Trong quá trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non, nếu giáo viên sử dụng các phương pháp một cách phù hợp linh hoạt nhằm tổ chức các hoạt động về trò chơi đóng vai
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Người hướng dẫn khoa học:
ThS Trần Thanh Tùng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu và dữ liệu trong khóa luận là trung thực và chƣa từng cống bố trong bất kỳ khóa luận nào
Hà Nội, tháng 5 năm 2019 Sinh viên thực hiện
Trịnh Quỳnh Hoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Khóa luận “Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non khu vực Phúc Yên, Vĩnh Phúc” được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Khoa Giáo dục mầm non, các thầy cô đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới ThS Trần Thanh Tùng, người thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, khích lệ, dành nhiều thời gian trao đổi
và định hướng cho tôi trong quá trình thực hiện khóa luận
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, hỗ trợ nhiệt tình của cán bộ, giáo viên mầm non, các cháu lớp 5-6 tuổi tại các trường mầm non: MN Hoa Hồng
và MN Xuân Hòa, thành phố Phúc Yên, Vĩnh Phúc
Sinh viên thực hiện
Trịnh Quỳnh Hoa
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GD: Giáo dục GV: Giáo viên MN: Mầm non GVMN: Giáo viên mầm non GDMN: Giáo dục mầm non MG: Mẫu giáo
KN: Kĩ năng KNS: Kĩ năng sống TCĐVTCĐ: Trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của khóa luận 4
Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON KHU VỰC PHÖC YÊN, VĨNH PHÖC 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.1.1 Giáo dục kĩ năng sống ở Singapore 5
1.1.1.2 Giáo dục kĩ năng sống ở Nga 6
1.1.1.3 Giáo dục kĩ năng sống ở Ấn Độ 6
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Những vấn đề chung về kĩ năng sống 8
1.2.1 Khái niệm kĩ năng sống 8
1.2.2 Phân loại kĩ năng sống 9
1.3 Những vấn đề chung về giáo dục kĩ năng sống 12
1.3.1 Khái niệm giáo dục và giáo dục kĩ năng sống 12
Trang 71.3.2 Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non 13
1.3.2.1 Ý nghĩa việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non 13
1.3.2.2 Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non 13
1.3.2.3 Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non 14
1.3.2.4 Phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non 15
1.3.2.5 Hình thức giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non 15
1.3.2.6 Nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống 16
1.4 Vận dụng trò chơi đóng vai theo chủ để để giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 17
1.4.1 Khái niệm giáo dục kĩ năng sống thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 17
1.4.2 Bản chất của trò chơi đóng vai theo chủ đề 17
1.4.3 Mục tiêu và nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 17
1.4.3.1 Mục tiêu 17
1.4.3.2 Nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 18
1.4.4 Ý nghĩa của trò chơi ĐVTCĐ đối với việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 18
1.4.5 Các bước tổ chức TCĐVTCĐ để GDKNS 19
1.4.5.1 Chuẩn bị 19
1.4.5.2 Tổ chức trò chơi 19
1.4.5.3 Nhận xét sau khi chơi 20
Kết luận chương 1 21
Trang 8Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON KHU
VỰC PHÖC YÊN, VĨNH PHÖC 22
2.1 Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong Chương trình giáo dục mầm non hiện hành 22
2.1.1 Mục tiêu giáo dục trong Chương trình giáo dục mầm non 22
2.1.2 Nội dung giáo dục 22
2.1.3 Phương pháp giáo dục kĩ năng sống trong Chương trình giáo dục mầm non 23
2.1.4 Giáo dục kĩ năng sống qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong Chương trình giáo dục mầm non 24
2.1.5 Đánh giá sự phát triển của trẻ 24
2.2 Tổ chức khảo sát 24
2.2.1 Mục đích, địa bàn, đối tượng khảo sát 24
2.2.2 Nội dung khảo sát 25
2.2.3 Phương pháp khảo sát 25
2.2.4 Công cụ khảo sát và tiêu chí đánh giá 25
2.3 Kết quả khảo sát 26
2.3.1 Nhận thức của giáo viên về KNS, GD KNS, vai trò của TCĐVTCĐ trong GD KNS 26
2.3.1.1 Nhận thức về KNS 26
2.3.1.2 Nhận thức của GV về GD KNS 27
Trang 92.3.1.3 Nhận thức của GV về vai trò của TCĐVTCĐ trong việc
GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi 27
2.3.2 Thực trạng nội dung, phương pháp, hình thức GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi 28
2.3.2.2 Hình thức GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi 29
2.3.3 Thực trạng việc thiết kế và tổ chức TCĐVTCĐ để GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi 30
2.3.3.1 Mức độ lồng ghép nội dung GD KNS trong tổ chức TCĐVTCĐ 30
