(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên(Luận văn thạc sĩ file word) Nghiên cứu giải pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá Magma Axit để làm giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu kết quả trình bày trong luận văn này là đúng sựthật, có nguồn gốc rõ ràng, và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tác giả
Nguyễn Huy Vượng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành, là thành quả của sự cố gắng, nỗ lực hết mình và sự giúp đỡ tậntình của các thầy cô trong bộ môn Địa kỹ thuật trường Đại học Thủy Lợi Hà Nội, đặc biệtdưới sự hướng dẫn khoa học của thầy PGS.TS Phạm Hữu Sy
Tác giả xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn, đã tận tâm hướng dẫn khoahọc suốt quá trình từ khi lựa chọn đề tài, xây dựng đề cương đến khi hoàn thành luận văn.Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong bộ môn Địa kỹ thuật, khoa Công trình đãgiúp đỡ và tạo điều kiện tác giả hoàn thành luận văn này Xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp tại phòng Địa kỹ thuât - Viện Thủy công đã cung cấp những số liệu cầnthiết và tạo điều kiện thuận lợi để tác giả thí nghiệmtrong phòng và tác nghiệp tại hiện trường Tác giả xin trân trọng cảm ơn sự cho phép sử dụng số liệu từ đề tài cấp Nhà nước
mã số TN3/T30, thuộc chương trình Tây Nguyên 3 của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Hà Nội, ngày 3 tháng 10 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Huy Vượng
Trang 3MỤC LỤC
LỜI
CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC HÌNH VẼ 6
DANH MỤC BẢNG BIỂU 8
1 Tính cấp thiết của đề tài 9
2.Mục đích của đề tài 11
3.Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 11
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN 13
1.1Những kết quả nghiên cứu về trương nở của đất trên thế giới 13
1.1.1Ảnh hưởng của khoáng vật sét 14
1.1.2Ảnh hưởng của cấu trúc của đất 16
1.1.3Ảnh hưởng của độ ẩm ban đầu của đất 16
1.1.4Ảnh hưởng của độ chặt ban đầu của đất 17
1.1.5Ảnh hưởng của hàm lượng hạt sét 18
1.1.6Ảnh hưởng của môi trường nước 19
1.1.7Ảnh hưởng của sự thay đổi độ ẩm theo chu kỳ 19
1.1.8Phân loại đất trương nở 20
1.1.9Các giải pháp xử lý đất trương nở 21
1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng đất loại sét có tính trương nở vào công trình đất đắp ở Việt Nam 23
1.2.1Một số nghiên cứu cơ bản về các đặc tính trương nở tan rã của đất đắp 23
1.2.2Các nghiên cứu về gia cố đất bằng vôi 26
1.2.3Ứng xử với đất trương nở khi sử dụng làm vật liệu đắp đập 27
Kết luận chương 1 28
CHƯƠNG 2: TÀI NGUYÊN ĐẤT PHONG HÓA TỪ ĐÁ MAGMA AXIT,CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA GIẢI PHÁP CẢI TẠO TÍNH TRƯỞNG NỞ CỦA CHÚNG BẰNG PHƯƠNG
PHÁP TRỘN VÔI
29
Trang 42.1Đặc điểm phân bố của vỏ phong hóa magma trên địa bàn Tây Nguyên 29
2.1.1Xâm nhập Proterozoi 29
2.1.2Các thành tạo xâm nhập Paleozoi sớm – giữa (PZ 1-2) 31
2.1.3Các thành tạo xâm nhập Paleozoi muộn (γPZ 3) 31
2.1.4Xâm nhập Mezozoi sớm (MZ 1) 34
2.1.5Các thành tạo xâm nhập Mezozoi muộn – Kainozoi (MZ 3 – KZ) 35
2.1.6Mặt cắt đặc trưng của vỏ phong hóa trên đá magma axit 36
2.1.7Thành phần vật chất của vỏ phong hóa trên đá magma axit 37
2.2Cơ sở lý thuyết của giải pháp cải tạo tính trương nở của đất bằng vôi 38
2.1.1 Cấu trúc mạng tinh thể của một số khoáng vật sét 38
2.1.2 Các đặc trưng cơ lý của mẫu chế bị 41
2.1.3 Ứng xử của vôi trong môi trường đất – nước khi tiếp xúc 44
2.2.2 Một số tính chất cơ lý của hỗn hợp vôi – đất qua một số công trình ở nước ngoài 45
Kết luận chương 2 48
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU CẢI TẠO TÍNH TRƯƠNG NỞ CỦA ĐẤTPHONG HÓA Ở TÂY NGUYÊN BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRỘN VÔI 49
3.1Các chỉ tiêu và phương pháp thí nghiệm 49
3.2Thiết kế thí nghiệm 51
3.3Quy trình thí nghiệm 52
3.4Loại đất, vôi thí nghiệm 54
3.5Kết quả nghiên cứu 56
3.5.1Tính đầm nén của hỗn hơp vật liệu đất –vôi 56
3.5.2Xác định tỷ lệ phối trộn tối ưu 59
3.5.3 Ảnh hưởng của vôi đến tính tan rã của đất 66
3.5.4 Ảnh hưởng của vôi đến sức kháng cắt của đất 71
3.5 5 Ảnh hưởng của vôi đến tính thấm của đất 78
Kết luận chương 3 81
CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH THI CÔNG 83
4.1Một số yêu cầu với vật liệu đầu vào 83
4.1.1Đối với đất 83
4.1.2Đối với vôi 84
4.1.3Đối với nước 85
Trang 54.2 Quy trình thi công 85
4.2.1Công tác chuẩn bị 85
4.2.2Các bước thi công 86
4.3Quy trình kiểm tra và nghiệm thu 87
4.3.1Trước khi công trình được thi công 87
4.3.2 Trong quá trình thi công 87
4.3.3Nghiệm thu lớp đất đắp sau khi thi công 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
1 Những kết quả đạt được 90
2 Những tồn tại và hạn chế 90
3 Kiến nghị về hướng nghiên cứu tiếp theo 91
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1 Tính trương nở và tan rã của đất đắp gây xói lở thượng lưu đập hồ Ea M’Ró 10
Hình 2 Sạt lở mái thượng lưu đập hồ Dak M’Hang, và thấm ở hồ Suối Đá 10
Hình 3 Sụt lún và lầy hóa mặt đập (hồ Cư Króa 2) 10
Hình 1.2 Quan hệ giữa độ ẩm trương nở của đất sét lấy từ mỏ Neliđov và độ ẩm ứng với giới hạn dẻo của đất
17 Hình 1.3 Sự thay đổi độ trương nởtự do (đường liền) và áp lực trương nở (đường đứt) với dung trọng khô (c) của đất
18 Hình 1.4 Quan hệ giữa hàm lượng sét và độ trương nở 19
Hình 2.1 Mặt cắt điển hình của vỏ phong hóa trên đá magma axit 37
Hình 2.2 Sơ đồ phân bố các lớp ở mạng tinh thể khoáng vật sét 38
Hình 2.2 Sự thay đổi của độ ẩm giới hạn chảy khi trộn đất với vôi 46
Hình 2.3 Sự thay đổi của độ ẩm giới hạn dẻo khi trộn đất với vôi 46
Hình 2.4 Sự thay đổi của độ trương nở khi hàm lượng vôi thay đổi 47
Hình 2.5 Sự thay đổi của áp lực trương nở khi hàm lượng vôi thay đổi 47
Hình 3.1 Chế bị mẫu và thí nghiệm trương nở 52
Hình 3.2 Vị trí của hồ Sen trên nền bản đồ địa chất 54
Hình 3.3 Biểu đồ tổng hợp công tác xác định độ chặt tốt nhất và đổ ẩm tối ưu 56
Hình 3.4 Sự thay đổi tính dẻo của đất theo hàm lượng vôi 58
Hình 3.5 Quan hệ giữa độ trương nở, áp lực trương nở và hàm lượng vôi tại các ngày tuổi 62
Hình 3.6 Ảnh hưởng của thời gian đến độ trương nở, áp lực trương nở ở các hàm lượng vôi khác nhau 64
Hình 3.7 Ảnh hưởng của độ chặt đến tính trương nở và áp lực trương nở của hỗn hợp vật liệu 65
Trang 7Hình 3.8 Quan hệ giữa sức kháng cắt của đất và hàm lượng vôi trong điều kiện bão hòa và chế bị 73
Trang 8Hình 3.9 Sự gia tăng sức kháng cắt của hỗn hợp đất – vôi theo thời gian trong điều kiện bão hòa và chế bị ở các mức đầm chặt khác nhau
76
Hình 3.10 Tương quan giữa hệ số thấm và hàm lượng vôi 80Hình 3.11 Tương quan giữa hệ số thấm và mức độ đầm chặt 80
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Hoạt tính của một số khoáng vật 15
Bảng 1.2 Hoạt tính của một số khoáng vật trong đất có nguồn gốc biển 15
Bảng 1.3 Phân loại đất trương nở theo USBR 20
Bảng 1.4 Phân loại đất trương nở theoСНпП 2-05-08-85 21
Bảng 2.1 Thành phần khoáng hóa của vỏ phong hóa trên đá magma axit khu vực Tây Nguyên 37 Bảng 2.2 Chỉ tiêu cơ lý của đất đắp có nguồn gốc sườn tích (dQ) từ đá magma axit 42
Bảng 2.3 Chỉ tiêu cơ lý của đất đắp có nguồn gốc tàn tích (eQ) từ đá magma axit 43
Bảng 2.4 Kết quả thí nghiệm một số chỉ tiêu vật lý của đất với các hàm lượng vôi khác nhau 46
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu và tiêu chuẩn áp dụng 54
Bảng 3.2 Tổng hợp các chỉ tiêu vật lý của mẫu đất 55
Bảng 3.3 Thành phần hóa học của vôi 55
Bảng 3.4 So sánh chỉ tiêu đầm nén trước và sau khi trộn vôi 57
Bảng 3.5 So sánh tính dẻo của đất trước và sau khi trộn vôi Error! Bookmark not defined. Bảng 3.7 So sánh chỉ tiêu tan rã của đất trước và sau khi trộn vôi 66
Bảng 3.8 So sánh sức kháng cắt (kG/cm2) của đất trước và sau khi trộn vôi 72
Bảng 3.9 So sánh hệ số thấm của đất trước và sau khi trộn vôi 79
Bảng 4.1 Phân loại vôi theo hàm lượng (CaO + MgO) và độ mịn 84
