Nên tôi đã đưa ra kinh nghiệm: “Phân dạng và phương pháp giải bài tập hóa học lớp 9” II/ MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 1/ MỤC ĐÍCH: - Phân dạng các bài tập hóa học nhằm nâng cao chất l[r]
Trang 1PHẦN A - ĐẶT VẤN ĐỀ I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
- Trong thời đại ngày nay thời đại của công nghệ, hội nhập và phát triển nhân loại đều hướng đến chân trời tri thức mà hạt nhân là giáo dục Sự nghiệp xây dựng đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiến đến mục tiêu Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợi
đó là con người là nguồn lực người Việt Nam Việc này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông Trong xu thế đó sản phẩm đào tạo có khả năng học thường xuyên, học suốt đời nhằm thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ và yêu cầu trong lao động
- Hóa học là bộ môn khoa học quan trọng, rất phức tạp trong nhà trường phổ thông Những kiến thức của bộ môn rất mới mẻ đối với học sinh Môn hóa học cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông cơ bản và thiết thực đầu tiên về hóa học
- Việc dạy và học hóa học ở các trường hiện nay đã và đang được đổi mới tích cực nhằm góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu của trường THCS Giáo viên bộ môn hóa học cần hình thành ở các em một số kĩ năng cơ bản, phổ thông và thói quen học tập và làm việc khoa học, có những phẩm chất cần thiết như: cẩn thận, tỉ mỉ, kiên trì, trung thực, chính xác, yêu nhân lí khoa học, có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, có thể hòa hợp với môi trường thân thiện, chuẩn bị đi vào cuộc sống cộng đồng
- Hóa học là môn khoa học thực nghiệm kết hợp với lý thuyết, thực
tế việc giài bài tập hóa học đối với học sinh còn gặp nhiều khó khăn Đa số học sinh còn lúng túng trong việc giải bài tập hóa học và chủ yếu là học sinh chưa phân loại được các bài tập và chưa định hướng được phương pháp giải bài tập gặp phải Tôi nhận thấy việc cần thiết là phải hướng dẫn cho học sinh cách phân loại và các phương pháp giải các bài tập thuộc mỗi loại Từ đó giúp học sinh học tốt hơn và khi gặp một bài tập hóa học tương tự học sinh có thể phân loại và đưa
ra phương pháp giải thích hợp
- Trong việc phân loại các dạng bài tập hóa học và phương pháp giải cho từng loại, kinh nghiệm làm bài của học sinh đó là những kinh nghiệm có giá trị thực tiễn giúp học sinh rèn luyện cách tập trung cho từng kĩ năng, kĩ xảo làm bài từ đó các em có thể sử dụng kĩ năng, kĩ xảo một cách linh hoạt Trong quá trình giải bài tập theo từng dạng học sinh được ôn tập, củng cố kiến thức lý thuyết đã được học theo từng chủ đề giúp học sinh nắm vững các kiến thức đã học để vận dụng linh hoạt kiến thức vào làm các bài tập cụ thể
- Việc phân dạng bài tập và phương pháp giải chung cho từng loại bài tập hóa học có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học của giáo viên và kết quả học tập của học sinh đặc biệt là học sinh giỏi Ngoài
Trang 2nhiệm vụ nâng cao chất lượng đại trà, các trường còn chú trọng đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp, coi trọng việc hình thành và phát triển tiềm lực trí tuệ cho học sinh, cần rèn luyện cho học sinh có thói quen, ý thức tự học, trong đó việc xây dựng phong cách học tập tự giác, tích cực, sáng tạo để làm các bài tập thành thạo hơn trong việc sử dụng các kiến thức để làm các bài tập tạo cho học sinh hứng thú, say mê học tập bộ môn là biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học
