1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Lịch sử

17 47 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 738,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua thực tế giảng dạy, bản thân tôi đã kiểm chứng được việc sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình giảng dạy đã phát huy một cách tối đa tính sáng tạo, khả năng phát triển tư duy của học [r]

Trang 1

LỜI NểI ĐẦU

Một trong những nội dung quan trọng của đổi mới giỏo dục phổ thụng hiện nay

là đổi mới phương phỏp dạy học theo hướng phỏt huy tớnh tớch cực, chủ động, sỏng tạo của học sinh Đổi mới dạy học núi chung và đổi mới dạy học lịch sử núi riờng là một quỏ trỡnh được thực hiện thường xuyờn và kiờn trỡ, trong đú cú nhiều yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau Dạy như thế nào? Học như thế nào? để đạt được hiệu quả học tập tốt nhất là điều mong muốn của tất cả thầy cụ giỏo

Phõn mụn Lịch sử là một bộ mụn khoa học xó hội rất quan trọng trong nhà trường Nú giỳp cho thế hệ trẻ hiểu được cội nguồn dõn tộc, biết được quỏ khứ của tổ tiờn Từ những hiện vật cụ thể, những sự kiện lịch sử, học sinh tự hào về truyền thống dõn tộc, tiếp theo, biết kế thừa và phỏt huy những tinh hoa của tổ tiờn trong sự nghiệp xõy dựng và bảo vệ tổ quốc ngày nay Muốn làm sống dậy quỏ khứ của lịch sử, mỗi bài dạy ở trờn lớp ngoài việc cung cấp đầy đủ những kiến thức cơ bản cần phải sử dụng một cỏch hợp lý, khộo lộo các phương tiện và đồ dựng dạy học mới tỏi hiện được sự việc đó qua

Để gúp phần vào việc đổi mới phương phỏp dạy học núi chung, dạy học lịch sử

núi riờng, tụi xin trỡnh bày một số kinh nghiệm về việc “Sử dụng bản đồ tư duy trong

dạy học mụn Lịch ”.

Qua thực tế giảng dạy, bản thõn tụi đó kiểm chứng được việc sử dụng bản đồ tư duy trong quỏ trỡnh giảng dạy đó phỏt huy một cỏch tối đa tớnh sỏng tạo, khả năng phỏt triển tư duy của học sinh để nắm vững và khắc sõu kiến thức 1 cỏch logic qua hỡnh thức ghi chộp bằng mạng liờn tưởng với cỏc màu sắc, hỡnh ảnh, từ ngữ, đường nột trong việc đào sõu kiến thức mới cũng như hệ thống húa kiến thức cũ Từ dú cú thể giỳp cỏc em

tự tin hơn trong học tập

Với việc nghiờn cứu đề tài này, tụi mong muốn sẽ gúp phần giỳp giỏo viờn tiến hành giờ dạy đạt hiệu quả cao hơn, học sinh tớch cực hơn trong việc tiếp thu, chiếm lĩnh kiến thức của bài học

Trang 2

GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT BỘ MÔN LỊCH SỬ THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY

A PHẦN MỞ ĐẦU

I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lí luận

Việc học tập Lịch sử, cũng như học tập bất cứ bộ môn nào ở nhà trường đều nhằm cung cấp kiến thức khoa học, hình thành thế giới quan khoa học, phẩm chất đạo đức chính trị cho học sinh

Trong những năm qua khi thực hiện chương trình thay sách giáo khoa, việc đổi mới phương pháp dạy học đã được nhiều người quan tâm và khẳng định vai trò quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học trong việc nâng cao chất lượng dạy học

Bộ môn Lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ sở của khoa học lịch sử, nên đòi hỏi học sinh không chỉ nhớ mà còn phải hiểu và vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống Cho nên, cùng với các môn học khác, việc học tập Lịch sử đòi hỏi phát triển

tư duy, thông minh, sáng tạo Đã có quan niệm sai lầm cho rằng học Lịch sử chỉ cần học thuộc lòng sách giáo khoa, ghi nhớ các sự kiện - hiện tượng lịch sử là đạt, không cần phải tư duy - động não, không có bài tập thực hành,… Đây là một trong những nguyên nhân làm suy giảm chất lượng môn học