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tây Nguyên hiện có 1129 hồ chứa vừa và nhỏ, trong đó có 287 hồ phân bố trên nền là vỏ phong hóa của đá magma axit với công trình đầu mối chủ yếu là đập đất Hiện nay rất nhiều công trình đã bị xuống cấp nghiêm trọng mà nguyên nhân ít nhiều có liên quan đến các tính chất đặc biệt (trương nở, tan rã) của đất đắp hoặc đất nền Tính trương nở của đất có thể làm xói hỏng các cấu kiện được xây dựng trên mặt từ loại đất này như tấm lát mái đập, bờ kênh, mái tràn Sự trương nở của đất cũng có thể làm mất ổn định mái đậpgây ra trượt Trương nở và co ngót của đất có thể làm phát triển các khe nứt trong thân đập gây ra hiện tượng thấm nếu không xử lý kịp thời có thể gây ra vỡ đập
Trương nở, co ngót và tan rã là những tính chất đặc biệt của đất mà thường đặc trưng chođất có nguồn gốc phong hóa Khác với đất trầm tích được hình thành do lắng đọng trong nước, đất phong hóa được hình thành trên các vùng đồi núi do quá trình biến đổi vật lý, hóa học làm thay đổi thành phần, tính chất Nói cách khác, đất phong hóa không phảihình thành trong môi trường nước,vì vậy khi gặp nước thường ít nhiều có tính trương nở,
co ngót và tan rã Đất phong hóa từ đá magma axit cũng nằm trong tình trạng chung đó.Tây Nguyên là vùng cao nguyên rộng lớn, bề mặt được phủ bởi vỏ phong hóa của các thành tạo trầm tích lục nguyên, bazan, các đá magma axit và đá biến chất Như đã nói ở trên, trong phạm vi vùng này có đến 287 hồ chứa vừa và nhỏ xây dựng trên nền vỏ phong hóa của đá magma axit Mặc dù đất phong hóa từ đá magma axit có các tính chất bất lợi như vậy nhưng việc xây dựng hồ chứa để phục vụ cho Thủy lợi, Thủy điện và dân sinh trong vùng là không thể không làm Bởi vậy vấn đề chỉ còn là nghiên cứu khắc phục các tính chất bất lợi của chúng để xây dựng Mặc dù nghiên cứu về tính chất trương nở của đất là không mới, trước đây khi xây dựng công trình chúng cũng đã được nghiên cứu nhưng sự tàn phá do các tính chất bất lợi này vẫn cứ xảy ra Một số hình ảnh làm ví
dụ được trình bày dưới đây đã minh chứng điều đó Bởi vậy đề tài “Nghiên cứu giải
pháp sử dụng vôi trộn với đất phong hóa từ đá magma axit để làm
Trang 11giảm tính trương nở của đất phục vụ công tác xây dựng và nâng cấp, sửa chữa hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn Tây Nguyên”là rất cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn
cao
Một số hình ảnh xuống cấp của hồ chứa do các tính chất đặc biệt của đất đắp gây ra
Hình 1 Tính trương nở và tan rã của đất đắp gây xói lở thượng lưu đập hồ Ea M’Ró
Hình 2 Sạt lở mái thượng lưu đập hồ Dak M’Hang, và thấm ở hồ Suối Đá
Hình 3 Sụt lún và lầy hóa mặt đập (hồ Cư Króa 2)
Trang 122 Mục đích của đề tài.
- Nghiên cứu đưa ra được tỷ lệ pha trộn hợp lý giữa vôi với đất phong hóa từ đámagma axit để hỗn hợp vật liệu có độ trương nở nằm trong giới hạn cho phép
- Nghiên cứu đưa ra được quy trình công nghệ thi công đắp đập khi trộn đất với vôi
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu.
a) Cách tiếp cận:
+ Tiếp cận công nghệ mới của nước ngoài qua các tài liệu sách vở, qua kinh nghiệm cáccông trình tương tự đã làm ở Việt Nam
+ Ứng dụng và thí nghiệm cho các công trình cụ thể
b) Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu lý thuyết:
+ Nghiên cứu bản chất của quá trình phong hóa hóa học đá magmaaxit , thành phần khoáng vật của sản phẩm phong hóa từ đá magma axit
+ Nghiên cứu bản chất của quá trình trương nở của đất phong hóa từ đá magma axit+ Nghiên cứu bản chất của quá trình hóa lý xảy ra giữa vôi, nước và thành phần khoáng hóa của đất
- Nghiên cứu thực nghiệm:
+ Nghiên cứu các đặc tính cơ lý của vật liệu đất đắp có nguồn gốc phong hóa từ đámagma axit trên địa bàn Tây Nguyên
+ Nghiên cứu xác định tương quan thực nghiệm giữa độ trương nở của đất với tỷ lệ phatrộn phụ gia vôi
+ Nghiên cứu xác định ngưỡng tối đa của phụ gia vôi để đạt được độ trương nở chophép cho từng loại đất phong hóa từ đá magma axit ứng với từng điều kiện ứng dụng
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là đất phong hóa từ đá magma axít Phạm vi nghiên cứu giới hạn là mỏ vật liệu của hồ Sen thuộc huyện M’Đrak tỉnh Đắk Lắk Luận văn nằm trong
khuôn khổ của đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng
lực hồ chứa vừa và nhỏ đáp ứng nhu cầu cấp nước cho sản xuất, sinh hoạt và phát triển bền vững tài nguyên nước vùng Tây Nguyên”.
Trang 14CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN
1.1 Những kết quả nghiên cứu về trương nở của đất trên thế giới
Trước khi nghiên cứu đặc tính trương nở của đất cần thống nhất một số thuật ngữ liên quan sau đây Trương nở là sự tăng thể tích của đất khi đất bị làm ướt nước Để đánh giá mức độ trương nở người ta dùng khái niệm “độ trương nở thể tích” và hai khai niệm liên quanlà “độ ẩm trương nở” và “áp lực trương nở” Độ trương nở thể tích của đất là mức độ tăng thể tích của đất khi bị làm ướt nước; về trị số, nó là tỷ số giữa lượng tăngthể tích do trương nở và thể tích ban đầu của đất, ký hiệu là D Tr.n, biểu thị bằng % thể tích; độ ẩm trương nở là độ ẩm của đất tương ứng với độ trương nở lớn nhất, ký hiệu là
WTr.n, biểu thị bằng % khối lượng Áp lực trương nở của đất là áp lực phát sinh trong đất
do trương nở bị kìm hãm hoàn toàn bởi tải trọng phản áp vừa đủ làm cho đất không có biến dạng nở, ký hiệu là PTr.n, biểu thị bằng kG/cm2
Trương nở là đặc tính bất lợi của đất trong xây dựng, có thể gây nguy hiểm cho công trình, vì vậy được quan tâm nghiên cứu nhiều Trần Thị Thanh (1998) [7] đã sưu tầm
và giới thiệu kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Nga và các nước Cộng hòathuộc Liên Xô trước đây Đáng chú ý là các tài liệu nghiên cứu đã được công bố của các tác giả яхирeв H.П và MливцицвиллиO.M (1971), Kpacильнков K.Г và СкоблинскаяН Н (1972, 1974) ,СорганЕ A (1974), Ϲергеев K М và các cộng sự (1971), ХархутыН Я và ВаϲиљеваЮ М(1960), PoгаткицойЖ М 1968,
КорчутыеваА С và БорисовойЗ Л (1971) Bên cạnh đó Trần Thị Thanh (1998) [7] cũng giới một số công trình nghiên cứu đã được công bố các nhà khoa học phương Tây như Roy Whitlow (1983, 1989), Joseph E Bowles (1979, 1984), Hsai-Yang Pang(1991), và D.G, Fredlund, H Rahardjo (1993) Khi tổng hợp kết quả nghiên cứu củacác nhà khoa học người Trung Quốc Trần Thị Thanh (1998) [7] đã trích dẫn một số kết quả nghiên cứu đã được công bố của các tác giả: Wan Chuan, Lui chu Te, Tao chian Sheng (1994) Các nghiên cứu về đất trương nở của các nhà khoa học tập trungvào các hướng sau đây
Trang 151.1.1 Ảnh hưởng của khoáng vật sét:
Sự trương nở của đất có liên quan đến sự thay đổi chiều dày các lớp nước liên kết được hình thành xung quanh các hạt keo và sét trong quá trình thủy hóa, do đó mức độ trương nở phụ thuộc đáng kể vào hàm lượng và loại khoáng vật sét
ОсиповВ(1979) đã chia khoáng vật sét thành hai nhóm theo khả năng thay đổi khoảng cách giữa các lớp tinh thể:
- Nhóm khoáng vật sét có hoạt tính yếu,bao gồm kaolinite, pirophilite, muscovite,biotite, hydromica
.- Nhóm khoáng vật sét có hoạt tính mạnh như montmorillonite
Theo Lomtadze (1978) [17] dấu hiệu đặc trưng của các khoáng vật thuộc nhóm
montmorillonite là lượng nước trong thành phần của chúng thay đổi mạnh theo độ ẩm môi trường xung quanh, đồng thời nước có thể tách ra khỏi thành phần khoáng vật để đi vào không khí nêú như độ ẩm không khí thấp và ngược lại, có thể hấp thụ nước của không khí ẩm Các khoáng vật thuộc nhóm montmorillonite hầu như hoàn toàn được thành tạo trong điều kiện ngoại sinh, phần lớn là quá trình phong hóa của các đá magma trung tính trong điều kiện môi trường pH = 7÷8,5, ở điều kiện khí hậu khô và nửa khô, ôn hòa ấm áp
Trong nhữngnăm trước đây, các tác giả như Roy Whitlow (1983, 1989), Joseph E.Bowles (1979, 1984) đã phát hiện ra rằng trong điều kiện biển mica (muscovite vàxerisite) bị phân hủy tạo ra một nhóm khoáng vật tương tự nhau về cấu trúc gọi làillite Liên kết cấu trúc của illte kém ổn định hơn so với kaolinite, nên hoạt tính củaillite lớn hơn kaolinite
Joseph E Bowles dùng chỉ số hoạt tính của sét, xác định theo công thức (1-1) để sosánh hoạt tính của kaolinite, illite và montmorillonite (bảng 1.1)
Chỉ số dẻo
Hàm lượng hạt sét
Trang 16Trong đó, hàm lượng hạt sét được tính cho d < 0,002mm.