2.3.3.2 Thực trạng GD KNS qua TCĐVTCĐ 30
2.3.3.3 Thực trạng thiết kế TCĐVTCĐ để GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi 31
2.3.3.4 Thực trạng tổ chức TCĐVTCĐ để GD KNS 32
2.3.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi 34
2.3.3.6 Khó khăn khi GD KNS cho trẻ qua TCĐVTCĐ 34
2.4 Đánh giá chung về thực trạng 35
Kết luận chương 2 36
Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON KHU VỰC PHÖC YÊN, VĨNH PHÖC 37
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 37
3.2 Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 37
Trang 103.2.1 Lên kế hoạch cụ thể, rõ ràng để tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ theo hướng thúc đẩy cơ hội giáo dục kĩ
năng sống 37
3.2.1.1 Mục đích 37
3.2.1.2 Cách lập kế hoạch tổ chức TCĐVTCĐ để GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi 37
3.2.2 Cung cấp cho trẻ kiến thức, kĩ năng về các hoạt động thực tiễn trong cuộc sống xung quanh, về các mối quan hệ xã hội giữa các thành viên trong gia đình, nhà trường, cộng đồng, về các chuẩn mực xã hội, về các cách thích nghi để giải quyết các vấn đề 39
3.2.2.1 Mục đích 39
3.2.2.2 Nội dung và cách tiến hành 39
3.2.3 Khuyến khích đẻ trẻ tự chuẩn bị đồ dùng đồ chơi, trẻ tự lựa chọn góc chơi, vai chơi cho mình theo ý thích và thay đổi vai chơi trong quá trình chơi 40
3.2.3.1 Mục đích 40
3.2.3.2 Nội dung và cách thực hiện 41
3.2.4 Tăng cường tạo ra các tình huống có vấn đề khi tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề, tăng cường cơ hội thực hành rèn luyện các kĩ năng sống cho trẻ 42
3.2.4.1 Mục đích 42
3.2.4.2 Nội dung và cách thực hiện 42
Kết luận chương 3 43
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 44
Trang 11TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC
Trang 12DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Hiểu biết của GV về KNS 26
Bảng 2.2 Hiểu biết của GV về việc cần thiết GD KNS 27
Bảng 2.3 Hiểu biết của GV về vai trò của TCĐVTCĐ trong GD KNS cho trẻ mầm non 27
Bảng 2.4 Hiểu biết của GV về nội dung giáo dục KNS cho trẻ 5-6 tuổi 28
Bảng 2.5 Hình thức GD KNS cho trẻ mẫu giáo 29
Bảng 2.6 Mức độ lồng ghép nội dung GD KNS trong tổ chức TCĐVTCĐ 30
Bảng 2.7 Nội dung GD KNS qua TCĐVTCĐ 30
Bảng 2.8 Thực trạng của việc thiết kế TCĐVTCĐ để GD KNS cho trẻ 31
Bảng 2.9 Thực trạng của việc tổ chức TCĐVTCĐ để GD KNS 32
Bảng 2.10 Các yếu tố làm ảnh hưởng 34
Trang 13Ở nước ta những năm gần đây, việc giáo dục kĩ năng sống đã được đưa vào mọi cấp học Đặc biệt là giáo dục kĩ năng sống đã được đưa vào trường mầm non nhằm giúp trẻ có được những kĩ năng sống cơ bản cần thiết Những năm đầu đời là khoảng thời gian vàng cho trẻ học tập, lĩnh hội những kiến thức cơ bản, làm nền tảng cho trẻ bước vào trường phổ thông
Trẻ em luôn nhận được sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương chu đáo từ cha mẹ, ông bà và những người xung quanh Từ đó trẻ cũng ít được cọ xát, va chạm với thực tế cuộc sống đầy dẫy những khó khăn và nguy hiểm Trong khi
đó, ít ai biết được rằng chính sự bao bọc, che chở, quan tâm quá mức ấy lại gây cho trẻ một hậu quả vô cùng nghiêm trọng, một lỗ hổng về mặt kiến thức thực tế của cuộc sống, thiếu những kĩ năng sống cơ bản Ngay cả những việc đơn giản hàng ngày như chải tóc, đánh răng, mặc quần áo… trẻ cũng không biết làm, ỉ lại và phụ thuộc vào bố mẹ, cô giáo, những người xung quanh Khi gặp phải những tình huống hết sức đơn giản trẻ cũng không thể tự mình xử lý được
Vì vậy, giáo dục kĩ năng sống giúp chuẩn bị cho trẻ có một hành trang kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm tốt nhất để trẻ tự tin bước vào cuộc sống, tự tin đưa ra những quyết định của mình, tự tin sống cuộc sống của mình mà
Trang 14không phải lệ thuộc vào người khác Bên cạnh đó, đặt nền tảng cho trẻ trở thành người có trách nhiệm, tạo điều kiện để trẻ phát triển một cách cân đối
và hài hòa hơn Từ đây, chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống đối với trẻ lứa tuổi mầm non
Ta có thể thấy, trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi là giai đoạn trẻ chuẩn bị bước vào trường phổ thông Vì vậy việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ ở giai đoạn này là vô cùng quan trọng và cần thiết Dựa vào hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo là hoạt động vui chơi, ta có thể cho trẻ ”Học mà chơi,chơi mà học” , để trẻ có thể trực tiếp tham gia đóng vai các nhân vật khác nhau, xử lí các tình huống khác nhau theo chủ đề đa dạng phong phú Khi trẻ vừa nắm được
