1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học và thực trạng cấp cứu ban đầu ở bệnh nhân gãy xương cơ quan

143 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gãy xương là một cấp cứu ngoại khoa, nhưng nếu được sơ cứu, cấpcứu ban đầu kịp thời và đúng cách với các biện pháp như phòng chống sốc, cốđịnh ổ gãy, phòng chống di lệch và thươn

Trang 1

HỌC VIỆN QUÂN Y

NGUYỄN HỮU CHIẾN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC

VÀ THỰC TRẠNG CẤP CỨU BAN ĐẦU Ở BỆNH NHÂN GÃY XƯƠNG CƠ QUAN VẬN ĐỘNG ĐIỀU TRỊ

TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN QUÂN Y

NGUYỄN HỮU CHIẾN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC

VÀ THỰC TRẠNG CẤP CỨU BAN ĐẦU Ở BỆNH NHÂN GÃY XƯƠNG CƠ QUAN VẬN ĐỘNG ĐIỀU TRỊ

TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103

Chuyên ngành: Ngoại khoa

Mã số: 9.72.01.04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Trang 3

1 GS TS Nguyễn Tiến Bình

2 PGS TS Phạm Đăng Ninh

HÀ NỘI - 2019

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Hữu Chiến

Trang 5

Trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này, tôi đã nhậnđược sự hướng dẫn, hỗ trợ và giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các cơ quan, tổchức và các cá nhân Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏlời cảm ơn chân thành nhất.

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến GS.TSNguyễn Tiến Bình và PGS.TS Phạm Đăng Ninh, hai người Thầy đã tận tâmdìu dắt, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoànthành luận án

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc, Phòng Sau Đạihọc, Bộ môn Khoa Chấn thương chỉnh hình - Học viện Quân y đã giúp đỡ, gópý và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoànthành luận án

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thânđã luôn bên cạnh động viên, hỗ trợ và giúp đỡ tôi, là động lực và truyền nhiệthuyết để tôi hoàn thành luận án này

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Hữu Chiến

Trang 6

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN 3

1.1 KHÁI NIỆM, ĐỊNH NGHĨA, PHÂN LOẠI GÃY XƯƠNG 3

1.1.1.Khái niệm, định nghĩa 3

1.1.2 Phân loại gãy xương 3

1.2 DỊCH TỄ HỌC GÃY XƯƠNG CƠ QUAN VẬN ĐỘNG 10

1.2.1 Khái quát chung về tình hình tai nạn thương tích – nguyên nhân chủ yếu và thường gặp gây gãy xương cơ quan vận động 10

1.2.2 Một số đặc điểm dịch tễ học gãy xương cơ quan vận động 14

1.3 THỰC TRẠNG CẤP CỨU BAN ĐẦU VÀ VẬN CHUYỂN BỆNH NHÂN BỊ GÃY XƯƠNG 29

1.3.1 Thực trạng công tác tổ chức cấp cứu và vận chuyển bệnh nhân gãy xương ở một số nước trên thế giới 29

1.3.2 Thực trạng công tác cấp cứu ban đầu và vận chuyển bệnh nhân gãy xương ở Việt Nam 37

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 43

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 43

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 43

2.1.3 Địa điểm, thời gian thu thập số liệu và thực hiện nghiên cứu 44

Trang 7

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 44

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 44

2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin 45

2.2.4 Các biến số nghiên cứu 46

2.2.5 Một số định nghĩa và các chỉ tiêu đánh giá 50

2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 52

2.2.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 52

2.2.8 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 52

2.2.9 Sơ đồ nghiên cứu 54

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55

3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA GÃY XƯƠNG CƠ QUAN VẬN ĐỘNG 55

3.1.1 Đặc điểm chung về tuổi, giới, nghề nghiệp của bệnh nhân gãy xương 55

3.1.2 Đặc điểm về nguyên nhân và tính chất gãy xương 57

3.1.3 Đặc điểm về thời gian xảy ra gãy xương 58

3.1.4 Đặc điểm các loại xương bị gãy và tính chất gãy xương (kín, hở) 61

3.1.5 Một số đặc điểm của gãy xương tứ chi 64

3.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CẤP CỨU BAN ĐẦU GÃY XƯƠNG CƠ QUAN VẬN ĐỘNG 70

3.2.1 Thực trạng chung về cấp cứu ban đầu cho các bệnh nhân gãy xương 70

3.2.2 Các phương pháp được áp dụng trong cấp cứu ban đầu 76

CHƯƠNG 4.BÀN LUẬN 82

4.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC GÃY XƯƠNG CƠ QUAN

VẬN ĐỘNG 82

4.1.1 Đặc điểm về tuổi, giới và nghề nghiệp của bệnh nhân gãy xương 82

4.1.2 Đặc điểm về nguyên nhân, địa dư và thời gian gãy xương cơ quan vận động 85

Trang 8

4.1.4 Đặc điểm gãy xương chi trên 94

4.1.5 Đặc điểm gãy xương chi dưới 96

4.2 THỰC TRẠNG CẤP CỨU BAN ĐẦU GÃY XƯƠNG CƠ QUAN VẬN ĐỘNG 99

4.2.1 Nơi sơ cấp cứu 99

4.2.2 Thời gian từ khi bị tai nạn tới khi sơ cứu ban đầu 101

4.2.3 Phương tiện vận chuyển 102

4.2.4 Người đầu tiên tham gia cấp cứu tại nơi xảy ra tai nạn 103

4.2.5 Phương pháp cấp cứu 104

KẾT LUẬN 109

KIẾN NGHỊ 111 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN

CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

Phần viết tắt Phần viết đầy đủ

Trang 10

Bảng Tên bảng Trang

2.1 Các biến số chính sử dụng trong nghiên cứu 463.1 Đặc điểm về tuổi và giới của các BN gãy xương (n=4918) 553.2 Đặc điểm nghề nghiệp của các BN bị gãy xương (n=4918) 563.3 Phân bố các trường hợp GX theo nguyên nhân (n= 4918) 573.4 Phân bố GX theo khu vực dân cư và tính chất gãy (kín, hở) 583.5 Thời điểm xảy ra GX trong ngày theo các nguyên nhân gây GX 603.6 Phân bố các loại GX và tính chất GX (n=4918) 613.7 Liên quan giữa vị trí các xương gãy và tính chất GX 623.8 Phân bố vị trí xương gãy và chấn thương kết hợp 633.9 Đặc điểm về số lượng xương bị gãy trên BN (n=4918) 633.10 Đặc điểm vị trí, tính chất GX tứ chi và nguyên nhân 64

3.12 Số lượng và tỷ lệ tổn thương kết hợp của GX chi trên 663.13 Tỷ lệ tổn thương kết hợp và tính chất của GX chi trên (%) 66

3.15 Số lượng và tỷ lệ tổn thương kết hợp của GX chi dưới 683.16 Tỷ lệ tổn thương kết hợp và tính chất của GX chi dưới (%) 683.17 Nơi nạn nhân được sơ cấp cứu ban đầu tại các khu vực dân cư

Trang 11

Bảng Tên bảng Trang

3.22 Tỷ lệ BN gãy xương các loại được sơ cấp cứu ban đầu tại các tuyến 743.23 Tình hình băng và rửa vết thương phần mềm 763.24 Phương pháp cố định xương gãy tại các tuyến 773.25 Vị trí các loại xương gãy được cố định tại các tuyến 783.26 Tình hình sử dụng thuốc giảm đau tại các tuyến trước BV 793.27 Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh khi sơ cấp cứu 804.1 Giới tính của bệnh nhân gãy xương so với một số nghiên cứu

4.2 Nguyên nhân gây gãy xương so với một số nghiên cứu trong nước 87

Trang 12

Biểu đồ Tên biểu đồ Trang

3.1 Phân bố tỷ lệ GX theo tháng trong năm (tính chung trong 5 năm

3.2 Phân bố số BN gãy xương theo năm nghiên cứu 593.3 Tỷ lệ có kèm theo sốc chấn thương của các nhóm GX 703.4 Tỷ lệ BN gãy hở được cấp cứu đúng nguyên tắc tại các tuyến

Trang 13

Hình Tên hình Trang

1.1 Ký hiệu các xương và phân loại vị trí GX theo AO 8

Trang 14

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gãy xương cơ quan vận động bao gồm gãy cột sống, gãy khung chậu

và gãy xương tứ chi Có nhiều nguyên nhân gây gãy xương và ở mỗi quốcgia, mỗi khu vực thì cơ cấu, tỷ lệ, đặc điểm phân bố và nguyên nhân gãyxương cũng rất khác nhau Trên thế giới, hàng ngày có khoảng 16 nghìnngười chết do chấn thương [1] Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong do tai nạn giaothông là 27/100.000 dân, cao hơn so với tỷ lệ chung của toàn cầu là19/100.000 dân [2] Ở nước ta, nguyên nhân gãy xương do tai nạn giao thông

là phổ biến nhất Các tai nạn chấn thương gây gãy xương không những chỉảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng lao động mà quan trọng hơn còn là gánhnặng cho gia đình và xã hội Tai nạn thương tích nói chung và gãy xương nóiriêng thực sự đã trở thành vấn đề xã hội cấp thiết, nhất là tại những nước đangphát triển, trong đó có Việt Nam

Gãy xương là một cấp cứu ngoại khoa, nhưng nếu được sơ cứu, cấpcứu ban đầu kịp thời và đúng cách với các biện pháp như phòng chống sốc, cốđịnh ổ gãy, phòng chống di lệch và thương tổn thứ phát, vận chuyển sớm…thì sẽ tạo điều kiện tốt cho điều trị ở tuyến sau có kết quả [3] Do vậy, vấn đềcấp cứu ban đầu đóng vai trò rất quan trọng Việc sơ cấp cứu đúng cách, cốđịnh ổ gãy vững chắc sẽ giảm tỷ lệ các biến chứng toàn thân và tại chỗ nhưsốc, tổn thương gãy kín thành gãy hở và tổn thương mạch máu, thần kinh.Việc sơ cấp cứu sớm còn tạo điều kiện cho tuyến sau xử trí được thuận lợihơn Sơ cấp cứu ban đầu kịp thời và hiệu quả là vô cùng quan trọng để giảmmức độ trầm trọng và tử vong do thương tổn từ các tai nạn thương tích đemlại [4]

Các nghiên cứu về gãy xương do tại nạn thương tích đã được nhiều tácgiả trong và ngoài nước quan tâm Trên thế giới, hầu hết các quốc gia đều cócác trung tâm phòng ngừa tai nạn và thương tích Ở Việt Nam, trong khoảng

Trang 15

hơn 10 năm trở lại đây, khía cạnh dự phòng tai nạn thương tích, dự phòng gãyxương, sơ cấp cứu ban đầu khi bị gãy xương mới được chú ý

Để có những thông tin cơ bản, hệ thống và đầy đủ về đặc điểm dịch tễcủa gãy xương cơ quan vận động và thực trạng công tác cấp cứu ban đầu tạicác tuyến sơ cứu trước bệnh viện, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học và thực trạng cấp cứu ban đầu

ở bệnh nhân gãy xương cơ quan vận động điều trị tại Bệnh viện Quân y 103” nhằm các mục tiêu sau:

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Xác định một số đặc điểm dịch tễ học gãy xương cơ quan vận động ở bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 giai đoạn 2010-2014.

2 Khảo sát thực trạng cấp cứu ban đầu ở các bệnh nhân gãy xương cơ quan vận động điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 trong thời gian trên.

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 KHÁI NIỆM, ĐỊNH NGHĨA, PHÂN LOẠI GÃY XƯƠNG

1.1.1.Khái niệm, định nghĩa

Gãy xương (GX) là tình trạng thương tổn làm mất tính liên tục củaxương [3] GX cơ quan vận động bao gồm GX tứ chi, GX cột sống, GX chậu

và gãy một số xương khác (xương đòn, xương bả vai, xương bánh chè…).Hiện nay, có nhiều cách phân loại GX đang được áp dụng Phân loại theonguyên nhân là cách phân loại có nhiều ứng dụng trên thực tế lâm sàng Theocách phân loại này người ta chia ra GX do chấn thương và GX do bệnh lý

GX do bệnh lý có thể do viêm xương, giang mai xương, do u ác tính nguyênphát, di căn ung thư xương từ nơi khác đến… GX nén ép do mỏi hay do taibiến sản khoa [5], [6]

1.1.2 Phân loại gãy xương

1.1.2.1 Phân loại theo tổn thương phần mềm

+ Khái niệm chung:GX kín là GX không có vết thương làm thông ổ gãy

với môi trường bên ngoài GX hở là GX mà ổ gãy thông với môi trường bênngoài qua vết thương Mức độ tổn thương phần mềm là căn cứ để lựa chọncác phương pháp điều trị GX Đối với GX hở, mức độ ô nhiễm, nguy cơ biếnchứng nhiễm khuẩn và các biến chứng khác phụ thuộc vào tổn thương phầnmềm [3], [5]

+ Phân loại gãy xương hở của Gustilo và Anderson

Cách phân loại này được Gustilo R.B và Anderson J.T đề xuất lần đầuvào năm 1976, sau đó Gustilo cùng các tác giả khác đã nhiều lần bổ sung vàđề xuất thành bảng phân loại hoàn chỉnh vào năm 1990 (Gustilo và cs., 1984;1987; 1990) Đây là phương pháp phân loại được sử dụng rộng rãi nhất hiệnnay Bảng phân loại năm 1990 cụ thể như sau [3], [5], [7]:

Trang 17

Độ I: Vết thương rách da < 1cm và sạch, thường là gãy hở do đầuxương gãy chọc ra Tổn thương phần mềm rất ít, không có bầm dập Xươnggãy đơn giản, gãy vững.

Độ II: Vết thương rách da > 1cm, không có lóc da, đụng dập phần mềmnhẹ, vết thương ít ô nhiễm Xương có thể gãy đơn giản hoặc gãy có mảnh rờinhưng không phức tạp

Độ III: Tổn thương phần mềm nặng (bao gồm da, cân cơ, mạch máu,thần kinh: TK), vết thương ô nhiễm nặng, gãy hở đến muộn sau 6 giờ Tổnthương do lực chấn thương có năng lượng cao (hoả khí, tai nạn giao thông )

GX phức tạp, di lệch lớn GX hở độ III được chia thành 3 loại:

- Độ III-A: Tổn thương phần mềm nặng (rách da, lóc da, bầm dập)nhưng sau khi cắt lọc vết thương, phần mềm còn đủ để che phủ xương gãy.Nhóm này còn bao gồm các GX nhiều mảnh rời, GX nhiều mảnh do lực chấnthương có động năng cao

- Độ III-B: Vết thương ô nhiễm nặng, tổn thương phần mềm phức tạphoặc mất tổ chức, sau khi cắt lọc không đủ để che phủ xương gãy, phải thựchiện các phẫu thuật tạo hình phủ bổ sung Xương gãy vụn rời, lóc tuột màngxương, thường do lực chấn thương có động năng cao

- Độ III-C: GX hở có tổn thương mạch máu (MM) và TK chính của chicần phải khâu nối phục hồi lưu thông, nếu không được sẽ phải cắt cụt

+ Phân loại tổn thương phần mềm của Oestern và Tscherne

Dựa trên mức độ tổn thương phần mềm kể cả gãy hở và gãy kín,Oestern H.J và Tscherne H (1984) đã giới thiệu bảng phân loại tổn thươngphần mềm Đối với GX kín bao gồm 4 mức độ, (từ độ 0 đến độ III) và GX hởgồm 4 mức độ (từ độ I đến độ IV) [3], [5], [8]

Phân loại tổn thương phần mềm ở gãy xương kín

Độ C0: Không có tổn thương phần mềm hoặc tổn thương không đáng

kể, GX đơn giản

Trang 18

Độ CI: da có sây sát, mài sát hoặc bị đụng dập và xương gãy đơn giản Độ CII: Vết thương mài sát da có ô nhiễm, đụng dập da và cơ tại chỗ dolực chấn thương trực tiếp GX phức tạp có nguy cơ chèn ép khoang.

Độ CIII: Da bị bầm dập nhiều, có tổn thương cơ nặng, có thể bong lóc

da Có hội chứng chèn ép khoang hoặc tổn thương MM chính

Phân loại tổn thương phần mềm ở gãy xương hở

Độ OI: Không có đụng dập da hoặc đụng dập không đáng kể, vếtthương ít ô nhiễm, thường vết thương do đầu xương gãy chọc ra

Độ OII: Đụng dập da và phần mềm nhưng có giới hạn, vết thương ônhiễm mức độ trung bình GX phức tạp

Độ OIII: Tổn thương phần mềm nặng, mất tổ chức, vết thương ô nhiễmnặng, thường có kết hợp tổn thương MM và TK Những gãy hở do hoả khí,gãy nát vụn xương, và gãy hở có ô nhiễm trầm trọng

Độ OIV: Cụt hoặc đứt gần lìa chi thể

+ Phân loại tổn thương phần mềm theo AO

Bảng phân loại này do một nhóm tác giả (Ruedi T., Border J.R vàAllgower M.) thuộc AO (Arbeitsgemeinschaft fur Osteosynthesefragen) đưa

ra năm 1990, dựa trên 3 loại tổn thương chính là: da, gân cơ và MM, TK Mỗiloại tổn thương được chia thành 5 mức độ, cụ thể như sau:

Tổn thương da được chia thành hai loại: IC là gãy kín (integuments

closed); OC là gãy hở (integuments open)

IC1: Không tổn thương da IO1: VT do đầu xương gãy chọc từ trong ra

IC2: Dập, không rách da IO2: VT rách da < 5cm, bầm dập bờ mép

IC3: Bong lóc da khu trú IO3: Rách da > 5cm, bầm dập lan rộng, hoại tử mép da.IC4: Lóc da (kín) rộng, nặng IO4: Bầm dập sâu rộng, lóc tuột da, mất da

IC5: Hoại tử do đụng

dập

 Tổn thương cơ và gân gồm các mức độ sau:

MT1: Không có tổn thương gân cơ

Trang 19

MT2: Tổn thương cơ khu trú, tổn thương cơ trong 1 khoang.

MT3: Tổn thương cơ đáng kể, tổn thương cơ trong 2 khoang

MT4: Rách nát cơ và gân, đụng dập cơ nặng

MT5: Hội chứng chèn ép khoang, hội chứng vùi lấp đè ép với tổnthương rộng

 Tổn thương MM, TK gồm các mức độ sau:

NV1: Không có tổn thương MM và TK

NV2: Tổn thương TK ngoại vi nhưng khu trú

NV3: Tổn thương MM ngoại vi nhưng không phải mạch chính của chi.NV4: Tổn thương MM chính của đoạn chi thể

NV5: Tổn thương MM và TK kết hợp, cụt hoặc đứt gần lìa chi thể

1.1.2.2 Phân loại theo tổn thương ở xương

+ Phân loại theo cơ chế chấn thương

GX do lực chấn thương trực tiếp: tại vị trí tác động của lực chấn thương

GX do lực chấn thương gián tiếp: ở xa vị trí tác động của lực chấnthương, bao gồm: lực xoay, xoắn vặn; lực giằng giật; lực gập góc; lực đè ép,thúc dồn [3]

+ Phân loại theo vị trí gãy

Gãy đầu xương: gãy ở đầu trung tâm hoặc ngoại vi, đây là gãy vùngxương xốp Có thể là gãy không phạm khớp (đường gãy không thông vàokhớp) hoặc gãy phạm khớp (đường gãy thông vào khớp)

Gãy thân xương: gãy phần xương nằm giữa hai đầu xương, đây là gãyvùng xương cứng, có ống tuỷ Gãy thân xương được phân ra gồm gãy 1/3trên, 1/3 giữa và 1/3 dưới GX hoàn toàn thường có di lệch điển hình tùy theo

vị trí gãy, do các cơ co kéo

Gãy vùng tiếp giáp giữa đầu xương và thân xương, ở trẻ em có loại gãyvùng sụn tiếp hợp (bong sụn tiếp hợp)

Trang 20

+ Phân loại theo hình thái và tính chất gãy

Xương có thể gãy không hoàn toàn hoặc gãy hoàn toàn [3], [5]:

Gãy không hoàn toàn:

- Gãy dưới cốt mạc: đường gãy nằm dưới cốt mạc, cốt mạc không bịtổn thương, thường gặp trong GX trẻ em

- Gãy cành xanh: gãy một bên thành xương còn bên đối diện conglõm vào (giống như khi bẻ một cành cây tươi)

- Gãy rạn: đường gãy nhỏ chỉ ở một phần của thành xương, không dilệch

- Gãy lún: gãy ở vùng xương xốp, do lực đè nén hoặc thúc dồn

Gãy hoàn toàn:

- Gãy đơn giản: đường gãy ngang, chéo hoặc xoắn nhưng không cómảnh rời

- Gãy nhiều mảnh rời: gãy hình chêm, gãy hình cánh bướm

- Gãy nhiều mảnh rời, gãy vụn, gãy nhiều đoạn

+ Phân loại của Winquist và Hansen

Năm 1980 Winquist R.A và Hansen S.T đã đưa ra cách phân loại dựavào tính vững chắc của ổ gãy có mảnh rời Loại I: Gãy ngang, chỉ có mảnh rờinhỏ; Loại II: Gãy hình cánh bướm nhưng diện tiếp xúc ở hai đầu gãy chiếm >50% chu vi xương; Loại III: Gãy hình cánh bướm lớn và diện tiếp xúc 2 đầugãy < 50% chu vi xương; Loại IV: GX thành nhiều mảnh

+ Phân loại tổng hợp của AO

Vị trí GX: được ký hiệu bằng hai chữ số: một đại diện cho xương gãy

và một cho vị trí gãy trên xương đó

- Ký hiệu cho các xương: 1 = xương cánh tay; 2 = xương trụ/quay; 3

= xương đùi (XĐ); 4 = xương chày/mác; 5 = xương cột sống; 6 = xương chậu;

7 = xương bàn tay; 8 = xương bàn chân (hình 1.1)

Trang 21

- Mỗi xương dài được chia thành 3 vùng: đầu trung tâm; thân xương

và đầu ngoại vi, riêng xương chày/mác có phần thứ tư là các mắt cá Đầutrung tâm và ngoại vi của xương được giới hạn trong hình vuông có cạnhbằng chỗ rộng nhất của đầu xương Ký hiệu như sau: 1 = đầu trung tâm; 2 =thân xương; 3 = đầu ngoại vi, 4 = các mắt cá (hình 1.1)

Hình 1.1 Ký hiệu các xương và phân loại vị trí gãy xương theo AO

* Nguồn: Theo Nguyễn Tiến Bình và cs (2009) [5]

- Hình thái và tính chất GX: chia tất cả các hình thái GX thành 3loại (type), mỗi loại chia thành 3 nhóm (group), sau đó mỗi nhóm lại chiathành 3 kiểu khác nhau (dưới nhóm – subgroup)

Các loại GX được ký hiệu là A, B, C với B tổn thương nặng hơn A vànhẹ hơn C Các nhóm được ký hiệu bằng các chữ và số (A1, A2, A3; B1, B2,B3; C1, C2, C3), tổn thương ở nhóm 2 nặng hơn so với nhóm 1 và nhẹ hơnnhóm 3 Tiếp đến các dưới nhóm được ký hiệu bằng các số 1, 2, 3 với mức độtổn thương nặng dần, như vậy có 27 kiểu gãy khác nhau (hình 1.2)

Trang 22

Hình 1.2 Hệ thống phân loại theo hình thái gãy xương

* Nguồn: Nguyễn Tiến Bình và cs (2009)[5]

- Đối với gãy đầu xương (trung tâm và ngoại vi): Loại A: gãykhông phạm khớp; Loại B: gãy phạm khớp một phần; Loại C: gãy phạm khớphoàn toàn Riêng đối với đầu trên xương cánh tay: A = gãy ngoài khớp-khôngvỡ chỏm; B = gãy phạm khớp, vỡ chỏm; C = gãy phạm khớp Với đầu trênXĐ: A = gãy vùng mấu chuyển; B = gãy vùng cổ; C = gãy chỏm

Việc đánh giá phân loại thương tổn không phải lúc nào cũng tuyệt đốichính xác ngay từ lần thăm khám đầu tiên, mà có thể khác nhau giữa các lần

và đánh giá chính xác nhất là đánh giá trong lúc mổ



1 2 3



1 2 3

1 2 3



1 2 3



1 2 3



1 2 3

1 2 3



Trang 23

1.2 DỊCH TỄ HỌC GÃY XƯƠNG CƠ QUAN VẬN ĐỘNG

1.2.1 Khái quát chung về tình hình tai nạn thương tích – nguyên nhân chủ yếu và thường gặp gây gãy xương cơ quan vận động

Tai nạn thương tích (TNTT) hoặc còn được gọi là chấn thương, đó làbất cứ tổn thương có chủ định hay không có chủ định cho cơ thể con ngườiđược gây nên bởi sự phơi nhiễm cấp tính đối với năng lượng nhiệt, cơ học,điện hay năng lượng hoá học TNTT là những thương tổn do: tai nạn giaothông (TNGT), ngã, tai nạn lao động (TNLĐ), va chạm, điện giật dẫn đến bịvết thương chảy máu, bong gân, phù nề xây xát, GX, gãy răng, vỡ thủng nộitạng, chấn thương sọ não (CTSN), bỏng, ngạt/đuối nước, ngộ độc, tự tử…

1.2.1.1 Tình hình tai nạn thương tích trên thế giới

Tình hình TNTT gây GX cơ quan vận động đã được nhiều tác giả trênthế giới nghiên cứu như Trung Quốc, Iran, Ấn Độ, Brasil, Mỹ… [9], [10],[11], [12], [13]

Johansen A và cs nghiên cứu các trường hợp GX vào khoa cấp cứucủa Bệnh viện (BV) Hoàng gia Cardiff thấy tần suất GX là 21,1/1000người/năm (nam: 23,5/1.000 người/năm; nữ: 18,8/1.000 người/ năm) Tầnsuất GX tương tự với kết quả nghiên cứu ở Mỹ, Úc và Na Uy, nhưng cao hơntần suất GX ở Anh vào những năm 1960 (9/1.000 người/năm) [14]

Tiderius C.J và cs phân tích dịch tễ học GX trẻ em 0-16 tuổi tạiMalmo, Thụy Điển (1993-1994) thấy có 1.673 trường hợp GX ở 1.610 trẻ em.Các vị trí GX thường gặp nhất là 1/3 dưới xương cánh tay (26%), tiếp theo làcác đốt ngón tay (16%) và xương đòn (9%) Tần suất GX hàng năm là235/10.000 ở trẻ em nam và 149/10.000 ở trẻ em nữ; 193/10.000 ở cả haigiới Tỷ lệ GX hàng năm giảm 9% so với giai đoạn 1975- 1979 Tuy nhiên,gãy 1/3 dưới xương cánh tay đã tăng 1/3 so với năm 1975-1979 là do trẻ em

nữ đã tham gia vào nhiều hoạt động thể dục thể thao nhiều hơn [15]

Trang 24

Van Staa T.P và cs phân tích hồ sơ của 103.052 nam và 119.317 nữtrong số 5 triệu người lớn bị GX ở Anh và xứ Wales trong thời gian 1988-

1998 thấy: đối với nữ, GX thường gặp nhất là GX quay/xương trụ(30,2/10.000 người/năm) và GX đùi/cổ XĐ (17,0/10.000 người/năm) Ở namgiới, GX thường gặp nhất là xương cổ tay (26,2/10.000 người/năm); GX đùi/

cổ XĐ là 5,3/10.000 người/năm [16]

Tại Anh, Cooper C và cs hồi cứu 7 triệu hồ sơ y tế (1988- 1998) thấy

có 52.624 trẻ em nam và 31.505 trẻ em nữ bị GX, tần suất là 133,1/10.000người/năm Tần suất GX ở trẻ em nam (161,6/10.000 người/năm) cao hơn trẻ

em nữ (102,9/10.000 người/năm) GX thường gặp nhất là xương quay/xươngtrụ (30%) Tần suất GX cao nhất ở trẻ em nam là 14 tuổi và ở trẻ em nữ là 11tuổi Tần suất GX ở Bắc Ireland, xứ Wales, Scotland cao hơn so với đôngnam nước Anh (p<0,01) [17]

Hedström E.M và cs phân tích các trường hợp GX ở trẻ em ≤19 tuổiđiều trị tại BV Đại học Umea, Thụy Điển (1993- 2007) thấy có 10.203 trườnghợp gãy ít nhất 1 xương Tỷ lệ GX là 201/10.000 người/năm Tỷ lệ GX tăng13% trong giai đoạn 1998- 2007 GX thường gặp nhất là xương cánh tay với

cơ chế phổ biến là do ngã Tỷ lệ GX cao nhất là ở lứa tuổi 11-12 tuổi ở nữ và13-14 tuổi ở nam; tỷ lệ nam/nữ là 1,5 [18]

Lee Y.H và cs nghiên cứu 5.244 trường hợp GX bệnh lý điều trị tại các

BV của Đài Loan (2008) thấy tỷ lệ GX bệnh lý của xương cánh tay, xươngquay/xương trụ, cột sống, cổ XĐ, các phần khác của XĐ và xươngchày/xương mác lần lượt là 0,67; 0,08; 10,58; 1,11; 0,56 và 0,11/100.000người [19]

Joeris A và cs (2014) hồi cứu 2.716 trẻ em (60% nam) GX dài 2011) điều trị tại hai BV nhi khoa ở Thụy Sĩ thấy có 2.807 tai nạn với 2.840

(2009-GX dài (59% (2009-GX quay/trụ; 21% (2009-GX cánh tay; 15% (2009-GX chày/xương mác; 5%

GX đùi) Tuổi trung bình là 8,2  4,0 tuổi (6% trẻ sơ sinh, 26% trẻ em mẫu

Trang 25

giáo; 40% học sinh; 28% thanh thiếu niên) Tỷ lệ GX ở trẻ em nam cao hơntrẻ em nữ (p<0,001) Nguyên nhân hàng đầu của GX là ngã (27%), tiếp theo

là tai nạn trong các hoạt động giải trí (25%), ở nhà (14%), sân chơi (11%), khigiao thông (11%) và tại trường học (8% ) Trẻ em nam chủ yếu bị tai nạn ởsân chơi và tại nhà Sự phân bố các loại tai nạn khác nhau theo các nhóm tuổi(p<0,001) [20]

Somersalo A và cs (2014) nghiên cứu dịch tễ học GX ở người ≥16 tuổiđiều trị tại khoa chấn thương của BV Trung ương Phần Lan (2002- 2008) thấy

có 3.277 BN nữ và 2.708 BN nam với số trường hợp GX là 3.750 và 3.030

Tỷ lệ GX là 4,9/1.000 người/năm (CI 95%: 4,8- 5,0), trong đó nam giới là5,3/1.000 người (5,1-5,4) và nữ giới là 4,5/1.000 người (4,3-4,6) Gãy cổ XĐ,xương mắt cá chân, xương cổ tay, xương cột sống, 1/3 trên xương cánh taychiếm 2/3 số trường hợp GX điều trị tại BV Tỷ lệ GX mắt cá chân (17%) và

GX cổ tay (9%) tương đương với gãy cổ XĐ (27%) 4/5 số BN GX đã đượcphẫu thuật Trong số các BN <60 tuổi, tỷ lệ nam giới cao gấp hai lần nữ giới

Ở nhóm BN ≥ 60 tuổi thì nữ giới cao hơn so với nam giới [21]

Seid M và cs (2015) đánh giá đặc điểm tổn thương của 230 người bịTNGT tại Khoa Cấp cứu BV Tikur Anbessa, (Ethiopia) thấy phần lớn là namgiới 165 (71,7%) và tỷ lệ nam/nữ là 2,6: 1; lứa tuổi 32,15 ± 14,38 tuổi (từ 14-

80 tuổi) Người lao động (41,3%) và học sinh (12,2%) chiếm tỷ lệ cao Các bộphận thường bị chấn thương là đầu (50,4%) và chi thể (47,0%) Loại hình chấnthương chủ yếu là GX (78,0%) và vết thương hở (56,5%) Thời gian nằm viện

là 7,12 ± 10,5 ngày (từ 1- 61 ngày), tỷ lệ tử vong là 7,4% [22]

Burns S.T và cs (2015) hồi cứu 1252 trường hợp chấn thương do tainạn xe máy trong 10 năm (1998- 2008) thấy 40,7% số BN có đội mũ bảohiểm Các tổn thương thường gặp là GX chày/xương mác (19,01%), gãy cộtsống (16,21%), và GX cẳng tay (10,14%) [23]

Trang 26

Rosengren B.E và cs (2015) nghiên cứu 205.908 trường hợp GX ởngười >20 tuổi ở vùng Skane, Thuỵ Điển (1999-2010) thấy tỷ lệ mắc192/10.000 người/năm Tỷ lệ GX tăng 1,2/10.000 người/năm (CI 95%: 0,8-1,5), nhưng xu hướng thời gian khác nhau giữa các loại GX, lứa tuổi và giớitính Tỷ lệ GX tăng theo tuổi ở phụ nữ nhưng ổn định ở nam giới [24]

Ameri M và cs (2016) nghiên cứu 2.480 BN chấn thương (29,9 ± 17,8tuổi) điều trị tại BV Shafa Yahyaeian (Tehran, Iran) thấy có 685 BN GX chidưới (nam: 73%; nữ: 27%) Cơ chế phổ biến của chấn thương ở BN nam làngã tại chỗ (34,8%), chấn thương trực tiếp (24,6%), tai nạn xe máy (10%) vàngã từ trên cao (7,9%) Các cơ chế phổ biến nhất của chấn thương ở BN nữ làngã tại chỗ (54,2%), chấn thương trực tiếp (15,8%) và ngã từ cầu thang(7,5%), không thấy có mối liên quan giữa giới tính và cơ chế chấn thương[25]

1.2.1.2 Tình hình tai nạn thương tích ở Việt Nam

Tại Việt Nam, TNTT là nguyên nhân gây tử vong và tàn tật hàng đầu.Năm 2008, gánh nặng bệnh tật do tàn tật ở cả hai giới đều là 2,7 triệu YLD[26] Đoàn Phước Thuộc và cs (2011) nghiên cứu 1.434 BN bị TNGT điều trịtại BV Đa khoa tỉnh Đắk Lắk (2009) thấy chấn thương xương khớp chiếm29,6% [27]

Nguyễn Thị Như Tú và cs (2012) nghiên cứu tại tỉnh Bình Định thấynạn nhân TNGT chủ yếu là nam giới (73%), nữ giới chiếm 27%; độ tuổi 16-

30 chiếm tỷ lệ cao nhất (51,7% ở nam và nữ 48,2%); đa số là nông dân(41%), kế đến là học sinh (32,5%), cán bộ công nhân viên chức chỉ chiếm15,3% và trẻ nhỏ là 3%; không có bằng lái xe chiếm 26,7%; có uống rượu/biachiếm tỷ lệ 26% và không có đội mũ bảo hiểm chiếm tỷ lệ 27% [28]

Lê Quang Ánh (2012) điều tra 140 hộ (717 nhân khẩu) khu vực LongThành, Nhơn Trạch năm 2011 thấy tỷ lệ TNTT chung là 12,27% [29].Nguyễn Thị Chinh và cs (2013) nghiên cứu 289 trường hợp TNTT điều trị tại

Trang 27

BV Đức Giang thấy nguyên nhân chính là TNGT (48,1%), sau đó là ngã(32.9%) Nhóm tuổi mắc cao nhất là 20- 60 tuổi (72,7%), thấp nhất là nhóm15- 19 tuổi (4,8%) Nam cao hơn nữ 1,9 lần Có 52,6% BN nhập viện bị GX,vết thương phần mềm (29,4%), chấn thương/va đập vùng đầu (26,3%), chấnthương ổ bụng (4,5%) Chủ yếu bị chấn thương tại chi dưới (34,8%), chi trên(22,9%), CTSN: 19,7%; chấn thương cột sống (CTCS): 5,4%, chấn thương ổbụng chiếm 3,1% [30]

1.2.2 Một số đặc điểm dịch tễ học gãy xương cơ quan vận động

Tại các nước, các khu vực khác nhau, do những đặc điểm về đường xámật độ giao thông, tính chất lao động, sinh hoạt khác nhau mà bức tranh tổngthể về dịch tễ học gãy xương với các chỉ số như tỷ lệ, cơ cấu tổn thương gãyxương, mức độ các loại gãy xương cũng rất khác nhau Điều này đã đượcnhiều tác giả đề cập tới trước khi nghiên cứu về các phương pháp kỹ thuậttrong chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng gãy xương

1.2.2.1.Gãy xương chi trên

Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ GX ở chi trên có những điểm rất khácbiệt, sự khác biệt không chỉ theo tuổi, giới, vùng miền, mà còn theo chủngtộc, màu da [34], [35] Tại Mỹ, Joyce C và cs thấy ở trẻ em và thanh thiếuniên, tỷ lệ GX chi trên của người da trắng và người da đen là 2,5% và 8,8%

Ở người trưởng thành, tỷ lệ GX chi trên của người da trắng và người da đenlần lượt chiếm 24,6%, 21,8% Trước 50 tuổi thì biểu đồ GX chi trên tương tựnhau giữa những người cùng giới tính hơn là cùng chủng tộc Ở độ tuổi thanhthiếu niên và người trưởng thành trẻ tuổi thì tỷ lệ GX chi trên của nam caogấp 2 - 4 lần so với nữ Ở người trưởng thành thì tỷ lệ GX của phụ nữ datrắng bắt đầu gia tăng ở độ tuổi 30 và tăng mạnh theo cấp số nhân khi qua tuổi

40, tuy nhiên tỷ lệ này của phụ nữ da đen tăng lên sau đó 10 tuổi Mặc dù tỷ lệ

GX chi trên của nam da đen trong độ tuổi cao nhất tăng lên gấp đôi so với ởđộ tuổi 65, nhưng không đạt tỷ lệ cao nhất ở người trưởng thành trẻ tuổi [31]

Trang 28

Ootes D và cs (2012) phân tích hệ thống theo dõi chấn thương điện tửquốc gia năm 2009 thấy tỷ lệ chấn thương chi trên hàng năm là 1.130/100.000người/năm Vị trí tổn thương phổ biến nhất là các ngón tay (38,4%) GX cẳngtay và cánh tay là 29,2% Dập ngón tay (221/100.000 người/năm), GX bàn tay(72/100.000 người/năm), GX ngón tay (68/100.000 người/năm), [32]

+ Gãy xương cánh tay

GX cánh tay chiếm khoảng 1- 3% tổng số GX; khoảng 8- 19% trongtổng số GX dài, trong đó gãy thân xương chiếm tỷ lệ 30% Trong gãy thânxương cánh tay, gãy hở chiếm 11– 28% Gãy đầu trên xương cánh tay: gãychỏm, cổ giải phẫu, các mấu động (33%), gãy cổ phẫu thuật (32%) 85%trường hợp gãy đầu trên xương cánh tay là ít di lệch theo tiêu chuẩn của Neer[3], [5]

Theo Kim S H và cs., tỷ lệ GX cánh tay khác nhau ở các quốc gia Ở

Mỹ , nơi mà quần thể dân số già đang gia tăng nhanh chóng thì tỷ lệ GX cánhtay cao hơn đáng kể so với Nhật Bản và các nước châu Âu [33] TheoTytherleigh, tỷ lệ GX cánh tay ở BN trên 50 tuổi chiếm 60% tổng số cáctrường hợp GX cánh tay Tỷ lệ gãy đầu trên xương cánh tay là 25,1% Ở nam,55% gãy đầu trên xương cánh tay do ngã đơn giản, 45% còn lại do lực chấnthương mạnh khác Ở nữ, nguyên nhân do ngã chiếm 82% Tỷ lệ gãy thânxương cánh tay là 64,2%; GX cánh tay kín chiếm 94,4% GX cánh tay hở độ I

là 72%, độ II là 14%, độ IIIa là 7%, độ IIIb là 7% Theo nguyên nhân GX, tỷ

lệ GX cánh tay do ngã là 67,1%; do thể thao là 4,6%; do giao thông là 17,1%;

do bệnh lý là 11,3% [34] Barr L V (2014) điều tra dịch tễ học 159 trẻ emgãy trên lồi cầu xương cánh tay trong 3 năm (2008- 2011) thấy độ tuổi trungbình là 6 tuổi; 53% là nam giới Phân loại GX theo Gartland I, II và III tươngứng là 46%, 28% và 26% Đa số trường hợp GX do ngã trong khi chơi đùa(37%) [35] Singer và cs chỉ ra không có sự khác biệt rõ ràng về tỷ lệ gãythân xương cánh tay giữa hai giới, tỷ lệ tương đối hằng định từ 0 -

Trang 29

2/10.000/năm trong các nhóm từ 15 - 64 tuổi Sau 65 tuổi các tỷ lệ tăng lên[36].