Bảng 1.1 Hoạt tính của một số khoáng vật
Khả năng trương nở của sét montmorillonite rất cao Đất chứa tỉ lệ illite đáng kể, đặc biệt khi có nguồn gốc biển, có đặc tính trương nở cao trong khi đất kaolinite kém nhạy cảm hơn
Bảng 1.2 Hoạt tính của một số khoáng vật trong đất có nguồn gốc biển
Các kết quả nghiên cứu trên là cơ sở để dựa vào thành phần khoáng vật sét có thể phán đoán được tính chất trương nở của đất có chứa chúng Thí dụ đất có chứa nhiều
montmorillonite sẽ trương nở nhiều hơn đất chứa khoáng vật illite và kaolinite Tuy nhiên ngoài yếu tố thành phần khoáng vật sét, đặc điểm trương nở của đất loại sét còn phụ thuộc vào cấu trúc, trạng thái của đất và môi trường nước tác dụng với đất
Trang 171.1.2 Ảnh hưởng của cấu trúc của đất.
Về ảnh hưởng của cấu trúc đến tính trương nở của đất, Trần Thị Thanh (1998) [7] đãtổng hợp các kết quả nghiên cứu của Oсипов В Các kết quả nghiên cứu đó đã chỉ rarằng các mẫu đất nguyên dạng với cấu trúc tự nhiên trương nở nhỏ hơn so với mẫu đất
có kết cấu phá hủy chế bị lại Khi phá hủy cấu trúc tự nhiên, trị số trương nở của đấtphụ thuộc vào thành phần trạng thái của chúng và môi trương bên ngoài
Tính quy luật về sự trương nở của đất đối với độ ẩm ban đầu khác nhau theo thời gian được nghiên cứu bởi Holtz, W G và Gibbs, H J.,Xapхуты Н Я và ВасилЬева Ю,
М Горячевой Д С và một số tác giả khác Kết quả nghiên cứu của các tác giả đó chothấy rằng, độ ẩm ban đầu của đất có ảnh hưởng rất lớn đến trị số trương nở Sự trương
nở giảm nhỏ khi tăng độ ẩm ban đầu của đất Độ ẩm ban đầu càng nhỏ, quá trình trương nở càng dài Sự trương nở của đất kết thúc hoặc nếu còn xảy ra thì cũng không lớn khi độ ẩm ban đầu (Wo) vượt quá độ ẩm giới hạn dẻo Wp, tức là khi Wo > Wp
Hình 1.1Sự thay đổi của độ trương nở (đường liền) và áp lực trương nở(đường
đứt)theo độ ẩm ban đầu của các mẫu chế bị
1– Sét kaolinite; (2)– Sét montmorillonite.
Những kết quả nghiên cứu được thực hiện bởi Горячевой trên những mẫu chế bị từ đấtsét kaolinite và montmorillonite cho thấy rằng biến dạng và áp lực trương nở có quan hệtuyến tính với độ ẩm ban đầu Wo, thể hiện bằng phương trình:
D tr.n (P
tr.n ) K w (W tr.n
W o ) (1-2)
Trang 18Trong đó:
Kw = tg – Hệ số góc của hàm trương nở
Wo – Độ ẩm ban đầu của mẫu
Wtr.n – Độ ẩm trương nở của mẫu
Trên hình 1.2 cũng chỉ ra rằng độ ẩm trương nở (Wtr.n) có mối liên quan nhất định với giớihạn dẻo (Wp)
Hình 1.2 Quan hệ giữa độ ẩm trương nở của đất sét lấy từ mỏ Neliđov và độ ẩm ứng với giới
hạn dẻo của đất
Theo Ж М Рогаткиной(1968), giữa độ trương nở và áp lực trương nở của đất có mốiliên hệ chặt chẽ, có quan hệ tuyến tính với độ chặt của đất Quan hệ đó có dạng dưới đây(hình 1.3)
Trang 19Hình 1.3 Sự thay đổi độ trương nở tự do (đường liền) và áp lực trương nở (đường đứt) với
dung trọng khô (c) của đất
trong đó: 0-Dung trọng ban đầu của đất
- Dung trọng ban đầu của đất sau khi trương nở
K-Hệ số về tính trương nở, được xác định như tang góc nghiêng củađường thẳng với trục dung trọng khô (hình 1-3)
Ở trên khi xét đến độ chặt (dung trọng khô) và độ ẩm ban đầu của mẫu, cũng có nghĩa là xét đến mức độ bão hòa của mẫu Năm 1994 một số tác giả Trung Quốc như Che Luo Rung, Chang Mei In, Tang Wu Mei, đãnghiên cứu ảnh hưởng của trọng lượng đơn vị thể tích khô c và độ ẩm bão hòa G khác nhau đến áp lực trương nở của đất Kết quả
nghiên cứu của các tác giả trên đã cho thấy rằng cùng giá trị dung trọng khô c, những mẫu đất có độ bão hòa G thấp sẽ có áp lực trương nở P tr.n lớn hơn; cùng một độ bão hòa
G, những mẫu nào có c lớn hơn sẽ có áp lực trương nở Ptr.n lớn hơn
Cát và cát pha hoặc hoàn toàn không trương nở hoặc trương nở rất yếu Tính trương nởcủa đất sét pha và sét phát triển tương ứng với sự gia tăng hàm lượng hạt sét, đặc biệt hạtkeo ở trong đất Theo số liệu của Ж М Рогаткиной (1968), trị số trương nở
Trang 20của những mẫu sét Khvalưn ở trạng thái khô gió, có độ chặt ban đầu như nhau, tăng lên
từ 0% đến 37% tương ứng với sự tăng hàm lượng hạt sét từ 1,5% đến 88%
E A Xoratran (1974) đã xác lập được quan hệ giữa hàm lượng hạt sét (<0,005mm) với độ trương nở D tr.n của đất loại sét ở cácvùng Khvalưn, Xarmat và Kimeri như hình dưới đây (hình1.4)
Hình 1.4 Quan hệ giữa hàm lượng sét và độ trương nở
Tính trương nở của đất còn phụ thuộc vào sự có mặt các muối trong dung dịch ngấm vào đất, nồng độ của chúng và trị số pH của dung dịch Thành phần hóa học của nước tácđộng rất lớn đến thành phần các cation trao đổi, và do đó tác động đến trị số trương nở Trị số trương nở cũng phụ thuộc vào môi trường pH Trong những thí nghiệm của А С Корчутыева và З Л Борисовой, trị số trương nở của sét được nghiên cứu khi thay đổi
độ pH của dung dịch Phần lớn các mẫu có trương nở lớn nhất khi pH = 0,1 và pH = 13
Sự thay đổi của độ pH từ 3 đến 12 ảnh hưởng rất ít đến trị số trương nở
Sự thay đổi độ ẩm theochu kỳ có ảnh hưởngđến tính trương nở Những thí nghiệm đượcthực hiện bởi Ж М Рогаткиной (1966) cho thấy rằng, khi làm ướt và khô có chu kỳ các mẫu sét, thì mức độ trương nở cũng như áp lực trương nở của chúng sau mỗi chu
kỳ tiếp theo được tăng lên Thí dụ như: ở độ ẩm tự nhiên mức độ trương nở của các mẫusét Khvalưu thay đổi trong phạm vi từ 1% đến 8%, còn sau nhiều lần
Trang 21hong khô – làm ướt cũng ở những giá trị độ ẩm ban đầu đó, trị số trương nở tăng lên đến(7,5 – 16) % Áp lực trương nở trong những mẫu sét Khavalưu được nghiên cứu ở độ ẩm
tự nhiên không vượt quá 5kG/cm 2 Cũng trong những mẫu đất đó sau những chu kỳ hongkhô – làm ướt, áp lực trương nở tăng đến 10 kG/cm2 và lớn hơn
Đất trương nở có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, trong đó có hai bảngphân loại được sử dụng rộng rãi hơn là phân loại của tiêu chuẩn xây dựng Liên Xô(СНиП 2.02.08.83) và phân loại đất của Cục Cải tạo đất của Mỹ, USBR (United StatesBureau of Reclamation)
Cục Cải tạo đất của Mỹ phân loại đất trương nở theo đặc trưng vật lý của đất và độthay đổi thể tích tương đối V
V
Bảng 1.3 Phân loại đất trương nở theo USBR
Bảng 1.3 Phân loại đất trương nở theo USBRĐặc
trưng
vật lý
Độ trương nở tươngđối theo thể tích V
V
Phân loại đấttrương nởHàm lượng chất
Theo “Hướng dẫn thiết kế nền nhà và công trình SNiP 2.02.01-83” của Liên Bang Nga,
để đánh giá sơ bộ đất sét bụi thuộc loại trương nở dùng tỷ số sau:
ech e0
0.3,
trong đó ; e0 – hệ số rỗng của mẫu ở trạng thái tự nhiên
ech – hệ số rỗng của mẫu ứng với giới hạn chảy được xác định theo côngthức sau:
e ch ch s
,
Trang 22Trong đó
n
ch - độ ẩm tự nhiên lấy theo đơn vị phần trămgiới hạn chảy ;
s - khối lượng đơn vị của hạt đất g/cm3;
n - khối lượng đơn vị của nước lấy bằng 1g/cm3 ;Dựa theo các điều kiện ở công thức (1-4) là dựa theo một số đặc trưng vật lý để nhận dạng đất có tính trương nở hay không.Như các phần trên đã giới thiệu, đặc điểm trương
nở của đất còn tùy thuộc vào trạng thái độ chặt – độ ẩm ban đầu của mẫu và môi
trường xung quanh Do vậy, trong tiêu chuẩn và qui phạm xây dựng СНиП
2.02.08.83 của Liên Xô có phân chia đất trương nở theo cấp (từ không trương nở đến trương nở mạnh) căn cứ theo độ trương nở tương đối Dtr.n ghi trong bảng 1.3