Điều quan trọng nhất trong trong việc đổi mới phương pháp dạy học là thầy dạy thế nào để học sinh động não, làm thay đổi chất lượng hoạt động trí tuệ của học sinh, làm phát triển trí thông minh, trí sáng tạo của các em Hiện nay, trong quá trình dạy học trên lớp, hoạt động trí tuệ chủ yếu của học sinh là ghi nhớ và tái hiện Ở nhà, học sinh tự học dưới dạng học bài và làm bài…nhưng về căn bản đã được hướng dẫn ở lớp, nên hoạt động trí tuệ của học sinh vẫn nặng về rèn luyện trí nhớ và khả năng tái hiện Như vậy, rèn luyện năng lực tư duy, khả năng tưởng tượng, sáng tạo phát triển trí tuệ, trí thông minh…của học sinh nói chung, được xem là nhiệm vụ chủ yếu, nhiệm vụ quan trọng nhất của quá trình dạy học hiện đại Vì vậy, then chốt của việc đổi mới phương pháp dạy học là điều chỉnh mối quan hệ giữa tái hiện và sáng tạo, đến việc tăng

Trang 3

cường các phương pháp sáng tạo nhằm đổi mới tính chất hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học

2 Cơ sở thực tiễn :

Dạy học Lịch sử là dạy những gì đã xảy ra trong quá khứ, mỗi bài học đều có rất nhiều sự kiện và khái niệm lịch sử học sinh phải nhớ và hiểu Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kỹ năng tư duy Học sinh chỉ học bài nào biết bài đấy, nhớ các kiến thức lịch sử một cách rời rạc và rất nhanh quên

Ngoài ra, do quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của môn lịch sử trong đời sống

xã hội Một số học sinh và phụ huynh có thái độ xem thường bộ môn lịch sử, coi đó là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần đầu tư công sức nhiều, dẫn đến hậu quả học sinh không nắm đựơc những sự kiện lịch sử cơ bản, nhớ sai, nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tượng khá phổ biến trong thực tế ở nhiều trường

Qua nhiều năm giảng dạy lịch sử , bản thân tôi luôn trăn trở để tìm ra những phương pháp giúp học sinh hứng thú học tập bộ môn hơn và đạt kết quả cao hơn Một trong những phương pháp có hiệu quả tôi đã thực hiện gây hứng thú học tập cho học sinh là sử dụng các sơ đồ để dạy và củng cố bài học Trên cơ sở đó, bản thân tôi đã chọn đề tài nhỏ về đổi mới phương pháp dạy học: Giúp học sinh học tốt bộ môn Lịch

sử ở trường THCS thông qua việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học dạy học

II MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Giúp HS dễ nhớ: lịch sử là những gì đã trải qua trong quá khứ Do vậy , bộ môn cung cấp một lượng kiến thức rất lớn trong một khoảng thời gian hạn hẹp Vì thế, mô hình hoá kiến thức lịch sử sẽ giúp các em dễ học dễ nhớ, khắc sâu kiến thức

Giúp HS hiểu được bản chất, quy luật phát triển của lịch sử, lịch sử bao giờ cũng phát triển theo chiều đi lên Cái xuất hiện sau thường tiến bộ hơn cái trước nó Quy luật của lịch sử là không có cái gì tự nhiên sinh ra hay mất đi Mà bao giờ nó cũng kèm theo những căn nguyên nhất định Vd: Lịch sử đấu tranh của dân tộc ta từ 1858-nay không phải ngẫu nhiên lại lần lượt đào thải hai con đường cứu nước: phong kiến và tư sản Mà chính do những hạn chế của hai con đường này đã dẫn tới hàng loạt phong trào yêu nước –con đẻ của nó bị thất bại và

Trang 4

mục tiêu giành độc lập không đạt được Chỉ đến khi con đường vô sản xuất hiện, vừa khắc phục những điểm yếu của hai con đường trước nó, vừa chứng minh bằng những thắng lợi của mình Vì vậy, con đường vô sản thực sự được lựa chọn…Do đó , hệ thống hoá kiến thức giúp HS so sánh, đánh giá, lý giải vấn đề …nhờ vậy mà hiểu được lịch sử, phát triển tư duy logic trong nhận thức lịch sử

Để thực hiện tốt đề tài nghiên cứu bản thân đẫ thực hiện các nhiệm vụ:

Nghiên cứu các tài liệu về “ Phương pháp dạy học Lịch sử”

Thao giảng, dự giờ đồng nghiệp trao đổi rút kinh nghiệm qua từng tiết dạy

Nghiên cứu tài liệu gây hứng thú về dạy học lịch sử

Nghiên cứu tài liệu tâm lí học

Sách giáo khoa, sách giáo viên lịch sử

Kiểm tra đánh giá học sinh và làm bài để từ đó có điều chỉnh và bổ sung hợp lí Phương pháp thực nghiệm, đối chiếu, so sánh

III PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài xoay quanh việc nghiên cứu giảng dạy và học tập với việc sử dụng “Bản

đồ tư duy” trong dạy học lịch sử bậc trung học cơ sở Đối tượng nghiên cứu mà tôi áp dụng là học sinh trường THCS Mỹ Hội

IV KẾ HOẠCH THỰC HIỆN

Trong năm học 2010-2011 kết quả học tập của học sinh hỗ trợ của đồng nghiệp,

sự quan tâm chỉ đạo của các cấp lãnh đạo, trong năm 2011-2012 bản thân mạnh dạng

áp dụng đồ tư duy trong dạy học lịch sử qua kết quả học tập của học sinh trong học kì 1 năm học 20111-2012 kết quả học tập của học sinh rất khả quan

B NỘI DUNG

I.CƠ SỞ LÍ LUẬN

Trong phương pháp dạy học trước đây thì việc dạy học bằng bản đồ tư duy đã được áp dụng, như vẽ sơ đồ hay biểu bảng nhưng ở mức độ đơn giản áp dụng không thường xuyên Còn đối với phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy hiện nay là một phương pháp được thực hiện với mức độ cao và ưu điểm vượt trội nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh trong việc tìm tòi, đào sâu hay mở rộng một ý tưởng,… bằng việc sử dụng đồng thời hình ảnh,

Trang 5

đường nét và chữ viết với sự tư duy tích cực Cùng một chủ đề nhưng có thể trình bày dưới dạng bản đồ tư duy theo một cách riêng, với cách dùng màu sắc, hình ảnh và cụm

từ diễn đạt khác nhau Chính từ đó mà việc lập bản đồ tư duy luôn phát huy được khả năng sáng tạo của mỗi giáo viên và học sinh

Trong dạy học lịch sử, do không trực tiếp quan sát các sự kiện nên phương pháp trực quan góp phần quan trọng trong việc tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hóa các

sự kiện nhằm nâng cao chất lượng dạy học Nhiều bài dạy lịch sử có rất nhiều thông tin

và sự kiện học sinh không thể nhớ hết, nhưng GV hệ thống bằng bản đồ tư duy thì bài học sẽ trở nên ngắn gọn và dễ hiểu Qua thực tế giảng dạy bản thân xin đưa ra một số kinh nghiệm nhỏ trong việc sử dụng bản đồ tư duy để dạy học bộ môn lịch sử

II.CƠ SỞ THỰC TIỂN

Bản đồ tư duy (BĐTD) là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng

và đào sâu các ý tưởng BĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó

là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não

Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh) BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với nhau

vì vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương

Vì thế, vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học lịch sử sẽ giúp học sinh có phương pháp học hợp lý, nhằm phát huy tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh một cách triệt để

Việc thể hiện bản đồ tư duy có thể được vẽ trên giấy bìa, bảng, sử dụng bút chì, màu, phấn,… hoặc có thể thiết kế trên Powerpoint hay các phần mềm tin học chuyên dùng để hỗ trợ việc thiết kế bản đồ tư duy” Với phương pháp này không chỉ phát triển được trí tuệ của học sinh qua khả năng vẽ và viết ngắn gọn, cô đọng nội dung bài học trên bản đồ tư duy, mà các em học sinh còn hệ thống được kiến thức khi tổng hợp và chọn lọc ý để trình bày trên bản đồ

Với hình thức trình bày kết hợp hình vẽ, chữ viết và sự vận dụng kiến thức trong

Trang 6

sỏch vở và trong cuộc sống đó khiến cho bài học thờm sinh động và hấp dẫn hơn Đõy

là phương phỏp hỗ trợ tớch cực cho tiết dạy, ụn tập kiến thức cho học sinh một cỏch khoa học Qua đú học sinh ghi nhớ sõu sắc kiến thức, trỏnh được kiểu học vẹt, học thuộc lũng một cỏch mỏy múc”

III THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG MÂU THUẨN

1 Ưu điểm :

* Về phía giáo viên :