lý thuyết lại có thể thực hành thì trẻ sẽ nắm vững hơn các kĩ năng sống cơ bản, chất lượng giáo dục cũng được nâng cao hơn Xuất phát từ luận điểm
trên, tôi chọn đề tài “Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non khu vực Phúc Yên, Vĩnh Phúc” làm hướng nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực trạng, đề tài đưa ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non khu vực Phúc Yên, Vĩnh Phúc
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
4 Giả thuyết khoa học
Trang 15Việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề đã được giáo viên quan tâm tuy nhiên hiệu quả chưa cao Trong quá trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non, nếu giáo viên sử dụng các phương pháp một cách phù hợp linh hoạt nhằm tổ chức các hoạt động về trò chơi đóng vai theo chủ đề một cách có hiệu quả thì
sẽ giúp trẻ cho phát triển được những kỹ năng sống cần thiết và đáp ứng được mục tiêu giáo dục hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lí luận của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
Khảo sát, đánh giá thực trạng của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
Đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non
6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
6.2 Phạm vi nghiên cứu
Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại 2 trường mầm non Xuân Hòa và Hoa Hồng, thành phố Phúc Yên, Vĩnh Phúc
7 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập nghiên cứu các đề tài, công trình nghiên cứu nhằm xây dựng tổng quan cho đề tài thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề, xây dựng khung lý thuyết cho đề tài nghiên
cứu
Trang 167.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Dùng phiếu điều tra thăm dò nhận thức của giáo viên về kĩ năng sống
và giáo dục kĩ năng sống, đồng thời tìm hiểu những biện pháp đã sử dụng để giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
7.2.3 Phương pháp đàm thoại
Trao đổi với giáo viên về các hoạt động nhằm giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo trong hoạt động đóng vai theo chủ đề
7.3 Phương pháp xử lí số liệu
Dùng các công thức toán thống kê để phân tích số liệu thu được
Dùng các phương tiện kĩ thuật để nghiên cứu (lấy thông tin, lưu trữ thông tin, xử lý thông tin, trình bày kết quả nghiên cứu…)
8 Cấu trúc của khóa luận
Trang 17Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO
CHỦ ĐỀ 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
1.1.1.1 Giáo dục kĩ năng sống ở Singapore
Ở khu vực Châu Á, chúng ta biết đến đất nước Singapore với một nền kinh tế năng động và phát triển bậc nhất Không chỉ phát triển về mặt kinh tế, Singapore còn là một trong những quốc gia có nền giáo dục phát triển nhất Châu Á với môi trường học tập toàn diện, tạo nhiều cơ hội phát triển cho học sinh sinh viên Họ xây dựng hàng loạt các chương trình giáo dục và tiến hành giảng dạy ở các trường đại học tổng hợp, đại học bách khoa một cách mạnh
mẽ, linh hoạt và phù hợp với nhiều đối tượng học sinh ở các cấp học khác nhau Điều đặc biệt trong chương trình học tập ở đất nước này là các bộ môn
về kĩ năng sống đóng vai trò trung tâm ở các cấp học khác nhau Trong đó, các hoạt động giáo dục trong nhà trường được kết hợp nhuần nhuyễn với các hoạt động cộng đồng.Có lẽ vì thế mà Singapore tuy nhỏ về diện tích nhưng lại
là quốc gia có nền giáo dục tiên tiến, đứng thứ 8 trên thế giới và đứng đầu ở khu vực Châu Á, vượt qua cả những cường quốc về giáo dục và kinh tế lớn trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan ( Theo Universitas21 Ranking Scores 2016 )
Tuy nhiên, đối với bậc học mầm non, họ vẫn chưa tìm ra phương pháp hiệu quả nhất giúp trẻ nắm được các kĩ năng sống Ngoài ra, nề giáo dục của đất nước này vẫn còn lúng túng trong việc có nên đưa giáo dục kĩ năng sống
là một trong số những môn học bắt buộc ở tất cả các cấp học, ngành học hay không? Vấn đề này vẫn đang là một dấu hỏi lớn đối với các nhà giáo dục của đất nước này
Trang 181.1.1.2 Giáo dục kĩ năng sống ở Nga
Nền giáo dục của nước Nga đã có lịch sử hàng ngàn năm, có truyền thống tốt đẹp và có sự tín nhiệm quốc tế rất cao Vì thế mà việc giáo dục ở đất nước này cũng được quan tâm, chú ý hơn Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ được thông qua các hoạt động thực tiễn, các trò chơi đóng vai, hoạt động sáng tạo… nhằm hình thành cho trẻ một số kĩ năng cơ bản cần thiết như kĩ năng giao tiếp ứng xử, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng tự học, kĩ năng tạo lập mối quan hệ…
