Chính vì những lý do đó mà ngay từ đầu tôi đã phân loại học sinh ở lớp tôi phụ trách, bắt đầu từ cuối tháng 9 cụ thể như sau: *Tổng số học sinh của lớp 3/1: 23/13 em Học sinh đọc, viết[r]
Trang 1MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục 1
I ĐẶT VẤN ĐỀ 2
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 4
II CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4
III MỘT SỐ GIẢI PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG CHUẨN KIẾN THỨC KỸ NĂNG 5
1 Giải pháp thứ nhất: Giúp giáo viên vận dụng linh hoạt phương pháp dạy phù hợp với từng đối tượng HS; giáo viên cần nhiệt tình quan tâm, giúp đỡ HS 5
2 Giải pháp thứ 2: Người giáo viên phải làm gì để học sinh nhận thức chậm, hay quên; học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn học tốt hơn? 9
3 Giải pháp thứ 3: Làm thế nào để phụ huynh quan tâm tới con em mình không khoán trắng cho nhà trường và thấy được sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình là rất cần thiết? 12
IV KIỂM CHỨNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 13
1 Kết quả đạt được 13
2 Mặt tích cực và hạn chế của việc vận dụng các giải pháp dạy học theo hướng chuẩn kiến thức kỹ năng 14
3 Phạm vi tác dụng 15
4 Bài học kinh nghiệm 15
KẾT LUẬN 16
PHỤ LỤC 17
Trang 2“Giáo dục không nhằm mục tiêu nhồi nhét kiến thức mà là thắp sáng niềm tin”
(Education is not the filling of a pail, but the lighting of a fire)
W B Yeats
-I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài:
Chất lượng dạy và học là mối quan tâm hàng đầu của nền giáo dục trên thế giới, hầu hết các nước đều ra sức tìm mọi biện pháp để nâng cao chất lượng dạy và học Với mong muốn là làm sao để người dạy truyền đạt được kiến thức một cách dễ dàng, người học nắm bắt và vận dụng được kiến thức đó trong thời gian ngắn nhất vào thực tế, do vậy càng lúc càng đặt ra những yêu cầu gay gắt trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và cách đánh giá người học như thế nào là khách quan, công bằng, là động lực thúc đẩy để người học thấy đó là động lực, mục tiêu phấn đấu Ai cũng biết rằng kiến thức chính là chìa khóa vạn năng để mở mọi cánh cửa ở tương lai và kiến thức chính là sự kế thừa thế hệ trước và sự phát triển của thế hệ nối tiếp sau
Giáo dục trẻ em là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng mà cả xã hội đều quan tâm, bởi vì “Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai”, để ngày mai thế giới có những chủ nhân tốt, xã hội có những công dân tốt thì ngay từ ngày hôm nay chúng ta phải đào tạo thế hệ trẻ có kiến thức cơ bản về tự nhiên xã hội và có phẩm chất đạo đức của con người để các em được học lên các cấp học trên dễ dàng Nhiệm vụ giáo dục học sinh luôn luôn được xã hội quan tâm nhưng quan trọng hơn cả vẫn là nhà trường, đặc biệt là trường tiểu học Bởi vì nhà trường nói chung và trường tiểu học nói riêng
là nơi kết tinh trình độ văn minh của xã hội trong công tác giáo dục trẻ em Đứa trẻ ngày hôm nay và mai sau trở thành những người như thế nào là tuỳ thuộc rất nhiều vào cấp tiểu học các em được học những gì
Xã hội ngày nay đang nói rất nhiều về giáo dục, về chất lượng học sinh lên lớp,
về những học sinh ngồi sai lớp từ khi có cuộc vận động “Hai không” của Bộ trưởng
Bộ giáo dục và đào tạo Những người làm giáo dục như tôi không khỏi suy nghĩ