Độ trương nở của đất được xác định theo tiêu chuẩn ГОСТ 2413-80 (Đất – Những phương pháp xác định các đặc trưng trương nở và co ngót)
Nhận xét chung: Cả hai hệ phân loại đều dựa vào một số chỉ tiêu vật lý để nhận dạngđất có khả năng trương nở hay không Chủ yếu là dựa vào biến đổi thể tích tương đối
V, hoặc dựa vào độ trương nở tương đối theo chiều cao D tr.n để phân cấp đất trương nở
Bảng 1.4 Phân loại đất trương nở theo СНиП 2.02.08.83
Độ trương nở tương đối Dtr.n, % Phân loại
Tùy theo điều kiện khí hậu, địa chất, môi trường và kinh tế kỹ thuật của mỗi nước, người
ta đã tìm những giải pháp khác nhau để sử dụng đất có tính trương nở vào xây dựng cáccông trình Hầu hết các giải pháp đó đều tìm cách thích hợp hạn chế mức độ
Trang 23trương nở tự do của đất hoặc tìm phương pháp gia cố để chống lại sự giảm độ bền của đất
do bị trương nở gây ra Các giải pháp đó được giới thiệu trong một số công trình đã đượccông bố của các tác giả:
-Trần Thị Thanh (1998) [7] đã giới thiệu một số giải pháp xử lý đất trương nở trên thế giớinhư sau:
+Khi xây dựng đường và sân bay ở Liên Xôngười ta sử dụng đất loại sét có tính trương nở vào những vị trí có áp lực ngoài (lớp gia tải) lớn hơn áp lực trương nở của loại đất đó
+Trong xây dựng đường ô tô vùng nhiệt đới ở Bắc Camơrun người ta dùng phương pháp bọc kín một phần hoặc toàn bộ thân nền đường bằng những màng không thấm nước
+Ở tỉnh Hồ Bắc – Trung Quốc người ta dùng vải địa kỹ thuật để gia cố chống trượt cho mái dốc được đắp bằng loại đất sét có tính trương nở
- A Al-Rawas, A W Hago và H Al-Sarmi (2005) [14] đã giới thiệu giải pháp xử lýtính trương nở của đất bằng vôi, xi măng, tro bay và cặn dầu thô khi xây dựng nền đường tại Irag và Oman
- Amer Ali Al-Rawas & Mattheus F.A.Goosen (2006) [15] đã công bố kết quả nghiêncứu giải pháp cải tạo tính trương nở của đất loại sét bằng vôi khi xây dựng công trìnhgiao thông tại khu vực Ankara (Thổ Nhỹ Kỳ) Theo kết quả nghiên cứu này khi trộnthêm 4% vôi vào đất có độ trương nở Dtr.n=16% thì sẽ làm giảm độ trương nở còn 3%,
và với hàm lượng vôi đó thì cường độ của đất cũng tăng lên đáng kể, sự phát triển củacường độ chủ yếu diễn ra ở các giai đoạn giai đoạn từ 0 đến 30 ngày tuổi còn sau 30 ngày tuổi sự phát triển cường độ bắt đầu chậm lại
- Mohammed Y Fattah, Firas A Salman vàBestun J Nareeman(2010) [16] đã giớithiệu giải pháp dùng vôi, puzzolan tự nhiên trộn với đất để làm giảm tính trương nởcủa đất đắp đường tại Mỹ và Xu Đăng
Trang 241.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng đất loại sét có tính trương nở vào công trình đất đắp ở Việt Nam:
Trước những năm tám mươi của thế kỷ này, hầu như không có những kết quả nghiên cứu sử dụng đất trương nở vào việc xây dựng công trình tuy nhiên cũng có những kết quả nghiên cứu về đất có chứa nhiều khoáng montmorillonite để dùng trong công nghiệp, kỹ thuật khoan, hoặc làm dung dịch tạo hào vách đứng khi thi công tường chống thấm qua tầng cuội sỏi Thí dụ như, năm 1973-1974, Giáo sư Trần Như Hối cùng tập thể cán bộ Phòng nền móng Viện Khoa học Thủy lợi Hà Nội đã nghiên cứu
“Dùng dung dịch sét tạo hào vách đứng xây tường chống thấm qua tầng cát cuội sỏi dưới mực nước ngầm”
Năm 1978, Giáo sư Tiến sĩ Phạm Xuân cùng một số dịch giả khác đã dịch quyển sách
“Địa chất công trình” của Lomtaze trong đó có giới thiệu nhiều kết quả nghiên cứu về tínhtrương nở của đất dính ở nhiều vùng thuộc Liên Xô
Theo Trần Thị Thanh (1998) [7] năm 1984 PTS Chu Thường Dân và một số tác giảkhác đã nghiên cứu đặc điểm biến dạng bờ mỏ ở một số mỏ than và có nhận xét: “Sựphong hóa, trương nở giảm độ bền của đất đá là nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng trượt dòng trên bờ mỏ Nà – Dương trong mùa mưa” Nhưng trong bài báo đó,các tác giả không có nêu số liệu thí nghiệm xác định các đặc trưng trương nở của đấtthuộc đối tượng đã nghiên cứu Cũng theo Trần Thị Thanh (1998) [7] năm 1987, GS
TS Nguyễn Văn Thơ, trong luận văn tiến sĩ khoa học của mình có nêu lên “Những nguyên lý sử dụng các loại đất đặc biệt để xây dựng nền đường ôtô trong điều kiện nhiệt đới ẩm ở miền Nam Việt Nam” nhưng chưa đề cập đến vấn đề đất có tính trươngnở
Trong những năm gần đây do nhu cầu xây dựng ngày một cao, bên cạnh đó sự cố côngtrình xảy ra ngày càng nhiều mà không ít trường hợp nguyên nhân là do tính trương
nở của đất đắp, đất nền nên việc nghiên cứu tính trương nở của đất và đề ra các giảipháp xử lý đã được một số tác giả nghiên cứu và công bố
Trang 25- Trần Thị Thanh (1998) [7] đã nghiên cứu các đặc tính trương nở của các loại đất đắp
ở khu vực nam Trung Bộ và Tây Nguyên và đưa ra một số kết luận như sau:
+ Các loại đất bồi tích, tàn tích, sườn tích trên các nền đá gốc có thành phần khoáng vậtthạch học khác nhau như đá bazan, bột kết, cát kết, granit v.v… là những loại vật liệu tạichỗ thường được khai thác dùng vào công trình đất đắp, đặc biệt là dùng với khối lượnglớn để đắp đập xây dựng hồ chứa nước ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ
+ Trừ loại tàn tích, sườn tích trên đá gốc bazan, còn các loại đất bồi tích, các loại tàn tích
và sườn tích có nguồn gốc từ bột kết, cát kết, granit đều có chứa khoáng vật sétmontmorillonite với mức độ khác nhau Chính khoáng vật montmorillonite đã làm cho đấtloại sét có chứa nó khi ngấm nước sẽ trương nởlớn hơn so với đất loại sét chỉ chứakhoáng vật chủ yếu kaolinite
+ Đối với loại đất có tính trương nở, độ bền cấu trúc được thể hiện qua vai trò lực dính C
có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ trương nở của đất Sau khi phá vỡ kết cấu tự nhiên rồi chế bị lại cùng độ ẩm, độ chặt ban đầu, mẫu đất có mức độ trương nở tự do lớn hơn nhiều so với mẫu đất nguyên dạng
+ Mặt khác, theo thời gian, trong khối đất đắp được hình thành những liên kết cấu trúcmới có tác dụng làm giảm mức độ trương nở của đất đắp Do vậy, cần nghiên cứu đặcđiểm trương nở của vật liệu đất để tìm giải pháp thích hợp sử dụng chúng vào công trìnhđất đắp, đặc biệt là đập đất trong công trình hồ chứa nước
+ Trong cùng một loại đất có tính trương nở, dung trọng khô ( c), độ ẩm ban đầu (Wo),thành phần cỡ hạt, áp lực bên ngoài khối đất đắp và môi trường nước có ảnh hưởng rấtlớn đến hệ số trương nở tự do của nó
+ Trong điều kiện trương nở tự do, áp lực trương nở chống lại sự nén lún của đất với mức độ không đáng kể khi áp lực ngoài còn nhỏ hơn áp lực trương nở Nhưng nếu để đấttrương nở tự do sẽ gây ra sự trương nở - co ngót không đều theo chu kỳ, tạo ra những vết nứt trong khối đất đắp.Mặt khác, khi trương nở tự do sức chống cắt của đất giảm đáng
kể Những điều đó không có lợi cho sự ổn định của khối đất đắp, nhất là đập đất
+ Trong điều kiện không cho phép trương nở tự do (khi áp lực ngoài vượt quá áp lựctrương nở) sức chống cắt của đất không giảm, hệ số thấm nước có xu hướng giảm.Điều này có lợi cho sự ổn định của đập đất
Trang 26- Lê Thanh Phong (2005) [4] đã đưa ra được quan hệ giữa độ chặt K và độ trương nởcủa một số loại đất từ đó kiến nghị phương pháp lựa chọn hệ số đầm nén K thích hợp.
