Ở Liên Xô xuất hiện nhiều các công trình nghiên cứu có giá trị của các nhà tâm lí học nổi tiếng như A.N.Leonchiev với công trình Tâm lý học giao tiếp 1974, Giao tiếp sư phạm 1979; Plotn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
======
ĐỖ THỊ PHƯƠNG THÙY
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH THÔNG QUA CHỦ ĐỀ
TIN HỌC VÀ XÃ HỘI LỚP 10
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sư phạm Tin học
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Trang 3đã trực tiếp hướng dẫn, sửa chữa, đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu, luôn quan tâm và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể quý các thầy, cô là giảng viên của Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và đặc biệt là các thầy, cô giáo của Viện Công nghệ thông tin đã quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi một cách hết sức tận tình
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Phạm Văn Đức - hiệu trưởng trường THPT Nguyễn Huệ cùng toàn thể các em học sinh tại các lớp: 10A, 10B, 10D, 10H đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tôi để tôi có được điều kiện nghiên cứu tốt nhất
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè
đã luôn bên cạnh tôi, cùng tôi chia sẻ khó khăn, động viên, an ủi khích lệ và hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Người làm khóa luận
Đỗ Thị Phương Thùy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan:
1 Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em và được
sự hướng dẫn trực tiếp của TS.Lưu Thị Bích Hương
2 Các tham khảo dùng trong khóa luận đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian và địa điểm công bố
3 Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá,
em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Người làm khóa luận
Đỗ Thị Phương Thùy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Các khái niệm 5
1.1.1 Giao tiếp 5
1.1.2 Năng lực 9
1.1.3 Năng lực giao tiếp 12
1.1.4 Học sinh trung học phổ thông 12
1.2 Giao tiếp và năng lực giao tiếp 13
1.2.1 Chức năng và vai trò của giao tiếp 13
1.2.1.1 Vai trò của giao tiếp 13
1.2.1.2 Chức năng của giao tiếp 13
1.2.2 Phân loại và đặc điểm của từng năng lực giao tiếp 15
1.2.2.1 Năng lực thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp 16
1.2.2.2 Năng lực biết cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp 16 1.2.2.3 Năng lực nghe đối tượng giao tiếp 16
1.2.2.4 Năng lực tự chủ cảm xúc hành vi 18
1.2.2.5 Năng lực tự kiềm chế kiểm tra đối tượng giao tiếp 18
1.2.2.6 Năng lực diễn đạt cụ thể, dễ hiểu 18
1.2.2.7 Năng lực linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp 19
1.2.2.8 Năng lực thuyết phục đối tượng trong giao tiếp 19
1.2.2.9 Năng lực điều khiển quá trình giao tiếp 19
1.2.2.10 Năng lực nhạy cảm trong giao tiếp 20
1.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT 20
Trang 61.3.1 Sự phát triển chung 20
1.3.2 Đặc điểm giao tiếp của lứa tuổi học sinh THPT 23
1.4 Thực trạng năng lực giao tiếp của học sinh trường THPT Nguyễn Huệ – Ninh Bình 25
1.4.1 Thực trạng chung về năng lực giao tiếp của học sinh 25
1.4.2 So sánh năng lực giao tiếp của học sinh theo giới tính 31
1.4.3 So sánh năng lực giao tiếp của học sinh theo nhóm lớp 34
CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH THÔNG QUA CHỦ ĐỀ TIN HỌC VÀ XÃ HỘI LỚP 10 35
2.1 Nội dung môn tin học ở các cấp 35
2.2 Định hướng xây dựng các biện pháp phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh thông qua chủ đề tin học và xã hội lớp 10 37
2.2.1 Đảm bảo việc phát triển năng lực giao tiếp gắn với thực tiễn cuộc sống của học sinh 37
2.2.2 Các hoạt động hình thành và phát triển năng lực giao tiếp 38
2.3 Phân tích một số nội dung dạy học thông qua chủ đề 39
2.3.1 Những ứng dụng của tin học (Bài 8 – Tin học 10) 39
2.3.2 Mạng máy tính (Bài 20 – Tin học 10) 47
