1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng phương pháp đàm thoại phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy học chương 2 – Tam giác hình học 7

20 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 292,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4.3 Vận dụng phương pháp đàm thoại phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy học bài tập Trong quá trình dạy học sinh giải bài tập, để giúp các em tìm đường lối giải bài toán, đa số các giá[r]

Trang 1

Trang I LỜI NÓI ĐẦU 3

II NỘI DUNG .3

1 Cơ sở xuất phát: 3

1.1 Cơ sở lí luận 3

1.2 Cơ sở thực tiễn 6

2 Mục tiêu của đề tài: 6

3 Đặc điểm tình hình: 6

4 Vận dụng phương pháp đàm thoại – phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy học chương 2 – tam giác hình học 7 4.1 Vận dụng phương pháp đàm thoại phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy học khái niệm 7

4.1.1 Dạy học khái niệm “Hai tam giác bằng nhau” 7

4.1.2 Dạy học khái niệm “Tam giác cân” 8

4.1.3 Dạy học khái niệm “Tam giác vuơng cân” 9

4.2 Vận dụng phương pháp đàm thoại phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy học định lí 4.2.1 Dạy học định lí “Tổng ba gĩc của một tam giác” 10

4.2.2 Dạy học định lí “Gĩc ngồi của tam giác” 12

4.2.3 Dạy học định lí về tính chất của tam giác cân 13

4.2.4 Dạy học định lí Pitago 13

4.2.5 Dạy học định lí Pitago đảo 15

4.3 Vận dụng phương pháp đàm thoại phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy học bài tập 16

MỤC LỤC

Trang 2

5 Kết quả thực nghiệm .23

III BÀI HỌC KINH NGHIỆM 23

IV TỰ NHẬN XÉT CỦA BẢN THÂN VỀ ĐỀ TÀI 24

V NHẬN XÉT CỦA TỔ CHUYÊN MÔN 24

VI NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA NHÀ TRƯỜNG 24

Trang 3

I LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học, với xu thế “dạy học tập trung vào người học”, hay là “phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh” Do đó việc đổi mới phương pháp dạy học toán theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, khơi dậy và phát triển khả năng tự học, nhằm hình thành cho học sinh tư duy tích cực độc lập, sáng tạo, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm và đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

Khi đó, người học cần phải chủ động, tự giác tích cực trong các hoạt động học tập để chiếm lĩnh tri thức và giáo viên là người chủ đạo, nêu vấn đề và hướng học sinh giải quyết vấn đề Tuy nhiên, nâng cao vai trò của người học không có nghĩa là làm phai mờ vị trí của người giáo viên mà ngược lại người giáo viên hiện nay phải không ngừng trau dồi tri thức, học hỏi kinh nghiệm ở bạn bè, nắm bắt thông tin từ sách báo, internet,…Ngoài những tri thức khoa học, người giáo viên phải có đầy đủ năng lực sư phạm, lòng yêu nghề mến trẻ, có khả năng dự đoán và giải quyết những tình huống sư phạm

Chương 2 - Tam giác hình học 7 là một trong những nội dung hay của chương trình Toán trung học cơ sở, cũng là nội dung quan trọng nhằm rèn luyện trí tuệ cho các em Việc chiếm lĩnh kiến thức và chứng minh các bài toán liên quan đến tam giác

là một vấn đề khó khăn cho học sinh lớp 7 vì các em mới làm quen với phương

pháp suy luận và chứng minh hình học

Từ những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Vận dụng phương pháp đàm

thoại phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy học chương 2 – Tam giác hình học 7” để một phần nào giúp cho quá trình dạy và học được tốt hơn, đạt hiệu quả như

mong muốn

II NỘI DUNG

1 Cơ sở xuất phát

1.1 Cơ sở lí luận

Xuất phát từ yêu cầu của thời đại mới, Đất nước ta đang trên đường hội nhập, nền kinh tế tri thức ngày càng phát triển và được coi trọng Vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và hiện đại hóa giáo dục nói riêng đang đứng trước bài

Trang 4

toán phải đổi mới toàn diện Đổi mới từ mục tiêu giáo dục, nội dung đến phương pháp và phương tiện dạy học

Việc đổi mới phương pháp dạy học ở các cấp học là rất quan trọng và mang tính chiến lược nhằm đưa nền giáo dục nước ta lên một tầm cao mới đáp ứng chương trình giáo dục hội nhập Quốc tế

Vì thế Luật giáo dục nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã quy định:

“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên ” (Luật giáo dục 2005, chương I, điều 4)

Để thực hiện mục tiêu trên, định hướng đổi mới phương pháp dạy học được thể hiện qua sáu ý sau đây đặc trưng cho phương pháp dạy học hiện đại:

- Xác lập vị trí chủ thể của người học, đảm bảo tính tự giác, tích cực chủ động và sáng tạo của hoạt động học tập được thể hiện độc lập hoặc trong giao lưu

- Tri thức được cài đặt trong những tình huống có dụng ý sư phạm

- Dạy việc học, dạy tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học

- Tự tạo và khai thác những phương tiện dạy học để tiếp nối và gia tăng sức mạnh của con người

- Tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của bản thân người học

- Xác định vai trò mới của người thầy với tư cách người thiết kế, uỷ thác, điều khiển và thể chế hoá

Riêng đối với môn Toán, căn cứ vào đặc điểm, vai trò, vị trí và ý nghĩa của môn toán, việc đổi mới phương pháp dạy học môn toán có các mục tiêu chung sau đây:

- Cung cấp cho HS những kiến thức, kĩ năng, phương pháp toán học phổ thông

cơ bản, thiết thực

- Góp phần quan trọng vào việc phát triển năng lực, trí tuệ, hình thành khả năng suy luận đặc trưng của toán học cần thiết cho cuộc sống

- Góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất, phong cách lao động khoa học, biết hợp tác lao động, có ý chí và thói quen tự học thường xuyên

Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học mang tính thiết thực và là quyết định đúng đắn của nền giáo dục nước ta

Phương pháp đàm thoại phát hiện và giải quyết vấn đề

Trang 5

Phương pháp đàm thoại phát hiện và giải quyết vấn đề tuy đã có từ lâu đời, nhưng đến nay vẫn được xem là một phương pháp dạy học tích cực và được sử

dụng nhiều trong quá trình dạy học

a Khái niệm

Phương pháp đàm thoại phát hiện là phương pháp trao đổi giữa Giáo viên và học sinh trong đó Giáo viên nêu ra hệ thống câu hỏi “dẫn dắt” gắn bó logic với nhau

để học sinh suy lí, phán đoán, quan sát, tự đi đến kết luận và qua đó mà lĩnh hội kiến thức

b Đặc điểm

- Giáo viên tổ chức đối thoại, trao đổi ý kiến, tranh luận giữa thầy và cả lớp,

có khi giữa trò với nhau, thông qua đó học sinh lĩnh hội được tri thức mới

- Trong phương pháp đàm thoại phát hiện có yếu tố tìm tòi, nghiên cứu của học sinh Giáo viên giống như người tổ chức sự tìm tòi còn học sinh là người tự lực phát hiện kiến thức mới

- Cốt lõi của phương pháp đàm thoại phát hiện là hệ thống các câu hỏi – lời đáp của Giáo viên

- Hệ thống câu hỏi – lời đáp mang tính chất nêu vấn đề để tạo nên nội dung chủ yếu của bài học là nguồn kiến thức và là mẫu mực của cách giải quyết một vấn đề nhận thức Thông qua phương pháp này, học sinh không những lĩnh hội được nội dung tri thức mà còn học được cả phương pháp nhận thức và cách diễn đạt tư tưởng bằng lời nói

c Yêu cầu xây dựng hệ thống câu hỏi

Phương pháp đàm thoại phát hiện là một trong những phương pháp phát huy được tính tích cực học tập của học sinh Phương pháp này dựa trên hệ thống câu hỏi được sắp đặt hợp lí, phù hợp với nhận thức của học sinh, kích thích học sinh tích cực tìm tòi, hướng dẫn học sinh theo một mục đích sư phạm định trước Bởi vậy, Giáo viên cần có sự chuẩn bị hệ thống câu hỏi một cách kĩ lưỡng, tránh tư tưởng chủ quan, không có chuẩn bị chu đáo từ trước

- Câu hỏi phải chính xác, thể hiện trong hình thức rõ ràng, đơn giản giúp người học hình thành được câu trả lời đúng Nếu câu hỏi đa nghĩa phức tạp sẽ gây khó khăn cho sự suy nghĩ của học sinh

Trang 6

- Câu hỏi xây dựng theo hệ thống logic chặt chẽ Để xây dựng hệ thống câu hỏi theo yêu cầu này cần căn cứ vào cấu trúc nội dung bài học

- Hệ thống câu hỏi được thiết kế theo quy luật nhận thức và khả năng nhận thức của đối tượng cụ thể

+ Xây dựng câu hỏi từ dễ đến khó

+ Từ cụ thể đến khái quát và từ khái quát đến cụ thể

+ Câu hỏi từ tái tạo đến sáng tạo

+ Số lượng câu hỏi vừa phải, sử dụng câu hỏi tập trung vào “phải biết” trong bài học (trọng tâm của bài học)