- Bùi Thanh Tùng (2005) [9] đã giới thiệu kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thànhphần khoáng vật, mức độ đầm chặt đến tính trương nở vật liệu đất đắp công trình đầumối hồ chứa nước Ngàn Trươi và đã đưa ra một số kết luận sau:
+ Kết quả phân tích thành phần khoáng vật của đất cho thấy hàm lượng khoáng vật sétmontmorillonite chiếm tỷ lệ nhỏ, thậm chí không đáng kể Tuy nhiên, hàm lượng khoáng vật hydromica là khoáng vật có mức độ hoạt tính đối với nước trung gian giữakhoáng vật montmorillonite và kaolinite chiếm tỷ lệ đáng kể (13 ÷ 37%) Do đó, đất trong khu vực này có tính trương nở khi có tác dụng của nước chủ yếu là do khoángvật hydromica và kaolinite
+ So với mức độ đầm chặt K = 0,97 nếu đầm chặt ở K =0.95 thì mặc dù độ bền (sứcchống cắt) của đất giảm, độ biến dạng (tính nén lún) và tính thấm (hệ số thấm) của đấttăng lên Tuy nhiên, các giá trị này vẫn nằm trong giới hạn chỉ tiêu đã cung cấp chotính toán thiết kế đập, hay nói cách khác là nếu đắp đập với độ chặt k=0.95 thì mặt cắtđập như thiết kế trước đây (đắp với độ chặt k=0.97) vẫn đảm bảo ổn định
- Viện khoa học Thủy lợi Việt Nam (2015) [12] đã tổng kết đánh giá về hiện trạng vànguyên nhân gây ra sự cố tại các công trình hồ chứa vừa và nhỏ trên địa bàn TâyNguyên như sau:
+Đắk Lắc hiện có 50 hồ xảy ra hiện tượng thấm nền, 1 hồ thấm vai, 20 hồ thấm thân,
52 công trình bị sạt trượt trên mái thượng, hạ lưu hoặc cả hai, 3 đập bị nứt nẻ sâu, có
31 hồ bi thấm qua mang cống và 32 hồ bị xỏi lở hỏng tiêu năng sau cống,thấm vai vàthân tràn
+ Tại Đắk Nông hiện có 43 hồ chứa đập đất bị xuống cấp, chủ yếu là thấm qua thânđập, đường đỉnh đập không còn đúng với thiết kế, do bị sụt, lún mạnh, quá trình bàomòn, xói lở bề mặt diễn ra khá phổ biến, mái thượng lưu chưa được gia cố bị sạt lở,mái hạ lưu ở một số hồ bị sạt;có 32 hồ chứa bị xói lở hai vai tràn, đặc biệt thân tràn(dốc nước hoặc bậc nước), đuôi tràn (thiết bị tiêu năng) và tường cánh, một số tràn
Trang 27chưa có cầu giao thông, nguy hiểm cho người dân trong vùng khi mùa mưa lũ đến, nhiều công trình vẫn còn tràn xả lũ kết cấu bằng đất dễ bị xói lở khi có lũ lớn, có 19 công trình có cống đầu mối bị rò rỉ, gây xói thân đập đe dọa đến ổn định đập đất, bể tiêu năng bị xói lở.
+ Tại Kon Tum Hiện có 52 hồ bị thấm mất nước qua thân,nền đập và mang cống; có
29 hồ bị biến dạng mái đập; 38 hồ mặt đập bị sụt lún, 27 hố tiêu năng tràn bị xói lở.+ Tại Gia Lai hiện có 14 hồ bị xói lở, sạt trượt mái thượng hạ lưu; 16 hồ thấm mất nước qua thân và nền đập; 13 hồ bị xỏi lở tiêu năng tràn
Về nguyên nhân gây ra các sự cố đó có nhiều, từ khảo sát thiết kế, thi công và quản lý và
ít nhiều có liên quan đến tính trương nở của đất đắp cũng như đất nền
Tại Việt Nam việc sử dụng vôi để gia cố đất đã được nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn xây dựng công trình từ rất lâu.Vào những năm 1970, Viện khoa học kĩ thuật Xây Dựng đã áp dụng gia cố đất bằng phụ gia vôi xây dựng nền đường cho một số tuyến đường ở miền Bắc như Hà Bắc, Lạng Sơn, Hà Nội Những năm gần đây do nhu cầu về xửlý nềnđất yếu nên hướng nghiên cứu chủyếu tập trung lĩnh vực sửdụng vôi kết hợp với một số chất kết dính khác để xử lý nền đất yếu Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu đã được công bố
- Viện khoa học kĩ thuật Xây Dựng (1976) [11] đã nghiên cứu dùng phụ gia vôi để gia
cố nền đường ỏ một số tỉnh phía Bắc Kết quảnghiên cứu cho thấy rằng cường độ của đất gia cố vôi chỉ ứng với một hàm lượng nhất định, vượt qua giới hạn này cường độgần như tỷ lệ nghịch với hàm lượng vôi, từ đó đã khuyến cáo khi dùng vôi để gia cốđất thì tỷ lệ sử dụng hợp lý nhất là từ 8-12% (khối lượng đất khô) Cũng theo tài liệunày các mẫu đất sau khi được gia cố bằng vôi ở các độ tuổi 7,14,28 ngày được ngâm trong nước tĩnh suốt 04 năm từ tháng 10 năm 1970 đến tháng 10 năm 1974 vẫn không
bị tan rã
- Lê Thị Phòng (2005) [5] đã nghiên cứu cải tạo đất sét pha có nguồn gốc bồi tích
thuộc hệ tầng Thái Bình (aQ2tb) phân bố ởHưng Yên,cải tạo với các hàm lượng vôi là
Trang 282, 4, 6, 8% và phụ gia SA44/LS40 theo tỷ lệ 8,5/1,5 liều lượng phụ gia là 1 lít/6m3 để làm móng áo đường giao thông nông thôn Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng đầm chặt của đất có phụ gia lớn hơn đất không có phụ gia; mô đun đàn hồi của mẫu gia cố vớihàm lượng vôi 6% có giá trị lớn nhất ở cả hai trường hợp có phụ gia và không có phụ gia Kết quả nghiên cứu cũng đã ứng dụng thử nghiệm tại đoạn đường Thiện Phiến đi Tiên Lữ và cho thấy, mô đun đàn hồi của đất gia cố khi cải tạo 4% vôi với phụ gia SA44/LS40 tương đương với 6% vôi.