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 52
3.1 Mục đích của thực nghiệm 52
3.2 Đối tượng của thực nghiệm 52
3.3 Tiến hành thực nghiệm 53
3.3.1 Tiến hành giảng dạy trên lớp 53
3.3.2 Tổ chức thực nghiệm 67
3.3.3 Kết quả thực nghiệm 68
3.3.3.1 Bảng thống kê (Phụ lục 2) 68
Trang 73.3.3.2 Kết luận rút ra từ kết quả thực nghiệm 68
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 73
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Kết quả NL tiếp xúc và thiết lập mối quan hệ 26
Bảng 1.2: Kết quả NL biết cân bằng nhu cầu cá nhân 26
Bảng 1.3: Kết quả NL lắng nghe đôi tượng giao tiếp 26
Bảng 1.4: Kết quả NL tự chủ cảm xúc, hành vi 27
Bảng 1.5: Kết quả NL tự kiềm chế, kiểm tra người khác 27
Bảng 1.6: Kết quả NL diễn đạt cụ thể, dễ hiểu 27
Bảng 1.7: Kết quả NL linh hoạt mềm dẻo 28
Bảng 1.8: Kết quả NL thuyết phục đối tượng giao tiếp 28
Bảng 1.9: Kết quả NL chủ động điều khiển quá trình giao tiếp 28
Bảng 1.10: Kết quả NL nhạy cảm trong giao tiếp 28
Bảng 1.11: Thực trạng các năng lực giao tiếp của học sinh trường THPT Nguyễn Huệ – Ninh Bình 30
Bảng 1.12: Xếp loại mức độ năng lực giao tiếp theo giới tính 31
Bảng 1.13: Năng lực giao tiếp của nam và nữ theo từng năng lực giao tiếp cụ thể 32
Bảng 1.14 : Xếp loại năng lực giao tiếp trung bình theo nhóm lớp 34
Bảng 2.1: Nội dung tin học ở các cấp 36
Bảng 3.1: Các nhóm thực nghiệm và đối chứng 52
Bảng 3.2: Bảng thống kê NLGT trước thực nghiệm 52
Bảng 3.3: Kết quả điểm sau thực nghiệm 68
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giao tiếp là một nhu cầu bẩm sinh và suốt đời của con người, nó đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống mỗi cá nhân Giao tiếp là phương tiện để con người tiếp thu, lĩnh hội các giá trị văn hóa, các chuẩn mực đạo đức để hình thành, phát triển các phẩm chất, nhân cách, đạo đức, hành vi thói quen… Giao tiếp cũng là một hiện tượng cổ xưa, nó xuất hiện khi loài người xuất hiện, tuy vậy việc nghiên cứu giao tiếp với tư cách như là một vấn
đề khoa học thì mới được chú ý cách đây không lâu, nhất là trong lĩnh vực tâm lý học Chúng ta có thể điểm qua lịch sử nghiên cứu của vấn đề này như sau:
Ở nước ngoài vào những năm đầu thế kỷ XX, trong lĩnh vực tâm lý
học, xuất hiện học thuyết “phân tâm học” của S.Freud (1856 – 1939) Học
thuyết của ông đã đề cập đến vấn đề giao tiếp trong mối quan hệ với ý thức của những người tham gia vào quá trình giao tiếp Đến giữa thế kỷ XX với sự phân cực trong quan hệ quốc tế kéo theo sự phân cực trong tất cả các lĩnh vực việc nghiên cứu giao tiếp cũng xuất hiện hai xu hướng chính ở Liên Xô và Phương Tây Ở Liên Xô xuất hiện nhiều các công trình nghiên cứu có giá trị
của các nhà tâm lí học nổi tiếng như A.N.Leonchiev với công trình Tâm lý
học giao tiếp (1974), Giao tiếp sư phạm (1979); Plotnhicova với cuốn Nhân cách trong cấu trúc sư phạm (1980); tập thể các tác giả tại Leningrat với cuốn Giao tiếp là đối tượng nghiên cứu lý luận và thực tiễn (1972), M.X.Kagan với
tác phẩm Thế giới giao tiếp (1988); công trình Những trở ngại tâm lý trong
giao tiếp giữa các cá nhân của tác giả Xaconova; ngoài ra còn có các công
trình tiêu biểu khác như Giao tiếp là vấn đề của tâm lý đại cương (1978) và
Vấn đề giao tiếp trong tâm lý học (1981) của B.Ph.Lomov, A.A.Bodaliov với
cuốn Về giao tiếp những đặc trưng của nó trong công việc với con người…
Hầu hết các tác giả trên đều thống nhất trong quan niệm về giao tiếp, đó là quá trình tác động qua lại, trao đổi thông tin, ảnh hưởng lẫn nhau, nhận thức lẫn nhau giữa các chủ thể giao tiếp Khác biệt với xu hướng nghiên cứu ở Liên Xô các nhà tâm lý học Phương Tây như A.Z Ander (Mỹ), Dander (Mỹ),
K.A Martin (Pháp) quan tâm đến sự “Giao lưu có hiệu quả”, “Sự tác động
Trang 11tương hỗ”, “sự phụ thuộc lẫn nhau”… Từ những năm 70 của thế kỷ XX, bắt