Từ những vấn đề nêu trên, với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc tìm tòi phương pháp dạy học thích hợp với những điều kiện hiện
có của học sinh nhằm phát triển tư duy của học sinh THCS giúp các em tự lực hoạt động tìm chiếm lĩnh tri thức, tự mình tham gia các hoạt động để củng cố vững chắc kiến thức, rèn luyện được kỹ năng, phát huy tốt năng lực tư duy, độc lập suy nghĩ cho đối tượng học sinh giỏi tạo tiền đề quan trọng cho việc phát triển
tư duy của các em ở các cấp học cao hơn, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục
và đào tạo Nên tôi đã đưa ra kinh nghiệm: “Phân dạng và phương pháp giải bài tập hóa học lớp 9”
II/ MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
1/ MỤC ĐÍCH:
- Phân dạng các bài tập hóa học nhằm nâng cao chất lượng học tập môn hóa học của học sinh lớp 9
- Giúp học sinh nắm chắc được phương phải giải một số dạng bài tập từ đó rèn cho học sinh kỹ năng phân loại bài tập giải nhanh một số dạng bài tập hóa học
- Phát huy tính tích cực và tạo hứng thú cho học sinh trong học tập đặc biệt là trong giải bài tập hóa học
- Là tài liệu rất cần thiết cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi khối 9 và giúp giáo viên hệ thống hóa được kiến thức và phương pháp dạy học đạt hiệu quả cao
2/ NHIỆM VỤ:
- Nêu lên được những cơ sở lý luận của việc phân dạng bài tập hóa học trong quá trình dạy và học
- Hệ thống bài tập hóa học theo từng dạng
- Bước đầu sử dụng việc phân loại các dạng bài tập hóa học nhằm giúp học sinh lĩnh hội các kiến thức một cách vững chắc, rèn luyện tính độc lập hành động và trí thông minh của học sinh
- Thực trạng về trình độ và điều kiện học tập của học sinh lớp 9 đặc biệt là học sinh trong đội đội tuyển học sinh giỏi lớp 9 trước và sau khi vận dụng đề tài
- Từ việc nghiên cứu vận dụng đề tài, rút ra bài học kinh nghiệm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy đặc biệt là viêc bồi dưỡng học sinh giỏi
III/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trang 3- Để hoàn thành tốt đề tài tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân tích lý thuyết, điều tra cơ bản, tổng kết kinh nghiệm sư phạm và sử dụng một số phương pháp thống kê toán học trong việc phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm
- Nghiên cứu kĩ sách giáo khoa hóa học lớp 9 và các sách nâng cao
về phương pháp giải bài tập tham khảo các tài liệu đã được biên soạn và phân tích hệ thống các dạng bài toán hóa học theo nội dung đã đề ra
- Rút kinh nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học
- Tham khảo, học hỏi kinh nghiệm của một số đồng nghiệp
- Áp dụng đề tài vào chương trình giảng dạy đối với học sinh lớp 9 đại trà và ôn thi học sinh giỏi
IV/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
38 học sinh lớp 9A2 Trường Tiểu Học và THCS Mỹ Xương
V/ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:
- Đề tài sáng kiến kinh nghiệm chỉ nghiên cứu giới hạn trong phạm vi học sinh lớp 9A2 ở Trường TH & THCS Mỹ Xương
- Bài toán trong chương trình sách giáo khoa, sách bài tập lớp 9, và các sách bài tập nâng cao hóa học lớp 9
VI/ KẾ HOẠCH THỰC HIỆN:
1/ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:
Từ ngày 15 tháng 08 năm 2011 đến ngày 10 tháng 3 năm 2012
2/ CHUẨN BỊ NỘI DUNG THỰC HIỆN:
- Để áp dụng đề tài này vào công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đã thực hiện một số khâu quan trọng sau:
+ Điều tra tình hình nắm vững các kiến thức cơ bản của học sinh, tình cảm thái độ của học sinh về nội dung của đề tài, điều kiện học tập của học sinh Đưa
ra yêu cầu về bộ môn, hướng dẫn sử dụng sách tham khảo và giới thiệu một số sách hay của các tác giả để những học sinh có điều kiện tìm mua, các học sinh khó khăn sẽ mượn sách bạn để học
+ Nghiên cứu sách giáo khoa lớp 9 và các sách nâng cao về phương pháp giải bài tập hóa học, xác định mục tiêu, chọn lọc và phân dạng các bài tập biên soạn bài tập mẫu và các bài tập vận dụng và nâng cao Ngoài ra còn phải dự đoán những tình huống có thể xảy ra khi bồi dưỡng mỗi dạng bài tập
+ Chuẩn bị đề cương bồi dưỡng, lên kế hoạch về thời lượng cho mỗi dạng bài tập
+ Sưu tầm tái liệu, trao đổi kinh nghiệm cùng các bạn đồng nghiệp nghiên cứu các đề thi học sinh giỏi của huyện ta, tỉnh ta và một số tỉnh, thành phố khác
Trang 4PHẦN B – NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “PHÂN DẠNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP HÓA HỌC LỚP 9”
I/ CƠ SỞ LÝ LUẬN:
- Như chúng ta đã biết các bài tập hóa học khá phong phú và đa dạng, mỗi dạng bài tập đều có phương pháp giả đặc trưng riêng Tuy nhiên do việc phân loại bài tập chỉ mang tính tương đối, vì vậy trong mỗi loại bài tập này thường chứa đựng vài yếu tố của bài tập kia
- Bài tập hóa học là phương tiện cơ bản để dạy học sinh tập vận dụng các kiến thức hóa học vào thực tế đời sống và tập nghiên cứu khoa học
- Trong quá trình dạy học hóa học ở Trường THCS việc phân dạng
và giải các bài tập theo từng dạng là việc làm rất quan trọng Công việc này có ý nghĩa đối với cả giáo viên và học sinh Việc phân dạng các bài tập hóa học, giúp giáo viên sắp xếp các bài tập này vào những dạng nhất định và chia ra được phương pháp giải chung cho từng dạng Phân loại dạng bài tập giúp học sinh nghiên cứu tìm tòi, tạo cho học sinh thói quen tư duy, suy luận và kỹ năng làm bài khoa học, chính xác, giúp học sinh có thói quen nhìn nhận vấn đề theo nhiều cách khác nhau, từ đó học sinh có thể dùng những kiến thức cùng giải quyết một vấn đề
- Trong việc phân loại các bài tập hóa học và phương pháp giải cho từng dạng giúp học sinh rèn luyện một cách tập trung từng kỹ năng, kỹ xảo làm bài, từ đó các em sử dụng một cách thành thạo linh hoạt Trong quá trình giải các bài tập theo từng dạng học sinh được ôn tập củng cố lại các kiến thức đã học theo từng chủ đề giúp học sinh nắm vững kiến thức đã học để vận dụng trong các bài tập cụ thể và có hiệu quả
II/ CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Hóa học là môn học thực nghiệm kết hợp lý thuyết Thực tế việc giải quyết các bài tập đối với học sinh khối 9 còn gặp nhiều khó khăn vì đây là môn học khá phức tạp Qua quá trình dạy học nhiều năm tôi nhận thấy: chất lượng đối tượng học sinh ở đây chưa đồng đều về phương pháp giải bài tập, nhiều em học sinh còn yếu, lúng túng về cách làm một bài tập hóa học và đa số học sinh chưa phân dạng được các bài tập, chưa định dạng được phương pháp giải các bài tập gặp phải Trước tình hình học tập của học sinh lớp 9 hiện nay là giáo viên phụ trách bộ môn, tôi nhận thấy việc cần thiết là phải hướng dẫn học sinh cách phân dạng các bài tập và phương pháp chung để giải các bài tập thuộc mỗi dạng Từ đó giúp học sinh học tốt hơn và khi gặp một bài tập hóa học thì tự học sinh có thể phân dạng và đưa ra phương pháp giải thích hợp
Từ những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trên, chúng ta đã nhận thấy việc rèn luyện phương pháp giải các dạng bài tập hóa học 9 là một việc làm cấp bách
và cần thiết Nó như một chìa khóa mở ra nhằm nâng cao chất lượng học tập môn hóa học, giúp học sinh chủ động giải được các dạng bài tập cơ bản
Trang 5III/ THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
1/ THỰC TRẠNG CHUNG:
- Khi chuẩn bị thực hiện đề tài, năng lực giải các bài tập hóa học của học sinh còn rất yếu
- Phần lớn các em chưa xác định, phân dạng được cac bài tập nên tìm cách giải sai
- Rất ít học sinh có sách tham khảo về các loại bài tập Việc giáo viên mở rộng kiến thức cho học sinh đặc biệt là kiến thức khó trong các giờ học còn hạn chế Học sinh thường rất lúng túng khi gặp các dạng bài tập phức tạp
- Nhiều học sinh chưa biết giải các bài tập hóa học, chưa hiểu được đầy đủ
ý nghĩa định tính và định lượng, lý do là học sinh chưa nắm phương pháp chung
để giải hoặc thiếu kỹ năng tính toán, khiến học sinh làm bài thường cảm thấy khó khăn và lúng túng
- Học sinh lớp 9 đang ở giai đoạn lứa tuổi hiếu động, chưa có tính kiên trì, cẩn thận do đó khi làm bài tập các em thường mắc phải một số sai lầm phổ biến dẫn đến chất lượng học tập của học sinh rất thấp
* Kết quả kiểm tra (đợi 1): Thông qua kết quả chất lượng tháng điểm thứ
I học kì I/2011 của học sinh lớp 9A2 chất lượng chỉ đạt được:
Lớp TSHS
2/ ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI:
- Học sinh nắm được các dạng bài tập và phương pháp giải của từng dạng các em sẽ cảm thấy dễ hiểu, hiểu sâu sắc vấn đề hơn Giúp học sinh tìm ra được hướng giải một cách dễ dàng, hạn chế những sai lầm trong quá trình giải bài tập, đồng thời phát triển được tìm lực, trí tuệ của học sinh (thông qua các bài tập tương tự mẫu và các bài tập vượt mẫu)
- Có thể áp dụng cho nhiều đối tượng học sinh cấp 2, với học sinh đại trà
và nhất là đối với các đối tượng học sinh khá, giỏi
- Tài liệu này có thể dùng cho giáo viên, có thể tham khảo để bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp
Trang 63/ ĐIỂM HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài khó áp dụng vào việc giảng dạy trực tiếp trên lớp mà chủ yếu áp dụng vào việc phụ đạo, bồi dưỡng học sinh ngoài giờ hoặc bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi
IV/ CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
Qua quá trình giảng dạy, nghiên cứu tài liệu, nội dung chương trình môn học, tôi đã phân dạng các loại bài tập hóa học lớp 9 như sau:
A Dạng bài tập định tính (gồm các dạng sau):
I / Dạng 1: Dạng nhận biết các chất.
1/ Nhận biết các chât dựa vào tính chất vật lý 2/ Nhận biết các chât dựa vào tính chất hóa học
a/ Trường hợp nhận biết bằng một thuốc thử tự chọn b/ Trường hợp nhận biết bằng thuốc thử đúng qui định c/ Trường hợp không dùng bất cứ thuốc thử nào
II/ Dạng 2: Viết phương trình phản ứng – bổ túc và cân bằng phương trình phản ứng – chuỗi biến hóa và điều chế các chất.
III/ Dạng 3: Giải thích các hiện tượng hóa học.
IV/ Dạng 4: Tinh chế và tách hỗn hợp thành các chất nguyên chất.
