1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Gián án ĐÓNG GÓP CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ ĐỐI VỚI NHÀ NGUYỄN

14 1,7K 22
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đóng góp của Nguyễn Công Trứ đối với Nhà Nguyễn
Tác giả Nguyễn Văn Biểu
Trường học Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 159,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đóng góp của Nguyễn Công Trứ trong công cuộc khẩn hoang Điều mà Nguyễn Công Trứ để lại cho chúng ta ngày nay đáng ghi nhớ nhất và cũng đáng quý nhất là sự nghiệp khai khẩn đất hoang của

Trang 1

CHƯƠNG 2 ĐÓNG GÓP CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ ĐỐI VỚI NHÀ NGUYỄN

Nguyễn Văn Biểu

Khoa Lịch sử Đại Học Sư phạm Hà Nội

2.3 Đóng góp của Nguyễn Công Trứ

2.3.1 Đóng góp của Nguyễn Công Trứ trong công cuộc khẩn hoang

Điều mà Nguyễn Công Trứ để lại cho chúng ta ngày nay đáng ghi nhớ nhất

và cũng đáng quý nhất là sự nghiệp khai khẩn đất hoang của ông Trước đây, nhân dân ta đã ghi nhớ công đức Nguyễn Công Trứ bằng những ngôi đền thờ ông mà họ

đã dựng lên ở miền Tiền Hải (Thái Bình) và miền Kim Sơn (Ninh Bình) Đặc biệt

ở Kim Sơn, đền thờ Nguyễn Công Trứ được dựng lên ngay khi ông còn sống từ năm 1856, được gọi là sinh từ và đây cũng là một trong những ngôi đền thờ Nguyễn Công Trứ được xem là lớn nhất

Nguyễn Công Trứ khai khẩn đất hoang và đã thành công rực rỡ từ gần hai thế kỷ rưỡi trước đây Đó là việc rất đáng cho ngày nay chúng ta suy nghĩ và nghiên cứu

3.3.1.1 Tình cảnh người nông dân nửa đầu thế kỷ XIX

Nhà Nguyễn đánh bại nhà Tây Sơn lập ra vương triều Nguyễn (1802) Thế nhưng, chế độ nhà Nguyễn là chế độ mất lòng dân ngay từ khi nó mới được dựng lên

Để đề phòng các cuộc khởi nghĩa của nông dân, nhà Nguyễn đã tổ chức một đội quân thường trực đông đến mấy chục vạn người Việc xây dựng lực lượng quân đội đó không phải chủ yếu để chống ngoại xâm mà là để đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân Cùng với đội quân thường trực này là một bộ máy quan liêu từ trung ương đến địa phương rất cồng kềnh Các vua nhà Nguyễn đã bắt nhân dân đóng góp rất nhiều các khoản thuế khoá để nuôi bộ máy đàn áp của họ Sự đóng góp của nhân dân dù sao cũng có hạn Thực tế ở nhiều nơi, nhân dân đã xơ xác đến mức không sao đóng nổi thuế cho Nhà nước nữa

Trang 2

Từ cuối thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX, nông thôn đồng bằng sông Hồng gặp khủng hoảng sâu sắc Số lượng ruộng đất công làng xã vào cuối thời Gia Long đầu Minh Mệnh suy giảm hẳn Chẳng hạn, năm 1803 quan lại ở Bắc Thành tâu:

“Từ loạn Tây Sơn bỏ hết luật cũ, dân gian nhiều người đổi ruộng công làm ruộng

tư, cũng có kẻ tạo sự việc công mà cầm bán ruộng công…”

Sau đây là biểu thống kê ruộng đất một số huyện vùng Sơn Nam

Huyện Số xã, thôn được

nghiên cứu

Tỉ lệ tư điền (%)

Tỉ lệ công điền (%)

(Theo Bùi Quý Lộ trong “Công cuộc khẩn hoang thành lập huyện Tiền Hải”, Luận án PTS Sử học, bảo vệ tại Trường ĐHSP I Hà Nội, 1987,trang 34)