Nhưng vấn đề giáo dục kĩ năng sống vẫn là một vấn đề mới trong việc đào tạo giáo viên mầm non ở đây, vì vậy mà việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non vẫn chưa được quan tâm nhiều, việc tổ chức các hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chưa được diễn ra thường xuyên và còn mang tính chất gò ép, khuôn mẫu, cách tổ chức các tiết học còn mang tính lí thuyết cao Việc giáo dục để trẻ có những kĩ năng thực hành trong nhứng tình huống, các mối quan hệ, các hoạt động cũng chưa được chú trọng nhiều
1.1.1.3 Giáo dục kĩ năng sống ở Ấn Độ
Ở Ấn Độ, kĩ năng sống được xem như là khả năng giúp con người tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực Trong đó, bao gồm những kĩ năng cơ bản sau :
Trang 19- Từ chối
- Kiên định và hài hòa
1.1.2 Ở Việt Nam
Trong lịch sử giáo dục Việt Nam quan điểm học để làm người, nghĩa là
để biết ứng xử với đời đã được coi như là một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục Cho nên, giáo dục đã quan tâm cung cấp cho người học những kiến thức, thái độ và kĩ năng cần thiết để chuẩn bị cho người học gia nhập vào cuộc sống xã hội Tuy nhiên, những nội dung đó chưa được gọi lên
là giáo dục kĩ năng sống
Phải đến năm 1996, thuật ngữ kĩ năng sống mới bắt đầu được biết đến
từ chương trình của UNICEF “ Giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV /AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường “ Trong chương trình này, quan niệm về kĩ năng sống chỉ bao gồm những kĩ năng chính như những kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đặt mục tiêu, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng kiên định…do các chuyên gia Öc tập huấn Tham gia chương trình này lần đầu tiên gồm có ngành giáo dục và Hội chữ thập đỏ
Bước sang giai đoạn tiếp theo, chương trình này mang tên “ Giáo dục sống khỏe mạnh và kĩ năng sống “ Bên cạnh ngành giáo dục còn có hai tổ chức chính trị xã hội là Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
và Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam Đại diện của các tổ chức này cũng được tập huấn về kĩ năng sống với quan niệm như trên nhưng ở từng nhóm đối tượng được vận dụng đa dạng hơn
Nhưng khái niệm kĩ năng sống thực sự được hiểu với nội hàm đầy đủ
và đa dạng sau hội thảo “ Chất lượng giáo dục và kĩ năng sống “ do tổ chức UNESCO tài trợ diễn ra từ 23-25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội Từ đó, những người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn:
Trang 20 Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng
và tham gia vào cuộc sống hàng ngày
Kĩ năng sống là những hành vi làm cho các cá nhân thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống
Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lí xã hội có liên quan đến tri thức, những giá trị và những thái độ.( UNESCO)
Kĩ năng sống là những năng lực đáp ứng và những hành vi tích cực giúp cá nhân có thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.(WHO)
Bốn trụ cột trong giáo dục là một cách tiếp cận kĩ năng sống Đó chính
là sự kết hợp các kĩ năng tâm lí xã hội, kĩ năng sống liên quan đến giá trị với
kĩ năng tâm vận động, kĩ năng thực hành
Hiện nay, kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống đang được cả xã hội quan tâm Tuy nhiên, việc nghiên cứu giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo vẫn còn nhiều bỡ ngỡ, đặc biệt là giáo dục kĩ năng sống cho trẻ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề, chưa có nhà nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu về nó
Do đó, tôi quyết định nghiên cứu về đề tài : “ Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non khu vực Phúc Yên, Vĩnh Phúc”
1.2 Những vấn đề chung về kĩ năng sống
1.2.1 Khái niệm kĩ năng sống
* Quan niệm về kĩ năng sống
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) : “ Kĩ năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng ( adaptive) và tích cực ( positive ), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”
Theo Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) : “ Kĩ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng”
Trang 21Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) : Kĩ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là :
+) Học để biết (learning to know), gồm các kĩ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả,…
+) Học làm người (learning to be), gồm các kĩ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,…
+) Học để sống với người khác (learning to live together), gồm các kĩ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông,…