Hiện nay việc dạy và học đang được ỏp dụng nhiều phương phỏp dạy học tớch cực

để từng bước chuyển dần cỏch dạy học từ chỗ trang bị kiến thức cho học sinh sang dạy cho học sinh cỏch tiếp cận và chiếm lĩnh kiến thức Từ đú, vận dụng kiến thức vào thực

tế và biến đổi thành kỹ năng cho riờng bản thõn mỡnh Việc ỏp dụng phương phỏp dạy học bằng bản đồ tư duy kết hợp với cỏc phương phỏp học nhúm, cụng nghệ thụng tin,… vào trong giảng dạy hiện đang là cụng cụ phự hợp và đạt hiệu quả nhằm nõng cao chất lượng dạy và học trong giỏo dục hiện nay Đõy là một phương phỏp mới, nhưng tớnh hiệu quả rất cao Qua thực tế giảng dạy, bản thõn thấy tõm đắc vỡ phương phỏp này giỳp cho học sinh phỏt huy được sự tự tin, sự logic, sỏng tạo và phỏt triển được khả năng tư duy,…” Ngoài ra, dạy học bằng bản đồ tư duy giỳp cho học sinh thuộc bài ngay tại lớp, nhớ nhanh, nhớ sõu và chớnh xỏc nội dung bài học của mỡnh Đặc biệt, đối với phương phỏp này cũn giỳp cho học sinh khụng nhàm chỏn mà luụn sụi nổi và hào hứng trong tiết học, từ đú tạo được điều kiện cho học sinh tập trung thảo luận và cựng tỡm ra vấn đề cốt lừi trong nội dung của bài học Với phương phỏp này buộc học sinh phải chủ động trong việc học của mỡnh, từ đú mà hiệu quả trong việc học khụng ngừng được nõng cao

* Về phía học sinh :

- Học sinh đa số chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ trả lời các câu hỏi mà giáo viên đặt ra như các em đã chuẩn bị bài mới ở nhà, trả lời các câu hỏi cuối mục trong bài cho nên khi học các em luôn chú ý để nắm chắc bài hơn

- Đa số học sinh đều tích cực thảo luận nhóm và đã đưa lại hiêụ quả cao trong quá trình lĩnh hội kiến thức

Trang 7

- Học sinh yếu kém đã và đang cố gắng nắm bắt các kiến thức trọng tâm cơ bản thông qua các hoạt động học như thảo luận nhóm, vấn đáp, đọc sách giáo khoa các em

đã mạnh dạn khi trả lời các câu hỏi hay ghi nhớ các sự kiện, nhân vật, một quá trình cách mạng trong việc chiếm lĩnh kiến thức của mình

2 Hạn chế :

* Về phía giáo viên :

Vẫn còn một số ít giáo viên chưa thực sự thay đổi hoàn toàn phương pháp dạy học cho phù hợp với từng tiết dạy, chưa tích cực hoá hoạt động của học sinh tạo điều kiện cho các em suy nghĩ , chiếm lĩnh và nắm vững kiến thức như vẫn còn sử dụng phương pháp dạy học “thầy nói, trò nghe ”, “thầy đọc, trò chép ” Do đó nhiều học sinh chưa nắm vững được kiến thức mà chỉ học thuộc một cách máy móc, trả lời câu hỏi thì nhìn vào sách giáo khoa hoàn toàn

Đa số giáo viên chưa nêu câu hỏi nhận thức đầu giờ học tức là sau khi kiểm tra bài

cũ giáo viên vào bài luôn mà không giới thiệu bài qua việc nêu câu hỏi nhận thức, điều này làm giảm bớt sự tập trung, chú ý bài học của học sinh ngay từ hoạt động đầu tiên Một số tiết học giáo viên chỉ nêu vài ba câu hỏi và huy động một số học sinh khá, giỏi trả lời, chưa có câu hỏi giành cho đối tượng học sinh yếu kém Cho nên đối tượng học sinh yếu kém ít được chú ý và không được tham gia hoạt động, điều này làm cho các em thêm tự ti về năng lực của mình và các em cảm thấy chán nản môn học của mình

* Về phía học sinh :

Học sinh thường trả lời câu hỏi giáo viên đặt ra thông qua việc nhìn sách giáo khoa

và nhắc lại, chưa có sự độc lập tư duy Một số học sinh còn đọc nguyên bản sách giáo khoa để trả lời câu hỏi

Học sinh còn lười học và chưa có sự say mê môn học, một số bộ phận học sinh không chuẩn bị bài mới ở nhà, không làm bài tập đầy đủ , trên lớp các em thiếu tập trung suy nghĩ Cho nên việc ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử còn yếu