1.2 Cơ sở thực tiển

Chương 2 – Tam giác hình học 7 đây là chương có nhiều kiến thức hình học vừa mới vừa lạ, đa số các em học sinh tiếp thu môn toán còn chậm, khi giải toán học sinh còn bộc lộ rất nhiều thiếu sót, đặc biệt là quá trình vận dụng các kiến thức đã học vào giải bài tập, các em luôn có cảm giác học hình học khó hơn học đại số dẫn đến có nhiều em học yếu kém môn toán Đây là một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng môn toán chưa cao

Nếu chúng ta không thay đổi phương pháp giảng dạy môn toán hoặc sử dụng phương pháp dạy học chưa đúng, đặc biệt là phương pháp dạy môn hình học thì chất lượng môn toán ngày càng thấp Thực tế cho thấy phương pháp dạy học đàm thoại phát hiện và giải quyết vấn đề là một phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình dạy học nhưng không ít giáo viên sử dụng chưa có hiệu quả Chính từ thực trạng trên tôi đã quyết định nghiên cứu đề tài này để phần nào khắc phục được những tồn tại trên và từng bước nâng cao chất lượng môn toán

2 Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu các cơ sở lí luận của phương pháp đàm thoại phát hiện và giải quyết

vấn đề Trên cơ sở đó vận dụng vào dạy học chương 2– hình học 7, nhằm kích thích

tính tích cực học tập của học sinh, nâng cao chất lượng dạy học môn toán

3 Đặc điểm tình hình

3.1 Thuận lợi

Trường khang trang không bị ngập lũ, thuận lợi cho học sinh đến trường

Đa số học sinh có ý thức trong học tập

3.2 Khó khăn

Trang 7

B' C'

C B

A

Một số học sinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo ngoài việc học ở trường thì các

em còn phải phụ giúp gia đình để kiếm sống Từ đó các em không có nhiều thời gian

để đầu tư cho việc học dẫn đến kết quả học tập chưa cao

Một số phụ huynh chưa thật sự quan tâm đến việc học của con em mình

Học sinh chưa biết cách học như thế nào cho có hiệu quả Đặc biệt đối với các học sinh mất căn bản về môn toán thì các em rất sợ học môn này và khi đó càng làm cho các em có tâm lý ngán học Điều đó dẫn đến kết quả dạy và học chưa cao

4 Vận dụng phương pháp đàm thoại – phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy

học chương 2 – tam giác hình học 7

4.1 Vận dụng phương pháp đàm thoại phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy học khái niệm

4.1.1 Dạy học khái niệm “Hai tam giác bằng nhau”

Hoạt động 1: Hình thành khái niệm

Giáo viên: Cho hai tam giác ABC và A’B’C’

Hãy dùng thước thẳng có chia khoảng và thước đo góc, đo các cạnh và các góc của hai tam giác

AB = ; AC = ; BC =

= ; = ; =

= ; = ; = A

= ; = ; = A

Học sinh: Đo độ dài các cạnh và số đo các góc của hai tam giác đã cho

Giáo viên: ABC và A 'B'C' trên có mấy yếu tố bằng nhau ? Mấy yếu tố về cạnh ? Mấy yếu tố về góc ?

Học sinh: ABC và A 'B'C'trên có 6 yếu tố bằng nhau, 3 yếu tố về cạnh, 3 yếu

tố về góc

Giáo viên: Hai ABC và A 'B'C'như vậy được gọi là hai tam giác bằng nhau Vậy hai tam giác bằng nhau là hai tam giác như thế nào ?

Hoạt động 2: Phát biểu định nghĩa

Trang 8

Hình 3

50 0

70 0

3 D

F

E

C B

A

A

Học sinh: Hai tam giác bằng nhau là hai tam giác có các cạnh tương ứng bằng nhau, các góc tương ứng bằng nhau

Giáo viên: Nhấn mạnh tính chất đặc trưng là: Các cạnh tương ứng bằng nhau + các góc tương ứng bằng nhau

Kí hiệu: ABC  A'B'C'

Lưu ý: Khi kí hiệu sự bằng nhau của hai tam giác, các chữ cái chỉ tên các đỉnh tương ứng được viết cùng thứ tự

Hoạt động 3:Củng cố và khắc sâu

Bài tập 1: Cho hình vẽ sau chỉ ra các tam giác bằng nhau trong mỗi hình.

Hình 1

A

A'

H

K

N Q P

M

Giáo viên: Quan sát hình vẽ và dựa vào khái niệm cho biết hình nào có hai tam giác bằng nhau?