+) Học để làm (learning to do), gồm kĩ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,…
1.2.2 Phân loại kĩ năng sống
Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), kĩ năng sống được phân loại thành:
+) Các kĩ năng cơ bản: kĩ năng đọc, viết, tính toán cho các chức năng hàng ngày Những kĩ năng này không mang đặc trưng tâm lý nhưng là nền tảng cho những năng lực thực hiện các chức năng của cuộc sống
+) Các kĩ năng chung (kĩ năng nhận thức, kĩ năng cảm xúc, kĩ năng xã hội) như các kĩ năng ra quyết định, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng giao tiếp,…
+) Các kĩ năng trong tình huống, ngữ cảnh, vấn đề cụ thể của đời sống
Trang 22 Các vấn đề về sức khỏe, dinh dưỡng
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), kĩ năng sống được phân thành 3 nhóm:
+) Nhóm các kĩ năng nhận thức: kĩ năng tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, ra quyết định, giải quyết vấn đề…
+) Nhóm các kĩ năng xã hội: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng cảm thông, kĩ năng hợp tác…
+) Nhóm các kĩ năng cảm xúc: kĩ năng ứng phó với cảm xúc, kĩ năng ứng phó với căng thẳng, tự giám sát và điều chỉnh cảm xúc…
Theo Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), kĩ năng sống được phân loại thành 3 nhóm:
+) Nhóm kĩ năng xã hội
Kĩ năng giao tiếp
Kĩ năng đàm phán, thương lượng, từ chối
Kĩ năng quan hệ xã hội
Kĩ năng làm việc nhóm/hợp tác
Kĩ năng thấu cảm
Kĩ năng động viên
+) Nhóm kĩ năng phát triển nhận thức
Kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề
Kĩ năng suy nghĩ có phán đoán
Kĩ năng tư duy sáng tạo
+) Nhóm kĩ năng đối phó với cảm xúc và làm chủ bản thân
Kĩ năng quản lí căng thẳng
Kĩ năng quản lí cảm xúc
Kĩ năng tự điều chỉnh
Trang 23Tuy có sự khác biệt về quan niệm về kĩ năng sống nhưng các tổ chức UNESCO, WHO và UNICEF đã thống nhất 10 kĩ năng sống cơ bản, được xem như cần thiết cho tất cả mọi người
1 Kĩ năng ra quyết định
2 Kĩ năng giải quyết vấn đề
3 Kĩ năng tư duy sáng tạo
4 Kĩ năng tư duy phê phán/ suy nghĩ có phán đoán
5 Kĩ năng truyền thông có hiệu quả
6 Kĩ năng giao tiếp giữa người với người
7 Kĩ năng tự nhận thức bản thân
8 Kĩ năng thấu cảm
9 Kĩ năng ứng phó với cảm xúc
10 Kĩ năng ứng phó với stress
Ở Việt Nam, kĩ năng sống được chia thành 3 nhóm chính là:
+) Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình: Tự nhận thức,
xác định giá trị, ứng phó với cang thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, tự trọng, tự tin…
+) Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác: Giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác…
+) Nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả: Tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề…
Kĩ năng sống thay đổi theo nền văn hóa và hoàn cảnh xã hội Vì vậy, trong quá trình dạy kĩ năng sống, cần xem xét các yếu tố văn hóa và xã hội có ảnh hưởng đến việc ra quyết định hay lựa chọn hành động Trong giáo dục mầm non ở Việt Nam đã đưa ra một số kĩ năng sống cốt lõi như sau:
- Tự nhận thức
- Tự trọng
- Thể hiện cảm thông
Trang 24- Có trách nhiệm
- Ứng phó với căng thẳng
- Kiểm soát cảm xúc
- Giao tiếp hiệu quả
- Quan hệ của cá nhân với người khác
- Suy nghĩ sáng tạo
- Ra quyết định
- Giải quyết vấn đề
1.3 Những vấn đề chung về giáo dục kĩ năng sống
1.3.1 Khái niệm giáo dục và giáo dục kĩ năng sống
* Giáo dục được hiểu theo 2 nghĩa rộng và hẹp khác nhau:
“Giáo dục (theo nghĩa rộng – nghĩa xã hội học) là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách được tổ chức một cách có kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người” (1 tr 7) “Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là bộ phận của quá trình sư phạm (quá trình giáo dục) là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, những hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thuộc các lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lao động và học tập, thẩm mỹ, vệ sinh…” (1 tr 8)
* Khái niệm giáo dục kĩ năng sống
“Giáo dục kĩ năng sống là quá trình tác động sư phạm có mục đích, có
kế hoạch nhằm hình thành năng lực hành động tích cực, có liên quan tới kiến thức và thái độ, giúp cá nhân có ý thức về bản thân, giao tiếp, quan hệ xã hội, thực hiện công việc, ứng phó hiệu quả với các yêu cầu thách thức của cuộc sống hàng ngày” (4 tr 6)
Giáo dục kĩ năng sống được áp dụng theo nhiều cách khác nhau tùy vào môi trường sống, môi trường giáo dục Ở một số nơi, kĩ năng sống được kết
Trang 25hợp với các chương trình giáo dục vệ sinh, dinh dưỡng và phòng bệnh ở một
số nơi khác, giáo dục kĩ năng sống nhằm vào việc giáo dục hành vi, cách cư
