1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Sáng kiến kinh nghiệm Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy Hình học 7

19 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 470,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình dạy học cũng như quá trình nghiên cứu tôi đã tích luỹ được một số kinh nghiệm giúp ích cho bản thân, dạy học sinh ham thích học tập “Góp phần nâng cao chất lượng dạy học [r]

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài:

Thế giới hôm nay đang chứng kiến những đổi thay có tính chất khuynh đảo

trong mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nhờ những thành tựu của công nghệ thông tin (CNTT) CNTT đã góp phần quan trọng cho việc tạo ra những nhân tố năng động mới, cho quá trình hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị 58-CT/UW của Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2000 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo, đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005 thông qua quyết định số 81/2001/QĐ-TTg

Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin và truyền thông Chẳng hạn, nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho học sinh nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành

và phát triển cho học sinh các phương pháp học chủ động Nếu trước kia người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của học sinh Như vậy, việc chuyển từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy học sinh làm trung tâm”

sẽ trở nên dễ dàng hơn

Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong đó các phần mềm giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể Do sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông mà mọi người đều có trong tay nhiều công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học nói chung và phần mềm dạy học nói riêng Nhờ có máy tính điện tử mà việc

Trang 2

thiết kế giáo án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống, chỉ cần “bấm chuột”, vài giây sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung của bài giảng với những hình ảnh, âm thanh sống động thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú nơi học sinh Thông qua giáo án điện tử, giáo viên cũng có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học

Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình Từ những vấn đề trên bản thân tôi mạnh dạn nghiên cứu về “ Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy hình học 7”

Trang 3

II Mục đích và phương pháp nghiên cứu:

1 Mục đích nghiên cứu:

Lứa tuổi học sinh THCS là lứa tuổi mà các em đang có sự chuyển biến từ trẻ

em thành người lớn, tâm lý học sinh diễn biến rất phức tạp, đa dạng vì các em luôn muốn tự khẳng định mình Chính vì vậy trong một tập thể lớp có những em trầm tỉnh

và thụ động, có những em rất hiếu động…., bên cạnh đó có những em dường như cá biệt với những biểu hiện muốn làm người lớn, tự cho mình là đúng, không tuân thủ nội quy nhà trường, không tham gia bất kỳ hoạt động nào, trong giờ học các em hay

lo ra không chú ý bài Vì thế bản thân là giáo viên dạy toán tôi đã nghiên cứu vấn đề này nên việc đưa bài giảng điện tử vào các tiết dạy toán hình học sẽ giúp học sinh hứng thú trong giờ học đồng thời giúp học sinh khắc sâu kiến thức hơn và dễ dàng nhận ra các góc, các cạnh đễ chứng minh một bài toán

Trong quá trình dạy học cũng như quá trình nghiên cứu tôi đã tích luỹ được một số kinh nghiệm giúp ích cho bản thân, dạy học sinh ham thích học tập “Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán hình học 7”, hy vọng góp phần giúp học sinh có kĩ năng vẽ hình tốt để giải các bài toán hình học và nếu được sẽ là đề tài tham khảo cho các thầy cô quan tâm đến công việc giảng dạy của mình, giúp học sinh học ngày càng tốt hơn với môn hình học mà đa số các em rất sợ vì nếu không tích luỹ được một số kiến thức cơ bản, tư duy và kĩ năng thì các em sẽ không học được môn hình học Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm thế nào để nghề cao quí của chúng ta ngày càng cao quí, “ vì nó sáng tạo ra những con người có sáng tạo” như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói

2 Phương pháp nghiên cứu:

Đưa bài giảng điện tử vào trong các tiết học toán hình học, nhằm tạo hứng thú

để kích thích các em chú ý hiểu nhanh vấn đề và nhớ lâu hơn Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng một số phương pháp như: Phương pháp gợi mở, phương pháp đặt vấn đề, phương pháp nghiên cứu, phương pháp suy luận, phương pháp tổng hợp

Trang 4

III Giới hạn của đề tài:

Học sinh lớp 7A1, 7A2 Trường THCS Nguyễn Văn Đừng

- Những bài toán có kĩ năng vẽ hình, phân tích, chứng minh

- Cơ sở lí luận việc rèn kĩ năng chứng minh hình học cho học sinh lớp 7

- Bài tập theo chương trình sách giáo khoa, một số sách tham khảo khác

- Cách áp dụng một định lý để giải bài tập

- Hướng dẫn học sinh ôn tập chương

IV Kế hoạch thực hiện:

Đưa bài giảng điện tử vào tiết dạy hình học ngay từ đầu năm học

Trang 5

B NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận:

