1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng tổ hợp khiêu vũ thể thao cơ bản phát triển khả năng phối hợp vận động cho trẻ 4 5 tuổi tại trường mầm non xuân hòa phúc yên vĩnh phúc

74 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài “Ứng dụng tổ hợp khiêu vũ thể thao cơ bản phát triển khả năng phối hợp vận động cho trẻ 4 - 5 tuổi tại Trường Mầm non Xuân Hòa” là kết quả đã nghiên

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành: Giáo dục mầm non

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành: Giáo dục mầm non

Người hướng dẫn khóa học

ThS Đỗ Đức Hùng

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Giáo dục Mầm non, khoa Giáo dục Thể chất đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu đề tài để em có cơ hội tìm hiểu và hoàn thành khóa luận tốt nghiêp này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy Đỗ Đức Hùng, người

đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo em trong suốt quá trình nghiên cứu tài liệu để hoàn thành khóa luận

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Ứng dụng tổ hợp khiêu vũ thể thao cơ bản

phát triển khả năng phối hợp vận động cho trẻ 4 - 5 tuổi tại Trường Mầm non Xuân Hòa” là kết quả đã nghiên cứu qua các đợt kiến tập và đợt thực tập

tại trường Mầm non Xuân Hòa Trong quá trình nghiên cứu đề tài có sử dụng một số tài liệu tham khảo của các tác giả khác Tuy nhiên, đó chỉ là những tài liệu tham khảo để hoàn thành khóa luận Đề tài nghiên cứu và nội dung khóa luận tốt nghiệp là hoàn toàn trung thực không có sự trùng lặp với kết quả của

tác giả khác

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm với lời cam đoan này

Hà Nội, tháng 5 năm 2019 Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa của đề tài 3

4 Các đóng góp mới của đề tài 3

5 Giả thuyết khoa học 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục thể chất trong trường học 4

1.2 Một số khái niệm 6

1.2.1.Khái niệm giáo dục thể chất, khái niệm trẻ mầm non 6

1.2.2.Khái niệm chung về khiêu vũ thể thao 7

1.2.3.Đặc điểm và đặc trưng của từng điệu nhảy trong khiêu vũ thể thao 8

1.2.4.Giáo dục thể chất cho trẻ em mầm non 13

1.3 Đặc điểm tâm - sinh lý của trẻ em lứa tuổi mầm non 4-5 tuổi 13

1.3.1.Đặc điểm tâm lý của trẻ em lứa tuổi mầm non 4-5 tuổi 13

1.3.2.Đặc điểm sinh lý của trẻ em lứa tuổi mầm non 4-5 tuổi 17

1.4 Đặc điểm phát triển thể chất của trẻ 4 - 5 tuổi 20

1.5 Phương pháp phát triển khả năng phối hợp vận động cho trẻ 4 - 5 tuổi 24

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 27

2.2 Phương pháp nghiên cứu 27

2.2.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận 27

2.2.2.Phương pháp quan sát sư phạm 27

2.2.3.Phương pháp phỏng vấn tọa đàm 28

2.2.4.Phương pháp kiểm tra sư phạm 28

2.2.5.Phương pháp thực nghiệm sư phạm 28

Trang 7

2.2.6.Phương pháp toán học thống kê 29

2.3 Tổ chức nghiên cứu 30

2.3.1.Thời gian nghiên cứu 30

2.3.2.Địa điểm nghiên cứu 31

2.3.3.Đối tượng nghiên cứu 31

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

3.1. Thực trạng công tác giáo dục thể chất và khả năng phối hợp vận động của trẻ 4 - 5 tuổi ở trường Mầm non Xuân Hòa 32

3.1.1 Thực trạng công tác giáo dục thể chất đối với trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non Xuân Hòa 32

3.1.2.Lựa chọn các bài test nhằm đánh giá khả năng phối hợp vận động của trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non Xuân Hòa 35

3.1.3.Thực trạng khả năng phối hợp vận động của trẻ 4 - 5 tuổi trường mầm non Xuân Hòa 40

3.2 Ứng dụng, đánh giá hiệu quả của tổ hợp khiêu vũ thể thao cơ bản phát triển khả năng phối hợp vận động cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi trường mầm non Xuân Hòa 43

3.2.1.Lựa chọn tổ hợp khiêu vũ thể thao cơ bản cho trẻ 4 - 5 tuổi trường mầm non Xuân Hòa 43

3.2.2.Đánh giá hiệu quả tổ hợp khiêu vũ thể thao 46

3.2.2.1 Tổ chức thực nghiệm 46

3.2.2.2 Đánh giá hiệu quả tổ hợp khiêu vũ thể thao cho trẻ 4 - 5 tuổi trường mầm non Xuân Hòa 48

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

PHỤ LỤC 60

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Thể

Bảng

Bảng 3.1 Chương trình giờ học thể chất đối với trẻ 4 - 5 tuổi

trường mầm non Xuân Hòa 33 Bảng 3.2 Kết quả quan sát các bài tập trong giờ học giáo

dục thể chất để phát triển vận động cho trẻ 4-5 tuổi 34 Bảng 3.3 Kết quả phỏng vấn giáo viên về vấn đề liên quan

đến phát triển khả năng vận động cho trẻ ở trường mầm non Xuân Hòa (n=20)

35

Bảng 3.4 Kết quả lựa chọn các bài test đánh giá khả năng

phối hợp vận động cho trẻ 4 - 5 tuổi trường mầm non Xuân Hòa (n=20)

37

Bảng 3.5 Tiêu chí đánh giá của bài các test được sử dụng

trong thực nghiệm 39 Bảng 3.6a Kết quả kiểm tra khả năng phối hợp vận động của

trẻ 4 tuổi trường mầm non Xuân Hòa trước thực nghiệm

41

Bảng 3.6b Kết quả kiểm tra khả năng phối hợp vận động của

trẻ 5 tuổi trường mầm non Xuân Hòa trước thực nghiệm

42

Bảng 3.7 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các điệu nhảy và các

vũ hình cơ bản ứng dụng đánh giá khả năng phối hợp vận động cho trẻ 4 - 5 tuổi trường Mầm non Xuân Hòa (n=20)

44

Bảng 3.8 Bảng tiến trình thực nghiệm

47

Trang 9

Bảng 3.9a Kết quả kiểm tra khả năng phối hợp vận động của

trẻ 4 tuổi trường mầm non Xuân Hòa sau thực nghiệm

49

Bảng 3.9b Kết quả kiểm tra khả năng phối hợp vận động của

trẻ 5 tuổi trường mầm non Xuân Hòa sau thực nghiệm

50

Biểu đồ

Biểu đồ 1 Sự phát triển giá trị trung bình trước và sau thực

nghiệm của trẻ 4 tuổi (qua bài test 1) 51 Biểu đồ 2 Sự phát triển giá trị trung bình trước và sau thực

nghiệm của trẻ 5 tuổi (qua bài test 1) 52 Biểu đồ 3 Sự phát triển giá trị trung bình trước và sau thực

nghiệm của trẻ 4 tuổi (qua bài test 2) 53 Biểu đồ 4 Sự phát triển giá trị trung bình trước và sau thực

nghiệm của trẻ 5 tuổi (qua bài test 2) 54

Trang 10

và nhà nước ta không ngừng tạo ra những điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi,

để biến học thuyết phát triển con người toàn diện thành hiện thực trong đời sống xã hội [4]

Trích dẫn “Giáo dục thể chất (GDTC) là một bộ phận quan trọng của

giáo dục phát triển toàn diện Đặc biệt là GDTC ở lứa tuổi mầm non có ý nghĩa quan trọng góp phần rèn luyện sức khỏe, để giúp trẻ có khả năng thích nghi tốt với môi trường sống, hình thành ở trẻ tính cách độc lập Thái độ yêu thích tập luyện TDTT, tích cực vận động tập luyện Phát triển khả năng sáng tạo, ghi nhớ có chủ đích Rèn luyện sức nhanh, sức bền, huấn luyện khả năng phối hợp vận động các bộ phận trên cơ thể một cách khéo léo nhịp nhàng qua tập luyện và các loại hình bài tập khác nhau Từ đó góp phần giúp trẻ phát

triển cả về thể chất và tinh thần”

“Giáo dục thể chất giữ vị trí vô cùng quan trọng trong quá trình phát

triển của con người nói chung và trẻ em nói riêng Nhận thấy tầm quan trọng của GDTC, Đảng và nhà nước ta trong nhiều năm gần đây đã đặc biệt chú trọng đến việc quan tâm chăm sóc, giáo dục trẻ em nhất là trẻ em lứa tuổi mầm non, giúp trẻ phát triển một cách toàn diện cả về thể chất và tinh thần,

phát triển khả năng sáng tạo, khả năng phối hợp vận động cho trẻ” [10].