Trang 3phải làm gì, làm như thế nào để “sản phẩm” của mình phải cĩ chất lượng, những lí
do trên đã thơi thúc tơi cần phải cĩ kế hoạch và biện pháp cụ thể gĩp phần đưa chất lượng học sinh trong nhà trường đạt hiệu quả tốt Là một giáo viên dạy lớp và một
tổ trưởng chuyên mơn cơng việc chủ yếu là giảng dạy và cùng với phĩ hiệu trưởng chuyên mơn dự giờ theo dõi việc giảng dạy của giáo viên trong tổ Qua giảng dạy
và dự giờ giáo viên trong tổ, tơi nhận thấy chất lượng giảng dạy chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục đặt ra Đặc biệt là từ khi Bộ GD-ĐT đưa ra yêu cầu dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ban hành chương trình giáo dục phổ thơng – cấp Tiểu học ngày 05/5/2006, tơi đặc biệt chú trọng đến việc dạy và học theo chuẩn kiến thức kỹ năng, nếu các em khơng đạt được chuẩn kiến thức kỹ năng của lớp đang học thì lên lớp trên các em sẽ bị hổng kiến thức Như vậy dạy học như thế nào để người học đạt được chuẩn kiến thức kỹ năng? Đây
là câu hỏi mà mọi người đều đặt ra và cũng cĩ nhiều câu trả lời cho vấn đề đĩ Ở đây chúng ta khơng bàn về những câu trả lời mà chỉ trao đổi một vài vấn đề về giải pháp giảng dạy giúp hs đạt chuẩn kiến thức kỹ năng vì đây chính là yếu tố quyết định để người dạy và người học hồn thành nhiệm vụ trọng tâm của mình
Từ thực tế giảng dạy và theo dõi về chuyên mơn tơi đã chọn đề tài: “Một số giải
pháp nâng cao chất lượng dạy và học theo hướng chuẩn kiến thức kỹ năng khơng để HS ngồi sai lớp” làm đề tài phát triển kinh nghiệm cho mình.
2 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài nhằm nắm được mục tiêu, yêu cầu về chuẩn kiến thức kỹ năng
mà hs cần đạt ở từng khối lớp Từ đĩ đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu đưa ra những giải pháp dạy học thích hợp theo hướng chuẩn kiến thức kỹ năng nhằm giúp hs đạt được chuẩn kiến thức kỹ năng khơng để hs ngồi sai lớp
3 Một số phương pháp sử dụng trong quá trình nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu tài liệu, sách báo có liên quan
đến đề tài
- Phương pháp quan sát: Sử dụng phương pháp này để nghiên cứu, quan sát các
hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh
Trang 4- Phương pháp đối thoại: Trực tiếp trò chuyện với học sinh để cập nhật những
thơng tin phản hồi từ học sinh cho phương pháp điều tra
- Phương pháp điều tra: Đây là phương pháp chủ đạo nhằm thu thập những số
liệu, hiện tượng từ đó phát hiện ra vấn đề cần giải quyết cĩ liên quan đến việc tiếp thu tri thức của HS
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động của học sinh: Được dùng để khảo
sát và đánh giá trình độ học tập của HS thơng qua các bài thực hành và kiểm tra
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp này để xử lí các số liệu
đi đến kết luận phù hợp với giả thuyết khoa học
4 Giả thuyết nghiên cứu: Nếu đề tài nghiên cứu thành cơng đề ra được những
giải pháp dạy học thích hợp theo hướng chuẩn kiến thức kỹ năng sẽ giúp hs đạt được chuẩn kiến thức kỹ năng, HS sẽ khơng ngồi sai lớp
II CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Qua quá trình giảng dạy và theo dõi chất lượng giáo dục của tổ nĩi chung và của lớp tơi phụ trách nĩi riêng, tơi nhận thấy chất lượng giảng dạy theo chuẩn kiến thức
kỹ năng đạt hiệu quả chưa cao cĩ rất nhiều nguyên nhân, nhưng tập trung vào những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
1 Đối với giáo viên: Vận dụng phương pháp dạy học chưa phù hợp với từng đối
tượng học sinh nên chất lượng chưa cao, một số giáo viên chưa nhiệt tình giúp đỡ HS
2 Đối với học sinh: Một bộ phân HS bị bệnh lý bẩm sinh học hay quên; lười
học; do hồn cảnh gia đình; vào học khơng tập trung, chủ quan trong giờ học
3 Đối với phụ huynh: Một số gia đình khơng quan tâm đến con em mình, phĩ
mặc khốn trắng cho nhà trường
Trang 5III MỘT SỐ GIẢI PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG CHUẨN
KIẾN THỨC KỸ NĂNG:
Học sinh Tiểu học khi mới vào trường các em còn rất bỡ ngỡ và mọi thứ còn rất mới lạ, trong thời gian đầu các em được học những gì và được dạy gì phụ thuộc phần lớn vào thầy cô ở trường Vì thế, để dạy cho các em đạt được chuẩn kiến thức
kỹ năng của bậc học nói chung và ở từng khối lớp nói riêng thì ngay từ năm đầu cấp đòi hỏi người giáo viên phải luôn tìm hiểu và nghiên cứu nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh, hiểu được hoàn cảnh của các em, hiểu được tâm lý các em và đòi hỏi phải có sự nhiệt tình tâm huyết của người thầy Chính vì những lý do đó mà ngay từ đầu tôi đã phân loại học sinh ở lớp tôi phụ trách, bắt đầu từ cuối tháng 9 cụ thể như sau:
*Tổng số học sinh của lớp (3/1): 23/13 em
Học sinh đọc, viết, làm toán, làm tính theo chuẩn: 16/10 em
Học sinh đọc, viết, làm toán, làm tính chậm so với chuẩn: 7/4 em (Có danh sách HS kèm theo)
Từ những số liệu về tình hình học sinh mà tôi đã thống kê, cùng với quá trình BGH dự giờ để tìm hiểu rõ nguyên nhân nào các em lại đọc, viết, làm toán, làm tính chậm so với yêu cầu chuẩn, tôi cùng Ban giám hiệu nhà trường họp giáo viên trong tổ để đưa ra những giải pháp cụ thể và tiến hành ngay để làm sao nâng dần chất lượng dạy theo chuẩn kiến thức kỹ năng cho các em học sinh Sau đây là một số giải pháp dạy học theo hướng chuẩn kiến thức kỹ năng giúp HS đạt được chuẩn kiến thức kỹ năng không để HS ngồi sai lớp:
1 Giải pháp thứ nhất: Giúp giáo viên vận dụng linh hoạt phương pháp dạy
phù hợp với từng đối tượng HS; giáo viên cần nhiệt tình quan tâm, giúp đỡ HS.
1.1 Phương pháp dạy học theo nhóm đối tượng:
-Yêu cầu giáo viên phân loại học sinh trong lớp thành những nhóm đối tượng như sau:
Nhóm 1: Gồm những học sinh chậm, yếu
Nhóm 2: Gồm những học sinh trung bình
Trang 6 Nhóm 3: Gồm những học sinh khá
Nhóm 4: Gồm những học sinh giỏi
-Giáo viên có thể thay tên nhóm 1,2,3,4 thành tên khác như nhóm A,B,C,D…Trong quá trình dạy giáo viên vẫn phải lấy chuẩn để làm thước đo nhưng
ở các tiết ôn tập, các giờ ôn của buổi chiều hay các giờ ngoại khóa giáo viên yêu cầu các em thực hiện nhiệm vụ với 4 mức khác nhau trong cùng một giờ học
Ví dụ: Nhóm 1 các em đọc nhiều lần hơn, viết ít hơn so với nhóm 3 và 4 Các
dạng bài đọc và viết về vần đều có thể vận dụng phương này Chẳng hạn bài 46 vần
ÔN, ƠN các em chỉ cần viết ôn, ơn, con chồn, sơn ca, mỗi vần, mỗi từ chỉ một
dòng, trong khi đó các em ở nhóm 3, 4 viết nhiều hơn mỗi loại như trên từ 2 đến 3 dòng Các em ở nhóm 2 chỉ cần viết theo yêu cầu chuẩn
-Ban giám hiệu cùng giáo viên thống nhất trong các giờ học ngoại khóa cho những em học sinh chậm, yếu ở lại phòng học, giáo viên tiếp tục kèm cho các em đọc, viết nội dung nào các em còn yếu
1.2 Phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học như tranh, ảnh, vật thật….cho học sinh học chậm.
Ở lứa tuổi HS tiểu học khả năng tư duy trừu tượng kém, phần lớn các em phải dựa trên những mô hình vật thật, tranh ảnh, do vậy trong các giờ học việc yêu cầu giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học là không thể thiếu kể cả đồ dùng do giáo viên tự làm Đồ dùng dạy học là phương tiện chuyển tải thông tin và là nội dung truyền thụ kiến thức giáo dục tư cách, rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh, nó
có tác dụng điều khiển hoạt động của học sinh từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, kích thích hứng thú cho học sinh học tập Có nhà giáo dục trẻ cho rằng trẻ không sợ học mà chỉ sợ những tiết học đơn điệu nhàm chán vì thế đồ dùng dạy học có tác dụng rất lớn trong quá trình truyền thụ kiến thức kỹ năng cho học sinh, nhất là các em học sinh học chậm
Ví dụ: Ở những bài học về vần Chẳng hạn như Bài 41 trang 86 Sách giáo khoa
Tiếng Việt 1 Tập 1: Dùng tranh vẽ (hoặc vật thật) trái lựu; Tranh con hươu sao để
học sinh quan sát và tìm ra từ khoá sau khi các em đã nhận diện vần ưu và ươu ở
phần đầu tiết học Từ những hình ảnh như thế các em sẽ dễ nhớ và nhớ chính xác
Trang 7hơn các vần và các từ được học bởi các em có sự liên tưởng từ vật thật đến vần của bài học
Như vậy dùng tranh, ảnh, vật thật trong các giờ Tiếng Việt giúp học sinh nhớ vần và từ tốt hơn
-Ngoài ra dùng tranh, ảnh có vai trò rất lớn trong phần luyện nói ở các tiết tập đọc môn Tiếng Việt lớp 1 – học kì II
Ví dụ: Bài Chuyện ở lớp – Trang 100 Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 tập II –
Phần luyện nói: Tìm tiếng ngoài bài: Có vần uôt Giáo viên treo tranh một người
đang tuốt lúa – Giáo viên hỏi nội dung bức tranh, sau đó cho các em nói câu có vần
uôt, động viên các em học chậm nói trước, nhìn vào tranh tự các em có thể nói được
như: Mẹ (cô, chị, dì) đang tuốt lúa hoặc là máy tuốt lúa Dùng tranh, ảnh trong các phần này tôi nghĩ rằng có tác dụng rất lớn đối với các em học chậm, các em vừa nói được câu có vần cần tìm và còn hiểu được nghĩa của câu đó Tuy nhiên các em HS
khá, giỏi nói các câu khác cũng có vần uôt như con chuột, sáng suốt mà không cần
dựa vào tranh
Ví dụ: Dạy bài “Phòng bệnh lao phổi” môn TNXH – Lớp 3 Giáo viên cho học
sinh xem một đoạn phim phóng sự về thông tin người bệnh lao phổi và biện pháp phòng bệnh lao phổi Học sinh sẽ dễ dàng biết được nguyên nhân gây bệnh, con đường truyền bệnh, tác hại của nó và cách phòng bệnh Học sinh còn nhớ bài được lâu hơn
Như vậy rõ ràng trong cùng một giờ học giáo viên biết vận dụng khéo léo tranh, ảnh thì vừa phát huy được tính sáng tạo chủ động cho học sinh khá giỏi lại vừa tạo
sự hứng thú cố gắng vươn lên cho học sinh học chậm
Giáo viên cần lưu ý: Đồ dùng phải khoa học, thẩm mĩ, có tính sư phạm Giáo viên không nên lạm dụng mà cần sử dụng đúng lúc, đúng nơi, đúng chỗ, dùng xong nên cất ngay để tránh gây mất tập trung cho các em
1.3 Động viên các em
Bất kì một ai cũng đều thích mình được khen ngay cả người lớn cũng vậy Ở lứa tuổi học sinh tiểu học lại càng thích được khen nhiều hơn Đối với các em học yếu, cơ hội các em được khen là rất ít Do đó, giáo viên cần trân trọng mọi cố gắng
Trang 8của các em, khen ngợi các em cho dù đó là sự tiến bộ rất nhỏ Giáo viên cần tạo điều kiện để các em được khen Trong tiết học giáo viên cần có những câu hỏi gợi
mở phù hợp với các em để các em trả lời được
Ví dụ: Dạy bài tập đọc “Nhớ Việt Bắc” môn tập đọc – Lớp 3 Đối với câu hỏi
1/SGK: Người cán bộ về xuôi nhớ những gì ở Việt Bắc? Giáo viên có thể hỏi thêm câu “Trong bài thơ, ta chỉ ai? mình chỉ ai? để giúp các em dễ hiểu “ta” chỉ tác giả là người cán bộ về xuôi; còn “mình” chỉ người Việt Bắc là người ở lại Như vậy, với các em học chậm mới có thể trả lời tốt câu hỏi 1/SGK được Nếu không các em dễ
bị nhầm lẫn giữa “ta” và “mình”
Ngoài ra tôi thấy sử dụng mô hình “Vườn hoa học tốt” là một phương pháp khuyến khích học tập rất hay Các em rất thích được khen thưởng hoa Các em sẽ cố gắng làm bài cho tốt, tích cực phát biểu để được giáo viên khen thưởng hoa
Giáo viên cần lưu ý thêm nếu học sinh có trả lời sai thì cần khuyến khích cho các em ở lần sau được tốt hơn Tránh những lời nói làm cho các em mặc cảm với bạn bè, không dám phát biểu nữa
1.4 Người giáo viên cần có lòng nhiệt tình, luôn quan tâm giúp đỡ HS.
Ở lứa tuổi các em việc tiếp thu kiến thức còn thông qua hình thức: Học mà chơi, chơi mà học, giáo viên phải nhẹ nhàng, ân cần dạy bảo các em luôn tạo không khí thoải mái, vui vẻ trong giờ học, một lời nhận xét động viên các em giúp các em thấy tự tin và phấn khởi, sự chỉ bảo ân cần là điều rất cần thiết, tránh quát mắng các
em khi các em làm sai hay chưa làm được Đặc biệt không được ngồi một chỗ bảo các em đọc đi, viết đi mà giáo viên phải đi xuống bên học sinh xem em nào đã làm được còn em nào làm chưa được nhắc nhở các em, chỉ cụ thể để các em làm cho tốt Làm sao để mỗi ngày các em đến trường là một ngày vui Giáo viên phải gần gũi với học sinh thì mới hiểu được về học sinh của mình, để hình ảnh ân cần của cô luôn là hình ảnh đẹp trong ánh mắt của các em, bản thân các em cũng thấy cô giáo như người thân trong gia đình sẵn sàng kể cho cô nghe những niềm vui hoặc những khó khăn của mình trong học tập hay trong sinh hoạt hàng ngày mà cần cô giúp đỡ
Ví dụ: Em Hà lớp 3/1 em viết rất hay sai, không đúng cỡ chữ, không ngay
hàng, một số chữ hay lẫn lộn trong 3 tháng đầu năm học Nhưng qua quá trình rèn
Trang 9luyện cùng với lời khen dù chỉ là tiến bộ nhỏ nhất, đến nay em đã tiến bộ rõ rệt, chữ viết đã đúng, rõ ràng, thẳng hàng hơn
*Tóm lại: Qua việc chỉ đạo và theo dõi quá trình dạy học của giáo viên toàn
trường nói chung và giáo viên khối 3 nói riêng, tôi nhận thấy nếu người giáo viên biết lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp với từng trình độ học sinh của một lớp cùng với lòng nhiệt tình, quan tâm giúp đỡ học sinh học chậm thì chất lượng học sinh sẽ ngày một nâng lên
2 Giải pháp thứ 2: Người giáo viên phải làm gì để học sinh nhận thức
chậm, hay quên; học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn học tốt hơn?
Có lẽ nguyên nhân này là nguyên nhân lớn làm giảm chất lượng học sinh, qua dự giờ ở tất cả các khối lớp trong tổ, những người làm giáo dục chúng tôi thực
sự băn khoăn và trăn trở bởi số học sinh này không phải chỉ có 1 hay 2 em, nên tôi nghĩ cần có kế hoạch cụ thể để giúp giáo viên khối 3 nói riêng và giáo viên toàn trường nói chung dạy những học sinh này như thế nào cho đạt kết quả tốt, không phải trong một tháng mà trong cả một năm học, có khi cả trong hè
2.1 Đối với học sinh nhận thức chậm, hay quên.
-Yêu cầu giáo viên chủ nhiệm phải phân loại và nắm được số lượng dạng học sinh này, giáo viên cần có một phương pháp dạy và dạy một lượng kiến thức phù hợp cho các em Tuy nhiên với học sinh cả lớp giáo viên vẫn lấy chuẩn để làm mục tiêu phấn đấu, còn những em này nếu dạy chung theo chuẩn của chương trình đề ra thì các em không thể theo kịp, vì thế yêu cầu trước hết giáo viên sắp xếp chỗ ngồi cho các em phù hợp và có tác dụng thúc đẩy
Ví dụ: Cho các em ngồi gần các bạn học tốt để các em được sự giúp đỡ từ
bạn, được học tập từ bạn như các em tập đọc theo bạn, nhắc lại câu của bạn nói, được các bạn nhắc nhở luôn với hình thức này là điều kiện rất tốt cho các em hoạt động nhóm đôi, tránh cho các em cùng học chậm ngồi với nhau và ngồi cuối cùng của lớp, cần tạo điều kiện cho các em học tốt để các em biết phát huy những ưu điểm của bạn
Trang 10-Dạy các em lượng kiến thức phù hợp như: Về viết chỉ yêu cầu các em viết một số dòng nếu như những học sinh bình thường có thể viết nhiều dòng trở lên (phân môn Tập viết)
-Dạy tập làm văn chỉ cần các em viết đoạn văn đảm bảo đủ các gợi ý của bài; Môn chính tả, các em viết quá yếu thì trong giờ chính tả cho các em nhìn sách viết, sau đó gv sẽ đọc lại cho các em viết trong giờ ra chơi
-Về đọc tăng cường gọi các em đọc nhiều lần, luyện đọc nhiều lần từ khó (cho HS đọc câu, đoạn kết hợp trả lời những câu hỏi dễ)
-Gv cần có sự chuẩn bị kĩ cả về giáo án và đồ dùng dạy học Dự đoán trước những tình huống có thể xảy ra và chuẩn bị sẵn một hệ thống câu hỏi gợi mở để học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức
Ví dụ: Dạy Tự nhiên xã hội, bài: Quả (Lớp 3)
- Đồ dùng dạy học: một số loại quả
- Hệ thống câu hỏi:
+ Quả gồm những bộ phận nào? Chỉ rõ các bộ phận đó?
+ Bóc hoặc gọt vỏ, nhận xét về vỏ quả xem có gì đặc biệt?
+ Bên trong vỏ gồm những bộ phận nào? Chỉ phần ăn được của quả đó?
Ngoài ra giáo viên cần có kế hoạch về thời gian để kèm cặp, phụ đạo cho phù hợp Giáo viên cần phải linh động trong việc giảng dạy Và với hình thức khoán chương trình cho giáo viên, giáo viên được chủ động đưa ra kế hoạch giảng dạy, nhưng vẫn đảm bảo dạy đủ, dạy đúng kiến thức theo chương trình Tiểu học Ví dụ: Dạy hai bài “xem đồng hồ”, giáo viên có thể dạy gộp thành một bài (vì hai bài kiến thức đơn giản) Như vậy giáo viên có thêm thời gian phụ đạo, kèm học sinh yếu
Giáo viên cố gắng cuối mỗi buổi học cho thêm các bài tập nào các em còn yếu về nhà làm Có câu “Trăm hay không bằng tay quen” Các em được tính toán nhiều từ từ sẽ nhớ cách làm bài Hôm sau, giáo viên cố gắng lên lớp sớm khoảng 15 phút vào kiểm tra các em tất cả những gì giáo viên đã dặn và hướng dẫn thêm cho các em nếu các em làm chưa tốt