Xã hội đòi hỏi con người có học vấn hiện đại không chỉ ở khả năng lấy ra từ trí nhớ những cơ sở của tri thức dưới dạng có sẵn đã lĩnh hội ở nhà trường, mà cả

năng lực chiếm lĩnh, suy xét, sử dụng các tri thức một cách hợp lí, những kĩ năng đánh giá tri thức một cách độc lập, sáng suốt, thông minh

Vì vậy, cần phải phát triển các hứng thú, năng lực nhận thức của học sinh, cung cấp cho họ những kĩ năng cần thiết của việc tự học

Trong quá trình hoạt động, khi gặp những tình huống có vần đề, học sinh phải biết vận dụng phối hợp các tri thức rút ra từ các môn học khác nhau mà nhà trường phổ thông cần phải luyện tập cho học sinh cách giải quyết vấn đề: nhiệm vụ quan trọng của giảng dạy là tái tạo cho cá nhân học sinh các năng lực của loài người đã được hình thành trong lịch sử Việc đổi mới phương pháp dạy học chỉ từ cách dạy thụ động, cách dạy phát huy tính tích cực, độc lập, chủ động, sáng tạo của học sinh

mà ta định hướng “Dạy học tập trung vào học sinh” Thầy giáo đóng vai trò chủ chốt, tổ chức, dẫn dắt các họat động, tổ chức sao cho học sinh được học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực độc lập sáng tạo năng lực giải quyết vấn đề, rèn kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, tác động tình cảm, mang lại niềm tin, hứng thú học tập

Hình học là môn suy diễn bằng lí luận chặt chẽ, từ những nguyên nhân nhất thiết phải suy ra kết luận chính xác, không mơ hồ Mỗi một câu nói trong lúc chứng minh đều phải có lí do xác đáng, tuyệt đối không qua loa, không nói dư, nói chặt chẽ, xúc tích Làm cho học sinh có thói quen nhìn nhận đúng sự việc Không để lời nói của mình làm học sinh thiếu chú ý, nghĩa là nói dư hoặc nói chưa hay, chưa nhấn đúng chỗ …

Người mới học nên tuân theo những quy cách nhất định, tuyệt đối học thuộc định nghĩa, định lí, vẽ hình và ghi giả thiết kết luận Nếu miễn cưỡng nhớ định lí, định nghĩa hoặc cách vẽ hình ghi giả thiết kết luận thì khi chứng minh bài tập sẽ thấy khó và không làm được Nên việc đưa bài giảng điện tử vào các tiết dạy hình học với

Trang 6

những hiệu ứng, màu sắc và sự kết hợp những phần mềm liên kết để vẽ hình sẽ giúp các em chú ý và khắc sâu hơn kiến thức đó

II Cơ sở thực tiễn:

Trong dạy học môn toán điều quan trọng là học sinh nắm vững các khái niệm,

định lý, cách vẽ hình, ghi giả thiết, kết luận và áp dụng giải bài tập tốt Chính vì thế học sinh cần phải hứng thú học toán hiểu và khắc sâu định lý

Tuy nhiên chương trình toán hình học 7 rất nặng đối với học sinh, do học sinh chưa thích nghi được, mới bước đầu làm quen với định lý, bước đầu tập suy luận, chứng minh nên tạo nhiều khó khăn cho học sinh trong quá trình học môn toán hình học 7

Thực tế học sinh thường nhớ mơ hồ về định lý, chính vì thế, không áp dụng được định lý để giải bài toán hoặc áp dụng sai làm định lý như vô nghĩa đối với học sinh lớp 7, hoặc học sinh thuộc định lý nhưng không biết áp dụng vào trường hợp nào không khai thác triệt để các định lý đã học

Trước tình hình đó đòi hỏi phải có một biện pháp tháo gỡ khó khăn gặp phải của học sinh và giáo viên khi dạy các định lý, các cách để học sinh nhìn ra trường hợp bằng nhau của tam giác Chính vì những lý do trên nên tôi đã quyết định đưa bài giảng điện tử vào tiết dạy hình học 7

III Thực trạng và những mâu thuẩn:

1 Thuận lợi:

- Trường THCS Nguyễn Văn Đừng thuộc địa bàn ấp 2 xã Phong Mỹ Đa số giáo viên của trường đều tốt nghiệp đại học và 100% có bằng A vi tính

- Trường được sự quan tâm của các ngành các cấp, được trang bị cơ sở vật chất đầy đủ Trường đã thực hiện được 13 phòng học bộ môn trong đó có 2 phòng Toán,

2 phòng Văn, phòng Tin học, phòng Vật lý, phòng Hóa, phòng Anh, phòng Sinh, Phòng Sử địa, phòng Công nghệ, phòng Nhạc, phòng Mỹ thuật, để thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp giảng dạy Đồng thời nhà trường có trang bị projector, màn chiếu, máy tính xách tay để phục vụ cho việc giảng dạy giáo án điện tử Phòng học

sạch sẽ đúng qui cách, có đồ dùng đầy đủ cho các khối lớp

Trang 7

- Đa số học sinh đều có sách giáo khoa, sách bài tập.