Trích dẫn “Nhảy múa từ xa xưa là một trong những bản năng của con

người Khiêu vũ là sự kết tinh của nghệ thuật tôn vinh những vẻ đẹp của con người Dựa trên bản năng đó “khiêu vũ thi đấu” đã được hình thành Khiêu vũ thi đấu được nhìn nhận như một hành động giải trí Gần đây đã được đổi tên thành DANCE SPORT và được chấp nhận hầu như trên khắp thế giới Tuy

Trang 11

2

nhiên, trong quá trình ứng dụng các tổ hợp khiêu vũ thể thao (KVTT) cơ bản cho trẻ em còn gặp nhiều vấn đề khó khăn như là thể trạng của trẻ chưa được tốt, năng lực của một số trẻ còn yếu, cơ thể của trẻ phát triển chưa ổn định, khả năng vận động, phối hợp vận động còn hạn chế, các thao tác còn chưa

khéo léo nhịp nhàng” [9].

Ngoài ra cơ sở vật chất ở trường học còn chưa đầy đủ, chưa đáp ứng được nhu cầu giáo dục và tập luyện các bài tập thể chất Chính vì vậy, cần phát triển thêm các bài tập thể chất đặc biệt là việc ứng dụng tổ hợp KVTT cơ bản cho trẻ em trong các trường mầm non ở nước ta là một trong những vấn

đề cần được Đảng và nhà nước triển khai một cách toàn diện và mạnh mẽ Nhằm tạo điều kiện giúp cho trẻ phát triển tốt khả năng phối hợp vận động và khả năng khéo léo tự tin cho trẻ

Tại trường mầm non Xuân Hòa môn KVTT chưa được đưa vào để giúp cho học sinh phát triển về vận động Tuy nhiên trong các hoạt động thi đua văn nghệ hay các cuộc thi như “bé khỏe bé tài năng”, “bé ngoan thi tài”… đều

có những tiết mục có nội dung khiêu vũ, nhảy hiện đại, múa Các nội dung này thường được các cô giáo, huấn luyện viên KVTT hướng dẫn trẻ tập luyện các động tác để trở thành một bài thi mới lạ và phong phú

Về hướng nghiên cứu khiêu vũ thể thao đã có một số đề tài: Tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương (2009), tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân (2010), tác giả Đào Thị Hường (2012), tác giả Trần Thị Thảo (2016) Tuy nhiên, các đề tài mới tập trung nghiên cứu ở đối tượng là sinh viên, học sinh Còn tại trường Mầm non Xuân Hòa thì hướng nghiên cứu KVTT chưa có ai nghiên cứu về vấn đề này

Từ cơ sở lý luận trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng tổ

hợp khiêu vũ thể thao cơ bản phát triển khả năng phối hợp vận động cho trẻ 4 - 5 tuổi trường Mầm Non Xuân Hòa”

2 Mục đích nghiên cứu

Nhằm đưa ra tổ hợp KVTT cơ bản và ứng dụng vào bài giảng giáo dục thể chất cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non Xuân Hòa Từ đó phát triển khả năng phối hợp vận động cho trẻ, tạo cho trẻ tính linh hoạt trong vận động và

xử lý tình huống

Trang 12

3

3 Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Mang tính ứng dụng cao trong GDTC

Ý nghĩa thực tiễn: Bổ sung thêm phương tiện GDTC cho trẻ tại các trường mầm non

4 Các đóng góp mới của đề tài

- Lựa chọn được tổ hợp KVTT cơ bản phát triển khả năng phối hợp vận động đối với trẻ 4 - 5 tuổi trường mầm non Xuân Hòa

- Phát triển khả năng phối hợp vận động cho trẻ 4 - 5 tuổi trường mầm non Xuân Hòa

- Tạo phương tiện, các trang thiết bị dạy học gây hứng thú cho trẻ tham gia tập luyện trong giờ vận động

5 Giả thuyết khoa học

Nếu đưa ra các tổ hợp KVTT cơ bản phù hợp với trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi, thì khả năng phối hợp vận động của trẻ được phát triển và nâng cao, tạo tiền đề phát triển vận động cho trẻ Ngoài ra, có thể tham gia giao lưu văn nghệ giữa các trường, các lớp khác nhau

Trang 13

4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục thể chất trong trường học

Trích dẫn “Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận của nền văn hóa

nhân loại Xuất phát từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, căn cứ vào điều kiện kinh tế xã hội Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những quan điểm về TDTT tương ứng với từng giai đoạn cách mạng của đất nước nhằm phục vụ nhiệm vụ chiến lược của Đảng và của Dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh, người khai sinh ra nền TDTT mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ xưa Bác Hồ kính yêu luôn coi trọng công tác TDTT và Bác đã khẳng định TDTT là một trong những phương tiện giáo dục giúp con người phát triển

toàn diện phục vụ lợi ích của giai cấp, lợi ích của xã hội” Quan điểm đó của

Người đã được Đảng và Nhà nước thực hiện xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến lên xây dựng Chủ Nghia Xã Hội (CNXH)

Trích dẫn “Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân được

coi là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng… Tập luyện TDTT là một biện pháp hiệu quả giúp tăng cường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà, đó chính là quan điểm của Đảng ta về sự phát triển sự nghiệp thể dục thể thao Việt Nam dân chủ

cộng hòa Dân cường nước thịnh Cho đến nay, Đảng và Nhà nước vẫn không

ngừng quan tâm, chỉ đạo ngành thể dục, thể thao nước nhà nỗ lực phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu quan trọng này Trong mỗi kỳ đại hội Đảng toàn quốc hoặc trong từng nhiệm kỳ, Trung ương Đảng đều ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tri về TDTT nói chung và TDTT trường học nói

riêng” [4]

“Luật Thể dục, thể thao được Quốc hội khóa XI chính thức thông qua

tại kỳ họp thứ 10 ngày 29 tháng 11 năm 2006 là văn bản pháp lý quan trọng đối với công tác quản lý thể dục, thể thao trong thời kỳ đổi mới, tạo hành lang

Trang 14

5

pháp lý cho TDTT Việt Nam phát triển đúng định hướng: vì sức khỏe và hạnh

phúc của nhân dân, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc” Trong chỉ thị

36/CT - TW ngày 24/3/1994 về công tác TDTT trong giai đoạn mới: “Phát triển TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang” Qua đó nêu lên vai trò của TDTT đối với việc nâng cao sức khỏe cho mọi người, đổi mới chương trình đào tạo nhằm nâng cao thành tích TDTT, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, chuyên gia

về TDTT nhằm nâng cao uy tín TDTT nước nhà trên quốc tế [4]

Trích dẫn “Theo quan điểm chủ trương của Đảng và Nhà nước, GDTC

là một bộ phận rất quan trọng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, mục đích nhằm đào tạo các thế hệ trẻ phát triển toàn diện, có tri thức, có đạo đức và hoàn thiện thể chất Trong các trường học, giáo dục thể chất góp phần bồi dưỡng học sinh, sinh viên có sức khỏe dồi dào, có thể chất cường tráng, có ý

chí nghị lực để kế tục sự nghiệp của Đảng và nhân dân một cách đắc lực.”

“Tư tưởng của học thuyết Mác - Lê Nin về TDTT đã được cụ thể hóa

trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính phủ và của Hồ Chủ Tịch Hồ Chủ Tịch - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam lúc sinh thời rất quan tâm đến các hoạt động TDTT, lịch sử đã chứng minh: Bác là người khai sinh, người sáng lập nền TDTT cách mạng nước ta Tư tưởng xây dựng nền TDTT của nước ta đã bao trùm lên tư tưởng của mỗi cá nhân, là nghĩa vụ của mỗi người dân yêu nước, khẳng định được vai trò của TDTT đối với đời sống xã hội, là nhu cầu khách quan của một xã hội phát triển Mục tiêu cao đẹp của TDTT là bảo vệ, tăng cường sức khỏe của bản thân, góp phần làm tăng năng

suất của công việc, làm phát triển đất nước”

“Đường lối quan điểm của Đảng đối với TDTT được thể hiện ở nhiều nghị quyết các chỉ thị trong suốt thời kỳ lãnh đạo cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân và tiến lên xây dựng CNXH, qua các thời kỳ Đại Hội Đại biểu toàn quốc của Đảng: Từng bước xây dựng nền TDTT XHCN phát triển cân bằng,

Trang 15

6

có tính chất dân tộc, khoa học và nhân dân Công tác TDTT cần coi trọng, nâng cao chất lượng GDTC trong các trường học, tổ chức vận động nhân dân

và hướng dẫn cho nhân dân rèn luyện cơ thể hàng ngày” [3]

Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đến việc giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ nhỏ, từ trẻ mầm non đến học sinh, sinh viên Từ đó Đảng và Nhà nước luôn luôn tạo điều kiện giáo dục, kinh tế và xã hội thuận lợi, để giúp cho việc phát triển toàn diện cho trẻ trong đời sống hiện nay [3]

Giáo dục toàn diện là mục tiêu luôn luôn được Đảng và nhà nước luôn quan tâm, nhằm chuẩn bị tốt về cả về tinh thần, thể chất và trí tuệ cho trẻ Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh trước hết con người phải phát triển toàn diện, tức là không chỉ phát triển về mặt trí tuệ, đạo đức mà còn phải khỏe mạnh cường tráng về mặt thể chất