Học sinh chỉ có trả lời được những câu hỏi dễ, đơn giản (như trình bày), còn một số câu hỏi tổng hợp, phân tích, giải thích, so sánh thì học sinh còn rất lúng túng khi trả lời hoặc trả lời thì mang tính chất chung chung

Trang 8

IV GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN

1 Chuẩn bị

Nghiên cứu kĩ tài liệu tập huấn về sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học

Tải và luyện tập sử dụng phần mền thiết kế bản đồ tư duy

Luyện tập vẽ bản đồ tư duy bằng phương pháp thủ công: trên máy, trên bảng Lập kế hoạch hướng dẫn học sinh các bước vẽ bản đồ tư duy vào tập

Lựa chọn nội dung, bài giảng phù hợp sử dụng bản đồ tư duy

2 Hướng dẫn học sinh vẽ bản đồ

Bước 1: chọn từ trung tâm

Bước 2: xác định các nhánh cấp 1

Bước 3 xác định các nhánh cấp 2 theo từng nhánh cấp 1

* Lưu ý hướng dẫn học sinh phân biệt cấp độ của các nhánh bằng màu sắc, kí tự hình học hoặc kí tự hình học hoặc bằng cách của riêng các em Điều này sẽ dẫn đến sự sáng tạo riêng từng học sinh giúp các em nhớ được nội dung bài, tác phẩm của mình

Ví dụ 1: Khi dạy sử 9 bài 8 :Nước Mĩ, thì giáo viên hình thành bản đồ tư duy phần I , thì học sinh sẽ dễ nhớ bài và khi nhìn vào bản đồ tư duy, học sinh thấy được tình hình kinh tế Mĩ sau chiến tranh và học sinh có thể tự hình thành bản đồ tư duy theo ý tưởng của mình

Đây là dạng bài không có sơ đồ được vẽ sẵn trong sách giáo khoa, không yêu cầu học sinh kĩ năng vẽ sơ đồ, mục tiêu của phần 1 làm cho học sinh hiểu rõ được sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ đã vươn lên trở thành nước tư bản giàu mạnh nhất về kinh tế, khoa học- kĩ thuật và quân sự trong thế giới tư bản chủ nghĩa

Để thực hiện mục tiêu rèn luyện kĩ năng tôi đã tổ chức hoạt động dạy học như sau: Bước 1: Học sinh đọc kênh chữ ở sách giáo khoa “I TÌNH HÌNH KINH TẾ NƯỚC MĨ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI” trang 33 SGK lịch sử 9 Bước 2: Cho học sinh hoạt động theo 6 nhóm, dựa trên thông tin của kênh chữ để

vẽ bản đồ tư duy về tình hình kinh tế Mĩ sau chiến tranh thế giới thứ hai

Bước 3: Các nhóm vẽ bản đồ tư duy trên bản phụ và trình bày bản đồ bằng lời nói sau khi giáo viên yêu cầu

Trang 9

Bước 4: Học sinh nhận xét, bổ sung hoàn chỉnh phần bản đồ, giáo viên kết luận, đánh giá hoạt động của học sinh

Bước 5: Học sinh quan sát tự vẽ sơ đồ vào vở

Với hình thức tổ chức hoạt động dạy đã nêu trên, giáo viên đã cho học sinh hoạt động dưới hình thức nhóm, học sinh đã tự hoạt động dựa trên phần kiến thức tiếp thu từ kênh chữ, các em trong nhóm có thể đưa ra nhiều ý kiến khác nhau Trên cơ sở kênh chữ trong sách giáo khoa các em có thể vẽ sơ đồ như sau:

Ví dụ 2 : Khi dạy bài BÀI 5: CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

GV tổ chức khai thác kiến thức bài học thông qua học sinh từ những kênh chữ trong sách giáo khoa và yêu cầu học sinh vẽ bản đồ tư duy về quá trình hình thành và phát triển của tổ chức ASEAN, sau đó GV kết luận bằng sơ đồ của mình như sau:

Trang 10

Qua bản đồ tư duy này giúp học sinh nắm một cách khái quát về tình hình Đông Nam Á trước và sau năm 1945

Sự ra đời của tổ chưc ASEAN, vai trò của nó với sự phát triển của các nước trong khu vực Đông Nam Á

Ví dụ 3:

BÀI 14: VIỆT NAM SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT

Việc dạy học qua bản đồ tư duy giúp học nắm được nguyên nhân, mục đích, đặc điểm và nội dung của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân pháp

Ngày đăng: 01/04/2021, 11:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w