2 Khó khăn :

Phần lớn học sinh của trường THCS Nguyễn Văn Đừng là học sinh thuộc vùng sâu, gia đình của các em đa số còn gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống nên các em

ít có cơ hội tiếp xúc nhiều với sách báo, tài liệu tham khảo Phần nữa, gia đình thiếu quan tâm đến việc học của con em và bản thân một số học sinh chưa có nhận thức đúng về mục đích học tập

Môn hình học là một môn khó đòi hỏi các em phải tư duy, phải suy luận để chứng minh, mà hình học 7 là môn học mà các em mới bước đầu làm quen với việc chứng minh nên đa số học sinh thường lúng túng ,không biết phải chứng minh một bài hình học như thế nào, bắt đầu từ đâu Khâu quan trọng là khâu vẽ hình rồi chắt lọc lý thuyết và vận dụng vào thực tế để chứng minh, muốn vậy thì các em phải nghiên cứu, tìm hiểu và nắm vững định lý, định nghĩa, tính chất mà phần đông các

em thì ít quan tâm , các em thấy khó cứ bỏ qua

Thực tế, trong những năm qua một lớp bình quân là 36 em thì trong số đó có hơn 20 em không biết chứng minh hình học, các em không học được và thậm chí khi giáo viên đưa bài tập ra thì các em cứ nghĩ rằng đây không phải là nhiệm vụ của mình Và thời gian luyện tập trong lớp không nhiều, nếu giáo viên thiếu quan tâm, không tác động đến việc suy nghĩ thêm của các em thì năng lực học tập của các em không được phát huy Tình trạng hiện nay, một số các em gia đình thiếu quan tâm, các trò chơi đầy rẫy thu hút các em, đó cũng là vấn đề rất khó khăn cho giáo viên, tác động tốt đến việc học hành của các em không phải là chuyện dễ, nhưng nếu giáo viên dễ dàng bỏ qua thì kiến thức của các em ngày càng hỏng nặng Đó là thực trạng hiện nay

Mà trong các tiết hình học thì thường cho học sinh vẽ hình, ghi giả thiết kết luận

và tìm ra hướng chứng minh,.…., vì trong lớp có các đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu, kém nên khả năng tư duy của các em rất khác nhau, đối với học sinh yếu, kém hay trung bình, không thể tư duy kịp và nhanh như học sinh khá, giỏi nên những việc ấy thường là những em học sinh khá giỏi thực hiện Còn những em học

Trang 8

sinh trung bình, yếu, kém chỉ biết chép bài sửa vào tập mà không hiểu rõ, cho nên dẫn đến tiết học nặng nề

IV Các biện pháp giải quyết vấn đề :

Để chứng minh một bài hình học, ta thường sử dụng các phương pháp vào từng bài tập cụ thể:

- Suy xét vấn đề, tìm hiểu và suy đoán từng bước một, phân tích từng chi tiết, nghiên cứu từng điều kiện để tìm ra cách giải của bài toán

- Trình bày phần chứng minh:

Phương pháp chủ yếu để chứng minh hình học là phương pháp phân tích – Bắt đầu từ kết luận, tìm những điều kiện phải có để dẫn đến kết luận đó rồi nghiên cứu từng điều kiện xem xét điều kiện nào có thể đứng vững được, ngoài ra còn điều kiện

gì nữa, cứ vậy suy ngược từng bước cho đến lúc điều kiện cần thiết phù hợp với giả thiết mới thôi Còn khi chứng minh, ta bắt đầu từ giả thiết, từ những điều kiện đã biết ( tiên đề, định lý, định nghĩa ) chọn ra những điều thích hợp, từng bước một suy

ra kết luận - đó chính là phương pháp tổng hợp Và để chứng minh một bài hình học,

ta có thể thực hiện các phương pháp sau :

1 Rèn kĩ năng vẽ hình:

Vẽ hình cần chính xác, rõ ràng, để tìm ra hướng giải toán, lưu ý học sinh tránh

vẽ rơi vào trường hợp đặc biệt có khi khó chứng minh – Ví dụ yêu cầu vẽ tam giác thì ta chỉ vẽ tam giác thường