“Nhiệm vụ và mục tiêu của TDTT trong trường học là nâng cao sức

khỏe, đảm bảo sự phát triển bình thường của cơ thể học sinh, phát triển các tố chất thể lực và kỹ năng vận động cơ bản của con người, hình thành thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và rèn luyện đạo đức ý chí cho người học Phát triển TDTT trường học có tầm quan trọng đặc biệt chuẩn bị nguồn năng

lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa (CNH - HĐH) đất nước”

“Mục tiêu GDTC trường học từ mẫu giáo đến đại học là góp phần đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện về nhân cách, trí tuệ và thể chất phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH” [3]

Chính vì vậy, Đảng và nhà nước luôn quan tâm đến việc phát triển thể chất cho trẻ đặc biệt và trẻ mầm non Tuy nhiên, hiện nay điều kiện giảng dạy GDTC cho trẻ mầm non ở các trường chưa đáp ứng được yêu cầu của GDTC

Vì vậy, cần nghiên cứu phân tích để tìm ra phương hướng giải quyết mục tiêu

1.2 Một số khái niệm

1.2.1 Khái niệm giáo dục thể chất, khái niệm trẻ mầm non

Trích dẫn “Giáo dục thể chất gọi tắt là thể dục, hiểu theo nghĩa rộng

của thể dục Nếu phát triển thể chất tuân theo quy luật tự nhiên, chịu sự chi phối của xã hội, thì GDTC chính là quá trình tác động vào quá trình phát triển

Trang 16

7

tự nhiên đó của con người GDTC chất là một bộ phận của nền văn hóa thể chất bao gồm các yếu tố chuẩn bị thể lực chung, chuển bị thể lực nghề nghiệp, huấn luyện thể thao và đặc biệt là điều trị phục hồi thể lực

Giáo dục thể chất là quá trình sư phạm truyền thụ, lĩnh hội các tri thức của văn hóa thể chất của thế hệ trước cho các thế hệ sau để giải quyết các nhiệm vụ GDTC” [5]

1.2.2 Khái niệm chung về khiêu vũ thể thao

Trích dẫn “Khái niệm chung về khiêu vũ trong từ điển Tiếng Việt khiêu

là nhảy, vũ là múa Khiêu vũ là nhảy múa chúng ta cũng có thể hiểu theo một

cách cụ thể hơn: khiêu vũ là nhảy múa với nhạc nhảy trong khiêu vũ được định nghĩa là những động tác cơ thể phối hợp theo nhịp nhạc

Khiêu vũ là một sinh hoạt văn hóa lành mạnh không thể thiếu,

là hình thức giải trí hấp dẫn, là cách rèn luyện cơ thể được dẻo dai, là nơi giao lưu bằng ngôn ngữ cử chỉ trong một thế giới hội nhập, là lời tỏ tình bằng cơ thể và tâm hồn

Trên thế giới không có dân tộc nào là không biết nhảy múa, bởi nhảy múa

có thể là một nghi thức tôn giáo cũng có thể là một trò giải trí để mô tả cuộc sống săn bắn hái lượm Như vậy nhảy múa ra đời cùng với lịch sử của sự xuất hiện loài người trên trái đất Qua thời gian, nhảy múa đã đúc kết, gọt giũa thành những giai điệu nhảy với những tiết tấu, âm điệu khác nhau để tạo ra những vũ điệu đẹp mắt, gây hưng phấn và có giá trị thẩm mĩ Vì thế nhảy múa được xếp vào loại hình nghệ thuật như thi ca, hội họa, âm nhạc, kiến trúc…

Ngày nay, nhảy múa còn là sự chuyển động của thân thể trình diễn với

âm nhạc để diễn đạt những thông tin và cảm xúc của con người Nhảy múa là sản phẩm năng lượng, trong quá trình phát sinh và phát triển các nghệ sĩ, nghệ nhân đã cải biên, dàn dựng tạo lập ra các điệu dân vũ đỉnh cao để trở thành quôc vũ như diệu Rumba của người CuBa, Tango của người Argentina…., mỗi điệu nhảy của từng quốc gia đã phát triển ra ngoài thế giới để trở thành môn khiêu vũ Quốc tế thứ nhất cũng là thời gian đi đến chuẩn hóa quốc tế một số điệu nhảy” [9]

Trang 17

8

Khiêu vũ thể thao

Trích dẫn từ tài liệu tham khảo Người Hà nội và khiêu vũ thể thao”:

“Dance sport là tên gọi mới của thi đấu khiêu vũ khi nói đến Dance

sport là chúng ta cần có các giải thi đấu khiêu vũ, chứ không phải chơi khiêu

vũ như các môn thể thao khác, thông thường chia làm 2 loại

- Thể thao quần chúng giành cho mọi người để vui chơi giải trí để rèn luyện, không lấy thi đấu làm trọng Trong quá trình phát triển thể thao quần chúng dần già sẽ có sự tuyển chọn hay định hình các cá nhân có khả năng để tham gia thể thao thành tích cao

- Thể thao thành tích cao là môn có giải thi đấu theo thể thức luật lệ thống nhất không phải là ở quốc gia mà ở quy mô thế giới, số lượng người tham gia là hạt nhân xuất sắc tuyển chọn từ phong trào thể thao quần chúng

Các giải chấm điểm, có phân thứ hạng từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, quốc gia, khu vực rồi đến thế giới Với khiêu vũ đây là thi đấu khiêu vũ

Dance sport Dance sport mang tính thể thao, tính nghệ thuật, khỏe mạnh và

lành mạnh hơn Hiện nay ở Việt Nam có khá nhiều người quan tâm đến KVTT, có những câu lạc bộ, những cuộc thi cho những người tham gia môn này Nói chung KVTT là một môn thể thao để luyện tập thể chất mà còn làm

đẹp về hình thể, tăng cường và phát triển các tố chất” [8]

Lịch sử phát triển của khiêu vũ thể thao

Trích dẫn từ tài liệu tham khảo “Người Hà Nội và khiêu vũ thể thao”:

“KVTT được hình thành từ đời sống, lao động và tình cảm hằng ngày

của con người Là một loại hình văn hóa, nghệ thuật được xếp hàng đầu trong các loại hình nghệ thuật Qua nghiên cứu cho thấy rằng, các loại khiêu vũ đều khơi nguồn từ khiêu vũ sơ khai, khiêu vũ thể thao cũng vậy Lịch sử phát triển của KVTT được thể hiện qua các giai đoạn phát triển như: Bắt nguồn từ khiêu

vũ công chúng - khiêu vũ dân gian - khiêu vũ cung đình - khiêu vũ hữu nghị - khiêu vũ kết hợp tiêu chuẩn Quốc tế mới cũ Tiền thân của KVTT chính là khiêu

vũ quốc tế và khiêu vũ hữu nghị” [8]

1.2.3 Đặc điểm và đặc trưng của từng điệu nhảy trong khiêu vũ thể thao

Các đặc điểm đặc trưng của từng điệu nhảy được trích dẫn từ tài liệu

tham khảo “Giáo trình khiêu vũ thể thao (2011) - Vũ Thanh Mai”

Trang 18

Chuyển động thực hiện tại chỗ, nhịp nhàng, đột phá, bước lướt

Trọng thái biểu cảm: Nhạy cảm, diệu dàng, nồng nàn, quyến rũ

Phong cách trình diễn: Tình yêu nồng nàn quyến rũ

Màu sắc trang phục: dịu, nhẹ nhàng

Chuyển động: nhịp nhàng, nhanh, linh hoạt, vươn trải

Biểu cảm: sung sướng, vui vẻ, hoạt bát

Phong cách trình diễn: vũ hội

Trang 19

Chuyển động: nhịp nhàng, mạnh mẽ theo phong cách Flamenco Di chuyển theo vòng tròn, thực hiện với khăn

Biểu cảm: trang trọng, hoành tráng

Chuyển động: nhịp nhàng, nhanh, mạnh mang tính chất swing, nhiều bước đá

Biểu cảm: sôi nổi, trêu đùa

Phong cách trình diễn: vui vẻ, nhiệt tình

Trang 20

11

Đặc điểm của 5 điệu cổ điển (Standard) [9]

1 Van chậm (slow waltz)

Trích dẫn: “Xuất phát từ Van nhanh, lúc đầu gọi là Boston, từ nước Anh sau đưa vào nước Mỹ khoảng giữa những năm 1800

Chuyển động: văng, mềm mại, mượt mà, giao động con lắc, di chuyển vòng tròn

Biểu cảm: lãng mạn, buồn

Phong cách trình diễn: tình yêu, dịu dàng, buồn rầu

Màu sắc trang phục: ấm và mềm mại

Trích dẫn: “Foxtrot xuất hiện vào những năm 20 thế kỷ trước tại nước

Mỹ Sau đó được tách ra: Slow foxtrot 32 nhịp/phút và Quikstep 50-53 nhịp/phút Điệu foxtrot mang cả tính chất đơn giản và phức tạp

Trang 21

12

Chuyển động: thẳng, tiến tới, liên tục, bước văng, mềm, mượt

Biểu cảm: lịch sự, nhã nhặn, trân trọng

Phong cách trình diễn: không gian lãng mạn hoàng hôn

Màu sắc trang phục: tùy ý

Chuyển động: nhanh, nhẹ, bay bổng, tốc độ, tiến tới

Biểu cảm: vui vẻ, sung sướng, nghịch ngợm,sắc xảo

Phong cách trình diễn: lễ hội, thành công, hài lòng

Trích dẫn: “Xuất hiện từ những năm 12, 13 của thế kỷ trước Đến năm

1830 nhà soạn nhạc Franz Lanner và Johann Strauss đã viết những bản nhạc dành riêng cho điệu nhảy này, rất nổi tiếng cho đến nay

Chuyển động: bước văng, bay, phẳng, mềm mượt, chuyển động con lắc, theo vòng tròn

Biểu cảm: tuyệt diệu, sung sướng

Phong cách trình diễn: lễ hội, hữu nghị

Màu sắc trang phục: hồng

Nhạc: 3/4

Trang 22

13

Tốc độ: 60 nhịp/phút

Phách mạnh: 1

Nâng hạ thân: không nâng chân ở phần quay vào trong.”