Những lý do đó đã đẩy người nông dân đến chỗ thiếu ruộng đất hay không

có ruộng đất để cày cấy, phải bỏ quê hương đi phiêu tán hoặc nổi dậy chống chính quyền

Sách “Đại Nam thực lục, tập XI, chính biên đệ nhị kỷ IV,trang102-103” chép rằng: “Từ năm 1802 đến 1806, ở các trấn Hải Dương, Sơn Tây, Kinh Bắc, Sơn Nam Thượng và Hạ, Hoài Đức, Thái Nguyên, Hưng Hoá, hộ khẩu 370 thôn đã phiêu tán đi nơi khác, tô thuế thiếu hơn 7 vạn hộc, tiền thuế thiếu 11 vạn quan” Đến đầu năm 1927, “13 huyện thuộc trấn Hải Dương, dân phiêu tán mất 108 xã, thôn, ruộng bỏ hoang 12.700 mẫu Tô vụ mùa năm trước không lấy gì mà nộp.”

Sách các tổng, trấn, xã danh bị lãm chép số lượng các làng xã bị phiêu tán trong

11 trấn Bắc Thành mấy năm đầu thời Minh Mệnh là 131 xã, thôn, phường Đây là số làng xã bị phiêu tán hoàn toàn, không lập lại được số dân đinh Trường hợp làng xã bị phiêu tán một phần chắc chắn nhiều hơn, phổ biến hơn

Trang 3

Không có ruộng đất để cày cấy, làm ăn sinh sống, nông dân nhiều nơi rơi vào cảnh cùng cực bế tắc Tình hình diễn ra trầm trọng nhất là vùng Nam Định, Thái Bình Năm 1928, theo Sách “Đại Nam thập lục, tập XI, chính biên đệ nhị kỷ IV”, Minh Mệnh đã công nhận: “Ngày nay Bắc Thành chứa tệ mà hạt Nam Định là nhất” [21, 35]

Nông dân phiêu tán bỏ ruộng đất không cày cấy, đó là một hiện tượng bất ổn đối với triều đình, nó báo trước khởi nghĩa nông dân sắp nổ ra Vì nông dân phiêu tán thường là đạo quân hậu bị tốt nhất của các cuộc khởi nghĩa nông dân Cho nên thu hút nông dân phiêu tán vào các cơ sở danh điền để cho họ khẩn hoang đất hoang và khi đã khẩn hoang được đất hoang cấp cho họ ruộng đất để an cư lạc nghiệp, đó là vấn đề cấp bách mà nhà Nguyễn phải giải quyết

2.3.1.2 Chủ trương và biện pháp

Trước tình hình trên, để cứu vớt dân nghèo, để ổn định xã hội, để khôi phục kinh tế, quan Tả thị lang Bộ hình Nguyễn Công Trứ là một trong những người đầu tiên nhìn thấy tính cấp bách của vấn đề khai khẩn đất hoang Ông đã đề xuất chủ trương doanh điền vùng đồng bằng ven biển Năm 1828, ông đã dâng sớ lên Minh Mệnh xin “khai ruộng hoang để yên nghiệp dân nghèo” Ông đã nêu vấn đề cụ thể như sau:

“Đời xưa chia ruộng, lường của để dân được có nghề, cho nên dân yên phận làm ăn ở nơi thôn ổ, không sinh lòng gian vậy Hiện nay, những dân đói nghèo, rong ăn rong chơi, lúc cùng lại rủ nhau trộm cướp, tệ ấy khó ngăn hết được Trước kia tôi đi qua tỉnh Nam Định, thấy đất bỏ hoang ở miền Giao Thuỷ, Chân Định trông rộng mênh mông quá tầm mắt Ngoài ra ở những nơi khác còn không biết mấy nghìn trăm mẫu Tôi từng hỏi người địa phương, họ đều muốn khẩn hoang cày cấy, nhưng nhu phí quá lớn, lực không thể đương Nếu cấp cho công nhu sẽ có thể tập hợp dân nghèo khẩn khẩn ngay Như thế thì nước nhà bỏ ra không mấy mà cái lợi tự nhiên thì mãi mãi vô cùng Vả lại, bãi biển Tiền Châu ở Chân Định hoang vu, bọn phỉ thường lấy chỗ đó làm tổ tụ tập Nay nếu khai phá chỗ ấy,

Trang 4

không những khả dĩ yên nghiệp nghèo, mà còn có thể tuyệt hẳn đảng ác nữa Xin

ra lệnh cho trấn thần thân đi xem xét, phàm những chỗ đất hoang có thể cày cấy được, sai những người có lực ở địa phương chi ra coi sóc công việc ấy, mộ dân cùng khố ở mọi hạt đến khai khẩn Nếu mộ được 50 người thì lập làm một lý, cho làm lý trưởng, mộ được 30 người thì lập một ấp, cho làm ấp trưởng, đều tính đất chia cho Cấp cho tiền công để làm nhà cửa, mua trâu bò, nông cụ, lại lượng cấp tiền gạo lương trong 6 tháng, ngoài hạn ấy thì làm lấy mà ăn Ba năm thành ruộng đều chiếu lệ ruộng tư mà đánh thuê Quan phủ huyện sở tại lập kho chứa thóc để phòng năm mất mùa cho dân vay Những làng ấp mới lập gọi là “quân lực bản” (quân chính gốc, tức là những trại căn bản làm nông cốt) Phàm các hạt xét thấy những dân du đãng không bấu víu vào đâu đều đưa cả về đấy Như thế thì đất không bỏ hoang, dân đều làm ruộng, phong tục kiêu bạt lại thành thuần hậu” [13,

136 - 137]

Nguyễn Công Trứ lại xin cho ông được tự do thu dụng những tàn quân nông dân khởi nghĩa đang trốn tránh để dùng họ vào việc khai khẩn đất hoang Ông tâu với Minh Mệnh: “Những tụi bình dân Bắc Thành trước kia bị giặc hiếp theo có đến hàng nghìn, sợ hãi bỏ trốn biệt không có đường về, không khỏi đi theo những tướng giặc còn trốn Xin phàm kẻ nào hối quá hoàn lương thì cho đến sở Doanh điền thú tội, theo sức mà cấp ruộng làm Những chỗ đất rải rác có thể lập thành làng trại cho đủ 15 người trở lên thì xin lập một trại, 18 người trở lên thì lập làm một giáp, đều đặt trại trưởng và giáp trưởng trông coi Như thế thì đất đai không có nơi nào bỏ không vậy” [13, 317-318]

Minh Mệnh không những chấp nhận đề nghị khai khẩn của Nguyễn Công Trứ, mà còn phong ngay cho ông làm Doanh điền sứ phụ trách khai khẩn đất hoang ở miền ven biển các tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình Minh Mệnh còn chấp nhận cho Nguyễn Công Trứ được quyền thu dụng những “phỉ trốn” ra đầu thú

Trang 5

Khai hoang lập làng là nội dung cơ bản của công cuộc xây dựng đất nước thời trung đại Từ bao đời nay, tổ tiên ta đã thực hiện công cuộc khẩn hoang bền bỉ dưới nhiều hình thức phong phú như lập điền trang vào thời Trần, lập đồn điền và làng xóm vào thời Lê, Nguyễn Thế hệ này sang thế hệ khác, sự nghiệp khẩn hoang

đã không ngừng mở mang đồng ruộng, diện tích đất đai cày cấy, hình thành xóm làng, nâng cao đời sống con người và tiềm lực quốc gia Có thể nói Doanh điền là

tổ chức khẩn hoang do Nguyễn Công Trứ lần đầu tiên đề xuất và thực hiện Với bài tấu xin “Khai ruộng hoang” của ông cho thấy công việc Doanh điền do ông đảm trách đã thể hiện rõ chủ trương và biện pháp khai hoang như sau:

- Thứ nhất, Nhà nước trực tiếp tập hợp lực lượng, phân bố địa vực khai khẩn

- Nhà nước trực tiếp tổ chức các đơn vị cư trú như: lý, ấp trại, giáp và ngay

từ đầu các đơn vị này đã có tính chất hành chính

- Nhà nước cấp một khoản kinh phí nhất định cho dân khai hoang mua trâu

bò, nông cụ, làm nhà cửa, cấp lương trong 6 tháng đầu…

- Ruộng đất khai khẩn, một phần làm công điền, một phần làm tư điền thế nghiệp

- Lực lượng dùng để khai hoang gồm có hai thành phần chủ yếu là nông dân phiêu tán và tàn quân nông dân khởi nghĩa đang trốn tránh

Cụ thể: Đến miền Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Nguyễn Công Trứ yết bảng chiêu mộ dân nghèo, rồi bắt tay ngay vào công việc: cứ một làng có 50 đinh, ông cấp cho 300 quan mua trâu bò, 40 quan mua nông cụ, 100 quan làm nhà Như vậy là một làng cấp tổng cộng là 440 quan Còn đối với ấp, một ấp có 30 đinh được cấp 180 quan để mua trâu bò, 24 quan mua nông cụ, 60 quan làm nhà Vậy là một

ấp cấp tổng cộng là 264 quan Đối với trại, một trại có 15 định được cấp 90 quan làm nhà và các khoản khác là 42 quan nữa, tổng cộng là 132 quan Một giáp có 10 đinh được cấp 60 quan tiền mua trâu bò, 8 quan mua nông cụ, 20 quan làm nhà, tổng cộng có 88 quan.[19, 271]

Trang 6

Như vậy, nếu tính bình quân thì một đinh được cấp nhiều nhất là 6 quan tiền

để mua trâu bò, 8 quan tiền để mua nông cụ, 2 quan tiền để làm nhà Năm đinh được cấp nhiều nhất là 34 quan tiền để mua trâu bò, nông cụ Nếu tính thời giá năm

1829 (năm Minh Mệnh thứ 10), thì 34 sẽ mua được:

Trâu 1 con giá : 30 quan Cày 1 chiếc giá: 1,5 quan Bừa 1 chiếc giá: 1,5 quan

Ngoài số tiền được cấp để mua trâu bò, nông cụ, Nguyễn Công Trứ còn phát cho cứ 5 đinh một thuổng, một cuốc và một liềm

Như vậy là chủ trương và biện pháp trong công việc khẩn hoang đã được Nguyễn Công Trứ tính toán hết sức chu đáo, kỹ lưỡng, có hoạch định rõ ràng…

2.3.1.3 Kết quả đạt được

Nguyễn Công Trứ chính thức bắt tay vào việc khẩn hoang từ tháng 3 năm Mậu Tý (tức năm 1828) Đến tháng 10 năm đó, tức chỉ trong một thời gian hơn 6 tháng, công cuộc khẩn hoang của ông đã thành công hết sức rực rỡ: ông đã lập ra một huyện hoàn toàn mới mẻ là huyện Tiền Hải, một tổng và hai xã ở huyện Nam Chân, một tổng mới ở huyện Giao Thuỷ Từ tháng 3 năm Kỷ Sửu (tức năm 1829) đến tháng 11 năm đó, Nguyễn Công Trứ lại biến miền bãi biển hoang vu ở huyện Yên Mô thành một huyện mới là huyện Kim Sơn (Ninh Bình)

Kết quả đầu tay của công việc khai hoang lập làng của Nguyễn Công Trứ là việc ra đời huyện Tiền Hải Sách “Đại Nam thực lục, tập IX, chính biên đệ nhị kỷ V” trang 123-124 chép như sau:

“Một giải Tiền Châu liên tiếp bãi biển, trước kia cây cỏ rập rạp, bọn cướp hay tụ tập ở đấy, không ai dám đến gần Đã có câu nói “ai dám đến đùa quấy ổ giặc mà chơi” Lãnh dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ đến nơi , chiêu tập phủ dụ lòng người mới yên Bèn đem đất Tiền Châu cùng đất đối ngạn bên tả bên hữu đo đạc đất hoang chia hết cho dân nghèo, thành 14 lý, 27 ấp, 20 trại, 10 giáp Số đinh được hơn 2.350 người, số ruộng khai hoang được hơn 18.970 mẫu” [21, 37-38]

Trang 7

Cách phân phối khu dân cư và khu sản xuất của mỗi lý, mỗi ấp theo Sách “Đại Nam thực lục, tập XI, chính biên đệ nhị kỷ VII” chép: Thì cứ trong diện tích 100 mẫu

có 70 mẫu là ruộng thành điền (tức hoàn toàn dành để sản xuất mùa màng) Còn 30 mẫu là dùng cho đất ương mạ, cho việc thiết lập gia cư, các công trình công cộng, đất dùng làm nghĩa trang và bãi thả trâu… Ví dụ ở ấp Thanh Thái (tổng Tân Bồi) tổng số diện tích là 400 mẫu, trong đó đất ở là 31 mẫu, đất ương mạ là 30 mẫu, sông ngòi đường sá là 27 mẫu, tha ma, đình chùa, miếu mạo là 20 mẫu tổng cộng khoảng 120 mẫu, chiếm tỉ lệ 30% [21, 38]

Đến tháng 8 năm 1928 thì mọi công việc nói trên đã cơ bản hoàn thành, Nguyễn Công Trứ tâu về triều và được phê chuẩn cho thành lập huyện Tiền Hải Huyện Tiền Hải ra đời ban đầu có 7 tổng là: Tân Cơ, Tân An, Tân Định, Tân Thành, Tân Hưng, Tân Phong, Tân Bồi Huyện lỵ đặt tại làng Phong Lai, tổng Tân Thành (nay là xã Đông Phong) Đến thời Tự Đức thì chuyển về làng Hoàng Tân, tổng Tân Định tức thị trấn Tiền Hải ngày nay

Xong công việc ở Tiền Hải, Nguyễn Công Trứ về kinh báo cáo kết quả và tâu thêm:

“Dân nghèo còn hơn 1000 người, xin lãnh ruộng hoang để khai khẩn, trộm thấy

ở các huyện Yên Khánh, Yên Mô thuộc Ninh Bình cũng chỗ đối ngạn với huyện Nam Chân thuộc Nam Định, một đại bãi biển còn nhiều đất hoang rậm cấy lúa chẳng kém

gì Tiền Hải Xin cho đến đo đạc để lập thành ấp, lý” [21, 38]

Ông lại được nhận nhiệm vụ mới tiếp tục vận động thu góp dân phiêu tán đến khai hoang vùng biển Ninh Bình lập nên huyện Kim Sơn Sách “Đại Nam thực lục, tập IX, đệ nhị kỷ V, trang 220” ghi rằng: “Bắt đầu đặt huyện Kim Sơn, lệ vào phủ Yên Khánh - Ninh Bình Lãnh dinh điền sứ là Nguyễn Công Trứ, ở phía ngoài

đê Hồng Lĩnh đo được số ruộng hoang là 14.620 mẫu, chia cấp cho dân nghèo hơn

1260 đinh Lập thành 3 làng, 22 ấp, 24 trại Chia làm 7 tổng, tâu xin đặt riêng một huyện gọi là Kim Sơn, chọn người hợp với địa phương làm tri huyện để phủ dụ

Trang 8

khuyên bảo Nhà ở, lương tháng, trâu cày và điền khí của dân thì do quan cấp cũng như lệ huyện Tiền Hải…

Vua cho là được Bèn sai chọn đặt tri huyện, chế ấn triện cấp cho, dựng huyện lỵ ở làng Quỳnh Hậu” [21, 39]

Bên cạnh hai huyện mới là Tiền Hải và Kim Sơn, vào thời gian này còn có thêm hai tổng là Hoành Thu và Ninh Nhất

Về Tổng Hoành Thu: theo sách “Tên làng, tên xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX” (NXB KHXH,H.1980) thì ở huyện Giao Thuỷ không ghi tổng Hoàng Thu mà chỉ có tổng Hoành Nha gồm 11 xã thôn mà trong đó cũng không xã thôn nào có tên là Hoành Thu cả Như vậy, Hoành Thu là một tổng mới lập và sách “Tên làng, tên xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX” thống kê là có 5 ấp, 2 trại, 1 giáp Còn theo Phan Đại Doãn trên “Tạp chí nghiên cứu lịch sử”, số 3, tháng 5-6/1982 thì ghi rằng, tổng Hoành Thu lúc đó có 3.850 mẫu ruộng đất và 301 suất đinh [6, 136]

Về tổng Ninh Nhất, theo sách “Tên làng, tên xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX” cũng không ghi tên tổng này mà chỉ có địa danh Ninh Cường và giải thích trước Ninh Cường gọi là Cát Chữ Chắc đó là địa danh Ninh Cường mà trong bài viết

“Mấy nhận xét sơ bộ về nhân vật lịch sử Nguyễn Công Trứ” của Vũ Huy Phúc đã nhắc đến Nguyên văn chỗ này Vũ Huy Phúc viết: “Tại xã Ninh Cường, xã Cát Hải lập được 4 lý, 4 ấp, 7 trại, thành lập một tổng thuộc huyện Nam Trực (Nam Định)” Vậy, Ninh Nhất là một tổng mới thành lập cùng thời gian với tổng Hoành Thu mà địa danh gốc của nó là từ xã Ninh Cường Còn theo Phan Đại Doãn (bài đã dẫn ở trên) thì tổng Ninh Nhất có 4210 mẫu ruộng đất, 345 suất định [6, 136]

Như vậy là trong cuộc tấn công ra bãi biển ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Nguyễn Công Trứ tạo thêm 40650 mẫu ruộng hoàn toàn mới mẻ và màu mỡ Để cày cấy 4650 mậu ruộng đó, ông đã tập hợp được 4.256 suất đinh Trong số ruộng đất đã khai khẩn được, như trên đã nói cứ 100 mẫu thì 70 mẫu được coi là ruộng, 30 mẫu là đất dùng trong những công việc khác, chia ra làm 4 loại:

Trang 9

1- Đất dùng để làm đình chùa, miếu mạo 2- Đất dùng làm nghĩa trang và bãi thả trâu 3- Đất để làm nhà, vườn, ao hồ, các công trình công cộng

4- Đất mạ Loại đất thứ nhất và thứ hai được miễn thuế, còn loại đất thứ ba và thứ tư thì tuỳ theo mức độ và phân hạng để đánh thuế

Với Nguyễn Công Trứ, khai hoang mở đất cùng gắn liền với việc quy hoạch thuỷ lợi, giao thông và phân giới Khi tổ chức khai hoang thành lập Tiền Hải, Kim Sơn, Nguyễn Công Trứ lấy huyện làm đơn vị quy hoạch ngay từ buổi đầu Trong lịch sử khai hoang nước ta đến nay, đây là một hiện tượng độc đáo, có một không hai Từ tầm nhìn “cấp huyện” này, ông đề ra phương án quy hoạch kết hợp giao thông, thuỷ lợi, phân giới mà trong đó thuỷ lợi và giao thông đóng vai trò quan trọng bậc nhất, đồng thời cũng có giá trị khoa học nhất mà ngày nay mọi người đều khâm phục

Tiền Hải, Kim Sơn, Hoành Thu, Ninh Nhất là vùng đất chua mặn cao, lại chịu ảnh hưởng của thủy triều Muốn trồng được lúa nước nhất định phải có một hệ thống thuỷ nông phù hợp và có hiệu quả ngay từ đầu Chỉ có hệ thống thuỷ nông tốt thì cư dân mới có thể bám trụ được, trồng lúa được

ở Tiền Hải, Nguyễn Công Trứ lợi dụng con sông Long Hầu, con sông tự nhiên chảy từ Bắc xuống Nam làm trục chủ yếu Còn ở Kim Sơn, ông cho đào sông Ân nối sông Đáy với sông Càn, dài 13,5km, rộng 15m, sâu 2 - 3m [14, 22] Từ sông Long Hầu và sông Ân, Nguyễn Công Trứ cho đào các kênh tưới nước cho các lý, ấp Cứ mỗi làng lớn hay hai làng nhỏ, ông lại cho đào sông chảy dọc theo làng để tưới, tiêu nước Các con sông đào này không những chỉ có mục đích lấy nước ngọt tưới, tiêu cho đồng ruộng mà còn là đường phân chia ranh giới tự nhiên ổn định cho các

ấp, lý Đồng thời là đường giao thông rất thuận tiện, xuyên qua hệ thống sông chạy dọc song song ấy là các con đường bộ hoặc các con mương nhỏ tạo nên một hệ thống giao thông hình bàn cờ rất đẹp Riêng huyện Kim Sơn, tổng số chiều dài của

Trang 10

30 con sông lớn nhỏ đến hơn 100km; khoảng cách giữa các sông từ 250-300m, chiếm một diện tích mặt bằng khoảng 120 mẫu [14, 22]

Đồng thời Nguyễn Công Trứ còn cho đắp thêm một hệ thống đê biển, đê sông rất vững vàng và phù hợp với môi trường tự nhiên Sách “Đại Nam thực lục chính biên” chép: “Năm Minh Mệnh thứ 10, Kỷ Sửu, Nguyễn Công Trứ cho đắp đê ngăn nước mặn ở Kim Sơn thuộc Ninh Bình (một đường đê nhỏ phía Tây dài 2.835 trượng, mặt rộng 5 thước, chân đê rộng 1 trượng, thân cao 4 thước) Kim Sơn đất tiếp bãi biển cho nên đắp đê ấy để che chở nghề nông” [6, 125] Còn ở Tiền Hải, đê được đắp theo kích thước chân đê rộng 8m, mặt đê rộng 4m và thân đê cao 3m Việc đắp đê cứ chiếu theo suất đinh của mỗi lý, ấp mà chia chiều dài đê phải đắp, tính theo đơn vị là đạc (1 đạc = 60m) Ví như làng Xuân Hoà có 16 suất đinh thì được phân công đắp đoạn đê từ sông Thái đến cống Dâu dài hơn 1000 mét tức 17 đạc, làng Hướng Tân mỗi suất đinh nhận 1 đạc, làng Thủ Chính 20 đạc = 1,2km, làng Năng Tĩnh 24 đạc = 1,44km [6, 99]

Tác dụng của hệ thống thuỷ lợi khá dày đặc của Nguyễn Công Trứ ở Tiền Hải, Kim Sơn và ở Hoành Thu, Ninh Nhất đến nay vẫn còn phát huy tác dụng

Ngày nay, nhìn những cánh đồng rộng mênh mông bát ngát của Tiền Hải và Kim Sơn trông rất đẹp mắt, trên cánh đồng, những con sông đào mang công của Nguyễn Công Trứ vẫn chạy ra đến biển, trên bờ sông là đường bộ Từ sông này đến những sông kia lại có con đường ngang cắt đồng ruộng thành từng khu nhỏ, mỗi khu là một thôn hay một ấp Đường bộ cũng như đường thuỷ ở Kim Sơn, cũng như ở Tiền Hải hợp thành một hệ thống giao thông rất thuận lợi cho việc đi lại, vận chuyển của nhân dân Những con sông chạy ngang, chạy dọc giữa các cánh đồng ở Kim Sơn, Tiền Hải là nơi tiêu nước nếu trời mưa lũ và tưới nước khi trời khô hạn Trong trường hợp nắng hạn kéo dài thì đó là những nơi chia nước để tưới cho ruộng đồng

Nhìn những cánh đồng ở Tiền Hải và Kim Sơn, chúng ta không khỏi khâm phục tài tổ chức của Nguyễn Công Trứ Tài tổ chức của ông không những đã biến

Ngày đăng: 24/11/2013, 11:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w