- Trịnh Thị Huế (2009) [3] đã nghiên cứu cải tạo đất bùn sét và bùn sét pha nguồn gốc
amQ2 phân bố ở Trà Vinh trộn với xi măng theo tỷ lệ 3, 6, 9, 12% và vôi với tỷ lệ 6,
9, 12% Kết quả nghiên cứu cho thấy với đất trộn xi măng thì cường độ kháng nén củamẫu tăng tỷ lệ thuận với hàm lượng xi măng và mẫu bùn sét pha có cường độ lớn hơn
so với mẫu bùn sét ở cùng tỷ lệ xi măng và ngày tuổi bảo dưỡng (28 ngày) Với mẫutrộn vôi thì cường độ mẫu ở 9% cho giá trị là tối ưu, mẫu ở 12% có giá trị là nhỏ nhất
- Viện Thủy Công (năm 2013) [13] đã nghiên cứu cải tạo đất than bùn hóa ở Kiên Giang và cho kết quả là khi hàm lượng xi măng tăng thì cường độ mẫu đất gia cố tăng.Tuy nhiên, theo thời gian bảo dưỡng thì cường độ mẫu tăng đến khoảng thời gian là 56ngày sau đó mẫu có xu hướng suy giảm Kết quả nghiên cứu cải tạo đất với phụ gia vôi cho thấy, cường độ mẫu có xu hướng phát triển theo thời gian và lượng vôi thíchhợp là 2-4% so với lượng xi măng gia cố
Khi mỏ vật liệu tìm kiếm được là sét có tính trương nở vẫn có thể sử dụng để đắp đập, tuynhiên khi đó nó sẽ được đối xử một cách hợp lý để hạn chế tính chất bất lợi đó, cụ thể là:
- Bố trí loại đất trương nở vào những vị trí thích hợp nhằm giảm áp lực trương nởĐối với phần đất dính có tính trương nở nên đắp ở lõi đập hoặc dưới lớp gia tải bằng mộtlớp vật liệu không trương nở (đất không trương nở, đá, cát, sỏi) có chiều dày Đ sao chothỏa mãn điều kiện
PtĐr.n
Trang 29Trong đó: – dung trọng lớp vật liệu phủ
Ptr.n – Áp lực trương nở của đất,
- Chọn hệ số đầm nén (K), dung trọng khô ( c) và độ ẩm yêu cầu (Wyc) khi đầm nénthích hợp nhằm đảm bảo ổn định của đập đất và hạn chế mức độ trương nở của đất đắp
- Chọn quy trình khai thác và tưới ẩm thích hợp nhằm nâng cao tính đồng nhất, giảmtính trương nở của khối đắp
Kết luận chương 1
Trương nở là một trong các tính chất đặc biệt của đất và đã gây ra nhiều bất lợi khi sử dụng chúng làm vật liệu đất đắp cũng như làm nền móng công trình Tại Việt Nam cũng như trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều các nghiên cứu về bản chất của sự trương nở đồng thời đề xuất các giải pháp cải tạo tính trương nở của đất Hầu hết các giảipháp đưa ra đều nhằm mục đich hạn chế mức độ trương nở tự do của đất hoặc gia cố để chống lại sự giảm độ bền của đất do tính chất trương nở gây ra Trong đó giải pháp sử dụng các loại phụ gia như vôi, tro bay, hóa phẩm từ dầu mỏ ….để làm giảm tính trương
nở của đất tương đối phổ biếnở một số quốc gia như Mỹ, Irag, Thỗ Nhĩ Kỳ,
Oman….Tại các quốc gia này các giải pháp sử dụng phụ gia nêu trên để cải tạo tính trương nở của đất đã được viết thành tiêu chuẩn, sách Tuy nhiên tại Việt Nam các giải pháp sử dụng các phụ gia để làm giảm tính trương nở của đất hầu như chưa được nghiên cứu và ứng dụng vào thực tế
Trang 30CHƯƠNG 2: TÀI NGUYÊN ĐẤT PHONG HÓA TỪ ĐÁ MAGMA AXIT,CƠ
SỞ LÝ THUYẾT CỦA GIẢI PHÁP CẢI TẠO TÍNH TRƯỞNG NỞ CỦA CHÚNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRỘN VÔI
2.1 Đặc điểm phân bố của vỏ phong hóa magma trên địa bàn Tây Nguyên
Theo các tờ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:2000000,B’Lao C-48-VI; PleikuD48-XXIV; Bến
Khế D-49-XXXI; Đà Lạt-Cam Ranh C-49-I&C-49-II; Đak ToD-48-II; Buôn Mê Thuật D-49-XXV; Bản Đôn D-48-XXX; An Khê D-49-XIX, Kon Tum D-48-XVIII; Măng Đen-
Bồng Sơn D-49-XIII&D-49-XIV thì trên địa bàn Tây Nguyên các thành tạo magma phổ
biến đều khắp và đa dạng Chúng thường tạo thành những thể xâm nhập có diện lộ vừa đến lớn, có khi đạt đến hàng trăm km 2 Các đá xâm nhập có tuổi cổ trong phạm vi nghiên cứu thường là những thể xâm nhập nhỏ, kéo dài hoặc không đều đặn, được phân chia như sau:
-Xâm nhập Proterozoi: Granit, granit-migmatit, granođiorit, granitvà granitogotit
- Xâm nhập Paleozoi sớm – giữa gồm: Đunit, pyroxenit granođiorit
- Xâm nhập Paleozoi muộn gồm: Gabro, gabrođiorit, dioritegabrođiorit và granit
- Xâm nhập Mezozoi sớm gồm: Granit, granoxienit
- Xâm nhập Mezozoi muộn – Kainozoi: Granodiorit, granit, granoxierit
- Các xâm nhập nông không phân chia gồm: Diorit,pocfirit và granitpocfia
2.1.1 Xâm nhập Proterozoi
+ Các granit + micmatit giai đoạn sớm (mPR)
Các thành tạo granit + migmatit này gặp chủ yếu ở phần phía Bắc của vùng nghiên cứu.Gặp chúng dưới dạng những thể vỉa, lớp nhỏ kéo dài theo hướng Bắc – Đông Bắc,hoặc những thể nhỏ có diện lộ không đều đặn và bị hầu hết các thành tạo magma trẻxuyên cắt Phần trung tâm của khối phổ biến chủ yếu là granit hạt vừa, nhỏ, granitmigmatit Ở đây đôi nơi còn sót lại các đá phiến nguồn gốc trầm tích Chúng lộ dưới dạngvỉa kéo dài theo phương chung với bề dày tương đối ổn định hoặc là dưới dạng nhữngthấu kính nhỏ bị biến đổi phần nào và thành phần khoáng vật
Trang 31Về thành phần thạch học các khối chủ yếu thường gặp là granit có ít biotit hạt vừa, hạt nhỏ cấu tạo gơnai và granodioritegơnai Về phương diện cấu tạo, nhìn chung các đá củakhối thường có cấu tạo dạng gơnai, trong đó các khoáng vật màu xếp định hướng hoặc uốn lượn bao bọc các biến tinh fenpat Các hạt fenpat thành tạo ở giai đoạn trao đổi biến chất thường có dạng lăng trụ tự hình nằm cắt ngang phương cấu tạo gơnai.Về đặc điểm thạch hóa, đá tương đối giàu Nhôm, hàm lượng Silic cao, độ khoáng vật màu thấp Tuổi của các thành tạo xâm nhập tạm xếp vào Proterozoi bởi lẽ chúng chỉ gặp trong các đá trầm tích biến chất có tuổi cổ (PR) Ngoài ra căn cứ vào nguồn gốc và quá trình thành tạo thìgranit, micmatit thường phổ biến và ở thời kỳ trước Cambri.
+ Các granitoit gơnai giai đoạn muộn
Phổ biến rộng rãi ở các phần phía Bắc của vùng, chúng thường tạo thành các thể xâm nhập có diện lộ vừa đến lớn, kéo dài, đôi khi đẳng thước trong các thành tạo biến chất cổ Ranh giới tiếp xúc với đá vây quanh rõ ràng có khi chuyển tiếp do sự trao đổi thay thế tạothành nhiều khoáng vật ở các giai đoạn sau Vành biến chất tiếp xúc nhìn chung không rộng, khoảng vài trăm mét đến hàng nghìn mét Đặc điểm biến chất thể hiện không đều phụ thuộc vào dạng địa chất và vị trí của các thể magma xâm nhập cũng nhưthành phần của chúng
Các thành tạo xâm nhập axit granitogơnai phổ biến khá rộng rãi dưới dạng các thể xâm nhập có diện lộ lớn, kéo dài cùng phương với đá vây quanh Chúng có ranh giới tiếp xúc thường chuyển tiếp đôi khi khó phân biệt đới nội, ngoại tiếp xúc Trong chúng gặp nhiều thể sót bị biến đổi với nhiều mức độ khác nhau và đều có phương chung với đá vây quanh và phương cấu tạo gơnai Các thể sót thường có kích thước trung bình 3x10m Đôi khi gặp nhiều thể sót dưới dạng vỉa lớp xen kẽ kéo dài hàng trăm mét Thành phần thạch học chủ yếu của khối là: Granitogơnai,granođioritogơnai biotit có ít hocblen Đá cấu tạo gơnai đặc trưng và cấu tạo vi uốn nếp, trong đó các khoáng vật màu hoặc xếp định hướng hoặc uốn lượn cùng các khoáng vật sáng màu Có thể cấu tạo
vi uốn nếp là tàn dư của đá trầm tích biến chất cổ Ranh giới giữa các đá trên là chuyểntiếp và chúng phân bố không theo quy luật Đôi nơi trong chúng còn gặp loại
plagiogranitogơnai có quan hệ tiếp xúc không rõ ràng với các đá khác trong khối Nghiên cứu chi tiết vi kiến trúc của granitogơnai và thành phần khoáng của chúng có
Trang 32thể kết luận sơ bộ rằng granitogơnai được thành tạo do quá trình biến đổi của
palgiogranitogơnai, granidioritogơnai và các loại đá biến chất khác Thành phần khoáng vật chủ yếu là plagiocla, fenpat, kali, thạch anh, biotite ít muscovit, hiếm hơn là hocblen Các khoáng vật phụ phổ biến là apatit, ziacon
Tuổi của các thành tạo xâm nhập này tạm xếp vào Protezozoi, giai đoạn muộn vì chúng chỉ gặp trong các hệ đá biến chất trước Cambri Các trị số tuổi tuyệt đối của chúng hiện nay già nhất mới chỉ đạt đến 530 triệu năm, có lẽ do hiện tượng trẻ hóa
2.1.2 Các thành tạo xâm nhập Paleozoi sớm – giữa (PZ 1-2)
Các khối magma xâm nhập được xếp vào giai đoạn này chủ yếu gặp ở phần phía Tây vàBắc của vùng nghiên cứu Các đá đunit, pyroxenit (PZ 1-2) thường thành tạo những khốinhỏ, đôi khi dạng thấu kính kéo dài theo phương với đá vây quanh
Thành phần khoáng vật chủ yếu của đunit, pyroxennit là: olivin, pyroxen, hocblen Tuổi của chúng dự kiến xếp vào Cambri – ocdovic pyroxenit của khối Khâm Đức có trị số tuổi tuyệt đối 530 triệu năm
Các thành tạo xâm nhập granođiorit, granit (γPZ 1-2) phổ biến dưới dạng thể xâm nhập cókích thước từ nhỏ đến vừa, kéo dài và gần như xuyên chỉnh hợp với đá vây quanh tựa nhưlớp đá magma nằm xen kẽ trong các trầm tích biến chất Các đá vây quanh đôi nơi bịfenpat hóa, thạch anh hóa, clorit hóa, xerixit hóa,….Vành biến chất tiếp xúc tương đốirộng tùy thuộc vào vị trí địa chất của thể xâm nhập