1.2.4 Giáo dục thể chất cho trẻ em mầm non

Trích dẫn: “Giáo dục thể chất cho trẻ mầm non là quá trình tác động vào nhiều mặt của cơ thể trẻ tổ chức cho trẻ vận động và sinh hoạt hợp lý nhằm làm cho cơ thể trẻ phát triển đều đặn, sức khỏe được tăng cường, tạo cơ sở cho trẻ phát triển toàn diện

Giáo dục thể chất cho trẻ mầm non sẽ chuẩn bị thể chất cho trẻ, nghĩa là đảm bảo những yêu cầu về các chỉ số phát triển thể chất và các kỹ năng thực hiện bài tập thể chất phù hợp với từng lứa tuổi Các chỉ số thực hiện các bài tập thể chất trong chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ như khoảng cách, số lần, độ xa, ” [11]

1.3 Đặc điểm tâm - sinh lý của trẻ em lứa tuổi mầm non 4-5 tuổi

1.3.1 Đặc điểm tâm lý của trẻ em lứa tuổi mầm non 4-5 tuổi

Trẻ thể hiện tính tự lực tự do trong hoạt động vui chơi [18].

Trong việc lựa chọn chủ đề và nội dung chơi “Nhờ việc tiếp xúc hàng ngày với thế giới đồ vật, giao lưu rộng rãi với những người xung quanh, qua các cuộc đi chơi, xem ti vi, tranh hay nghe chuyện kể, hơn nữa trước mắt trẻ

là cuộc sống muôn màu muôn vẻ, ít nhiều trẻ đã có vốn sống từ đó tạo điều kiện cho trẻ lựa chọn chủ đề chơi và phản ánh vào trò chơi những vấn đề mang tính thực tế mà trẻ quan tâm đến

Trong việc lựa chọn các bạn cùng chơi Vào tuổi mẫu giáo nhỡ, do thế giới nội tâm đã bắt đầu phong phú nên cá tính của trẻ được bộc lộ rõ nét, mỗi đứa có một cá tính khác nhau Khi chơi là phải phối hợp hành động, nhưng không phải mọi đứa trẻ đều có thể chơi được với nhau một cách hòa thuận, do

đó trẻ cần phải lựa chọn các bạn tâm đầu ý hợp để chơi với mình Chơi như vậy mới hòa thuận lâu dài Trên thực tế chúng ta thường thấy trẻ thích chơi với bạn này mà không thích chơi với bạn kia và đó là điều rất tự nhiên

Trong việc tự do tham gia các trò chơi mà mình thích và rút ra khỏi trò chơi mình đã chán Khi tự nguyện tham gia vào các trò chơi thì trẻ tự mình

Trang 23

Trong hoạt động vui chơi, trẻ mẫu giáo nhỡ đã biết thiết lập những quan hệ đa dạng và phong phú với các bạn cùng chơi Từ đó hình thành một

“xã hội trẻ em” [18]

Trích dẫn “Trong các hoạt động vui chơi đặc biệt trong trò chơi đóng

vai theo chủ đề là loại hoạt động cùng nhau đầu tiên của trẻ em Không có sự phối hợp với nhau giữa các thành viên thì không thành trò chơi Ở lứa tuổi mẫu giáo bé, sự phối hợp giữa trẻ em với nhau trong trò chơi tuy đã bắt đầu nhưng trẻ em vẫn chưa quen khiến mối quan hệ của trẻ em còn chưa đa dạng

và không chặt chẽ Lên 4-5 tuổi, việc chơi của trẻ đã tương đối thành thạo và chơi với nhau trong nhóm bạn bè đã trở thành một nhu cầu cần thiết [17]

Vào cuối tuổi mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi trẻ còn biết liên kết các trò chơi theo các chủ đề khác nhau làm cho các mối quan hệ trở nên đa dạng Trong một lớp mẫu giáo nhỡ thường một lúc có nhiều nhóm chơi khác nhau, nhưng chỉ sau một lúc trẻ nhóm này có thể sang chơi nhóm khác, chúng không chơi tùy tiện mà có những mối liên kết nhất định Cứ như thế, quan hệ của trẻ ngày càng trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn chẳng khác nào một xã hội người lớn thu nhỏ lại Do những mối quan hệ giữa trẻ em được đa dạng, phong phú

và mở rộng ra, nên sự nhập vai của trẻ cũng trở nên thành thạo hơn trẻ nhập vào vài diễn một cách trân thật nhất”

Ở tuổi mẫu giáo nhỡ, nhu cầu cơi với các bạn là rất cần thiết Trích dẫn

“Nỗi lo lắng đối với trẻ em ở lứa tuổi này không phải chỉ thiếu bánh kẹo hay

đồ chơi mà là thiếu tình bạn bè để cùng cùng chơi với nhau, điều này làm tâm trạng buồn bã tẻ nhạt Không phải ai cũng có thể thay thế bạn bè của trẻ Nếu người lớn không thấy được nhu cầu đó của trẻ để tạo điều kiện cho chúng chơi với nhau thì đó là một sai lầm của người lớn, vì ở lứa tuổi mẫu giáo - đặc

Trang 24

Vào cuối tuổi mẫu giáo, bắt đầu xuất hiện vai trò thủ lĩnh Đó là đứa trẻ được các bạn tôn sùng và vị nể nhất Hiện tượng thủ lĩnh xuất hiện trong nhóm bạn là điều làm cho người lớn phải đặc biệt quan tâm, không nên để tình trạng chỉ có một em luôn luôn làm thủ lĩnh còn những đứa trẻ khác chỉ biết phục tùng

Xã hội trẻ em dần dần hình thành những dư luận chung Thường được bắt nguồn từ những nhận xét của người lớn đối với trẻ em, cũng có thể do trẻ

em nhận xét lẫn nhau Dư luận chung ảnh hưởng khá lớn đối với sự lĩnh hội những chuẩn mực hành vi đạo đức của trẻ trong nhóm và qua đó ảnh hưởng đến nhân cách của từng đứa trẻ

Nhóm trẻ cùng chơi là một trong những cơ sở xã hội đầu tiên của trẻ

em, do đó người lớn cần tổ chức tốt hoạt động của nhóm trẻ ở lớp mẫu giáo cũng như ở gia đình, khu tập thể, xóm dân cư để tạo môi trường lành mạnh

có tác dụng giáo dục tích cực đối với trẻ” [18]

Sự phát triển của sự chú ý và ngôn ngữ

Trích dẫn “Sự phát triển chú ý: Cả hai dạng chú ý có chủ định và không

có chủ định đều phát triển mạnh ở trẻ 4 - 5 tuổi Nhiều phẩm chất chú ý có chủ định phát triển nhanh do sự phát triển của ngôn ngữ và tư duy Sức tập trung chú

ý của trẻ cao, trẻ có thể vẽ, nặn một thời gian dài Với các hoạt động tạo hình làm phát triển sự chú ý của trẻ Việc giáo dục chú ý có chủ định phụ thuộc vào việc tổ chức nhiệm vụ hoạt động cho trẻ Ví dụ giao việc mà trẻ thích sẽ làm tăng năng lực chú ý có chủ định, cho trẻ tập tìm, quan sát các chi tiết các đồ vật, tranh vẽ để rèn luyện chú ý cho trẻ về tính mục đích, tính hệ thống Mặc dù chú ý có chủ định phát triển mạnh, nhưng nhìn toàn bộ lứa tuổi thì tính ổn định chưa cao, do vậy khi giao việc cần giải thích rõ ràng, nhắc lại khi cần thiết

Trang 25

16

Sự phát triển ngôn ngữ: Ngôn ngữ của trẻ mang tính chất hoàn cảnh, tình huống nghĩa là ngôn ngữ của trẻ gắn liền với sự vật, hoàn cảnh, con người, hiện tượng đang xảy ra trước mắt trẻ Cuối 4 tuổi, ngôn ngữ của trẻ đã bắt đầu biết nối kết giữa tình huống hiện tại với quá khứ thành một văn cảnh

Số lượng vốn từ đã tăng, trẻ lĩnh hội được những cấu trúc văn phong đơn giản Qua giọng nói, ngữ điệu, ngữ âm đã thể hiện cảm xúc ngôn ngữ Tuy nhiên vẫn có tình trạng nghe nhầm, phát âm nhầm lẫn”

Sự phát triển nhận thức

Tri giác: Trích dẫn “Do tiếp xúc với nhiều đồ vật, hiện tượng, con

người độ nhạy cảm phân biệt các dấu hiệu thuộc tính bên ngoài của chúng ngày càng chính xác và đầy đủ hơn Một số quan hệ không gian và thời gian được trẻ trẻ tri giác hơn trong tầm nhìn, nghe của trẻ Khả năng quan sát của trẻ được phát triển không chỉ số lượng đồ vật mà cả các chi tiết, dấu hiệu thuộc tính, màu sắc Bắt đầu xuất hiện khả năng kiểm tra độ chính xác của tri giác bằng cách hành động thao tác lắp ráp, vặn mở phù hợp với nhiệm vụ yêu cầu Các loại tri giác nhìn, nghe, sờ mó phát triển ở độ tinh nhạy Việc

tổ chức tri giác, hướng dẫn quan sát, nhận xét của cô giáo, cha mẹ giúp trẻ

phát triển tính mục đích, kế hoạch ”

Trí nhớ: Trích dẫn “Trẻ đã biết sử dụng cơ chế liên tưởng trong trí nhớ

để nhận lại và nhớ lại các sự vật và hiện tượng Trí nhớ có ý nghĩa đã thể hiện

rõ nét khi gọi tên đồ vật, hoa quả, thức ăn Đồng thời với trí nhớ hình ảnh về

đồ vật thì âm thanh ngôn ngữ được trẻ tri giác, hiểu và sử dụng chúng như một phương tiện giao tiếp ới những người xung quanh tuy ở mức độ đơn giản Trí nhớ không chủ định của trẻ ở các dạng hoạt động phát triển khác nhau và tốc độ phát triển rất nhanh Ở độ tuổi này, các loại trí nhớ: hình ảnh, vận động, từ ngữ đều được phát triển tuy ở mức độ khác nhau nhưng đều được hình thành và tham gia tích cực trong các hoạt động vui chơi, lao động, tạo hình ở trẻ ”

Tư duy: Trích dẫn “Ở trẻ 4 - 5 tuổi các loại tư duy đều được phát triển nhưng mức độ khác nhau Tư duy trực quan hành động vẫn tiếp tục phát triển,

nhưng chất lượng khác với trẻ 3 - 4 tuổi ở chỗ trẻ bắt đầu biết suy nghĩ xem

Trang 26

Một số đặc điểm trong tư duy ở trẻ 4 - 5 tuổi:

Trích dẫn “Mức độ khái quát ngẫu nhiên giảm dần từ 4 đến 5 tuổi trong

hoạt động tư duy của trẻ Mức độ tích cực huy động vốn kinh nghiệm (liên tưởng) của trẻ tăng lên từ 4 đến 5 tuổi Sự khái quát các dấu hiệu chung giảm dần từ 4 - 5 tuổi, nhường chỗ cho các chi tiết đặc thù của các sự vật hiện tượng

Cô giáo cần tổ chức các tiết học vui chơi kích thích sự phát triển tư duy

ở trẻ, kích thích trẻ tìm tòi các dấu hiệu giống nhau, khác nhau, so sánh các đồ

vật, tranh ảnh, hoa quả, đồ chơi” [17]

1.3.2 Đặc điểm sinh lý của trẻ em lứa tuổi mầm non 4-5 tuổi

Tầm vóc cơ thể là trạng thái phát triển về hình thái, cấu trúc cơ thể bao gồm trình độ phát dục sinh trưởng, thể hình và tư thế thân người Sinh trưởng chủ yếu chỉ quá trình biến đổi của cơ thể từ nhỏ đến lớn, từ nhẹ đến nặng, từ thấp đến cao, nó phản ánh quá trình biến đổi của khối lượng cơ thể, là kết quả của phát dục Phát dục là chỉ quá trình biến đổi không ngừng của tế bào, các

cơ quan, sự hoàn thiện, dần hình thái và sự thành thục dần chức năng của cơ thể, phản ánh quá trình biến đổi phức tạp về chất lượng cơ thể con người Sinh trưởng và phát dục của cơ thể con người có mối quan hệ chặt chẽ, dựa vào nhau tồn tại, thúc đẩy nhau phát triển [20]

Năng lực cơ thể là chỉ năng lực tham gia vận động thể lực Nó bao gồm hai mặt: tố chất thể lực và năng lực hoạt động cơ bản của cơ thể Quá trình phát triển năng lực cơ thể là nhân tố quan trọng thúc đẩy hình thái, cấu trúc,

sự nhịp nhàng giữa các chức năng sinh lý của cơ thể phát triển

Năng lực thích ứng của cơ thể là chỉ năng lực thích ứng của cơ thể với môi trường bên ngoài, trong đó có cả năng lực chống bệnh tất

Trạng thái tâm lý là chỉ tình cảm, ý chí, cá tính,… của con người Trạng thái tâm lý tốt là một đảm bảo quan trọng để cơ thể khỏe mạnh

Trang 27

Đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ em dựa vào các chỉ số về hình thái và chức năng sinh học của cơ thể Chỉ số hình thái bao gồm: chiều cao, cân nặng, vòng đầu, mọc răng… Chức năng sinh học là chỉ hoạt động của các

cơ quan và hệ cơ quan của cơ thể ở trạng thái tĩnh hoặc dưới tác động của lượng vận động Một số các chỉ số như: nhịp tim, nhịp hô hấp…

Sự phát triển thể chất của trẻ mẫu giáo Đây là thời kỳ thuận lợi để trẻ lĩnh hội và rèn luyện các kỹ năng cần thiết Trẻ em ở lứa tuổi này lớn nhanh, nhưng lại cảm thấy cơ thể như gầy hơn, không còn bụ bẫm khi còn ở lứa tuổi nhà trẻ Đặc trưng của trẻ em lứa tuổi này là cơ thể của trẻ phát triển chưa ổn định và khả năng vận động còn hạn chế” [20]

Trích dẫn “giáo trình sinh lí trẻ em”

Hệ thần kinh: Trích dẫn “từ khi lọt lòng, hệ thần kinh của trẻ chưa

chuẩn bị đầy đủ để thực hiện các chức năng của mình Đối với trẻ em mầm non, hệ thần kinh đã phát triển đầy đủ và ổn định hơn so với trẻ nhà trẻ Sự trưởng thành của các tế bào thần kinh của đại não kết thúc Tuy nhiên, ở trẻ

em quá trình hưng phấn và ức chế chưa cân bằng, sự hưng phấn mạnh mẽ hơn

sự ức chế

Vì thế, khi cư xử với trẻ cần cẩn trọng, không nên để trẻ thực hiện lượng vận lớn và trong thời gian dài Trẻ từ 4 tuổi, quá trình ức chế tích cực dần dần phát triển, trẻ đã có khả năng phân tích, đánh giá, hình thành kỹ năng,

kỹ xảo vận động và phân biệt được các hệ xương xung quanh” [20]

Hệ vận động: Trích dẫn “gồm hệ xương và hệ cơ bắp Bất cứ hoạt

động nào của cơ thể được hoàn thành đều thông qua hệ vận động

Trang 28

19

Hệ xương của trẻ chưa hoàn toàn cốt hóa, thành phần hóa học xương của trẻ có chứa nhiều nước và chất hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn, nên có nhiều sụn xương, xương mềm, dễ bị cong gãy Vận động hợp lý sẽ làm cấu trúc xương của trẻ phát triển tốt như: thành xương dày lên, đường kính to ra, tăng được công năng chống đỡ áp lực, chống vẹo xương, gãy xương…

Hệ cơ của trẻ phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ mảnh, trong cơ thể tương đối nhiều nước, nên sức mạnh cơ bắp còn yếu, cơ nhanh mệt mỏi

Do đó, trẻ ở lứa tuổi này không thích nghi với sự căng thẳng lâu của cơ bắp, cần xen kẽ giữa vận động và nghỉ ngơi trong thời gian luyện tập Trẻ tham gia thường xuyên các bài tập có lượng vận động hợp lý sẽ giúp phát triển cả sức nhanh, khả năng khéo léo sức mạnh, sức bền Trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày người lớn cần chú ý chỉnh sửa tư thế đúng cho trẻ

để cột sống không bị ảnh hưởng

Khớp của trẻ có đặc điểm: ổ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn mềm yếu, dây chằng còn yếu, kém vững chắc Cho trẻ hoạt động vận động phù hợp giúp cho các khớp được vững chắc hơn” [20]

Hệ tuần hoàn: Trích dẫn “trẻ càng nhỏ mạch đập càng nhanh Chưa

hoàn thiện hệ thần kinh tim, nhịp co bóp chưa ổn định, cơ tim dễ hưng phấn

dễ mệt mỏi khi kéo dài vận động Nhưng khi thay đổi hoạt động, tim của trẻ nhanh hồi phục

Các mạch máu của trẻ rộng hơn so với người lớn, do đó áp lực của máu yếu, cần củng cố các cơ tim cũng như các thành mạch làm cho nhịp điệu co bóp của tim tốt hơn và phát triển khả năng thích ứng đột ngột

Để tăng cường công năng của tim, khi cho trẻ luyện tập, nên đa dạng hóa các bài tập, nâng dần lượng vận động và cường độ vận động cho trẻ” [20]

Hệ hô hấp: Trích dẫn “Trẻ nhỏ đường hô hấp hẹp, niêm mạc đường hô

hấp mềm mại, mao mạch phong phú Khí quản nhỏ không khí vào ít, trẻ thở nông nên khả năng trao đổi khí kém Thở nông là cho thông khí phổi chưa ổn định, tạo nên sự ứ đọng không khí ở phổi, do đó nên tiến hành thể dục ở ngoài trời nơi không khí thoáng mát

Trang 29

20

Khi vận động trẻ đòi hỏi cần lượng trao đổi khi tăng rõ rệt, điều này thúc đẩy các tế bào phổi tham gia vào vận động hê hấp tăng lên, nâng cao tính đàn hồi của thành phổi, cơ hô hấp mạnh dần lên, tăng lượng thông khí phổi và dung tích sống Bộ máy hô hấp của trẻ còn nhỏ, không chịu đựng được những vận động quá sức kéo dài liên tục, những vận động đó sẽ làm các cơ đang vận động bị thiếu oxy, tăng dần lượng vận động trong các bài tập sẽ là trẻ thích nghi dễ dàng hơn” [20]

Hệ trao đổi chất: Trích dẫn “cơ thể đang phát triển đòi hỏi liên tục cần

bổ sung thêm năng lượng tiêu hao và cung cấp thêm các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và mô Quá trình hấp thụ các chất ở trẻ em vượt cao hơn quá trình phân hủy và đốt cháy, tuổi càng nhỏ thì quá trình lớn lên và sự hình thành các tế bào và mô của trẻ diễn ra càng mạnh Khác với người lớn, ở trẻ em năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và dự trữ chất nhiều hơn hoạt động cơ bắp

Do vậy, khi trẻ em hoạt động quá mức kể cả khi dinh dưỡng đầy đủ cũng làm tiêu hao năng lượng dự trữ trong các cơ bắp và đọng lại những chất độc hại làm ảnh hưởng không tốt đến hoạt động cơ bắp Cần thay đổi các bài

tập và chọn hình thức luyện tập phù hợp với trẻ” [20]

1.4 Đặc điểm phát triển thể chất của trẻ 4 - 5 tuổi

Trích dẫn “giáo trình Sinh lí học trẻ em”

Trích dẫn “Dưới góc độ sinh lý học, vận động là sự chuyển động của cơ thể con người, trong đó có sự tham gia của hệ cơ, hệ xương với sự điều khiển của hệ thần kinh Đặc điểm đặc trung của trẻ từ khi sinh ra đến 6 tuổi là sự hoạt động vận động tích cực của chúng

Nếu trẻ không vận động, vung vẩy tay chân thì cơ, gân, khớp, sẽ kém phát triển và khó phối hợp động tác Hơn nữa, trẻ em ít hoạt động thì quá trình trao đổi chất chậm, dạ dày và ruột làm việc yếu hơn, tim và phổi kém phát triển

Vận động là một trong những nguồn cơ bản để trẻ nhỏ nhận thức thế giới xung quanh Trẻ càng nắm được nhiều động tác và hành vi phong phú thì tiếp xúc của nó với thế giới càng rộng hơn.”

Phát triển vận động của trẻ 4 tuổi [20]

Trích dẫn “Tốc độ phát triển thể lực của trẻ ở lứa tuổi này chậm hơn so với lứa tuổi trước, nhưng quá trình cốt hóa của xương lại diễn ra nhanh Khả

Trang 30

Vận động nhảy: việc thực hiện vận động nhảy đối với trẻ còn khó khăn Khả năng phối hợp vận động chưa tốt, tay chưa là yếu tố tích cực thúc đẩy sự tăng vận tốc khi nhảy Khi hạ xuống mặt đất vẫn còn nặng nề chân chưa co lại, song đã biết nhún chân lấy đà bật người lên cao, đa số trẻ rời được 2 chân khỏi mặt đất cùng một lúc Đây là vận động khó, vì nó đòi hỏi sức mạnh cơ chân, sự phối hợp chân tay toàn thân

Vận động ném, chuyền, bắt: các bài tập này đều yêu cầu khả năng phối hợp vận động giữa sức mạnh và sự khéo léo, đòi hỏi khả năng giữ thăng bằng, ước lượng bằng mắt Trẻ 4 tuổi đã biết ném xa bằng một tay, ném trúng đích nằm ngang, ném trúng đích thẳng đứng Khi ném xa, trẻ lấy đà bằng cách vung tay ra sau, rồi ném, nhưng vẫn chưa biết sử dụng lực đẩy của nửa thân trên Trẻ ném đúng hướng nhưng chưa xác định được khoảng cách cần ném, nên thường ném chưa trúng đích Trẻ 4 tuổi biết chuyền bóng và bắt bóng theo vòng tròn, hàng ngang, hàng dọc, tung, bắt và đạp bóng Bài tập này nhằm rèn luyện khả năng phả xạ và khả năng định hướng trong không gian của trẻ

Vận động bò, trườn, trèo: Khi bò trẻ đã biết phối hợp chính xác giữa tay và chân, cách đặt bước chân Trẻ có khả năng bò, trườn nhanh với các

Trang 31

22

kiểu bò bằng bàn tay và cẳng chân, bò bằng bàn tay và bàn chân, trườn sấp,

bò chiu qua cổng Ngoài ra, trẻ còn biết trèo lên xuống cầu thang, lên ghế, xác định hướng vận động”

Phát triển vận động của trẻ 5 tuổi [20]

Trích dẫn “Trong nửa năm đầu của trẻ 5 tuổi so với trẻ 4 tuổi, thì khoảng cách chất lượng thực hiện các bài tập vận động của trẻ có sự chênh lệch nhưng không đáng kể Nhưng đến nửa năm cuối, ở trẻ 5 tuổi có nhiều dấu hiệu gần giống như trẻ 6 tuổi, hệ cơ và hệ thần kinh có những thay đổi lớn Trẻ trở nên cứng cáp hơn, biết tự lực, rất hiếu động và không biết mệt mỏi, các vận động của trẻ dần dần đi đến hoàn thiện Vì vậy, sự vận động của trẻ phải được người lớn theo dõi, kiểm tra

Các quá trình tâm lý của trẻ ở lứa tuổi này được hoàn thiện, khả năng chú ý tăng, trẻ hiểu được nhiệm vụ của mình, có thể khái quát hóa một số hiện tượng và nhanh nhẹn nhận thấy những yêu cầu chính trong khi thực hiện vận động Trẻ có thể thực hiện những động tác, vận động quen thuộc bằng nhiều cách trong một thời gian dài hơn, với lượng vận động lớn hơn Các vận động của trẻ bước đầu đã đạt được mức độ chính xác, nhịp nhàng, nhịp điệu ổn định, biết phối hợp vận động của mình với bạn Trẻ có khả năng quan sát hình ảnh, động tác mẫu của giáo viên, ghi nhớ để thực hiện lại Do đó, phải tăng dần yêu cầu đối với trẻ để giúp trẻ thực hiện động tác một cách có ý thức và đạt kết quả tốt hơn Thường xuyên theo dõi, kiểm tra sự vận động của trẻ, nếu

để trẻ vận động lâu trẻ sẽ mệt, nếu để trẻ thực hiện sai sẽ rất khó sửa

Vận động đi, chạy và phát triển cảm giác thăng bằng: vận động đi đã ổn định, biết phối hợp tay chân nhịp nhàng Có phản xạ nhanh với hiệu lệnh xuất phát của vận động chạy, chạy đúng hướng, nhịp các bước chân ổn định Trẻ thích đi thăng bằng trên ghế, đi nhanh, giữ được thăng bằng toàn thân, đầu hơi cúi

Vận động nhảy: trẻ biết phối hợp vận động khi nhảy, tay đã góp phần thúc đẩy lực nhảy Khi hạ xuống mặt đất nhẹ nhàng hơn, biết co đầu gối và hơi co đầu gối

Vận động ném, chuyền, bắt: trẻ đã xác định được hướng ném đúng, biết ngắm để ném trúng Nhưng xác định khoảng cách ném còn hơi kém Biết phối hợp tay với thân người khi ném xa

Trang 32

23

Vận động bò, trườn, trèo: trẻ đã định hướng vận động chính xác, phối hợp chân, tay với thân người tránh chướng ngại vật khéo léo Tốc độ trườn, trèo nhanh hơn.”