xử, giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục phòng chống xâm hại hay giáo dục lòng yêu hòa bình…
Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rất rõ ràng là giáo dục kĩ năng sống luôn gắn bó với các giá trị Các giá trị sống đúng đắn là kết tinh được truyền lại như sự tôn trọng, sống có trách nhiệm, biết yêu thương, chia sẻ, sự tự tin,
sự sáng tạo, lòng ham hiểu biết…Các giá trị này được truyền lại nhằm giáo dục giúp con người sống có chuẩn mực và góp phần vào sự tiến bộ của xã hội
1.3.2 Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non
1.3.2.1 Ý nghĩa việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non
- Giúp trẻ thay đổi hành vi của mình một cách tích cực và hiệu quả
- Xây dựng cho trẻ những hành vi lành mạnh, tránh xa các tệ nạn xã hội
- Giúp trẻ nâng cao khả năng giải quyết các vấn đề trong cuộc sống xung quanh bằng phương pháp tích cực
- Nâng cao chất lượng cuộc sống cho trẻ
- Giúp trẻ mau chóng hòa nhập với môi trường xung quanh, khả năng thích nghi với môi trường mới sẽ tốt hơn
- Góp phần tạo ra một xã hội tích cực, một xã hội có văn hóa
1.3.2.2 Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non
- Về kiến thức: Trang bị cho trẻ những kiến thức, những giá trị, những
kĩ năng, thái độ phù hợp Từ đó, hình thành cho trẻ những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi tiêu cực trong các mối quan hệ, tình huống để trẻ tự tin bước vào cuộc sống, tự tin đưa ra những quyết định của mình, tự tin sống cuộc sống của mình mà không phụ thuộc vào người khác
Trang 26- Về kĩ năng: Tạo cơ hội thuận lợi cho trẻ thực hiện quyền và bổn phận của mình trong cuộc sống Bên cạnh đó, giúp trẻ hình thành và phát triển toàn diện nhân cách Xây dựng và rèn cho trẻ những kĩ năng như tư duy sáng tạo, giao tiếp, phân tích, tổ chức công việc, khả năng thích nghi với sự thay đổi
- Về giáo dục: Dạy trẻ hiểu được những phẩm chất, truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam ta từ xưa truyền lại như yêu thương, chia sẻ, tự tin, kiên trì… để trẻ học tập và noi theo
1.3.2.3 Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non
Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ là giáo dục cho trẻ phát triển một cách toàn diện cả về tâm sinh lí lẫn tình cảm, để giúp trẻ có những kiến thức, kĩ năng cơ bản cần thiết để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày Trong đó, có 8 kĩ năng quan trọng đối với trẻ mầm non như sau :
- Giao tiếp : Trẻ có kĩ năng giao tiếp với người quen, người lạ Trẻ tự tin, mạnh dạn thể hiện quan điểm, ý kiến của bản thân mình trước mọi người Trẻ có thể nói một cách mạch lạc, rõ ràng và phù hợp với từng hoàn cảnh
- Tự tin : Đây là một trong những kĩ năng đầu tiên cần được chú tâm phát triển cho trẻ Trẻ tự tin trong mọi hoàn cảnh, tự tin nói lên ý kiến của bản thân, tự tin trước đám đông
- Tìm kiếm sự hỗ trợ : Khi gặp phải những tình huống khó giải quyết trong cuộc sống hàng ngày, trẻ biết tìm kiếm dự hỗ trợ, trợ giúp từ những người xung quanh để hoàn thành công việc một cách dễ dàng và đảm bảo an toàn cho bản thân
-Tự phục vụ : Trẻ biết một số kĩ năng tự phục vụ cho cá nhân trẻ, biết bảo vệ sức khỏe và phòng tránh một số các tai nạn thông thường và một số nơi gây nguy hiểm
- Thể hiện sự cảm thông : Trẻ biết yêu thương, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với những người xung quanh Sống nhân ái, bày tỏ tình cảm với những người thân yêu qua lời nói và hành động
Trang 27- Phòng tránh xâm hại : Trẻ biết được các trường hợp nguy hiểm mà mình có thể gặp phải trong cuộc sống và cách cử lí Trẻ được học những quy tắc cần thiết để phòng tránh bị xâm hại như quy tắc 5 ngón tay, quy tắc đồ lót…
- Hợp tác : Bằng các trò chơi, câu chuyện, bài hát… giúp trẻ biết cảm thông và cùng làm việc với các bạn Trẻ làm việc nhóm một cách đoàn kết, biết lắng nghe ý kiến của mọi người và bày tỏ quan điểm của mình
- Lắng nghe tích cực : Trẻ biết lắng nghe ý kiến của mọi người và tiếp thu những ý kiến tích cực để thay đổi bản thân trở nên tốt hơn
1.3.2.4 Phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non
* Phương pháp trực quan (làm gương/làm mẫu) : Giáo viên sẽ làm mẫu
để trẻ bắt trước và làm theo Từ đó, trẻ sẽ nắm được trình tự thực hiện của các
kĩ năng mà trẻ được học
* Phương pháp dùng lời (trò chuyện, đàm thoại, giải thích) : Giáo viên
sử dụng lời nói để trò chuyện cùng trẻ, trao đổi qua lại với trẻ để nắm được mức độ hiểu bài của trẻ và giải thích cho trẻ những chỗ trẻ còn chưa hiểu bằng những từ ngữ dễ hiểu, ngắn gọn, rõ ràng