2 Rèn kỉ năng vận dụng định lí: Là kĩ năng nhận dạng và vận dụng định lý:

Nhận dạng định lí là phát hiện xem một tình huống cho trước có khớp với một định lí nào đó hay không? Vận dụng định lí là xem xét trong bài toán đang giải có những tình huống nào khớp với các định lí đã học Muốn vậy, khi dạy định lý chẳng hạn như định lý về “ Hai góc đối đỉnh thì bằng nhau’’ Khi dạy ta liên kết phần mềm

để vẽ hình và cho màu sắc ở hai góc đối đỉnh, cho hiệu ứng chóp để các em nhận dạng dễ hơn

Khi dạy ta hướng dẫn học sinh vẽ hình trên máy tính, vẽ các góc so le trong, góc đồng vị, góc trong cùng phía bù nhau ta chỉ sử dụng phần mềm Sketchpad và hiệu

Trang 9

ứng cho học sinh quan sát các góc dễ dàng hơn giúp các em không bị rối và ta cũng

đở tốn thời gian vẽ hình

Ví dụ: Định lý: “ Nếu một đường thẳng cắt hai đường thẳng song song thì:

a) Hai góc so le trong bằng nhau

b) Hai góc đồng vị bằng nhau

c) Hai góc trong cùng phía bù nhau

Ví dụ : Định lý: “ Tổng ba góc trong tam giác bằng 180o ”

GV sử dụng phần mềm powerpoint, hướng dẫn học sinh tìm số đo các góc của một tam giác

Ví dụ: Cho tam giác ABC vuông tại A, từ điểm M thuộc BC, vẽ đường thẳng

vuông góc với AB tại N Chứng minh MN // AC

Ta nghĩ ngay đến định lí hai đường thẳng MN và AC cùng vuông góc với đường thẳng thứ ba AB thì chúng song song nhau, và trình bày bài chứng minh

Khi cho hs giải bài tập này nếu các em quên định lý liên quan thì ta chiếu lên một góc của màn hình cho cá em áp dụng, làm như thế thì học sinh và giáo viên đở tốn thời gian và hiệu quả hơn việc giáo viên phải nhắc lại định lý Đồng thời khi học sinh chứng minh ta có thể cho các em đối chứng lại với bài giải trên màn hình

Ví dụ 1 : Một bài toán vận dụng tính chất phân giác của tam giác và tính chất đường

thẳng song song để chứng minh tam giác cân Gv đưa đề bài toán lên màn hình

3 Rèn kĩ năng suy luận và chứng minh:

Khi muốn xét một vấn đề, ta phải xét tất cả các trường hợp có thể xảy ra

d

d'

4

3 2 1

4

3 2 1

B A

A

A + B + C =

Trang 10

Bài toán 1 : Cho ABC và tia phân giác AD của góc A Từ điểm M bất kì  trên cạnh AC, vẽ 1 đường thẳng // AD gặp tia đối của tia AB tại E

Chứng minh AME cân

Giải

Yêu cầu học sinh phải nắm được từng bước vẽ hình

Giáo viên phân tích

1 Cho ABC là tam giác không đặc biệt tránh trường hợp các em vẽ tam giác có 2  cạnh bằng nhau hoặc tam giác có 3 cạnh bằng nhau

Gt ABC

1 = 2

M AC

ME //AC

Kl C/m : AME cân

2 Tia phân giác là tia như thế nào? Có đặc điểm gì? Ta phải nắm được tia phân giác xuất phát từ đỉnh của góc và chia góc đó ra làm 2 góc bằng nhau ( cho hs nhắc lại tia phân giác và chiếu lên màn chiếu)

3 Vẽ M bất kì trên AC học sinh phải nắm được M thuộc AC hoặc M nằm giữa A và C(HH lớp 6)

Sử dụng phần mềm liên kết vừa hướng dẫn vừa vẽ cho hs quan sát

4 Vẽ đường thẳng //AD (HH lớp 6) gặp tia đối tia AB tại E

Giáo viên phải cho học sinh biết phân tích và nắm được thế nào là hai đường thẳng song song Thế nào là hai tia đối nhau Học sinh vừa vẽ hình vừa bổ sung vào giả thiết kết luận

Chứng minh : Giáo viên cần cho hs phân tích

Chứng minh một tam giác cân là ta phải chứng minh hoặc tam giác này có hai cạnh bằng nhau

Hoặc tam giác này có hai góc kề một đáy bằng nhau phân tích từ tam giác

Vậy để c/m tam giác AME cân ta phải c/m cạnh AE =AM hoặc =

E

C

M

D B

A

Ngày đăng: 01/04/2021, 10:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w