Một số bài tập vận động cho trẻ [7]

Trích dẫn: “Bố mẹ hãy tiếp tục khuyến khích bé rèn luyện những kỹ năng vận động đã được tích lũy khi bé 3 tuổi (đi dạo, chơi lò cò, nhảy dây bằng một chân) Trẻ 4 tuổi đến 5 tuổi bố mẹ cho bé rèn luyện bằng rất nhiều trò chơi vận động, một số trò phổ biến như

Nghe và biểu diễn: Mục đích là rèn luyện các động tác của cơ bắp, bồi

dưỡng cho trẻ khả năng lý giải và mô phỏng Phương pháp: đọc từng câu ngắn và làm mẫu các động tác, khuyến khích trẻ quan sát tỉ mỉ Tiếp đó, khi

cô đọc lại từng câu, trẻ sẽ mô phỏng những động tác tương ứng

Nhảy múa không những tạo cho bé gái có cơ hội rèn luyện kỹ năng vận động, khả năng giữ thăng bằng mà còn giúp bé có một than hình đẹp

Học bơi: bơi lội giúp cơ thể bé phát triển cân đối và tăng sức dẻo dai Đây là giai đoạn bước ngoặt đánh dấu sự thay đổi ở trẻ Ở độ tuổi này,

sẽ có rất nhiều yếu tố kích thích các động tác vận động của trẻ ngày càng phát triển vượt trội hơn Mỗi ngày bố mẹ được chứng kiến sự trưởng thành của trẻ

ở khả năng độc lập ngày càng cao và sự háo hức khẳng định mình của trẻ, khi

đi dạo, trẻ sẽ thích chạy trước bố mẹ để dẫn đường

Tuy nhiên, lúc này các kỹ năng vận động của trẻ vẫn còn được thể hiện một cách tự nhiên, và ít bị chi phối bởi óc phán đoán của trẻ Chính vì vậy, bố

mẹ cần thường xuyên tập cho trẻ thói quen suy nghĩ trước khi hoạt động và khi đi ngoài đường, bố mẹ phải nắm tay dắt trẻ đi để đảm bảo an toàn cho trẻ

Sự cảnh giác là rất cần thiết đối với một đứa trẻ hiếu động, đặc biệt là ở những nơi gần nước Thậm chí dù trẻ có biết bơi, bố mẹ cũng không nên lơ là

dù chỉ là trong giây lát

Vì các kỹ năng vận động của trẻ ở giai đoạn này chưa cho phép trẻ bơi lâu

và liên tục được Hơn nữa, nếu trẻ bị rớt xuống nước, trẻ có thể vì quá sợ hãi mà quên mất các động tác bơi giúp cho mình nổi lên mặt nước Chính vì những lý

do trên, bố mẹ không bao giờ nên để trẻ một mình tại hồ bơi hay bãi biển”

Trang 33

24

1.5 Phương pháp phát triển khả năng phối hợp vận động cho trẻ 4 - 5 tuổi

Ý nghĩa của khả năng phối hợp vận động

Trích dẫn “Năng lực phối hợp là cơ sở cho việc tiếp thu nhanh chóng

và thực hiện một cách có hiệu quả các hành động vận động phức tạp Do vậy, phát triển tối các khả năng này sẽ giúp cho con người sau này có khả năng thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác, hợp lý và đẹp trong các hoạt động sống hàng ngày, trong hoạt động sản xuất, trong nhiều lĩnh vực khác nhau đặc biệt là trong các hoạt động thể thao nâng cao” [12]

Tầm quan trọng của từng yếu tố khả năng phối hợp vận động giúp cho trẻ rèn luyện thể chất đạt kết quả cao trong tập luyện các bài thể chất

Những yếu tố thành phần của khả năng phối hợp vận động đều có tầm quan trọng riêng và luôn liên hệ chặt chẽ với kết quả của các hoạt động thể chất Tuy nhiên, với từng môn thể thao thì mỗi yếu tố thành phần sẽ có tầm quan trọng riêng: một số môn như chạy, bật nhảy, kéo co giúp trẻ rèn luyện khả năng vận động sức mạnh, sức nhanh, sức bền; một số môn thể thao khác giúp trẻ rèn luyện khả năng sáng tạo, khả năng khéo léo Đặc biệt môn khiêu vũ thể thao là môn học bao gồm nhiều yếu tố khả năng phối hợp vận động có ý nghĩa đặc biệt đòi hỏi sự hòa hợp giữa các tổ hợp động tác giúp trẻ rèn luyện khả năng phối hợp vận động tốt nhất, rèn luyện sự khéo léo mềm dẻo, rèn luyện khả năng phản xạ nhạy bén, rèn luyện khả năng cảm ứng nhịp điệu âm nhạc, rèn luyện khả năng kết hợp các bộ phận trên cơ thể một cách nhịp nhàng uyển chuyển Những yếu tố phối hợp vận động không những giúp trẻ phát triển thể chất, phát triển vận động, phát triển được khả năng điều khiển từng vận động của cơ thể, nâng cao sức khỏe, khả năng thích nghi dễ dàng với thay đổi hoạt động Từ đó, góp phần giúp cho những hoạt động học tập thể thao của trẻ đạt kết quả tốt

Phương pháp phát triển khả năng phối hợp vận động cho trẻ 4-5 tuổi:

Trích dẫn “Phương pháp chính là luyện tập, phương tiện chính là các bài tập thể chất Có thể sử dụng các bài tập PTC, các môn thể thao, các trò chơi vận động đặc biệt là các động tác khiêu vũ thể thao có tác động lớn đến sự phát triển khả năng phối hợp vận động cho trẻ Trẻ biết phối hợp khéo léo các động tác tay,

Trang 34

25

vai, hông, mông, chân … với sự di chuyển linh hoạt của thân người Giúp hình thành phản xạ nhanh cho trẻ, sự cảm nhận giai điệu nhạc hay nhịp đếm một cách chính xác, phối hợp vận động một cách khéo léo nhịp nhàng

Các bài tập sử dụng làm phương tiện phát triển khả năng phối hợp vận động cần yêu cầu trẻ thực hiện chính xác và thường xuyên phải kiểm tra tính chính xác của bài tập một cách có ý thức [15]

Cần sử dụng các phương tiện tập luyện nhằm phát triển chức năng của các

cơ quan phân tích Các cơ quan phân tích là một phần của hệ thống thần kinh -

cơ, được coi là một bộ phận của thực thể sinh lý của khả năng phối hợp vận động Phương thức hoạt động của nó ảnh hưởng đến trình độ khả năng phối hợp vận động Do vậy cần sử dụng các phương tiện phụ nhằm phát triển chúng

Phải lựa chọn các phương tiện tập luyện cần phải áp dụng sao cho trước tiên chúng phải hướng vào khả năng phối hợp vận động cần phát triển

Nâng cao yêu cầu phối hợp các bài tập thể chất, nhằm đạt được hiệu quả huấn luyện cao hơn bằng cách áp dụng các biện pháp đặc biệt về phương pháp

Đa dạng hóa việc thực hiện các động tác: từng giai đoạn động tác hoặc các động tác của từng phần cơ thể thay đổi như thể có tiến hành đi bộ chạy nhảy với các động tác tay khác nhau, thực hiện động tác với nhịp điệu khác nhau, sự thực hiện động tác theo nhịp điệu âm thanh khác nhau

Thay đổi các điều kiện bên ngoài như: thực hiện động tác với các dụng

cụ có độ cao khác nhau, kích thước khác nhau, trọng lượng khác nhau, với các đối thủ khác nhau, trong phạm vi hoạt động khác nhau ở địa điểm khác nhau

Phối hợp các kỹ xảo, kỹ thuật với nhau: các kỹ xảo động tác học được phối hợp kế tiếp nhau hoặc phối hợp động tác Biện pháp này là cơ sở nắm vững các bài tập thể chất được sử dụng dưới hình thức tinh vi, ví dụ: liên kết các động tác trong thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật hoặc trong các môn bóng

Thực hiện động tác với yêu cần thời gian: ví dụ: phải thực hiện động tác trong thời gian ngắn nhất Phương pháp này giúp phát triển khả năng phản ứng và khả năng liên kiết

Trang 35

26

Thay đổi việc với yêu cầu thông tin: Việc thu nhận và xử lý thông tin

về thị giác, thính giác, xúc giác, thăng bằng và cảm giác cơ bắp có ý nghĩa đặc biệt nhằm điều khiển vận động

Việc lựa chọn và sử dụng từng phương pháp cần căn cứ vào đặc điểm của từng khả năng cần phát triển Cần thường xuyên nâng cao mức độ khó khăn và mới về phối hợp vận động của các bài tập thể chất vì chỉ có như vậy mới có thể tạo được một trình độ thích ứng cao hơn” [15]