* Phương pháp thực hành (trò chơi, trải nghiệm, giải quyết tình huống, tập luyện thường xuyên) : Tổ chức cho trẻ tham gia thực hành như cho trẻ chơi các trò chơi đóng vai, vận động, xây dựng nhóm hay tạo ra các tình huống cụ thể để trẻ được tham gia xử lí tình huống
1.3.2.5 Hình thức giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non
- Thông qua tiết học: Giáo viên lồng ghép vào các tiết học như âm nhạc, tạo hình, làm quen với toán, làm quen với tác phẩm văn học để trẻ nắm được một số kĩ năng sống cơ bản cần thiết như kĩ năng giao tiếp, tư duy, lắng nghe và rèn luyện các kĩ năng đó thông qua các bài tập, nhiệm vụ được giao
- Thông qua sinh hoạt hàng ngày: Sinh hoạt hằng ngày của trẻ đa phần
là những hoạt động lặp đi lặp lại, vì vậy trẻ sẽ có cơ hội rèn luyện nhiều và
Trang 28thực hiện các công việc đó một cách dễ dàng vì đã thành nếp sinh hoạt mà chủ yếu là hình thành kĩ năng tự phục vụ Ngoài ra, trong sinh hoạt trẻ cũng
sẽ gặp những phải những vấn đề phát sinh, đây sẽ là cơ hội để trẻ hình thành những kĩ năng sống mới
- Thông qua hoạt động góc: Mỗi góc chơi sẽ giúp trẻ thực hành những
kĩ năng mà trẻ đã được học một cách phù hợp, linh hoạt và sáng tạo
- Thông qua hoạt động ngoài trời: Giáo viên tổ chức cho trẻ được tham gia vào các hoạt động ngoài trời để trẻ được trải nghiệm ở môi trường mới, thể hiện những kĩ năng đã được học khi ra môi trường bên ngoài
- Thông qua tổ chức lễ hội: Các lễ hội sẽ tạo cho trẻ không khí vui vẻ,
sự hứng thú khi tham gia Từ đó, giúp trẻ học hỏi được những kĩ năng mới để phục vụ trong cuộc sống hàng ngày của mình
1.3.2.6 Nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống
- Tương tác: Kĩ năng sống không thể hình thành qua việc nghe giảng và đọc tài liệu, nhất là đối với trẻ mầm non Muốn việc giáo dục kĩ năng sống đạt hiệu quả cần phải tích cực cho trẻ tham gia vào các hoạt động có sự tương tác giữa trẻ với giáo viên, giữa trẻ với trẻ trong quá trình giáo dục
- Trải nghiệm: Đặt trẻ vào các tình huống cụ thể để trẻ trực tiếp tham gia trải nghiệm và thực hành Từ đó, trẻ sẽ tự phản ánh tư duy suy nghĩ và phân tích các trải nghiệm Cơ hội để trẻ vận dụng kiến thức và kĩ năng mới vào các tình huống thực tế của cuộc sống
- Tiến trình: Giáo dục kĩ năng sống không thể hình thành trong ngày một ngày hai mà đòi hỏi phải có một quá trình từ nhận thức đến hình thành thái độ và sau đó là thay đổi hành vi
- Thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của giáo dục kĩ năng sống là giúp trẻ thay đổi hành vi theo hướng tích cực
Trang 29- Thời gian: Việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ cần được thực hiện ở mọi lúc mọi nơi và thực hiện càng sớm càng tốt
1.4 Vận dụng trò chơi đóng vai theo chủ để để giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
1.4.1 Khái niệm giáo dục kĩ năng sống thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
GD KNS thông qua TCĐVTCĐ được hiểu là nhiệm vụ giáo dục chuyên biệt nhằm tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm giúp cho người học ứng phó có hiệu quả với những yêu cầu, thách thức của cuộc sống hàng ngày bằng cách tạo tình huống, tạo các vấn đề trong TCĐVTCĐ, đòi hỏi trẻ thông qua việc nhập vai chơi lựa chọn và thực hành các KNS thích hợp để ứng phó với sự thay đổi và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong khi chơi
1.4.2 Bản chất của trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trẻ tái tạo lại những hành động của người lớn cũng như thái độ và các mối quan hệ giữa họ với nhau Đây là sự phản ánh độc đáo của trẻ về đời sống
xã hội của người lớn mà nổi bật hơn cả là mối quan hệ giữa người với người Khi tham gia vào trò chơi này,trẻ nhập vào các vai và cố gắng hành động phù hợp với vai mà mình đảm nhận đồng thời tự trẻ thiết lập quan hệ với các vai chơi khác trong trò chơi
1.4.3 Mục tiêu và nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trang 30hỗ trợ, kĩ năng thương lượng thỏa hiệp, kĩ năng phòng tránh các tai nạn thương tích, kĩ năng lắng nghe tích cực…
- Trẻ vận dụng các kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm đã có để tham gia vào các vai chơi, để tạo ra các mối quan hệ giữa các vai chơi cùng với các bạn
và giải quyết được những vấn đề phát sinh trong quá trình chơi Trong quá trình chơi, trẻ biết lựa chọn và thực hành các kĩ năng sống một các phù hợp với hoàn cảnh, phù hợp quy tắc để xử lí những khó khăn nảy sinh trong khi chơi cũng như trong cuộc sống hàng ngày
- Giúp trẻ tích cực chủ động trong mọi hoạt động Thể hiện sự thân thiện với mọi người xung quanh, biết hợp tác trong khi chơi cũng như mọi hoạt động khác trong cuộc sống