Học sinh: Ở hình 1, ta có ABC A'B'C' (theo định nghĩa) vì AB A 'B'; 

và = ; = ; = Ở hình 2: Hai tam giác không bằng

BC B'C'; AC A 'C'  A AA' AB AB' AA C AC'

nhau vì có các góc bằng nhau nhưng các cạnh không bằng nhau

Bài tập 2: Cho ABC = DEF (hình 3) Tìm số đo góc D và tính độ dài BC

Giáo viên:  ABC = DEF  ta có các cặp góc, cặp cạnh nào bằng nhau? Từ đó suy

ra số đo góc D và độ dài cạnh BC

Học sinh: Ta có A D; B E; C FA A A A A   và AB = DE; BC = EF; AC = DF Từ đó suy

ra D A 180A  A 0(70050 ) 600  0 và BC = EF = 3cm

4.1.2 Dạy học khái niệm “Tam giác cân”

Hoạt động 1: Hình thành khái niệm

Giáo viên: Tam giác ABC ở hình vẽ bên có gì đặc biệt?

Trang 9

B

C

Học sinh: Tam giác ABC ở hình vẽ bên có AB = AC

Giáo viên: Tam giác có hai cạnh bằng nhau ta gọi đó là tam giác cân

Vậy thế nào là tam giác cân?

Hoạt động 2: Phát biểu định nghĩa

Học sinh: Tam giác cân là tam giác có hai cạnh bằng nhau.

Giáo viên: Hướng dẫn học sinh cách vẽ tam giác ABC cân tại A

Học sinh: Theo dõi cách vẽ hình và vẽ vào vở

Giáo viên: Giới thiệu AB, AC là các cạnh bên, BC là cạnh đáy, B và CA A là các

góc ở đáy, là góc ở đỉnh Tam giác ABC có AB = AC còn được gọi là tam giác AA

ABC cân tại A.

Hoạt động 3: Củng cố và khắc sâu

Giáo viên: Đưa ra hình vẽ sau Yêu cầu học sinh tìm ra các tam

giác cân ? Chỉ ra cạnh bên, cạnh đáy, góc ở đáy và góc ở đỉnh của

tam giác cân đó ?

Học sinh: Quan sát hình vẽ và làm vào tập

Giáo viên: Yêu cầu 1 học sinh lên bảng trình bày

4.1.3 Dạy học khái niệm “Tam giác vuông cân”

Hoạt động 1: Hình thành khái niệm

Giáo viên: Cho  ABC như hình vẽ Hỏi tam giác đó có những đặc điểm gì ? Học sinh:  ABC ở hình vẽ có A 90A  0 và AB = AC

Giáo viên: Tam giác ABC ở hình bên gọi là tam giác

vuông cân (đó là một dạng đặc biệt của tam giác cân)

Như vậy thế nào là tam giác vuông cân ?

Hoạt động 2: Phát biểu định nghĩa

Học sinh: Tam giác vuông cân là tam giác vuông có hai cạnh góc vuông bằng

nhau.

Giáo viên: Nhấn mạnh tam giác vuông cân: phải là tam giác vuông + 2 cạnh góc vuông bằng nhau

Hoạt động 3: Củng cố và khắc sâu

Giáo viên: Cho các hình vẽ sau Hãy cho biết tam giác nào là tam giác vuông cân

?

2

2 2

2 4

E D

C B

A

H

Trang 10

Q P

G F

Học sinh: OPQ và KLMkhông phải là tam giác vuông cân EFGlà tam giác vuông cân

Giáo viên: Yêu cầu học sinh thực hiện Tính số đo mỗi góc nhọn của một tam giác vuông cân

Học sinh: Tính B C 45A  A 0

Giáo viên: Vậy trong một tam giác vuông cân mỗi góc nhọn bằng 450

4.2 Vận dụng phương pháp đàm thoại phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy học định lí

4.2.1 Dạy học định lí “Tổng ba góc của một tam giác”

Hoạt động 1: Gợi động cơ tiếp cận định lý

Giáo viên: Giáo viên treo bảng phụ có vẽ ba tam giác một to, một nhỏ, một tam giác có góc rất nhỏ Hỏi tổng ba góc của mỗi tam giác có bằng nhau không ? bằng bao nhiêu ?

Học sinh: Có thể học sinh sẽ trả lời tam giác nhỏ sẽ tổng số đo nhỏ hơn tổng số

đo của tam giác lớn hơn hoặc tổng ba góc của ba tam giác bằng nhau và bằng 1800

Giáo viên: Đó là chúng trực quan, để biết có chính xác hay không các em tiến hành hoạt động đo các góc của tam giác

Hoạt động 2: Đo góc

Giáo viên: Yêu cầu mỗi học sinh vẽ hai tam giác bất kỳ Dùng thước đo góc,

đo ba góc của mỗi tam giác rồi tính tổng số đo ba góc của mỗi tam giác

Học sinh: Đo góc và tính tổng các góc của mỗi tam giác

Giáo viên: Em có nhận xét gì về các kết quả trên ?

Học sinh: Tổng ba góc của mỗi tam giác đều bằng 1800, có một số em có thể tính chênh lệch số 1800

Ngày đăng: 01/04/2021, 09:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w