Trang 36

27

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Nhiệm vụ 1: Thực trạng công tác giáo dục thể chất và khả năng phối hợp vận động của trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non Xuân Hòa

Nhiệm vụ 2: Ứng dụng, đánh giá hiệu quả của tổ hợp khiêu vũ thể thao

cơ bản phát triển khả năng phối hợp vận động cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi trường mầm non Xuân Hòa

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Trích dẫn: “Đây là phương pháp đọc, phân tích và tổng hợp từ các tài liệu tham khảo Là phương pháp sử dụng các tài liệu khác nhau để thu thập những thông tin lý luận cần thiết về khiêu vũ thể thao để phục vụ cho quá trình nghiên cứu khoa học Giúp cho người đọc nắm bắt và tiếp cận các vấn

đề liên quan đến đề tài nghiên cứu Qua những tài liệu, thông tin thu thập được ghi chép đầy đủ các lý luận vào đề tài nghiên cứu Từ đó hình thành giả thuyết nghiên cứu khoa học, xác định nhiệm vụ nghiên cứu và đề xuất phương án nghiên cứu nâng cao khả năng phối hợp vận động cho trẻ 4 - 5 tuổi trường mầm non Xuân Hòa” [14]

2.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm

Trích dẫn: “Là phương pháp nhận thức đối tượng qua việc sử dụng các giác quan, các phương tiện kỹ thuật để ghi nhận thu thập những số liệu cụ thể trong quá trình tập luyện thể chất của trẻ, ghi lại trực tiếp những bài tập thể chất và quá trình lên lớp của giáo viên giúp phát triển khả năng vận động cho trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non Xuân Hòa diễn ra như thế nào Sau đó kiểm tra kết quả quan sát Đề tài sử dụng phương pháp này để tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo dõi trực tiếp quá trình lên lớp giảng dạy của giáo viên sử dụng các bài tập vận động nhằm nâng cao khả năng phối hợp vận động cho trẻ 4 - 5 tuổi trường mầm non Xuân Hòa” [14]

Trang 37

28

2.2.3 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm

Trích dẫn: “Là phương pháp sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu thể dục thể thao Chúng tôi sử dụng hình thức phỏng vấn bằng phiếu hỏi để thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu trong đề tài này, góp phần lựa chọn các tổ hợp khiêu vũ thể thao một cách tin cậy và có thể đem lại hiệu quả cao Tiến hành phỏng vấn trực tiếp các giáo viên giảng dạy ở trường mầm non Xuân Hòa Kết quả thu được sẽ để đánh giá khả năng phối hợp vận động của trẻ 4 -5 tuổi ở trường mầm non Xuân Hòa” [14]

2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Trích dẫn: “Phương pháp này nhằm mục đích kiểm tra, xác định, đánh giá năng lực phối hợp vận động của trẻ 4 - 5 tuổi trường mầm non Xuân Hòa một cách chính xác và khách quan qua các bài test kiểm tra Trên cơ sở đó có những nhận xét và việc phân nhóm trong quá trình thực nghiệm cũng như nhận xét kiểm tra về hiệu quả của bài tập được lựa chọn nhằm nâng cao khả năng phối hợp vận động trong quá trình nghiên cứu” Để xác đinh được khả năng phối hợp vận động cho trẻ 4 - 5 tuổi trường mầm non Xuân Hòa chúng tôi tiến hành kiểm tra các năng lực qua bài test

+ Test khả năng phối vợp vận động của tay, chân, thân người với nhịp

hô của giáo viên Mục đích của bài tập là tăng khả năng khéo léo của các bộ phận, kết hợp các động tác với nhịp hô

+ Test khả năng thay đổi các vận động theo nhịp điệu Mục đích rèn luyện khả năng nghe và phản ứng của cơ thể khi chuyển sang cường độ vận động nhanh hoặc chậm theo tần số nhạc

2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Là phương pháp sử dụng các bài tập thể chất, cụ thể là một số tổ hợp khiêu vũ thể thao để thực nghiệm đối với trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non Xuân Hòa Để xách định hiệu quả lựa chọn tổ hợp KVTT nhằm nâng cao khả năng phối hợp vận động cho trẻ 4 - 5 tuổi trường Mầm non Xuân Hòa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đối với trẻ em trường Mầm non Xuân Hòa Trong đó trẻ 4 tuổi gồm 20 trẻ nam, 20 trẻ nữ chia đều nhóm thực nghiệm và nhóm đối

Ngày đăng: 01/04/2021, 08:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm (1995), Giáo dục học mầm non tập 1, NXB ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non tập 1
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: NXB ĐHSPHN
Năm: 1995
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Chương trình giáo dục mầm non, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục mầm non
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2009
3. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch (2016), Giáo trình đường lối thể dục thể thao của Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Đại học quốc gia TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đường lối thể dục thể thao của Đảng cộng sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia TPHCM
Năm: 2016
4. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001), văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nhà Xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: nhà Xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2001
5. Vũ Đào Hùng, Nguyễn Mẫu Loan (1997), Lí luận và phương pháp giáo dục thể chất, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và phương pháp giáo dục thể chất
Tác giả: Vũ Đào Hùng, Nguyễn Mẫu Loan
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1997
6. Vũ Đào Hùng (1998), Phương pháp nghiên cứu khoa học - TDTT, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học - TDTT
Tác giả: Vũ Đào Hùng
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1998
7. Trần Đồng Lâm (1980), Trò chơi vận động mẫu giáo, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi vận động mẫu giáo
Tác giả: Trần Đồng Lâm
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
Năm: 1980
8. Đặng Xuân Lĩnh (2010), Người Hà nội và khiêu vũ thể thao, NXBHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Hà nội và khiêu vũ thể thao
Tác giả: Đặng Xuân Lĩnh
Nhà XB: NXBHN
Năm: 2010
9. Vũ Thanh Mai và tập thể tác giả (2011), giáo trình khiêu vũ thể thao, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình khiêu vũ thể thao
Tác giả: Vũ Thanh Mai và tập thể tác giả
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
Năm: 2011
10. Hà Oanh, Trần Thành (2012), Khiêu vũ - những điều cần biết, NXB Văn hóa thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khiêu vũ - những điều cần biết
Tác giả: Hà Oanh, Trần Thành
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin Hà Nội
Năm: 2012
11. Đặng Hồng Phương (2008), Giáo trình nghiên cứu lý luận và Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ em lứa tuổi Mầm non. NXB ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nghiên cứu lý luận và Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ em lứa tuổi Mầm non
Tác giả: Đặng Hồng Phương
Nhà XB: NXB ĐHSPHN
Năm: 2008
12. Vũ Đức Thu, Nguyễn Xuân Sinh, Lưu Quang Hiệp, Trương Anh Tuấn, (1995), Lí luận phương pháp giáo dục thể chất, NXB GDHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận phương pháp giáo dục thể chất
Tác giả: Vũ Đức Thu, Nguyễn Xuân Sinh, Lưu Quang Hiệp, Trương Anh Tuấn
Nhà XB: NXB GDHN
Năm: 1995
13. Nguyễn Văn Sơn, Giao Thị Kim Đông, Nguyễn Thị Hùng, (2013), Giáo trình toán Thống kê trong TDTT, NXB Thông tin và truyền thông Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình toán Thống kê trong TDTT
Tác giả: Nguyễn Văn Sơn, Giao Thị Kim Đông, Nguyễn Thị Hùng
Nhà XB: NXB Thông tin và truyền thông Hà Nội
Năm: 2013
14. Vũ Đức Thu, Vũ Thị Thanh Bình (2007), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất, NXB ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất
Tác giả: Vũ Đức Thu, Vũ Thị Thanh Bình
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 2007
15. Trần Thị Ngọc Trâm, Lê Thu Hương, Lê Ánh Tuyết, (2010), Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non mẫu giáo nhỡ, NXB GDVN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non mẫu giáo nhỡ
Tác giả: Trần Thị Ngọc Trâm, Lê Thu Hương, Lê Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB GDVN
Năm: 2010
16. Đồng Văn Triệu (2000), Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất trong trường học, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất trong trường học
Tác giả: Đồng Văn Triệu
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
Năm: 2000
17. Nguyễn Ánh Tuyết (2006), Tâm lí học trẻ en mầm non (Từ lọt lòng đến 6 tuổi), NXB ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trẻ en mầm non (Từ lọt lòng đến 6 tuổi)
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB ĐHSPHN
Năm: 2006
18. Nguyễn Ánh Tuyết (2008), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB ĐHSPHN
Năm: 2008
19. Nguyễn Đức Văn (2000), Phương pháp thống kê trong TDTT, NXBTDTT 20. Lê Thanh Vân (2011), Giáo trình sinh lí học trẻ em, NXB ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê trong TDTT", NXBTDTT 20. Lê Thanh Vân (2011), "Giáo trình sinh lí học trẻ em
Tác giả: Nguyễn Đức Văn (2000), Phương pháp thống kê trong TDTT, NXBTDTT 20. Lê Thanh Vân
Nhà XB: NXBTDTT 20. Lê Thanh Vân (2011)
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w