Igbigbi P S và cs nghiên cứu đặc điểm GX cánh tay của 258 BN

(3-81 tuổi), trong 5 năm thấy có 160 BN GX cánh tay trái; 98 BN GX cánh tayphải; 156 BN nam và 102 BN nữ 48% gãy 1/3 dưới; 41% gãy 1/3 giữa và10% gãy 1/3 trên xương cánh tay Nhóm 3- 12 tuổi có tỷ lệ GX cánh tay caonhất (40,7%) và thấp nhất là nhóm 30- 39 tuổi (6,2%) Hầu hết gãy trên lồicầu xảy ra ở trẻ em (75,4%); còn gãy 1/3 giữa xương cánh tay xảy ra ở thanhthiếu niên (51,9%) Nhóm tuổi trung niên và cao tuổi chủ yếu gãy 1/3 trênxương cánh tay (73,1%) Có mối liên quan giữa vị trí GX cánh tay với tuổi,giới tính và bên gãy (p<0,001) [37]

Ekholm R và cs nghiên cứu dịch tễ học 401 ổ GX cánh tay ở 397 BN

>16 tuổi thấy tỷ lệ mắc là 14,5/100.000 người/năm với mức độ tăng dần theotuổi từ lứa tuổi 50 đạt gần 60/100.000 người/năm ở lứa tuổi 90 Tỷ lệ tổnthương dây TK là 8% do GX 1/3 giữa và 1/3 dưới xương cánh tay Chỉ có 2%

là GX hở và 8% là GX bệnh lý [38] Năm 2004 Bahrs C và cs [39] nghiêncứu 815 trường hợp gãy 1/3 trên xương cánh tay thấy 67% là phụ nữ; 33% lànam giới, tuổi trung bình: 66 tuổi (19- 99 tuổi) Theo phân loại của AO: 46%

là loại A, 22% loại B và 32% loại C Theo phân loại Neer: 86% GX có dilệch; 49% GX phức tạp trên 3 mảnh

Năm 2015 Park C nghiên cứu dịch tễ học gãy 1/3 trên cánh tay ởnhững người trên 50 tuổi thấy tỷ lệ gãy 1/3 trên cánh tay tăng 40,5% trong 5năm nghiên cứu Đối với nữ giới, tỷ lệ GX 1/3 trên cánh tay tăng từ104,7/100.000 người năm 2008 lên 124,7/100.000 người vào năm 2012; đốivới nam giới GX 1/3 trên cánh tay tăng từ 45,3/100.000 người năm 2008 tănglên 52,0/100.000 người năm 2012 [40] Năm 2016 Bergdahl C nghiên cứu2.011 trường hợp GX cánh tay ở người ≥16 tuổi tại BV Đại học Sahlgrenska(Thụy Điển) giai đoạn 2011- 2013 thấy 79% gãy 1/3 trên; 13% gãy 1/3 giữa

Trang 30

và 8% gãy 1/3 dưới xương cánh tay Tuổi trung bình là 66,8 tuổi; tỷ lệnữ/nam là 2,4/1,0 Tần suất GX cánh tay là 104,7/100.000 người/năm, trong

đó tần suất gãy 1/3 trên xương cánh tay là 83,0/100.000 người/năm; gãy 1/3giữa xương cánh tay là 13,4/100.000 người/năm và gãy 1/3 dưới xương cánhtay là 8,3/100.000 người/năm Hầu hết GX xảy ra ở người cao tuổi (83% >50tuổi), gãy đơn giản và do ngã (79% >50 tuổi) [41]

+ Gãy mỏm khuỷu

Behdad A và cs (2013) nghiên cứu 300 BN dưới 16 tuổi GX khuỷutay điều trị ở BV Alzahra, Isfahan (Iran) trong một năm thấy tuổi trung bìnhcủa BN là 8,1 ± 2,31 tuổi Tỷ lệ nam/nữ là 2,6/1,0 86% GX khuỷu tay trẻ em

do ngã [42]

+ Gãy xương cẳng tay

Gãy thân hai xương cẳng tay tuổi trung bình là 34,6, chiếm tỷ lệ 1,2%tổng số GX, nam so với nữ là 64/36 Gãy đầu trên hai xương cẳng tay tuổitrung bình là 45,7, chiếm tỷ lệ 5% tổng số GX, nam so với nữ là 46/54 Gãyđầu dưới xương quay tuổi trung bình là 55,5, chiếm tỷ lệ 17,5% tổng số GX,nam so với nữ là 31/69 [43] Tỷ lệ GX đầu dưới xương cẳng tay theo tuổi trên10.000 dân ở nhóm từ 50 tuổi trở lên là 109,8 (nữ) và 25,4 (nam) trong năm1998/1999 so với 108,3 (nữ) và 23,5 (nam) trong năm 1979 [44] Năm2011,Sigurdardottir K nghiên cứu ở người ≥16 tuổi tại Reykjavik (Iceland)thấy có 228 trường hợp GX quay; tần suất là 17/10.000 người ở nam giới và37/10.000 người ở phụ nữ 1/3 trường hợp là GX phạm khớp, chủ yếu là namgiới ở độ tuổi lao động [45] Diamantopoulos A.P (2012) nghiên cứu dịch tễhọc gãy đầu dưới xương quay ở người ≥50 tuổi tại 4 BV ở miền Nam Na Uy(2004- 2005) thấy có 799 BN (118 nam và 681 nữ) GX do chấn thương mạnh

và 84 BN (48 nam và 36 nữ) do chấn thương nhẹ Tỷ lệ mắc là 18,9/10.000người-năm đối với nam giới và 75,1/10.000 người-năm đối với phụ nữ [46]

Trang 31

Năm 2013 Wilcke M K phân tích 42.583 BN gãy đầu dưới xươngquay giai đoạn 2004- 2010 thấy tỷ lệ là 31/10.000 người/năm Sau 45 tuổi, tỷ

lệ gãy đầu dưới xương quay ở phụ nữ tăng lên nhanh chóng Ở nam giới, tỷ lệgãy đầu dưới xương quay thấp và tăng dần cho đến tuổi 80 [47]

Theo Giladi A.M và cs (2014) nguy cơ gãy đầu dưới xương quay xảy

ra nhiều hơn vào mùa đông (OR= 1,2; p<0,001) Nguy cơ cao hơn vào nhữngngày có nhiệt độ trung bình ≤32°F (OR= 1,36; p<0,001); có băng/tuyết (OR=1,45; p<0,001), và có mưa (OR= 1,24; p = 0,025) [48]

+ Gãy xương bàn ngón tay

Tỷ lệ GX bàn ngón tay khác nhau ở vị trí, tuổi, giới, và mùa trong năm.Theo Singer, dưới 40 tuổi, tỷ lệ GX cổ tay ở nam giới cao gấp 1,4 lần ở nữgiới, nhưng sau 40 tuổi tỷ lệ GX ở nữ tăng gần như tuyến tính tới khoảng10/10.000 dân/trong 5 năm [36] Ở Canada, Feehan L M và cs nghiên cứu72.481 trường hợp GX bàn ngón tay thấy 50% GX ngón tay, 42% GX bàntay và 8% GX nhiều vị trí Tỷ lệ mắc GX bàn tay là 36/10.000 người Tỷ lệ

GX bàn tay theo tuổi là 29/10.000 đối với người trên 20 tuổi và 61/10.000 đốivới người từ 20 tuổi trở xuống Nam giới có nguy cơ GX bàn ngón tay gấp2,08 lần ở nữ giới, và duy trì các nguy cơ này cho đến 40 tuổi [49]

Năm 2011 Olaitan P nghiên cứu 74 BN bị chấn thương bàn tay (53 nam

và 21 nữ) thấy nhiều nhất là học sinh 32,4%, nghệ nhân: 21,6%; do TNGT:39,2%; do vật liệu nổ: 2,8%, tai nạn do máy mài: 13,5%; tai nạn ở nhà: 8,2% domảnh chai vỡ: 5,4%, do mảnh kính: 5,4%; tai nạn ở trang trại: 8,2% Tổnthương ở tay phải 48,6%; tay trái 37,8% và cả hai tay là 13,5% [50]

Ở Mỹ, Nakashian M N và cs (2012) nghiên cứu 4.718 GX bàn tay đạidiện cho khoảng 160.790 trường hợp GX bàn tay trong giai đoạn 2002-2006thấy tỷ lệ GX bàn tay là 13,6/100.000 người/năm (CI 95%: 13,6-13,67) Tỷ lệmắc cao nhất ở nhóm 10-19 tuổi (38,8/100.000 người/năm; CI 95%: 38,6-38,9), tiếp theo là nhóm 20-29 tuổi (28,4/100.000 người/năm; CI 95%: 28,3-

Trang 32

28,5) Tỷ lệ GX bàn tay ở nam giới (23/100.000 người/năm; CI 95%: 23,1) cao hơn so với nữ giới (4,5/100.000 người/năm; CI 95%: 4,5-4,5) Tỷ lệnam/nữ là 5,08/1,0 [51]

22,9-Al-Jasser F S và cs (2015) phân tích 361 trẻ em bị GX bàn, ngón tayđiều trị tại BV Đại học King Khalid, Riyadh, Saudi Arabia (2005- 2011) thấy

tỷ lệ nam (291 BN: 80,6%) nhiều hơn nữ (70 BN: 19,4%) Hầu hết trẻ em ởlứa tuổi 13- 18 tuổi (46,2%) Đối với nhóm 1-4 tuổi, vị trí xảy ra thương tíchchủ yếu là ở trong nhà (81,3%) và đối với nhóm 13-18 tuổi là ở ngoài nhà(64,7%) Các nguyên nhân phổ biến gây GX bàn, ngón tay là sập cửa (nhóm1- 8 tuổi); ngã tại nhà (nhóm 9- 12 tuổi); và ngã tại nhà và tai nạn thể thao(13- 18 tuổi) GX ở ngón tay út bị nhiều nhất, sau đó là đến ngón giữa [52]

Năm 2015 Liu W H (2015) nghiên cứu chấn thương ngón tay ở trẻ em(0- 16 tuổi) điều trị tại BV Prince (xứ Wales): nhóm A (137 trẻ em, điều trị từ2003- 2005) và nhóm B (109 trẻ em, điều trị từ 2010- 2012) thấy hầu hết chấnthương ngón tay xảy ra ở trẻ em dưới 5 tuổi (nhóm A: 56%, nhóm B: 76%) và

ở nhà (nhóm A: 67%; nhóm B: 69%) GX ngón tay chiếm 24% và 23% ởnhóm A và B Chấn thương gây cắt cụt ngón tay phải nối lại ngón tay là 12%

và 10% ở nhóm A và B [53]

1.2.2.2 Gãy xương chi dưới

Tỷ lệ GX chi dưới khác nhau theo tuổi, giới, chủng tộc và vị trí xươnggãy [31], [33], [36] Theo Joyce C., tỷ lệ GX chi dưới của người da trắng vàngười da đen lần lượt chiếm 37,5%; 44,7 % Đối với cả phụ nữ da trắng và dađen thì tỷ lệ GX chi dưới tăng lên nhanh hơn GX ở các vị trí khác Sự gia tăngnày bắt đầu từ độ tuổi thanh thiếu niên và người trưởng thành trẻ tuổi tỷ lệ

GX chi dưới của nữ giới bằng một nửa của nam giới Ở nam giới tỷ lệ GX chidưới tăng dần trong độ tuổi thanh thiếu niên và duy trì ở mức cao cho đến tuổi

45 - 49 (ở nam da trắng) và tuổi 60-64 (ở nam da đen) [31]

Trang 33

+ Gãy xương đùi

Xương đùi là xương lớn của cơ thể, GX đùi là một trong các nguyênnhân gây tử vong ở người già Gãy thân XĐ tỷ lệ chiếm 0,9% tổng số GX[54] Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ GX đùi tùy thuộc vào vùng địalý, tuổi, giới tính, vị trí xương gãy [31], [36] Việc phân tích các dữ liệu từ cácnghiên cứu khác nhau cho thấy tỷ lệ GX đùi cao nhất được thấy ở Bắc Mỹ vàchâu Âu và thấp nhất ở Mỹ Latinh và châu Phi Các nước châu Á như Kuwait,Iran, Trung Quốc và Hồng Kông cho thấy tỷ lệ GX đùi ở mức trung bình Tỷ

lệ GX đùi ở Bắc Mỹ cao hơn Nam Mỹ, điều này là do nhiều người cao tuổisống ở Bắc Mỹ hơn, ngoài ra còn do ảnh hưởng của chủng tộc, vĩ độ và cácyếu tố môi trường [54]

Nghiên cứu của Moayyeri A và cs cho thấy tỷ lệ GX đùi (1991-1998)

là 152/100.000 (nam) và 402/100.000 (nữ); tỷ lệ này cao gấp 1,5 đến 5 lầnnhững năm 1960 Dữ liệu nghiên cứu đa trung tâm của Iran cho thấy tỷ lệ GXđùi ở nam là 127,3/100.000 người/năm và nữ là 164,6/100.000 người/năm; tỷ

lệ này thấp hơn nhiều so với các nước phương Tây và Mỹ [55]

 Gãy cổ xương đùi:

Tại Phần Lan, Kannus P và cs nghiên cứu dịch tễ học gãy cổ XĐ ởngười ≥50 tuổi giai đoạn 1970- 2004 thấy số trường hợp gãy cổ XĐ tăng liêntục từ năm 1970 (1.857 trường hợp) đến năm 1997 là 7.122 trường hợp, và7.083 trường hợp vào năm 2004 Đến năm 1997, tỷ lệ gãy cổ XĐ tăng ở cảhai giới, nhưng sau đó, giảm ở cả hai giới: ở nữ, giảm từ 494/100.000 người(1997) xuống 412/100.000 người năm 2004, và ở nam giới: giảm từ238/100.000 người (1997) xuống 223/100.000 người (2004) [56]

Valizadeh Majid nghiên cứu 244 trường hợp gãy cổ XĐ (131 nam, 113nữ) trong thời gian 1 năm ở Zanjan (Iran) thấy tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi vớinam giới là 206,5/100.000 người/năm, với nữ là 214,8/100.000 người/năm.Hầu hết GX xảy ra vào mùa đông, trong nhà và ban ngày [57]

Trang 34

Tại Áo, Mann E và cs thấy số trường hợp gãy cổ XĐ tăng từ 11.694

BN (năm 1994) lên 15.987 BN (năm 2006); ở nam giới, tỷ lệ mắc tăng từ244,3/100.000 người/năm (CI 95%: 234,8- 253,7; năm 1994) lên330,8/100.000 người (CI 95%: 320,8-340,9; năm 2006); ở nữ: tỷ lệ mắc tăng

từ 637,3/100.000 người (CI 95%: 624,2- 650,4; năm 1994) lên 758,7/100.000người (CI 95%: 745,0- 772,4; năm 2006) [58]

Năm 2012, Kim S.H phân tích 28 triệu bệnh án ở các khoa cấp cứu tại

Mỹ thấy năm 2008 có khoảng 341.000 trường hợp gãy cổ XĐ (CI 95%:323.000- 358.000) Trong đó, 90% số BN >60 tuổi Ở độ tuổi 60- 85 tuổi,nguy cơ gãy cổ XĐ tăng gấp đôi với mỗi khoảng 5- 6 tuổi Nguy cơ gãy cổ

XĐ tăng chậm sau 85 tuổi Tỷ lệ gãy liên mấu chuyển/gãy cổ XĐ là 2: 1.Nguy cơ gãy liên mấu chuyển tăng nhanh cùng với tuổi hơn so với nguy cơgãy cổ XĐ Ở tuổi 85, tỷ lệ gãy liên mấu chuyển và cổ XĐ ở nữ là1.300/100.000 người và 700/100.000; ở nam là 800/100.000 người và500/100.000 người [59]

Năm 2013 Maalouf G phân tích cơ sở dữ liệu quốc gia về gãy cổ XĐđiều trị tại BV năm 2007 thấy có 1.199 BN Tỷ lệ mắc hàng năm ở lứa tuổi

>50 là 147/100.000 người/năm (nam: 132/100.000 người/năm và nữ:160/100.000 người/năm); tỷ lệ nữ/nam là 1,2 Các tỷ lệ mắc hàng năm chuẩntheo tuổi là 180/100.000 người/năm với nam giới và 256/100.000/năm với nữgiới Dự kiến tỷ lệ gãy cổ XĐ ở tuổi trên 50 tăng lên 174/100.000 người/năm

và 284/100.000 người/năm vào năm 2020 và 2050 [60]

Năm 2014 Azagra R nghiên cứu gãy cổ XĐ ở người ≥ 65 tuổi trong 14năm (1997-2010) thấy có 119.857 GX ở nam giới và 415.421 phụ nữ So sánhhai giai đoạn: 1997-2000 (P1) và 2007-2010 (P2) thấy tỷ lệ mắc thô/100.000người/năm tăng 2,3%/năm ở nam giới và 1,4%/năm ở phụ nữ Sau khi điềuchỉnh thấy tỷ lệ tăng trung bình 0,4%/năm ở nam giới (p<0,0001), nhưnggiảm 0,2%/năm ở nữ giới (p <0,0001) [61]

Trang 35

Năm 2014 Rosengren B E thấy giai đoạn 2002-2012, có 7.385 trườnghợp gãy cổ XĐ ở Malmo và dự đoán sẽ có khoảng 30.000 trường hợp gãy cổ

XĐ vào năm 2050 Tỷ lệ gãy cổ XĐ tăng 1,9%/ năm (1,7%/năm ở phụ nữ và2,3%/năm ở nam giới) so với năm 2002 [62]

Năm 2015 Daniachi D nghiên cứu dịch tễ học gãy 1/3 trên XĐ ở 113người cao tuổi điều trị tại một BV của São Paulo (Brazil) (trung bình: 79 tuổi)

Tỷ lệ nữ/nam là 3:1; có 30,4% BN mắc bệnh loãng xương và 0,9% được điềutrị Nguyên nhân chủ yếu là do chấn thương: 92,9%; gãy cổ XĐ chiếm 42,5%,gãy liên mấu chuyển là 57,5% 05 BN điều trị bảo tồn; 39 BN thay khớp; và 69

BN kết xương Thời gian nằm viện là 13,5 ngày và thời gian chờ đợi cho đếnkhi phẫu thuật là 7 ngày Tỷ lệ tử vong trong BV là 7,1% [63]

Năm 2015 Sosa M nghiên cứu dịch tễ học GX ở người trên 50 tuổi tạiquần đảo Canary (Tây Ban Nha) trong giai đoạn 1989-1993 thấy có 1.175 BNgãy cổ XĐ (72% phụ nữ; tuổi trung bình: 78,2 tuổi, tỷ lệ mắc là152,1/100.000 người/năm Giai đoạn 2007- 2011 có 2.222 trường hợp gãy cổ

XĐ (71% phụ nữ; tuổi trung bình 79 tuổi), tỷ lệ mắc là 180,9/100.000người/năm [64]

Cũng trong năm 20145, Ha Y.C nghiên cứu dịch tễ học gãy cổ XĐtrong 10 năm (2002- 2011) ở người ≥50 tuổi tại 8 BV ở đảo Jeju thấy tăng101% số trường hợp gãy cổ XĐ, tăng từ 151 BN năm 2002 lên 304 BN năm

2011 Tỷ lệ gãy cổ XĐ ở người ≥50 tuổi tăng từ 126,6/100.000 người/năm lên183,7/100.000 người/năm Tần suất gãy cổ XĐ tăng từ 100,6/100.000người/năm với nam và 194,4/100.000 người/năm với nữ (năm 2002) lên114,2/100.000 người/năm với nam và 278,4/100.000 người/năm với nữ (năm2011) [65]

Driessen J H và cs (2016) nghiên cứu dịch tễ học gãy cổ XĐ ở ngườidân Đan Mạch >20 tuổi trong năm 2011 thấy có 80.760 BN (191/10.000người/năm; CI 95%: 190- 192/10.000 người/năm), trong đó có 35.398 nam

Trang 36

giới (43,8%, tỷ lệ mắc 171/10.000 người/năm, CI 95%: 169- 173/10.000người) và 45.362 nữ giới (56,2%, tỷ lệ mắc: 211/10.000 người/năm, CI 95%:209-213) [66]

Năm 2016, Horii M nghiên cứu dịch tễ học GX ở người ≥ 65 tuổi tạiKyoto (Nhật Bản) trong giai đoạn 2008- 2013 (13 BV: 5 BV ở thành phố và 8

BV ở nông thôn) thấy có 2.826 BN gãy cổ XĐ (trung bình 82,1 tuổi) và 3.305

BN gãy liên mấu chuyển (tuổi trung bình 85,0 tuổi) [67]

 Gãy xương đùi:

Bridgman S và cs nghiên cứu dịch tễ học GX đùi ở trẻ em <16 tuổivùng West Midlands (Vương quốc Anh) (1991- 1992 đến 2001- 2002) thấy tỷ

lệ mắc thô giảm từ 0,33/1.000 người/năm xuống 0,22/1.000 người/năm Tầnsuất GX cao nhất là ở trẻ em nam 2 tuổi (0,91/1.000 người/năm) Trongnhững năm đầu của cuộc sống, tần suất GX đùi ở trẻ em nam và trẻ em nữtương đương nhau Sau đó, tỷ lệ GX ở trẻ em nam tăng cao hơn so với trẻ em

nữ từ 1,6 lần (thời điểm 11 tuổi) lên 4,7 lần (thời điểm 14 tuổi) 49% GX đùi

do ngã: thay đổi từ 77% (01 tuổi) đến 26% (8 tuổi) 26% do TNGT: thay đổi

ở Trung tâm y tế Christian Kilimanjaro (Tanzania) trong 9 tháng thấy có 213(39%) trường hợp GX đùi TNGT 71% ; 59% nam giới bị TNGT, 70% nữgiới bị do ngã Vị trí gãy thường là 1/3 giữa XĐ (nam: 33%; nữ: 25%) [71]

Trang 37

+ Gãy xương vùng gối

GX vùng gối và GX bánh chè chiếm khoảng 1 - 4% trong tổng số cáctrường hợp GX GX bánh chè tuổi trung bình là 56,5 [3] Tỷ lệ GX vùng gối

và GX bánh chè ít khác biệt giữa nam và nữ [36] Các GX vùng gối bao gồmgãy đầu dưới XĐ, gãy mâm chày và GX bánh chè

+ Gãy xương cẳng chân

Weiss R.J và cs đã chỉ ra tỷ lệ gãy thân xương chày tại Thụy Điểngiảm từ 18,7/100.000 dân/năm 1998 xuống 16,1/100.000 dân/năm vào năm

2004 Nghiên cứu cũng chỉ ra 48% gãy thân xương chày là do ngã cao, 21%

là do TNGT Tỷ lệ này giảm xuống 21,5/100.000/năm 2000 và tới năm 2007,

tỷ lệ này là 14,3/100.000/năm [72] Theo AlJasser F.S và cs, năm 1988

-1990, tỷ lệ gãy thân xương chày là 26/100.000/năm [52] Theo Singer B.R và

cs, tỷ lệ GX chày là cao nhất ở những người cao tuổi (trên 70) những ngườitrẻ tuổi (từ 15- 34) [36] Ở Thụy Điển, Thur C.K và cs (2012) nghiên cứudịch tễ học các trường hợp GX mắt cá chân trong giai đoạn 1987- 2004 (≥15tuổi) thấy có 91.410 trường hợp nhập viện, tỷ lệ mắc hàng năm là 71/100.000người/năm Tỷ lệ GX mắt cá chân tăng 0,2%/năm, chủ yếu là do tăng tỷ lệ

GX ở phụ nữ cao tuổi Tuổi trung bình của nam giới là 45  19 tuổi và nữgiới là 58  18 tuổi Cơ chế chính của chấn thương là do ngã (64%) [73].Năm 2012, Chua W nghiên cứu 323 BN gãy hở xương chày thấy 69,3% doTNGT đường bộ và 21,7% do tai nạn công nghiệp Thời gian nằm viện trungbình là 28,7 ngày và số lượng phẫu thuật trung bình là 4,29 lần Thời gian liềnxương là 10,7 tháng và tỷ lệ nhiễm khuẩn là 20,7% Những BN GX nhiềuđoạn có thời gian nằm viện và thời gian liền xương dài hơn [74]

Ở Việt nam, Nguyễn Hạnh Quang (2007) nghiên cứu 97 BN gãy kínthân xương chày thấy có 66 nam (68%) và 31 nữ (32%), trung bình là 45 tuổi(17-75) Tỷ lệ ở độ tuổi từ 21-50 chiếm 74,4% Do TNGT 71,13%; TNSH20,62% [75] Nguyễn Thành Tấn (2015) điều trị gãy hở thân hai xương cẳng

Trang 38

chân thấy tuổi trung bình của BN là 34,51 tuổi (18- 70 tuổi) Tuổi từ 18- 60chiếm 95,24% TNGT là nguyên nhân chủ yếu (93,65%) [76]

+ Gãy các xương bàn chân và ngón chân

Trong 1 năm, 1.765 BN bị chấn thương nặng nhập viện PGIMERChandigah, trong đó có 134 trường hợp bị GX bàn ngón chân (7,59%) Trong

đó có nam 82,09% và nữ 17,91% Tuổi trung bình là 30,8 (10- 81 tuổi).TNGT là 73,8%, ngã cao là 20,15%, do vật nặng đè lên chân là 4,48%, tổnthương do máy móc là 0,75% GX hở 72,39% và GX kín 4,48% Trongtổng số GX bàn ngón chân: 27,29% GX bàn chân; 11,3% GX ngón chân;25,42% GX gót; 4,52% GX sên [77]

GX mắt cá phổ biến hơn ở thanh niên nam Đối với người cao tuổi,gãy mắt cá và gãy đầu trên xương cánh tay phổ biến ở phụ nữ [36]

1.2.2.3 Gãy xương cột sống

Gãy cột sống chiếm 3 - 4% trong tổng số GX [3] Ở Canada, Hu R và

cs nghiên cứu trong khoảng 3 năm thấy tỷ lệ CTCS là 64/100.000dân/năm, chủ yếu là những nam giới trẻ và phụ nữ lớn tuổi [78] TheoSinger và cs, GX cột sống phổ biến ở nam giới hơn ở nữ giới ở độ tuổidưới 55 [36] Đối với người da trắng, có 2 giai đoạn nguy cơ cao GX cộtsống là ở tuổi vị thành niên và người cao tuổi Sau 55 tuổi thì biểu đồ GXcột sống tương tự nhau giữa những người cùng chủng tộc hơn là cùng giớitính và tỷ lệ GX ở nam da trắng và nữ da trắng gia tăng theo cấp số nhân

Tỷ lệ GX cột sống ở nữ da trắng bắt đầu tăng ở độ tuổi từ 45-49, tỷ lệ nam

da trắng và nữ da đen tăng lên sau đó 10 năm ở độ tuổi 55-59 Mặc dù sựgia tăng là ít hơn nhưng GX cột sống của phụ nữ da đen tăng lên gấp 4 lầnsau 55 tuổi [31]

Nghiên cứu trên 3.142 BN (trung bình: 45,7 tuổi; 1- 92 tuổi) bị GXcột sống do chấn thương, 65,5% BN là nam giới Độ tuổi có tần số GX cộtsống do ngã cao là nhóm 31- 40 tuổi Tai nạn ngã cao là 58,9% và TNGT là

Trang 39

20,9% Cột sống thắt lưng bị tổn thương có 54,9% [79] GX cột sống cổphổ biến hơn nhiều ở BN bị TNGT, GX cột sống thắt lưng phổ biến hơnnhiều ở những BN ngã cao [49], [79].

GX cột sống ngực thắt lưng thường gặp ở nam giới (2/3) so với phụ

nữ (1/3) và cao nhất trong độ tuổi từ 20 đến 40 Xấp xỉ 160.000 BN/năm bịCTCS tại Mỹ Đa số là GX cột sống cổ và cột sống thắt lưng (L3 - L5).15% và 20% GX cột sống do chấn thương tại vị trí chuyển giao cột sốngngực và cột sống thắt lưng (T11 - L2), trong khi đó 9 - 16% xảy tại cộtsống ngực (T1-T10) [80] Năm 2014, Yang R thấy tỷ lệ BN tăng từ 7,0%(năm 2003) lên 14,0% (năm 2011) Tỷ lệ nam và nữ là 3,0: 1 Nguyên nhânchính gây CTCS là TNGT (21,7%), phần nhiều là công nhân (36,2%), nôngdân (22,8%), và người thất nghiệp (13,9%) với tổng số là 72,9% [81]

Ở Nga, Silberstein B (1995) thấy rằng tỷ lệ CTCS ở Novosibirsk là29,7/100.000 người/năm Nghiên cứu trong 5 năm (1989- 1993) thấy CTCS

cổ 49,0%; CTCS ngực 27,5%; CTCS thắt lung 23,5% 39,7% GX không ổnđịnh, hầu hết là ở cột sống cổ Tỷ lệ tử vong là 16,8% (13,7% sau mổ) [82].Fredo H.L phân tích hồ sơ đăng ký BN ở Nauy thấy trong giai đoạn 2009-

2012 có 3.248 BN CTCS cổ, trong đó có 2.963 BN gãy >1 đốt CS cổ và

285 BN chấn thương CS cổ nhưng không GX Tuổi trung bình của các BN

là 54 tuổi, 69% là nam giới Tỷ lệ chấn thương CS cổ ở Nauy là16,5/100.000 người/năm và tỷ lệ gãy CS cổ là 15,0/100.000 người/năm.18% số BN được điều trị bằng phẫu thuật mở Tỷ lệ tử vong sau 1 tháng, 3tháng là 4% và 6% [83], [84]

Tại Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Grivna M (2015) phân tíchcác trường hợp CTCS điều trị tại BV AlAin trong 3 năm thấy 90% là namgiới và 84% ở lứa tuổi 25-54 TNGT 47%, TNLĐ 39% Cơ chế phổ biếnnhất của chấn thương là va chạm giao thông (48%), ngã cao (48%) GX cột

Trang 40

sống chủ yếu là cột sống thắt lưng (57%); 5% liệt hai chân và 4% tử vong[85].

Ở Việt Nam, theo Nguyễn Trọng Tín tại BV chấn thương chỉnh hình thànhphố Hồ Chí Minh: trong năm 2010, có 184 trường hợp CTCS ngực - thắt lưng.Trong đó gãy nhiều mảnh chiếm 80,4%, gãy lún 10,8%, gãy cúi - căng 4,3% vàgãy trật 3,8% [86]

1.2.2.4 Gãy một số xương khác

+ Gãy xương đòn

Nordqvist A và cs (1994) nghiên cứu 2.035 trường hợp GX đòn,phân loại Allman I chiếm 76%, độ tuổi trung bình là 13 tuổi Allman IIchiếm 21%, tuổi trung bình là 47 tuổi Allman III là 3%, tuổi trung bình là

59 tuổi [87] Postacchini F và cs nghiên cứu 535 BN GX đòn tại một BVtrong 11 năm, thấy GX đòn chiếm 2,6% các loại GX và 44% GX ở vùngvai Nam giới (68%); GX đòn trái (61%) Gãy 1/3 giữa xương đòn chiếm tỷ

lệ cao (81%), có di lệch là 48% và vỡ vụn là 19% Tỷ lệ gãy 1/3 giữaxương đòn giảm dần theo tuổi, ở nhóm <10 tuổi là 88,2% số trường hợp

GX đòn và không di lệch là 55,5% trường hợp [88]

+ Gãy xương bả vai

Nghiên cứu của Rolf trên 332 BN (338 trường hợp GX bả vai) thấy

có 99/332 trường hợp gãy ổ chảo xương bả vai; 56/85 trường hợp GX bảvai loại 1 có kèm theo sai khớp vai cùng bên Tỷ lệ GX bả vai hàng năm là10/100.000, trong đó GX phạm khớp chiếm 1/3 Tuổi trung bình của BNgãy loại 1A là 60 (đối với nữ) và 46 (đối với nam) Tuổi trung bình của BNgãy loại 1B là 69 (đối với nữ) và 53 (đối với nam) [89]

+ Gãy xương chậu

Theo Singer và cộng sự, GX chậu gặp 3/10.000 dân/ năm với độ tuổi

từ 15 đến 59 tuổi Sau tuổi này, tỷ lệ nữ giới tăng lên từ 3 tới 67/10.000dân/năm, và ở nam giới tăng lên từ 1 tới 17/10.000/năm [36] Ở Mỹ, nghiên

Ngày đăng: 01/04/2021, 09:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Shah N.S., Buzas D., Zinberg E.M. (2015). “Epidemiologic dynamics contributing to pediatric wrist fractures in the United States”, Hand (N Y), 10(2):266-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiologic dynamicscontributing to pediatric wrist fractures in the United States”, "Hand (NY)
Tác giả: Shah N.S., Buzas D., Zinberg E.M
Năm: 2015
14. Johansen A., Evans R.J., Stone M.D. et al. (1997). Fracture incidence in England and Wales: a study based on the population of Cardiff, Injury, 28(9-10):655-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Injury
Tác giả: Johansen A., Evans R.J., Stone M.D. et al
Năm: 1997
15. Tiderius C.J., Landin L., Düppe H. (1999). Decreasing incidence of fractures in children: an epidemiological analysis of 1.673 fractures in Malmử, Sweden, 1993-1994, Acta Orthop Scand, 70(6):622-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta Orthop Scand
Tác giả: Tiderius C.J., Landin L., Düppe H
Năm: 1999
16. Van Staa T.P., Dennison E.M., Leufkens H.G. et al. (2001).“Epidemiology of fractures in England and Wales”, Bone, 29(6):517- 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiology of fractures in England and Wales”, "Bone
Tác giả: Van Staa T.P., Dennison E.M., Leufkens H.G. et al
Năm: 2001
17. Cooper C., Dennison E. M., Leufkens H. G. et al. (2004).Epidemiology of childhood fractures in Britain: a study using the general practice research database, J Bone Miner Res., 19(12):1976-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Bone Miner Res
Tác giả: Cooper C., Dennison E. M., Leufkens H. G. et al
Năm: 2004
18. Hedstrửm E.M., Svensson O., Bergstrửm U. et al. (2010).“Epidemiology of fractures in children and adolescents”, Acta Orthop., 81(1):148-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiology of fractures in children and adolescents”, "ActaOrthop
Tác giả: Hedstrửm E.M., Svensson O., Bergstrửm U. et al
Năm: 2010
19. Lee Y.H., Hsu Y.N., Yu I.L. et al. (2011). Treatment incidence of and medical utilization for hospitalized subjects with pathologic fractures in Taiwan-Survey of the 2008 National Health Insurance data, BMC Health Serv Res., 11:230 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BMCHealth Serv Res
Tác giả: Lee Y.H., Hsu Y.N., Yu I.L. et al
Năm: 2011
20. Joeris A., Lutz N., Wicki B. et al. (2014). An epidemiological evaluation of pediatric long bone fractures - a retrospective cohort study of 2716 patients from two Swiss tertiary pediatric hospitals, BMC Pediatr., 14:314 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BMC Pediatr
Tác giả: Joeris A., Lutz N., Wicki B. et al
Năm: 2014
21. Somersalo A., Paloneva J., Kautiainen H. et al. (2014). “Incidence of fractures requiring inpatient care”, Acta Orthop. 85(5):525-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Incidence offractures requiring inpatient care”, "Acta Orthop
Tác giả: Somersalo A., Paloneva J., Kautiainen H. et al
Năm: 2014
23. Burns S.T., Gugala Z., Jimenez C.J. et al. (2015). Epidemiology and patterns of musculoskeletal motorcycle injuries in the USA, F1000Res.,4:114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: F1000Res
Tác giả: Burns S.T., Gugala Z., Jimenez C.J. et al
Năm: 2015
24. Rosengren B.E., Karlsson M., Petersson I. et al. (2015). “The 21st- century landscape of adult fractures: cohort study of a complete adult regional population”, J Bone Miner Res., 30(3):535-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The 21st-century landscape of adult fractures: cohort study of a complete adultregional population”, "J Bone Miner Res
Tác giả: Rosengren B.E., Karlsson M., Petersson I. et al
Năm: 2015
25. Ameri M., Aghakhani K., Mehrpisheh S. et al. (2016).Epidemiological Review of Relation between Gender and Traumatic Injuries in Hospitals in Iran, Glob J Health Sci., 8(12):55504 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Glob J Health Sci
Tác giả: Ameri M., Aghakhani K., Mehrpisheh S. et al
Năm: 2016
26. Trường Đại học Y tế công cộng (2011). Gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam 2008, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gánh nặng bệnh tật và chấnthương ở Việt Nam 2008
Tác giả: Trường Đại học Y tế công cộng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2011
27. Đoàn Phước Thuộc, Đỗ Anh Chiến (2011). Một số đặc điểm bệnh nhân tai nạn giao thông được cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Lắk năm 2009, Y học thực hành, 756(3): 104-107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học thực hành
Tác giả: Đoàn Phước Thuộc, Đỗ Anh Chiến
Năm: 2011
28. Nguyễn Thị Như Tú, Ngô Văn Toàn, Võ Hồng Phong (2012). Nghiên cứu nguyên nhân tai nạn giao thông tại tỉnh Bình Định năm 2011, Y học thực hành, 838(8): 43- 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yhọc thực hành
Tác giả: Nguyễn Thị Như Tú, Ngô Văn Toàn, Võ Hồng Phong
Năm: 2012
29. Lê Quang Ánh (2012). Nghiên cứu tình hình tai nạn thương tích ở cộng đồng dân cư khu vực Long Thành, Nhơn Trạch năm 2011, Y học Thực hành, 854(12): 57- 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y họcThực hành
Tác giả: Lê Quang Ánh
Năm: 2012
30. Nguyễn Thị Chinh, Lã Ngọc Quang (2013). Thực trạng tai nạn thương tích của các trường hợp nhập viện và điều trị tại bệnh viện Đức Giang năm 2013, Y học thực hành, 879(9): 55- 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Thị Chinh, Lã Ngọc Quang
Năm: 2013
31. Joyce C.Pressley et al. (2011). The epidemiology of bone fracture across the age span in blacks and whites, J Trauma, 71(5 Suppl 2): S541–S548 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Trauma
Tác giả: Joyce C.Pressley et al
Năm: 2011
32. Ootes D., Lambers K.T., Ring D.C., et al (2012). The epidemiology of upper extremity injuries presenting to the emergency department in the United States, Hand (N Y), 7(1):18-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hand (N Y)
Tác giả: Ootes D., Lambers K.T., Ring D.C., et al
Năm: 2012
34. Tytherleigh Strong G. et al. (1998). The epidemiology of humeral shaft fractures. J Bone Joint Surg Br., 80(2):249-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Bone Joint Surg Br
Tác giả: Tytherleigh Strong G. et al
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w