Thành phần thạch học chủ yếu là granođioritogơnai, granitogơnai, pha đá mạch gồm cóaplit, pematoit Đá mạch thường thành tạo những đai mạch nhỏ kéo dài khoảng 10- 15m,chủ yếu phân bố ở đới tiếp xúc và trong phạm vi của khối pecmatoit hoặc là những thấukính trong granođiorit hoặc mạch nhỏ xuyên lên đá vây quanh.Thành phần khoáng vậtphổ biến là plagiocla, octola, thạch anh, biotit, hiếm nữa có hocblen, muscovit Khoángvật phụ gồm apatit, ziacon Tuổi của các thành tạo granođiorit, granit tạm xếp vào cuốisillua vì chúng có trị số tuổi tuyệt đối 3 trăm triệu năm
2.1.3 Các thành tạo xâm nhập Paleozoi muộn (γPZ 3)
+ Các xâm nhập gabro - gabronorit
Trang 33Phân bố rải rác ở phần phía Bắc của vùng nghiên cứu dưới dạng các thể xâm nhập nhỏ Chúng có thể là những khối gabro đơn giản nhưng đôi khi thấy đi kèm với gabrođiorit, diorit Vì vậy việc tách chúng riêng tương ứng với giai đoạn hoạt động magma riêng biệtchỉ là giả thiết Thành phần khoáng vật chủ yếu là plagiocla, pyroxen xiên đơn, hiếm hơn pyroxen thoi, hocblen và các khoáng vật do quá trình biến đổi thứ sinh Các thành tạo magma gabro, gabronorit thường thấy phân bố trên các đá trầm tích biến chất Proterozoi và Paleozoi dưới Vì vậy tạm xếp chúng có tuổi trẻ hơn vào khoảng
Paleozoi giữa – trên
Diorit, granođiorit và plagiogranit thường tạo thành những thể xâm nhập vừa đến lớnphân bố rải rác khắp vùng nghiên cứu Chúng có thể thành tạo từng khối bao gồm cả 3loại đá trên, nhưng cũng có khối chỉ phổ biến 2 loại hoặc granođiorit là chủ yếu
Diện lộ các khối thường trên hàng chục mét vuông có dạng đẳng thước hoặc méo mó và ranh giới tiếp xúc xuyên cắt rõ ràng Đặc trưng của các thành tạo xâm nhập này là thường nhiều pha, mỗi pha được đặc trưng riêng về thành phần thạch học Pha đầu gồm có: Gabrođiorit, diorit; pha thứ 2: Granođiorit; pha thứ 3 tuy ít phổ biến là: Granit hoặc plagiogranit Pha đá mạch chủ yếu là lamprofia (spexactit),granođiorit pocfia, hiếm nữa là aplit, pecmatoit
Gabrođiorit, diorit đôi khi có thạch anh thành tạo những khối vừa đếnlớn với diện lộ hàng chục kilomet vuông Hình dạng méo mó Chúng bị các đá pha sau xuyên cắt Đôi khigặp chúng dưới dạng những thể tù có kích thước từ 3-4m (đường kính) nằm gọn trong các đá pha sau Đá có màu xám xanh, khối trạng, đôi khi cấu tạo gơnai yếu Thành phần khoáng vật chủ yếu là plagiocla, hocblen, thạch anh (-=10%), fenpat kali (0-5%), biotit, khoáng vật phụ, apatit, sfen
Granođiorit và granit là 2 loại đá tương đối phổ biến, trong đó granođiorit chiếm tỉ lệ phổ biến hơn Thành phần khoáng vật về cơ bản giống với diorit bị biến đổi
(apodiorit) nhưng plagiocla có thành phần axit hơn Đá có kiến trúc nửa tựhình, trong
đó plagiocla tự hình hơn cả Ở những đá bị biến đổi thay thế fenpat kali tạo thành ban biến tinh lớn
Trang 34Các đá mạch Spaxactit thành tạo những mạch thường có kích thước 0,5-1mm kéo dàihàng chục mét Một đôi nơi (ngoài phạm vi nghiên cứu) chúng tạo thành khối nhỏ vớidiện lộ gần 10.0 km Đá có kiến trúc pocfia với ban tinh hocblen dạng lăng trụ màu xanhxám sẫm Hàm lượng ban tinh có khi đến 15% Nền hạt nhỏ.
Granođiorit pocfia là loại đá mạch tương đối phổ biến, chúng thường gặp ở đới ven rìakhối hoặc xa hơn với kích thước mạch 0,5-2m kéo dài hàng chục mét Ban tinh chủ yếu làPlagiocla, ít hơn fenpat kali và hocblen biotit
Aplit và pecmatoit thường thành tạo những mạch nhỏ hình dạng không đều đặn với bềdày thay đổi 0,2-0,5m Chúng chủ yếu xuyên theo các khe nứt tách có phương Tây Bắc –Đông Nam
Nhìn chung các đá mạch aplit và pecmatoit ít phổ biến và chủ yếu phân bố ở các khu vựcphát triển của thành tạo xâm nhập granođiorit Ở đây aplit và pecmatoit thường đi cùngdưới nhiều dạng kết hợp khác nhau
Ở giai đoạn Paleozoi muộn các thành tạo xâm nhập granit khá phổ biến Chúng tạo thành những thể địa chất với diện lộ khá lớn dạng đẳng thước hoặc hơi kéo dài theo nhiều phương khác nhau Granit gây biến chất mạnh mẽ đá vây quanh, fenpat hóa, thạch anh hóa và các thành tạo biến chất nhiệt dịch ở nhiệt độ thấp Vành biến chất tiếpxúc rộng hẹp tùy thuộc vào đặc điểm ranh giới tiếp xúc với đá vây quanh Nhưng nhìn chung chúng gây biến chất mạnh mẽ và vành biến chất tương đối rộng
Thành phần thạch học chủ yếu là granit và granoxierit Đá giàu fenpat kali màu hồng nhạt, đôi khi có kích thước lớn với bề ngang hàng 10-15mm Đá mạch phổ biến là granit, aplit, pecmatoit, hiếm nữa có granit pocfia Các đá mạch chủ yếu gặp trong phạm vi khối xâm nhập, granit pocfia, đôi khi gặp ở đới ngoại tiếp xúc
Thành phần khoáng vật chủ yếu gồm có: Plagiocla axit, fenpat kali, thạch anh, biotit, khoáng vật phụ phổ biến apatit, octit, quặng, ziacon, sfen
Trang 35Các thành tạo xâm nhập Paleozoi muộn phân bố khá rộng rãi Chúng chẳng những có mặttrong phạm vi vùng nghiên cứu mà còn phát triển rộng khắp ở đới Trường Sơn Nam.Trong phạm vi vùng nghiên cứu chúng chỉ xuyên cắt những trầm tích biến chất cổ và bịcác xâm nhập trẻ hơn xuyên cắt So sánh chúng với các thành tạo xâm nhập tương tự ởkhu vực khác, ở đó chúng xuyên qua các trầm tích Đevon hạ (D 1đg) và bị phủ bởi các
trầm tích vụn Triat (T3 ns) Dựa trên cơ sở đó xếp chúng vào tuổi Paleozoi muộn.
2.1.4 Xâm nhập Mezozoi sớm (MZ 1)
Các thành tạo xâm nhập Mezozoi sớm khá phổ biến trong phạm vi địa khối Kon Tum Chúng thường tạo thành các thể xâm nhập với diện lộ khá lớn, có khi đạt đến hàng trăm km2 với hình dạng không đều đặn, đẳng thước Chúng xuyên cắt và gây biến chất tiếp xúc không rộng lắm và không đồng đều Ngoài ra các thành tạo xâm nhập Mezozoi sớm cũng xuyên qua các đá magma thành tạo trước tạo thành những thể cán hoặc mạch nhỏ
Trong phạm vi vùng nghiên cứu các thành tạo Mezozoi sớm được phân chia thành 2pha: Pha xâm nhập chính có kiến trúc hạt vừa đến lớn Đá có màu hồng nhạt hoặc xámsáng Ở đới tiếp xúc trong của chúng thường gặp loại granit sáng màu hơn, có khi hàmlượng fenpat kali giàu hơn Có nơi gặp granit pocfia với hàm lượng ban tinh 15-20%gồm có thạch anh dạng hình tròn, lưỡng tháp và fenpat màu hồng nhạt, trắng xám.Trong chúng thỉnh thoảng gặp đá tù hoặc silic có kích thước 0,5-3cm Các thể đá tùhầu hết bị biến đổi với nhiều mức độ khác nhau Thành phần khoáng vật chủ yếu củagranit gồm có plagiocla, fenpat kali, thạch anh, biotit, hiếm hơn có hocblen, khoángvật phụ phổ biến ziacon, apatit, quặng
Các khoáng vật của granitoit thuộc Mezozoi sớm thường có mặt trong đá với hàmlượng không cố định Những nơi bị biến đổi bởi quá trình trao đổi kiềm kali, hàmlượng fenpat kali tăng lên đột ngột Ở ranh giới tiếp xúc, hàm lượng khoáng vật mẫutăng lên, đặc biệt ở những nơi chứa nhiều thể tù và thể dị (Slia)
Các đá mạch aplit thường tạo thành những mạch có bề dày trên 1m, kéo dài có khi đếnhàng chục mét Chúng chủ yếu xuyên theo phương Đông Bắc – Tây Nam dọc ven rìa
Trang 36của khối xâm nhập Pecmatoit cũng như aplit tương đối khá phổ biến Thường gặp chúng
ở ngay trong khối xâm nhập với nhiều kích thước và hình dạng khác nhau Pecmatoit gồmnhiều fenpat kali màu hồng thịt, thạch anh và có khi có muscovit, biotit
Nhìn chung các thành tạo xâm nhập Mezozoi sớm phổ biến rộng rãi và bị quá trình trao đổi biến chất sau magma mạnh mẽ Trong các đá đó phát hiện nhiều khoáng vật đặc trưng Chúng có trị số tuổi tuyệt đối 198 đến 201 triệu năm
2.1.5 Các thành tạo xâm nhập Mezozoi muộn – Kainozoi (MZ 3 – KZ)
Các thành tạo magma xâm nhập thuộc giai đoạn này phổ biến rộng rãi ở phần trung tâm
và phía Nam của vùng nghiên cứu Chúng tạo thành nhiều thể xâm nhập có kích thước vừa đến lớn, rải rác xuyên quá các thành tạo xâm nhập cổ hơn và các trầm tích biến chất khác Mức độ gây biến chất đá xung quanh khá mạnh mẽ Có nơi chúng bị các thành tạobazan trẻ phủ lên Vì vậy ranh giới tiếp xúc với đá vây quanh khác bị che lấp
+ Xâm nhập granođiorit, granit (MZ3)
Granođioritvà granitthường tạo thành các thể xâm nhập vừa đến lớn, chủyếu gặp ở phần phía Nam của vùng nghiên cứu Các thể xâm nhập thường đẳng thước, diện lộ không đều, có khi là những khối kéo dài có phương gần Đông Bắc – Tây Nam Chúng gây biến chất mạnh mẽ đá vây quanh,thường tạo thành đá sừng cocdierit, biotit, cocdierit và
chiastolit trong các đá trầm tích Jura Vành biến chất tiếp xúc rộng và giảm dần từ trong
ra ngoài Thành phần thạch học chủ yếu là granođiorit, granitở đới tiếp xúc trong, có nơi phổ biến xienitdiorit, pyroxen, hiếm nữa diorit Đá mạch nói chung ít phổ biến, thường chỉ gặp granođiorit pocfia, aplit Đá mạch phân bố chủ yếu trong phạm vi khối hoặc ở đới ven rìa dưới dạng những đai mạch nhỏ kéo dài hàng chục mét Thành phần khoáng vật chủ yếu là plagiocla, octola, thạch anh, hocblen, biotit, hiếm nữa có
pyroxen.Tuổi của chúng xếp vào Jura muộn – creta, chúng xuyên qua trầm tích Jura hạ
và có tuổi tuyệt đối 98-101 triệu năm
Trang 37Granitvà granoxienit có tuổi tuyệt đối 80 triệu năm và đặc trưng cho giai đoạn hoạt độngmagma khá rầm rộ vào cuối Mezozoi, đầu Kainozoi Trước và sau chúng đều có hoạtđộng phun trào đi kèm có thành phần thạch học gần gũi với chúng.
f) Các thành tạo xâm nhập nông không phân chia
Các thành tạo xâm nhập nôngphổ biến rải rác khắp vùng nghiên cứu Thành phần thạch học chủ yếu gồm diorit pocfiarit và granit pocfia, granoxienit pocfia Chúng thường có dạng các thể xâm nhập nhỏ kiểu đai mạch có kích thước không quá 10m (bề ngang), kéo dài có khi đến hàng chục mét Chúng xuyên cắt các trầm tích biến chất cổ cũng như xuyên qua các thành tạo xâm nhập có tuổi khác
2.1.6 Mặt cắt đặc trưng của vỏ phong hóa trên đá magma axit
Vỏ phong hóa trong đá magma axit thường có chiều dày thay đổi từ 5.0 -40.0m Thành phần chủ yếu là sét pha lẫn các mảnh dăm, đôi chỗ lẫn các tảng phong hóa sót Cấu trúcđặc trưng của vỏ phong hóa trên đá magma axit bao gồm các đới địa chất như sau:
Đới 1 (đới sườn tích dQ): Thành phần chủ yếu của đới này sét pha lẫn sỏi sạn màu nâu
đỏ, nâu vàng trạng thái dẻo cứng,chiều dày thay đổi từ 1-5.0m
Đới 2 (đới tàn tích eQ): Thành phần chủ yếu của đới này sét pha dăm mảnh màu nâu đỏ,nâu vàng đốm trắng đen trạng thái nửa cứng, chiều dày thay đổi từ 5-15.0m, trong đớinày thường lẫn các tảng phong hóa sót kích thước có thể đến 10.0m
Trang 38Đới 3 (đới đá phong hóa mãnh liệt): Thành phần chủ yếu của đới này đá magma axitphong hóa mãnh liệt màu xám xám vàng đốm trắng đen, đá mềm yếu phần lớn đã biếnđổi thành đất tuy nhiên vẫn giữ nguyên cấu trúc của đá mẹ Đới này có chiều dày tươngđối lớn thường thay đổi từ 1-15.0m.
Đới 4 ( Đới đá phong hóa mạnh đến vừa): Đá thường có cấu tạo khối màu xám đen đốmtrắng mặt khe nứt ngả màu xám đen, xám vàng Đá cứng chắc
Hình 2.1 Mặt cắt điển hình của vỏ phong hóa trên đá magma axit
2.1.7 Thành phần vật chất của vỏ phong hóa trên đá magma axit
Theo Nguyễn Việt Kì, Nguyễn Văn Tuấn (2005)[2] thành phần khoáng vật của vỏ phonghóa trên đá magma axitchủ yếu là thạch anh, kaolinite, geotite, hydromica,chi tiết đượctrình bày ở bảng 2.1 dưới đây
Bảng 2.1 Thành phần khoáng hóa của vỏ phong hóa trên đá magma axit khu vực Tây Nguyên
Thành phần khoáng vật
chủ yếu
Thành phần hóa học chủ yếuSiO2
70-80 10-20 0,3-7,0
Từ bảng 2.1 cho thấy thành phần khoáng vật của vỏ phong hóa trên đá magma axit có
chứa các khoáng vật hydromica đây là loại khoáng vật trung gian giữa mica và
montmorillonite và độ hoạt tính của khoáng vật này thay đổi từ 0,5 đến 1,0 Theo kết
Trang 39quả nghiên cứu của Bùi Thanh Tùng (2010) [9] thì khả năng hấp thu nước củahydromica là một trong các nguyên nhân gây ra tính trương nở của đất khi gặp nước.
2.2 Cơ sở lý thuyết của giải pháp cải tạo tính trương nở của đất bằng vôi
2.1.1 Cấu trúc mạng tinh thể của một số khoáng vật sét
Theo V.DLômtađze (1978) [17] nhóm khoáng vật sét trong các đất loại sét bao gồmalofan, kaolinite, nakrite, dickte, haluazite, hidromuscovite, ilite, monotecmite, xerixit,hidrobiotite, gloconite, beydelite, montmorillonite và nontronite Trong đó thường gặpnhất là các nhóm kaolinite, montmorillonite và nhóm hydromica (hidromuscovite,ilite, hidrobiotite, gloconite) Sơ đồ phân bố các lớp ở mạng tinh thể của các nhóm khoángvật chính được thể hiện ở hình 2.2 dưới đây
Hình 2.2 Sơ đồ phân bố các lớp ở mạng tinh thể khoáng vật sét:
a – kaolinite, b – hydromica, c – montmorillonite,
Trang 40Nhóm kaolinite: gồm các khoáng vật kaolinite, haluazite, dickite, và nakrite có cùng mộtthành phần hóa học như nhau, nhưng khác nhau về kiến trúc và tính chất vật lý Dấu hiệuđặc trưng của của các khoáng vật thuộc nhóm này là phần lớn đều có tinh thể hình 6 cạnhrất rõ Kaolinite là khoáng vật phổ biến nhất và được nghiên cứu kỹ nhất, và là nhữngkhoáng vật tạo đá chính của sét kaolinite và các loại sét dạng kaolinite khác.
Mạng tinh thể của kaolinite (Hình 2.2 a) tương đối bền và ổn định Mỗi tập của mạng tinhthể gồm một lớp các khối 4 mặt oxit silic và một lớp các khối tám mặt hiđrôxit alumin xen
kẽ nhau Các lớp tiếp xúc của hai tập kế cận nhau tạo nên mạng tinh thể kaolinite thì rấtkhác nhau: lớp trên của tập dưới được thành tạo bởi các nhóm hidrôxyl (OH-), còn lớpdưới của tập trên nằm kề nó thì có các nguyên tử oxi(O2+) Mối liên kết ở bên trong củacác tập cũng bền vững, đó là do các lớp chuyển tiếp của các ion tích điện dương và điện
âm Do đó mà mạng tinh thể không di động và vì vậy các tinh thể kaolinite tương đối lớn,khả năng hấp thụ nước và trương nở không đáng kể
Nhóm montmorillonite gồm phần lớn các khoáng vật phức tạp và đa dạng về thành phần: montmorillonite, nontronite, hectorite, xaponite, …Những khoáng vật này khác nhau về thành phần cation ở trong các khối 8 mặt của mạng tinh thể và tạo thành một dãy các chất đồng hình mà trong số đó có thể chia ra làm ba loại chính: nhóm oxit, sắt và magiê Theo nghiên cứu ở kính hiện vi điển tử, các dạng của dãy đồng hình này thì khác nhau về hình thái của bản thân các hạt, nhưng nói chung chúng đều có đặc điểm là có độ phân tán cao và tính chất mơ hồ đường nét Dấu hiệu đặc trưng của các khoáng vật thuộc nhóm montmorillonite là lượng nước trong thành phần của chúng thay đổi mạnh tùy theo độ ẩm của môi trường xung quanh; đồng thời nước có thể tách ra khỏi khoáng vật để đi vào trong không khí, nếu độ ẩm của không khí thấp và ngược lại, có thể ấp thụ nước của không khí ẩm
Cấu trúc mạng tinh thể (hình 2.2 c) của montmorillonite nói chung gần giống cấu trúcmạng tinh thể của kaolinite, nhưng khác với kaolinite là các tập lớp riêng biệt củamontmorillonite đối xứng nhau Mỗi tập mạng ở trên và ở dưới đều kết thúc bằng các lớpgồm những khối bốn mặt oxit silic và giữa các lớp này lại có một lớp gồm những