng Đài hiện thân cho “mộng lớn” Với Đan Thiềm, Cửu Trùng Đài hiện thân cho niềm kiêu hãnh nước nhà Với Lê Tương Dực, Cửu Trùng Đài là quyền lực và ăn chơi Với dân chúng, Cửu Trùng Đài là món nợ mồ hôi, xương máu,…
Trước lúc vở kịch hạ màn, sau khi dân chúng làm cái việc họ tất phải làm (đốt phá Cửu Trùng Đài thành tro bụi), Vũ Như Tô và Đan Thiềm tột cùng đau đớn, tiếc nuối “vĩnh biệt” Cửu Trùng Đài, và vĩnh biệt nhau (ĐAN THIỀM – Đài lớn tan tành! Ông cả ơi! Xin cùng ông vĩnh biệt!; VŨ NHƯ TÔ – Đan Thiềm, xin cùng bà vĩnh biệt!), thì cái tên Cửu Trùng Đài, trong một sắc thái chua chát mỉa mai, còn toát ra một ý nghĩa khác: Cửu Trùng Đài là “mộng lớn” là biểu tưởng cho sự bền vững trường tồn, nhưng, cái Đẹp và sự tồn tại của nó hóa
ra lại chỉ ngắn ngủi và mong manh như một giấc chiêm bao!
Đó hẳn cũng là lý do để Nguyễn Huy Tưởng chọn cái tác phẩm thiên tài của người nghệ sĩ trong vở bi kịch này
là một công trình kiến trúc kỳ vĩ (chứ không phải là một pho tượng, bức tranh, bản nhạc, cuốn tiểu thuyết,…),
và người nghệ sĩ tác giả của tác phẩm ấy, phải là một kiến trúc sư (chứ không phải một nhà điêu khắc, họa sĩ, nhạc sĩ, hay một nhà văn) Sự lựa chọn của Nguyễn Huy Tưởng tất nhiên không bao hàm một cái nhìn thứ bậc, một thái độ trọng khinh, mà chỉ đơn giản là vì sự lựa chọn này giúp ông triển khai được nhiều mối quan
hệ và tạo cho biểu tượng nghệ thuật trở nên lung linh, lấp lánh nhiều tầng ý nghĩa
2 Trong hồi kịch này, Vũ Như Tô- Đan Thiềm, cũng là cặp hình tượng bi kịch mang tính biểu tượng nghệ thuật cao
Vũ Như Tô hiện lên như một tính cách bi kịch, vừa bướng bỉnh vừa mềm yếu vừa kiên định vừa dễ hoang mang
Nhân vật bi kịch thường mang trong mình không chỉ những say mê khát vọng lớn lao mà còn mang cả những lầm lạc trong hành động và tư duy của chính nó Nhưng, không bao giờ khuất phục hoàn cảnh, nhân vật bi kịch bướng bỉnh vùng lên chống lại và thách thức số phận
Tính cách nổi bật nhất của Vũ Như Tô: là tính cách của người nghệ sĩ tài ba, hiện thân cho niềm khát khao và đam mê sáng tạo Cái Đẹp Nhưng trong một hoàn cảnh cụ thể cái đẹp ấy thành ra phù phiếm, nó sang trọng, siêu đẳng, thậm chí, “cao cả và đẫm máu” như một “bông hoa ác” Vì thế, đi tận cùng niềm đam mê khao khát ấy Vũ Như Tô tất phải đối mặt với bi kịch đau đớn của đời mình Chàng trở thành kẻ thù của dân chúng, thợ thuyền mà không hay biết
Cái tài ba được nói đến chủ yếu ở các hồi, lớp trước thông qua hành động của anh và nhất là lời của các nhân vật khác nói về anh: thiên tài “ngàn năm chưa dễ có một” Nghệ sĩ ấy có thể “sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây những lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ” Anh “chỉ vẩy bút là chim hoa đã hiện trên mảnh lụa thần tình biến hóa như cảnh hóa công” Nhưng chính vì quá đam mê khao khát đắm chìm trong sáng tạo mà Vũ càng dễ xa rời thực tế đời sống; càng sáng suốt trong sáng tạo nghệ thuật thì càng mê muội trong những toan tính âu lo đời thường Hồi thứ V không nói nhiều đến tài năng của nhân vật (chỉ duy nhất có Đan Thiềm nhắc đến), mà đặt Vũ vào việc tìm kiếm một câu trả lời: xây Đài Cửu Trùng là đúng hay sai? có công hay có tội? Nhưng Vũ không trả lời được thỏa đáng câu hỏi đó bởi chàng chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ mà không đứng trên lập trường của nhân dân, trên lập trường cái Đẹp mà không đứng trên lập trường cái Thiện Hành động của chàng không hướng đến sự hòa giải
mà thách thức và chấp nhận sự hủy diệt Vũ đã từng tranh tinh xảo với hóa công, giờ lại bướng bỉnh tranh phải- trái với số phận và với cuộc đời Hành động kịch hướng vào cuộc đua tranh này thể hiện qua diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô
Nếu Vũ Như Tô là người đam mê Cái Đẹp và khát khao sáng tạo Cái Đẹp thì tính cách của Đan Thiềm là tính cách của người đam mê Cái Tài, cụ thể là tài sáng tạo nên cái đẹp “Bệnh Đan Thiềm”, như chữ của Nguyễn Huy Tưởng, là bệnh mê đắm người tài hoa, hay như chữ của Nguyễn Tuân bệnh của kẻ “biệt nhỡn liên tài” Nhưng cái tài ở đây không phải cái tài nói chung mà là cái tài siêu việt, siêu đẳng Đan Thiềm có thể quên mình để khích lệ, bảo vệ cái tài ấy, nhưng nàng luôn tỉnh táo, sáng suốt trong mọi trường hợp vì nàng hiểu người hiểu đời hơn, thức thời, mềm mại và dễ thích ứng với hoàn cảnh hơn Vũ Như Tô Hai lần nàng khuyên nhủ Vũ Như Tô đều hết sức sáng suốt, nhưng lần thứ nhất lời khuyên có hiệu lực, lần thứ hai thì không, bi kịch của Đan Thiềm chủ yếu gắn với thất bại này Tất nhiên nàng chỉ đau xót và tiếc thay cho Vũ Như Tô chứ không oán trách chàng Giữa nàng với người đồng bệnh Vũ Như Tô vẫn có một khoảng cách không thể vượt qua Tâm lí của Đan Thiềm ở hồi thứ V tập trung diễn biến theo sự thành bại của lời – cũng là hành động –
Lop11.com
Trang 9khuyên can này.
Ở hồi cuối cả Vũ Như Tô và Đan Thiềm đều lâm vào trạng thái khủng hoảng với một nỗi đau chung: sự “vỡ mộng” thê thảm Nhưng diễn biến tâm trạng của họ có chiều hướng vận động và biểu hiện khác nhau
Đan Thiềm cũng đau đớn nhận ra thất bại của giấc “mộng lớn” xây Cửu Trùng Đài, nhưng nhạy bén, sớm sủa, kịp thời hơn Vũ Như Tô Tâm trí của nàng giờ đây không còn hướng vào thành bại của việc xây Cửu Trùng Đài
mà hướng vào sự sống còn của Vũ Như Tô, người nghệ sĩ “tài trời” nghìn năm có một Nàng khẩn khoản khuyên Vũ đi trốn, và thấy lời khuyên của mình vô hiệu thì hốt hoảng đau đớn tột cùng Trong mấy lớp liên tiếp của hồi V, Đan Thiềm đã năm lần bảy lượt khuyên Vũ Như Tô “trốn đi” (15 lần khuyên trốn, điệp khúc trốn
đi, lánh đi, chạy đi vang lên đến 14 lần; 4 lần nàng van lạy phe nổi loạn “tha cho ông cả”) Điệu bộ nàng “hớt
hơ hớt hải” “mặt cắt không còn một giọt máu” Giọng nàng “thở hổn hển”, đứt đoạn trong âm vang kinh hoàng điên đảo của bạo loạn chốn cung đình, trong khi mà chính nàng bị sỉ vả bắt bớ rất bất công, oan nghiệt Lời nói của nàng khẩn khoản như đẫm máu và nước mắt (ĐAN THIỀM: – Tướng quân nghe tôi Bao nhiêu tội tôi xin chịu hết Nhưng xin tướng quân tha cho ông Cả Ông ấy là một người tài…) Đến lúc nhận ra đến cả việc đổi mạng sống của mình để cứu Vũ Như Tô cũng không được nữa thì Đan Thiềm đành buông lời vĩnh biệt tất cả (Nàng nói: “Đài lớn tan tành! Ong Cả ơi! Xin cùng ông vĩnh biệt!”, mà không nói: “Vĩnh biệt ông Cả!”)
Đó cũng là lời vĩnh biệt mãi mãi Cửu trùng đài, vĩnh biệt một “giấc mộng lớn” trong máu và nước mắt
Vũ Như Tô, trái lại, vẫn không thể thoát ra khỏi trạng thái mơ màng, ảo vọng của chính mình Chàng không thể tin rằng cái việc cao cả mình làm lại có thể bị xem là tội ác, cũng như không thể tin sự quang minh chính đại của mình lại bị rẻ rúng, nghi ngờ Sự “vỡ mộng” của Vũ vì thế đau đớn, kinh hoàng gấp bội so với Đan Thiềm Nỗi đau ấy bộc lộ thành tiếng kêu bi thiết mà âm điệu não nùng, khắc khoải của nó thành âm hưởng chủ đạo bao trùm đọan kết đã đành mà còn thành một thứ chủ âm dội ngược lên toàn bộ những phần trước của vở bi kịch “Ôi mộng lớn! Oi Đan Thiềm! Oi Cửu Trùng Đài!” Đó cũng là những tiếng kêu cuối cùng của Vũ Như Tô khi ngọn lửa oan nghiệt đang bùng bùng thiêu trụi Cửu Trùng Đài, trước khi tác giả của nó bị dẫn ra pháp trường Trong tiếng kêu ấy “mộng lớn”, “Đan Thiềm”, “Cửu Trùng Đài” đã được Vũ đặt liên kế với nhau, nỗi đau mất mát như nhập hòa làm một, thành một nỗi đau bi tráng tột cùng
Như vậy điễn biến tâm trạng của hai nhân vật ở hồi cuối này góp phần thể hiện tính cách bi kịch ở mỗi người cũng như những gì được xem là “đồng bệnh”, “tri âm” (hay đồng điệu) ở họ, đồng thời qua đó, góp phần khơi sâu hơn chủ đề của tác phẩm
Chứng “đồng bệnh” ở Đan Thiềm và Vũ Như Tô được chính hai người nói ra, cả khi tự nói về mình – “đôi mắt thâm quầng này do những lúc thức khi người ngủ, khóc khi người cười, thương khi người ghét” – lẫn khi nói
về Vũ Như Tô– “Tài làm lụy ông, cũng như nhan sắc người phụ nữ… tài bao nhiêu, lụy bấy nhiêu” Chứng
“đồng bệnh” ấy, thực chất là sự đồng điệu trong mộng ước, đồng điệu trong nỗi đau… xuất phát từ sự tự ý thức sâu xa về bi kịch của Tài và Sắc (hay là sự bạc bẽo của thân phận nghệ sĩ và giai nhân, được thâu tóm
cô đúc trong chữ Lụy)
3 Bằng một ngôn ngữ kịch có tính tổng hợp rất cao, nhất là trong hồi cuối Vũ Như Tô, nhà văn đã đồng thời khắc họa tính cách, miêu tả tâm trạng, dẫn dắt hành động, xung đột kịch rất thành công, tạo nên một bức tranh đời sống bi kịch rất hoành tráng trong nhịp điệu bão tố của nó
Nhịp điệu được tạo ra thông qua nhịp điệu của lời nói – hành động (nhất là qua khẩu khí, nhịp điệu, sắc thái lời nói – hành động của Đan Thiềm – Vũ Như Tô đối đáp với nhau và với phe đối nghịch; qua lời nói – hành động của những người khác trong vai trò đưa tin, nhịp điệu “ra”, “vào” của các nhân vật đầu và cuối mỗi lớp – các lớp đều ngắn, có những lớp rất ngắn: chỉ dăm ba lượt thoại nhỏ; những tiếng reo, tiếng thét, tiếng động dội
từ hậu trường phản ánh cục diện, tình hình nguy cập, điên đảo trong các lời chú thích nghệ thuật hàm súc của tác giả)
Với một ngôn ngữ có tính tổng hợp (kể, miêu tả, bộc lộ…) và tính hành động rất cao như vậy, người ta dễ dàng hình dung cả một không gian bạo lực kinh hooàng trong một nhịp điệu chóng mặt: Lê Tương Dực bị Ngô Hạch giết chết, Hoàng hậu nhảy vào lửa tự vẫn (qua lời kể của Lê Trung Mại); Nguyễn Vũ tự tử bằng dao (ngay trên sân khấu), Đan Thiềm suýt bị bọn nội giám thắt cổ ngay tại chỗ; Vũ Như Tô ra pháp trường Rồi tiếng nhiếc móc, chửi rủa, la ó, than khóc, máu, nước mắt… tất cả hừng hực như trên một cái chảo dầu sôi lửa bỏng khổng lồ
Nhưng đây lại là một bi kịch lịch sử Viết một vở kịch lịch sử, Vũ Như Tô tất nhiên dựa trên các sử liệu: sự kiện, nhân vật lịch sử, bối cảnh lịch sử Điều quan trọng là khai thác vận dụng các sử liệu ấy như thế nào, sao
Trang 10được nhà văn khai thác ở đây là câu chuyện Vũ Như Tô xây Cửu trùng đài cho Lê Tương Dực (theo như sách Đại Việt sử kí và Việt sử thông giám cương mục ghi lại) Đài xây dang dở, người thợ tài hoa Vũ Như Tô đã phải chịu cái chết oan khốc Ở đây, để góp phần làm nên cái khung cảnh và không khí bi tráng của lịch sử, tác giả đã đặt hành động kịch vào trong “một cung cấm”, nhiều nhân vật kịch là những nhân vật lịch sử Nhiều tên đất tên người gắn với triều Lê… Đúng như lời chú thích sân khấu của tác giả: Sự việc trong vở kịch xảy ra
ở Thăng Long trong khoảng thời gian từ năm 1516 đến năm 1517, dưới triều Lê Tương Dực
4 Thực tại được phản ánh trong bi kịch theo lối cô đặc các mâu thuẫn bên trong, phơi bày những xung đột sâu sắc của thực tại dưới dạng bão hòa và căng thẳng đến cực độ mang ý nghĩa tượng trưng nghệ thuật Tác phẩm thường đặt độc giả trước những câu hỏi phức tạp, hóc búa, nhức nhối của cuộc sống
Trong lời Đề tựa viết một năm sau khi viết xong vở kịch, chính Nguyễn Huy Tưởng đã công khai bày tỏ nỗi băn khoăn của mình: “Đài Cửu Trùng không thành, nên mừng hay nên tiếc? Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải […] Than ôi, Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với đan Thiềm”
Cho đến khi bi kịch hạ màn, người xem vẫn chưa thấy đâu câu trả lời dứt khoát của tác giả Nói đúng hơn ông nhường câu trả lời cho người đọc người xem Mâu thuẫn và tính không dứt khoát trong cách giải quyết mâu thuẫn này được thể hiện tập trung trong hồi cuối của vở kịch Cửu Trùng Đài sụp đổ và bị đốt cháy, nhân dân trước sau vẫn không hiểu gì việc sáng tạo của nghệ sĩ, không hiểu nổi Đan Thiềm, Vũ Như Tô cũng như “mộng lớn” của hai nhân vật hiện thân cho tài sắc này Về phía khác, Đan Thiềm không cứu được Vũ Như Tô và Họ
Vũ vẫn không thể, không bao giờ hiểu được việc làm của quần chúng và của phe cánh nổi loạn
Mâu thuẫn mà vở bi kịch nêu lên thuộc loại mâu thuẫn không bao giờ và không ai giải quyết cho thật dứt khoát, ổn thỏa được, nhất là trong thời đại Vũ Như Tô Mâu thuẫn này may ra có thể giải quyết được phần nào thỏa đáng khi mà đời sống vật chất của nhân dân thật bình ổn, đời sống tinh thần nhu cầu về cái đẹp trong xã hội được nâng cao lên rõ rệt
Mặc dầu vậy, chủ đề và định hướng tư tưởng của vở kịch vẫn được phát triển tương đối sáng tỏ
Một mặt, trên quan điểm nhân dân, vở kịch lên án bạo chúa tham quan, đồng tình với việc dân chúng nổi dậy trừ diệt chúng; nhưng mặt khác, trên tinh thần nhân văn, vở kịch đã ca ngợi những nhân cách nghệ sĩ chân chính và tài hoa như Vũ Như Tô, những tấm lòng yêu quý nghệ thuật đến mức quên mình như Đan Thiềm Đây là chủ đề được thể hiện chủ yếu qua mâu thuẫn thứ hai của vở kịch: mâu thuẫn giữa niềm khát khao hiến dâng tất cả cho nghệ thuật của người nghệ sĩ đắm chìm trong mơ mộng với lợi ich trực tiếp và thiết thực của đời sống nhân dân
(In trong Phân tích, bình giảng tác phẩm văn học 11 nâng cao, NXB Giáo dục, 2007.)
Chú thích:
[1] Mâu thuẫn thứ nhất: mâu thuẫn giữa đời sống xa hoa, đọa lạc của bọn tham quan bạo chúa với đời sống
cơ cực thống khổ của nhân dân lao động (nói gọn lại là mâu thuẫn giữa lợi ích của bạo chúa với quyền sống của thường dân) Mâu thuẫn thứ hai: mâu thuẫn giữa niềm khát khao hiến dâng tất cả cho nghệ thuật của người nghệ sĩ đắm chìm trong mơ mộng với lợi ích trực tiếp và thiết thực của đời sống nhân dân
[2] Tri thức đọc hiểu “bi kịch”, Ngữ Văn 11, tập 1, NXB Giáo dục, tr
II- Đọc hiểu
1 Các xung đột (mâu thuẫn) kịch trong đoạn trích
a- Mâu thuẫn 1: Tình huống kịch trong hồi V xuất phát từ mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ, lầm than và bọn hôn quân, bạo chúa.
+ Chúng xây Cửu Trùng Đài để ăn chơi, hưởng lạc
+Việc xây dựng khiến cho nhân dân vất vả, đói khát, nhiều người chết vì bệnh dịch, tai nạn
Lop11.com