B Dạng bài tập định lượng (gồm các dạng sau):
I/ Dạng 1: Dạng toán về dung dịch và nồng độ dung dịch.
1/ Toán về độ tan:
a/ Tìm độ tan, lượng chất tan, nước hay dung dịch bão hòa
b/ Tính lượng chất tan tách ra hay thêm vào dung dịch bão hòa khi thay đổi nhiệt độ
2/ Toán về nồng độ dung dịch:
a/ Pha trộn dung dịch có nồng độ khác nhau và khối lượng riêng khác nhau (chất tan giống nhau)
b/ Xác định nồng độ dung dịch qua phản ứng hóa học
II/ Dạng 2: Xác định công thức của một chất.
1/ Dựa vào kết quả phân tích định lượng
2/ Xác định nguyên tố dựa vào công thức oxit cao nhất
3/ Xác định công thức phân tử hợp chất hữu cơ
4/ Xác định CTHH của một chất dựa vào phương trình phản ứng
5/ Xác định công thức một chất bằng toàn biện luận
6/ Xác định công thức một chất dựa vào khối lượng mol trung bình
III/ Dạng 3: Toán về hỗn hợp.
IV/ Dạng 4: Toán tăng, giảm khối lượng.
V/ Dạng 5: Toán về hiệu suất phản ứng.
Trang 7DẠNG BÀI TẬP ĐỊNH TÍNH
A - DẠNG 1: NHẬN BIẾT CÁC CHẤT
I/ Vấn đề 1: NHẬN BIẾT CÁC CHẤT DỰA VÀO TÍNH CHẤT VẬT LÝ
Phương pháp giải:
- Loại bài tập này dựa vào sự khác nhau về tính chất vật lý như: màu, mùi
vị, tính tan trong nước
- Các đặc trưng của từng chất như: Khí CO2 không cháy, sắt bị nam châm hút, khí NH3 có mùi khai, khí H2S có mùi trứng thối, khí NO2 màu, khí SO2 có mùi hắc
Ví dụ 1: Dựa vào tính chất vật lý hãy phân biệt các chất khí gồm: H2,
Cl2, H2Sđựng trong các bình bị mất nhãn bằng thủy tinh trong suốt
Giải
- Nhận biết được bình chứa khí Cl2 vì nó có màu vàng lục
- Hai bình còn lại mở nắp bình, vẩy tay bình vào khí có mùi trứng thối thì bình đó chứa khí H2S
- Bình còn lại chính là bình chứa khí H2
Ví dụ 2: Dựa vào tính chất vật lý hãy phân biệt 3 bình chứa 3 chất bột kim loại đều có màu trắng bạc bị mất nhã gồm: Fe, Al, Ag
Giải
- Trích mỗi bình một ít làm mẫu thử
- Dùng nam châm đưa vào các mẫu thử, thấy mẫu thử nào bột kim loại bị nam châm hút đó là Fe
- Lấy hai mẫu thử còn lại với hai thể tích như nhau đem cân, thấy mẫu nào khối lượng nhẹ hơn đó là Al Mẫu nào có khối lượng nặng hơn là Ag
CÁC BÀI TẬP MINH HỌA Bài 1/ Dựa vào tính chất vật lý, hãy phân biệt các bình chứa các chất bột trắng bị mất nhãn gồm: muối ăn, đường cát và tinh bột
Bài 2/ Dựa vào tính chất vật lý, hãy phân biệt các chất chứa trong các lọ bị mất nhãn
a/ Bột sắt, bột lưu huỳnh, bột đồng (II) oxit
b/ Khí CO2, khí H2S, khí NH3
II/ Vấn đề 2: NHẬN BIẾT CÁC CHẤT DỰA VÀO TÍNH CHẤT HÓA HỌC 1/ TRƯỜNG HỢP 1: NHẬN BIẾT BẰNG THUỐC THỬ TỰ CHỌN
Trang 8Phương pháp giải:
Dạng bài tập này dựa vào những dấu hiệu đặc trưng khi các chất hóa học phản ứng với nhau Gọi là phương pháp xác định định tính
Ví dụ 1: Nêu cách phân biệt CaO, Na2O, MgO, P2O5 đều là chất bột trắng
Giải
- Hòa tan 4 chất bột trắng vào nước, nhận được MgO không tan và CaO gặp nước ít tan tạo ra được dung dịch đục
CaO + H2O Ca(OH)2
Na2O + 3H2O 2NaOH
P2O5 + 3H2O 2H3PO4
- Thử quỳ tím vào 2 dung dịch trong suốt, nhận ra dung dịch NaOH thành xanh quỳ tím, làm dung dịch H3PO4 làm đỏ quỳ tím
Ví dụ 2: Trình bày phương pháp nhận biết 5 dung dịch: HCl, NaOH,
Na2SO4, NaCl, NaNO3
Giải
- Dùng quỳ tím nhận ra dung dịch NaOH làm xanh quỳ tím, dung dịch HCl làm đỏ quỳ tím
- Dùng dung dịch BaCl2 nhận ra dung dịch Na2SO4 tạo kết tủa trắng
BaCl2 + Na2SO4 BaSO4 + 2NaCl
- Dùng dung dịch AgNO3 nhận ra dung dịch NaCl tạo kết tủa trắng
AgNO3 + NaCl AgCl + NaNO3
- Còn lại là NaNO3 2/ TRƯỜNG HỢP 2: NHẬN BIẾT CHỈ BẰNG THUỐC THỬ QUI ĐỊNH
Phương pháp giải:
Dạng bài tập này thường dùng thuốc thử duy nhất để nhận biết lọ trong số các lọ đã cho Dùng lọ tìm được làm thuốc thử cho các lọ còn lại
Ví dụ 1: Nhận biết các dung dịch sau đây chỉ bằng phenolphlatein: NaOH, HCl, H2SO4, BaCl, NaCl
Giải
- Nhận ra dung dịch NaOH làm hồng phenolphlatein
- Thêm dung dịch NaOH có màu hồng vào các dung dịch còn lại chia 2 nhóm
+ Nhóm A: HCl, H2SO4 làm mất màu hồng + Nhóm B: BaCl2,NaCl vẫn nguyên màu hồng
- Lấy một dung dịch ở nhóm A đổ vào 2 dung dịch ở nhóm B
- Nếu có kết tủa nhận ra đó là cặp H2SO4 + BaCl2 và cặp còn lại là HCl và NaCl
Trang 9- Nếu không có kết tủa thì dung dịch đã dùng ở nhóm A là HCl, H2SO4 sẽ nhận ra BaCl2 ở nhóm B Còn lại là NaCl
Ví dụ 2: Nhận biết các dung dịch sau đây chỉ bằng dung dịch HCl: MgSO4, NaOH, BaCl2, NaCl
Giải
- Xét khả năng phản ứng của 4 chất, nhận được chỉ có MgSO4 tạo kết tủa với 2 dung dịch khác
MgSO4 + 2NaOH Mg(OH)2 + Na2SO4 MgSO4 + BaCl2 BaSO4 + MgCl2
- Dung dịch còn lại không có kết tủa là NaCl
- Dùng axit HCl hòa tan 2 kết tủa thấy kết tủa không tan là BaSO4 ta nhận được dung dịch BaCl2
- Kết tủa tan là Mg(OH)2 + 2HCl MgCl2 + 2H2O ta nhận được NaOH 3/ TRƯỜNG HỢP 3: KHÔNG DÙNG BẤT CỨ THUỐC THỬ NÀO
Phương pháp giải:
- Dạng bài tập này phải lấy từng chất cho phản ứng với nhau
- Kẻ bảng phản ứng dựa vào dấu hiệu phản ứng để so sánh và kết luận
Ví dụ 1: Không dùng thêm hóa chất nào khác, hãy nhận biết 4 lọ hóa chất mất nhãn chứa các dung dịch: BaCl2, H2SO4, Na2CO3 và ZnCl2
Giải
- Trích mỗi lọ một ít làm các mẫu thử khác nhau, rồi lần lượt cho mẫu thử này phản ứng với các mẫu thử còn lại, ta được kết quả cho bảng sau:
BaCl2 H2SO4 Na2CO3 ZnCl2
Như vậy: mẫu thử nào phản ứng với 3 mẫu thử còn lại chỉ có 2 kết tủa thì mẫu thử đó là BaCl2
- Mẫu thử nào phản ứng với 3 mẫu thử còn lại, có xuất hiện 1 kết tủa và 1 sủi bọt khí bay hơi thì mẫu thử đó là dung dịch H2SO4
- Mẫu thử nào phản ứng với 3 mẫu thử còn lại, có 2 kết tủa xuất hiện và 1 sủi bọt khí, thì mẫu thử đó là dung dịch Na2CO3
- Mẫu thử nào phản ứng với 3 mẫu thử còn lại, có 1 kết tủa xuất hiện, thì mẫu thử đó là dung dịch ZnCl2
Ví dụ 2: Có 4 cốc đựng 4 chất sau: H2O, dd NaCl, dd HCl, dd
Na2CO3 Không dùng hóa chất nào khác Hãy nhận biết từng chất (được dùng các biện pháp kĩ thuật khác)
Trang 10- Lấy mỗi dd một ít, sau đó đổ vào nhau từng cặp một
- Khi nào thấy bọt khí nổi lên thì cặp đó là HCl và Na2CO3, còn cặp kia là
H2O và HCl
2HCl + Na2CO3 2NaCl + CO2 + H2O
- Như vậy ta có 2 nhóm:
+ Nhóm 1: H2O và dd NaCl + NHóm 2: dd Na2CO3 vả dd HCl
- Đum đến cạn 2 cốc nhóm 1: Cốc không có cặn là H2O còn cốc có cặn là muối NaCl
- Đun đến cạn 2 cốc nhóm 2: Cốc không có cặn là HCl, còn cốc có cặn la muối Na2CO3
CÁC BÀI TẬP MINH HỌA Bài 1/ Hãy phân biệt 3 ống nghiệm chứa các dung dịch sau: HCl, H2SO4, HNO3
Bài 2/ Nhận biết các dung dịch sau chỉ bằng quỳ tím: HCl, Na2CO3, AgNO3, BaCl2
Bài 3/ Phân biệt các dung dịch sau đây mà không dùng thuốc thử khác: HCl, BaCl2, Na2CO3, Na2SO4
B - DẠNG 2: VIẾT PHƯƠNG TRÌNH PHẢN ỨNG – BỔ TÚC
VÀ CÂN BẰNG PHƯƠNG TRÌNH PHẢN ỨNG
I/ Vấn đề 1: VIẾT PHƯƠNG TRÌNH PHẢN ỨNG – BỔ TÚC VÀ CÂN BẰNG PHƯƠNG TRÌNH PHÁN ỨNG
Phương pháp giải:
- Nắm vững tính chất hóa học các chất
- Xác định mối quan hệ giữa các chất với nhau
- Điều kiện để phản ứng trao đổi xảy ra
- Nắm vững bảng tính tan trong nước của các chất
Ví dụ 1: Hoàn thành các phương trình phản ứng sau:
a/ FeS2 + O2 t0 SO2 + …………
b/ Al(OH)3 + ………… NaAlO2 + …………
c/ Ca(HCO3)2 + ………… CaCl2 + CO2 + ………… d/ CuO + ………… Cu + CO2
Giải a/ 4FeS2 + 11O2 t0 8SO2 + 2Fe2O3 b/ Al(OH)3 + NaOH NaAlO2 + 2H2O