1.4.3.2 Nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
- Phù hợp với đặc điểm tâm lí – xã hội của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi: trong quá trình giáo dục KNS cho trẻ, không áp đặt hay đưa ra khuôn mẫu của người lớn vào trẻ Chỉ nên trang bị về kiến thức, kĩ năng và cho trẻ luyện tập vận dụng KNS theo cách của trẻ
- Gắn liền với cuộc sống của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi: những điều đơn giản, gần gũi diễn ra xung quanh cuộc sống hàng ngày của trẻ và giúp cho trải nghiệm thực hành để trẻ hứng thú, điều này giúp trẻ tái hiện cuộc sống sinh hoạt một cách sinh động, phù hợp theo kinh nghiệm sống của trẻ có được
- Các phương pháp giáo dục giá trị phù hợp: trong quá trình GD KNS thông qua TCĐVTCĐ cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp giáo dục giá trị vì KNS của trẻ luôn dựa trên những giá trị sống của từng cá nhân
1.4.4 Ý nghĩa của trò chơi ĐVTCĐ đối với việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo
Trò chơi ĐVTCĐ có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc giáo dục kĩ năng sống trẻ mẫu giáo, đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi
Trang 31- Giúp trẻ làm quen với xã hội của người lớn, học hỏi cách ứng xử và giao tiếp trong xã hội người lớn
- Trẻ hình thành cái tôi, trẻ phận biệt mình với người khác, biết đóng vai người khác và hành động tương ứng với vai mình đảm nhận
- Giúp trẻ có tình cảm với bạn bè và những người xung quanh, có tinh thần trách nhiệm, biết hy sinh ý muốn cá nhân vì lợi ích chung và cũng ở nhóm chơi của mình trẻ biết nhận xét đánh giá bạn bè và ngay cả bản thân mình
- Trẻ dần dần nắm được một số kĩ năng lao động đơn giản và có tình cảm với nghề nghiệp của họ, giúp trẻ kính trọng người lao động Chuẩn bị cho trẻ đến với lao động sau này
1.4.5 Các bước tổ chức TCĐVTCĐ để GDKNS
1.4.5.1 Chuẩn bị
- Giáo viên cung cấp cho trẻ những thông tin cần thiết, những kiến thức
và kĩ năng sống cần có trong các chủ đề chơi, chủ đề có các đặc trưng quan hệ người với người, quan hệ người với các đặc trưng nghề nghiệp, quan hệ người với đồ vật… Tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, được quan sát những hoạt động của người lớn để trẻ có thể tái tạo những hoạt động đó vào quá trình chơi theo vốn sống, kinh nghiệm riêng của trẻ
- Chuẩn bị đồ chơi và nguyên vật liệu ở các nhóm chơi,khuyến khích trẻ làm đồ dùng đố chơi phù hợp với nội dung chơi
- Giáo viên gợi ý để trẻ đề xuất chủ đề chơi và tự chia nhóm theo hứng thú cá nhân trẻ Trẻ phải tự trình bày chủ đề chơi, thuyết phục các bạn tham gia vào nhóm chơi
- Các nhóm thảo luận và thống nhất ý tưởng chơi, nội dung chơi, phân tích công vai chơi, liệt kê các đồ dùng cần thiết khi chơi Trong quá trình chơi nếu thiếu đồ chơi, trẻ phải liên hệ với nhóm khác để mượn hoặc trao đổi
1.4.5.2 Tổ chức trò chơi
Trang 32- GV chú ý để trẻ thiết lập nhiều mối quan hệ xã hội trong từng trò chơi
và giữa các trò chơi với nhau:
+ Gia đình: ông, bà, bố, mẹ, anh chị em
+ Góc khám bệnh: bác sĩ, y tá, bệnh nhân
+ Góc bán hàng: các nhân viên bán hàng, khách hàng, người giao hàng, nhân viên phục vụ ăn uống,…
+ Góc nấu ăn: đầu bếp, khách hàng, người phục vụ,…
+ Góc lớp học: thầy, cô giáo, học sinh, phụ huynh
+ GV tổ chức liên kết giữa các nhóm chơi: gia đình đưa con đi khám bệnh, sau khi khám bệnh vào cửa hàng mua thuốc và ăn trưa ở quán ăn…
- GV có thể can thiệp vào trò chơi của trẻ như một vai chơi để tạo thêm các tình huống chơi cho trẻ GV tạo các tình huống, các vấn đề để trẻ phải thích ứng và giải quyết hợp lí các tình huống đảm bảo quan hệ chơi giữa các vai chơi
- Trong quá trình chơi, GV cho trẻ luân phiên thay đổi vai chơi, nhóm chơi thoe nhu cầu
1.4.5.3 Nhận xét sau khi chơi
- GV nhận xét các góc chơi, nêu các vấn đề tiêu biểu mà trẻ cần chú ý cho lần chơi sau
Quá trình tham gia TCĐVTCĐ, trẻ hứng thú, tích cực giao tiếp để rèn luyện và phát triển kĩ năng giao tiếp ngày một hoàn thiện hơn Những tình huống, vấn đề phát sinh trong khi chơi đòi hỏi trẻ phải biết sử dụng ngôn ngữ
để thương lượng, thuyết phục bạn chơi đẻ đạt được mục đích của mình, giúp trẻ phát triển kĩ năng thương lượng thuyết phục Trong suốt quá trình chơi, các KNS phải được trẻ sử dụng hợp lí, nếu không có các KNS thì trò chơi không thể hiện được Và đặc biệt hơn nữa là “xã hội trẻ em” trong TCĐVTCĐ là môi trường thuận lợi cho các KNS của trẻ phát triển Vì vậy, TCĐVTCĐ là phương thức hữu hiệu để GD KNS cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi