1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Quản lý công: Động lực làm việc của công chức cấp xã, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội

26 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 423,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm hệ thống hóa lý luận về tạo động lực làm việc cho công chức cấp xã. Khảo sát thực trạng, phân tích và đánh giá thực trạng động lực làm việc của công chức cấp xã ở huyện Thanh Trì, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng; Đề xuất quan điểm và một số giải pháp nhằm nâng cao động lực làm việc cho công chức cấp xã ở huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHẠM TRUNG HIẾU

ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÔNG CHỨC CẤP XÃ,

HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: QUẢN LÝ CÔNG

Mã số: 8 34 04 03

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒNG HẢI

Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia

hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia

Trang 3

Hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã được xác định bởi hiệu suất thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ CCCX Trong khi đó, hiệu suất làm việc của đội ngũ này lại được quyết định bởi các yếu tố như: năng lực làm việc; môi trường, điều kiện làm việc và động lực làm việc; trong đó, động lực làm việc thường được xem là yếu tố mang tính chất quyết định

Động lực làm việc của công chức nói chung và CCCX nói riêng là yếu tố thúc đẩy sự nỗ lực của đội ngũ này trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao Đây là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu suất và chất lượng kết quả công việc của CCCX Nếu trước đây, động lực làm việc của người lao động trong các

cơ quan nhà nước thường được gắn với vai trò, vị trí của của các cơ quan, đơn vị; sự

ổn định của công việc; chế độ phúc lợi… thì hiện nay, những yếu tố này chỉ mang tính chất chủ yếu giữ chân người lao động chứ khó có thể tạo được động lực làm việc cho đội ngũ này, đặc biệt trong bối cảnh khu vực tư đang ngày càng mở ra nhiều cơ chế hấp dẫn dành cho người lao động, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao

Là CCCX ở huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội, học viên mong muốn kết hợp kiến thức lý luận đã được học tại Chương trình đào tạo Thạc sỹ tại Học viện Hành chính Quốc gia với thực tiễn công tác tại địa phương để nghiên cứu và đánh giá

về thực trạng động lực làm việc và tạo động lực làm việc của đội ngũ CCCX ở huyện Thanh Trì, Hà Nội, qua đó tìm kiếm nguyên nhân và định hướng một số giải pháp nhằm tạo động lực làm việc cho đội ngũ này để giúp họ nâng cao hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ đơn vị được giao, từ đó góp phần phát huy được tiềm năng, thế mạnh

và nguồn lực vốn có của địa phương để phát triển kinh tế, xã hội ở huyện Thanh Trì

Trang 4

và phục vụ tốt hơn nữa các yêu cầu của người dân Chính vì vậy, học viên đã lựa

chọn đề tài “Động lực làm việc của công chức cấp xã, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội” để làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về tạo động lực làm việc cho người lao động nói chung

Nghiên cứu về chủ đề này trước hết phải nói đến bài báo khoa học với chủ đề

“Một số biện pháp tạo động lực làm việc cho người lao động” của ThS Nguyễn Thị

Phương Lan đăng trên Tạp chí QLNN, Số 197 (tháng 6/2012) Thông qua bài báo khoa học này, tác giả đã xem xét một số học thuyết về nhu cầu của người lao động,

về động lực làm việc và xác định lại các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc, từ

đó đề xuất một số biện pháp tạo động lực làm việc cho người lao động

Bài báo khoa học “Tạo động lực và môi trường để phát huy tính sáng tạo của

đội ngũ trí thức” của tác giả Nguyễn Thị Thơm, đăng trên Tạp chí Lý luận Chính

trị, Số 11/2012 Thông qua bài báo này, tác giả đã làm rõ đặc điểm của lao động trí

óc, những vấn đề khó khăn, vướng mắc đối với việc xây dựng đội ngũ trí thức và phát huy năng lực sáng tạo của trí thức Đồng thời, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp

để xây dựng và hoàn thiện môi trường thích hợp nhằm phát huy khả năng sáng tạo của trí thức như: (1) Hoàn thiện môi trường pháp lý cho tự do sáng tạo của trí thức; (2) Tạo lập môi trường xã hội thuận lợi; (3) Tạo điều kiện vật chất; (4) Có chính sách đãi ngộ thỏa đáng

Bên cạnh đó còn có Luận án tiến sỹ kinh tế với chủ đề: “Tạo động lực cho lao

động quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội” của tác giả Vũ Thị Uyên,

bảo vệ thành công tại Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2008

Ngòai ra, có thể kể đến Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công với chủ

đề “Tạo động lực làm việc cho viên chức các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Văn

hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn” của tác giả Nguyễn Thị Lương Linh, bảo vệ

thành công tại Học viện Hành chính vào năm 2015

Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về tạo động lực làm việc cho người lao động trong các cơ quan nhà nước

Trang 5

Theo hướng nghiên cứu này, trước hết phải đề cập đến luận văn Thạc sỹ

chuyên ngành Hành chính công với chủ đề “Tạo động lực làm việc cho công chức

hành chính nhà nước” của tác giả Lê Thị Trâm Oanh, bảo vệ thành công tại Học viện

Hành chính vào năm 2009

Bên cạnh đó còn có bài báo khoa học của TS Nguyễn Thị Vân Hương về “Tạo

động lực làm việc cho công chức – Nhìn từ góc độ tâm lý”, đăng trên Tạp chí QLNN,

tháng 02/2011

Bài báo khoa học “Tạo động lực khuyến khích cán bộ, công chức làm việc” của TS

Ngô Thành Can đăng trên Tạp chí QLNN, số tháng 01/2007 Nội dung bài viết xoay quanh những nhu cầu, động cơ làm việc của người lao động và một số biện pháp nhằm tạo động lực làm việc mà các nhà quản lý cần quan tâm nghiên cứu

Ngoài ra, còn có thể kể đến bài báo khoa học của ThS Phùng Thị Phong Lan với

chủ đề “Từ những lý thuyết khoa học quản lý, nghĩ về tạo động lực làm việc cho cán

bộ, công chức hiện nay”, đăng trên Tạp chí QLNN, tháng 8/2010 Bài viết đã xem

xét lại một số học thuyết về động lực làm việc của người lao động, qua đó chỉ ra những vấn đề cần quan tâm trong việc tạo động lực làm việc cho cán bộ, công chức

Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về tạo động lực làm việc cho CCCX

Về động lực làm việc của đội ngũ CCCX hiện cũng đã có một số nghiên cứu

đề cập đến, trong đó có thể kể đến:

Bài báo khoa học với chủ đề “Chính sách bố trí sử dụng nhằm nâng cao động

lực làm việc cho cán bộ, CCCX ở Nghệ An” của ThS Lê Đình Lý, đăng trên Tạp chí

QLNN, Số 176 (tháng 9/2010)

Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công với chủ đề: “Tạo động lực làm

việc cho CCCX, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam” của tác giả Trần Thị Xuyến, bảo vệ

tại Học viện Hành chính Quốc gia năm 2017

Luận văn thạc sỹ Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển của tác giả Trương Ngọc

Hùng với chủ đề “Giải pháp tạo động lực cho cán bộ, công chức xã, phường Thành

phố Đà Nẵng”, bảo vệ thành công tại Đại học Đà Nẵng năm 2012 Đề tài đi sâu

nghiên cứu đối tượng là cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và nghiên cứu thực trạng tạo động lực đối với đối tượng là CBCC xã, phường ở TP

Trang 6

Các công trình nghiên cứu này đã đề cập trực tiếp tới đối tượng là CCCX và ở các địa phương cụ thể, tuy nhiên các công trình này mới đề cập tới vấn đề tạo động lực cho cán bộ, công chức nói chung mà chưa đề cập đến đối tượng là CCCX nói riêng với nhiều điểm đặc thù trong thi hành công vụ ở chính quyền cơ sở

Do đó, có thể nói, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu về tạo động lực làm việc cho CCCX ở huyện Thanh Trì, Hà Nội Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên

cứu đảm bảo sự không trùng lắp và vẫn có khoảng trống để nghiên cứu làm rõ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận về động lực làm việc của CCCX và thực trạng động lực làm việc của CCCX ở huyện Thanh Trì, Luận văn đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao động lực làm việc cho đội ngũ này ở huyện Thanh Trì, TP Hà Nội trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về động lực, các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc và các biện pháp tạo động lực cho người lao động nói chung

và cho CBCC nói riêng

- Hệ thống hóa lý luận về tạo động lực làm việc cho CCCX

- Khảo sát thực trạng, phân tích và đánh giá thực trạng động lực làm việc của CCCX ở huyện Thanh Trì, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng;

- Đề xuất quan điểm và một số giải pháp nhằm nâng cao động lực làm việc cho

CCCX ở huyện Thanh Trì, TP Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là động lực làm việc của CCCX, huyện Thanh trì, TP Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu động lực làm việc của CCCX thông qua các

biểu hiện như: (1) Việc sử dụng thời gian hành chính để làm việc của CCCX; (2) mức

Trang 7

độ tin tưởng, sự gắn bó với công việc và tổ chức nhà nước của CCCX; (3) Mức độ hoàn thành công việc chuyên môn của CCCX ở cơ quan

- Về không gian: huyện Thanh Trì, TP Hà Nội

- Về thời gian: từ năm 2010 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận:

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tiếp cận vấn đề trên cơ sở nền tảng nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về động lực làm việc của CBCC nói chung và của CCCX nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Để thực hiện kết quả nghiên cứu, tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Phương pháp điều tra xã hội học:

Phương pháp thống kê – so sánh:

Phương pháp phân tích – tổng hợp:

Phương pháp chuyên gia:

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

+ Về mặt lý luận: Đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa các lý thuyết về động lực và

tạo động lực làm việc cho CCCX Đây cũng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các

học viên, sinh viên chuyên ngành hành chính, QLNN tìm hiểu khi nghiên cứu về chủ

đề này

+ Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn của việc tạo động lực làm

việc cho CCCX ở huyện Thanh Trì, tác giả cũng đánh giá khách quan và tìm ra các nguyên nhân, đồng thời đề xuất các giải pháp hữu ích trong việc tạo động lực cho đội ngũ này ở huyện Thanh Trì Kết quả nghiên cứu mang tính thực tiễn này cũng là cơ

sở để tác giả tham mưu với lãnh đạo xã, lãnh đạo huyện và UBND TP Hà Nội trong việc đề xuất các chính sách và ban hành các quy định nhằm khuyến khích và tạo động lực làm việc cho đội ngũ CCCX ở huyện Thanh Trì trong thời gian tới Qua đó, góp

Trang 8

phần nâng cao hiệu quả làm việc, tận dụng và phát huy được tiềm năng của địa phương - với vai trò là một trong những huyện cửa ngõ của Thủ đô Hà Nội để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân trog địa bàn huyện

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về động lực làm việc của CCCX

Chương 2 Thực trạng động lực làm việc của CCCX, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội

Chương 3 Quan điểm và giải pháp tạo động lực làm việc cho CCCX, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội

Trang 9

Hiện nay, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực Trong tiếng Anh,

thuật ngữ động lực là motivation Nó có nguồn gốc từ tiếng latinh là motus, một dạng của động từ movere với nghĩa là chuyển động, thúc đẩy, ảnh hưởng, phấn chấn Theo

nghĩa đó, động lực được hiểu là sự thúc đẩy một người hành động [11]

Còn theo Từ điển Tiếng Việt do NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 1988, tác giả Hoàng Phê định nghĩa“động lực là cái thúc đẩy, cái làm cho phát triển”[24]

Trong khi đó, theo Maier và Lawder (1973), động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân Theo Bedian (1993) động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu Còn theo Kreitner (1995) động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định[11]

Qua một số khái niệm trên có thể nhận thấy, động lực làm việc là cái thúc đẩy,

là cái gia tăng sự phát triển, có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó Hoặc cũng có thể hiểu động lực làm việc là sự khao khát,

tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó Nó là sự thúc đẩy khiến cho con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao

1.1.2 Các học thuyết về động lực làm việc

1.1.2.1 Thuyết cấp bậc nhu cầu của A Maslow

1.1.2.2 Thuyết hai yếu tố của Frederick Herzberg

1.1.2.3 Thuyết công bằng của John Stacey Adams

1.1.2.4 Học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom

1.1.2.5 Thuyết động lực nội tại của Hackman và Oldham

1.1.2.6 Thuyết công bằng của John Stacey Adams

1.1.2.7 Thuyết tăng cường tích cực của Skinner

Trang 10

1.2 Công chức cấp xã và động lực làm việc của công chức cấp xã

1.2.1 Công chức cấp xã

1.2.1.1 Khái niệm

Ở Việt Nam, CCCX chỉ được thừa nhận và hình thành từ khi Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh CBCC năm 2003 được ban hành Như vậy nếu phân định theo cấp hành chính thì công chức gồm công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Việc thừa nhận CCCX là một bước đột phá, thể hiện sự thay đổi nhận thức có tính căn bản của các cơ quan nhà nước ở nước ta trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước Nhiều quốc gia trên thế giới cho rằng những người làm việc tại các cơ quan địa phương không gọi là công chức nhà nước

mà gọi là công chức địa phương, nhưng địa vị pháp lý của họ tương tự như công chức nhà nước làm việc tại các cơ quan nhà nước ở trung ương Quan niệm trên bắt nguồn từ việc không coi các cơ quan của địa phương là cơ quan nhà nước, mà đó chỉ là các cơ quan tự quản của cộng đồng Ở nước ta, các cơ quan thuộc đơn vị hành chính cấp xã như HĐND và UBND đều là những cơ quan nhà nước Vì vậy, CCCX

là công chức nhà nước là điều hợp lý Tuy nhiên, do tính chất hoạt động của CCCX

có những đặc điểm riêng nên nhà nước cần phải có các qui định đối với CCCX cho phù hợp

1.2.1.2 Vị trí, vai trò:

Thứ nhất, CCCX là lực lượng trực tiếp triển khai các chiến lược, kế hoạch phát

triển kinh tế - xã hội của địa phương, cơ sở; triển khai thực hiện quy định pháp luật nhằm quản lý toàn diện, mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội ở cơ sở

Thứ hai, CCCX là cầu nối trong mối quan hệ giữa người dân ở cơ sở với Nhà

nước CCCX có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và quy định pháp luật của Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội,

tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư CCCX là những người nắm bắt kịp thời, phản ánh đầy đủ các tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để Đảng, Nhà nước có cơ sở khoa học sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các chủ trương, chính sách có tính khả thi, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước

Trang 11

Thứ ba, với sự am hiểu văn hóa, thông thạo phong tục tập quán địa phương,

1.2.1.3 Đặc điểm của công chức cấp xã:

Theo khái niệm về CCCX như trên đã trình bày, có thể xác định CCCX có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, về tiêu chuẩn đối với CCCX CCCX là các cá nhân đáp ứng các yêu cầu nhất định

về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, phẩm chất đạo đức, chính trị, sức khỏe… nhằm triển khai thực hiện các nhiệm vụ QLNN trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã Theo quy định tại Thông tư 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ, CCCX phải có trình độ chuyên môn phù hợp từ trung cấp trở lên Chính vì vậy, CCCX có sự đồng nhất và tương đối đạt chuẩn về trình

độ chuyên môn nghiệp vụ

Thứ hai, về hoạt động thực thi công vụ CCCX làm việc trong UBND cấp xã là cấp cơ sở

trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, gắn liền với cộng đồng làng xã và các tổ chức tự quản của dân cư

Thứ ba, CCCX hoạt động liên tục, ổn định, thường xuyên, giải quyết các công

việc hàng ngày ở cấp xã Tuy nhiên so với với công chức hành chính nhà nước nói chung CCCX là lực lượng mang tính thiếu ổn định hơn do thường có sự luân chuyển, điều động, sắp xếp lại công việc nhất là sau mỗi kỳ bầu cử

Thứ tư, CCCX phải kiêm nhiệm nhiều việc Mặc dù được đào tạo ở một

chuyên ngành nhất định nhưng khi thực thi công vụ ở cơ sở CCCX lại phải thực hiện việc quản lý, tham mưu và thực thi công vụ trên quy mô, phạm vi rộng với nhiều lĩnh vực, chuyên ngành khác nhau

Thứ năm, phần lớn CCCX là người địa phương, sinh sống tại địa phương nên có ưu điểm là

có sự am hiểu về văn hoá, phong tục tập quán của địa phương, nắm bắt rõ tâm lý, tình cảm của nhân dân, làm tốt công tác tuyên truyền nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương

Thứ sáu, CCCX gồm công chức ở xã, thị trấn và phường có sự khác nhau về hoạt động

Chính quyền và đội ngũ công chức xã, thị trấn đóng vai trò quan trọng trong QLNN trên tất cả các lĩnh vực; quyết định việc phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân xã, thị trấn

1.2.2 Động lực làm việc của công chức cấp xã

1.2.2.1 Khái niệm

Trên cơ sở khái niệm về động lực làm việc và khái niệm về CCCX đã được trình

bày trên, có thể hiểu “Động lực làm việc của công chức cấp xã là sự thúc đẩy từ bên

Trang 12

trong bản thân công chức cấp xã hoặc do sự tác động từ bên ngoài tới công chức cấp

xã khiến họ tự nguyện nỗ lực, phấn đấu vì mục tiêu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất, qua đó góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả, sự thành công của tổ chức”

1.2.2.2 Tầm quan trọng của động lực làm việc của công chức cấp xã

Thứ nhất, đối với bản thân

1.3 Các biểu hiện động lực làm việc của công chức cấp xã

Thứ nhất, động lực làm việc được thể hiện thông qua những việc cụ thể mà

mỗi CCCX đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ với tổ chức Với mỗi cá nhân khác nhau, động lực làm việc là khác nhau, gắn liền với một công việc, một tổ chức

và một môi trường làm việc cụ thể

Thứ hai, động lực làm việc không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm

tính cá nhân CCCX Nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc

Thứ ba, động lực làm việc mang tính tự nguyện, phụ thuộc vào chính bản thân

CCCX Khi họ được làm việc một cách chủ động, tự nguyện, không bị ép buộc thì họ

có thể đạt được năng suất lao động cao hơn

Thứ tư, động lực làm việc đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất lao

động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi Nó như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ làm việc hăng say hơn

Chính vì vậy, để có thể tạo động lực làm việc cho CCCX, nhà lãnh đạo, quản

lý khu vực công cần phải tìm hiểu được CCCX làm việc nhằm đạt mục tiêu gì, nhu cầu của họ là gì, từ đó đưa ra biện pháp thúc đẩy động cơ làm việc của họ[32]

1.3.1 Việc sử dụng thời gian hành chính để làm việc của công chức cấp xã 1.3.2 Mức độ tin tưởng, sự gắn bó với công việc và tổ chức nhà nước của công chức cấp xã

Khác với người lao động ở khu vực tư nhân, công chức HCNN nói chung và CCCX nói riêng khi lựa chọn công tác ở các cơ quan HCNN là hướng đến các mục tiêu vì lợi ích chung của cộng đồng hoặc các giá trị xã hội mà họ mong muốn góp phần tạo ra thông qua thực hiện công vụ của mình Do đó, mức độ tin tưởng và sự gắn bó của CCCX chính là niềm tin của họ vào các giá trị cao đẹp mà họ mong muốn

Trang 13

cống hiến, và ngược lại, cũng chính điều này tạo nên sự gắn bó của họ với cơ quan, đơn vị Mức độ tin tưởng, sự gắn bó với công việc và tổ chức nhà nước của CCCX biểu hiện ở:

+ Lý do lựa chọn công việc

+ Mức độ nhận thức về yêu cầu, nội dung, nhiệm vụ được giao

+Mức độ hài lòng với công việc hiện tại

+ Mức độ yên tâm làm việc

1.3.3 Mức độ hoàn thành công việc chuyên môn của công chức cấp xã

ở cơ quan

+ Mức độ nỗ lực trong công việc

Là sự phản ánh mức độ tích cực, hăng say, nhiệt tình trong thực hiện công việc của công chức; phản ánh mức độ tiêu hao sức lực (cả thể lực và trí lực) của công chức

để hoàn thành công việc được giao Mức độ nỗ lực thực hiện công việc cao hay thấp còn thể hiện cường độ lao động của công chức trong quá trình thực hiện công việc được giao

+ Mức độ hoàn thành công việc

Mức độ hoàn thành công việc: Hiệu quả, kết quả là thước đo chính xác nhất về mục tiêu hoàn thành công việc Để đánh giá mức độ hoàn thành công việc của công chức có thể dựa trên tiêu chí về số lượng (thời gian lao động, số lượng đầu việc thực hiện, số lượng sáng kiến và sáng tạo), tiêu chí về chất lượng (hoàn thành công việc hay hoạt thành vượt mức, đúng thời hạn hay không, công việc đạt yêu cầu không…)

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức cấp xã

1.4.1 Yếu tố thuộc cá nhân công chức cấp xã

1.4.1.1 Mục tiêu cá nhân công chức cấp xã

Mục tiêu là những gì CCCX đặt ra, hướng tới và nỗ lực đạt được thông qua việc sử dụng năng lực, biện pháp và nguồn lực để đạt được mục tiêu đó, nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình

1.4.1.2 Năng lực của công chức cấp xã

Năng lực của CCCX có thể xem xét thông qua một số nội dung như: kiến thức,

kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm của CCCX

1.4.1.3 Quan điểm, tính cách của công chức cấp xã

Quan điểm sống và làm việc của CCCX là những tư tưởng chủ đạo chi phối hành vi của CCCX hàng ngày và trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao

1.4.1.4 Nhu cầu của công chức cấp xã

Ngày đăng: 01/04/2021, 09:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w