đầu ở Mỹ, tác giả Bowlby và Atin Sworth nêu lên khái niệm gắn bó (attachment) đã mô tả phương thức ứng xử mẹ con, khái niệm này đã nêu lên mối quan hệ giữa mẹ và con trong đó giao tiếp ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành, phát triển nhân cách của trẻ
Còn ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ cuối những
năm 1970 với các công trình tiêu biểu như: “Giao tiếp, tâm lý, nhân
cách”(1981), “Đặc điểm giao tiếp của sinh viên sư phạm”(1985) và “Giao tiếp và sự phát triển của trẻ” (1981) của Trần Trọng Thủy; tác giả Bùi Văn
Huệ với cuốn “Bàn về giao tiếp” (1981); “Giao tiếp sư phạm”(1992) của Ngô Công Hoàn và Nguyễn Xuân Thức; “Giao lưu là điều kiện tất yếu của sự hình
thành và phát triển tâm lý” (1988) của tác giả Phạm Minh Hạc; tác giả Hoàng
Anh với cuốn “Năng lực giao tiếp của sinh viên sư phạm” (1991); Nguyễn Ngọc Bích “Vai trò của giao tiếp trong quan hệ xã hội và quan hệ nhân
cách” (1995); Trần Tuấn Lộ với cuốn “Tâm lý học giao tiếp” (1995); cùng
với đó có thể kể đến công trình của tác giả Nguyễn Thanh Bình mang tên
“Một số trở ngại trong tâm lý giao tiếp của sinh viên với học sinh khi thực tập
tốt nghiệp” (1996); “Đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo ở nhóm chơi không cùng độ tuổi” (1996), tác giả Lê Xuân Hồng; Nguyễn Xuân Thức “Tính tích cực giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động vui chơi” (1997);
Nguyễn Quang Uẩn “Giao tiếp tâm lý” (1998), Lê Thị Bừng với cuốn “Tâm
lý học ứng xử” (1998)…trong các công trình này, các tác giả đều chỉ rõ khái
niệm giao tiếp Như vậy thông qua các nghiên cứu cho thấy giao tiếp là một vấn đề vô cùng phức tạp, đòi hỏi cần phải được tiếp tục nghiên cứu Và các nhà nghiên cứu cũng chỉ rõ giao tiếp giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống, một người có năng lực giao tiếp tốt sẽ có nhiều cơ hội trong mọi lĩnh vực của đời sống hơn là một người có khả năng giao tiếp kém
Với mong muốn giúp đỡ cho sự phát triển NLGT cho HS THPT giúp
các em phát triển và hoàn thiện NLGT tôi đã lựa chọn đề tài: “Phát triển năng
lực giao tiếp cho học sinh thông qua chủ đề tin học và xã hội lớp 10” Đây là
một đề tài mới, chưa từng được nghiên cứu trước đó Nếu đề tài này được thực hiện thành công, nó sẽ góp phần nào đó cho việc giáo dục và phát triển
Trang 12của các em học sinh trường THPT Nguyễn Huệ nói riêng và học sinh THPT nói chung
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh thông qua chủ đề tin học và xã hội lớp 10 của học sinh trường THPT Nguyễn Huệ – Ninh Bình, phát hiện ra những điểm mạnh và yếu trong quá trình giao tiếp của các em để từ đó xây dựng chương trình nhằm giúp các em phát triển và hoàn thiện năng lực giao tiếp của mình
3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực giao tiếp cho học sinh thông qua chủ đề
tin học và xã hội lớp 10
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh THPT
4 Phạm vi nghiên cứu:
Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh thông qua chủ đề tin học và xã
hội lớp 10 của học sinh trường THPT Nguyễn Huệ – Ninh Bình
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận: Tổng hợp và đưa ra những lý thuyết chung
về giao tiếp, năng lực giao tiếp, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực giao tiếp
- Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn: Điều tra thực trạng năng lực giao tiếp của học sinh trường THPT Nguyễn Huệ – Ninh Bình, những thuận lợi và khó khăn mà các em gặp phải, xác định nguyên nhân, đưa ra giải pháp từ đó phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh thông qua chủ đề tin học và xã hội lớp
10
6 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu đề tài này được thực hiện thành công, thì nó sẽ góp phần nào đó cho việc giáo dục và phát triển năng lực giao tiếp của các em học sinh trường THPT Nguyễn Huệ nói riêng và học sinh THPT nói chung
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này tôi sử dụng bốn phương pháp nghiên cứu
Trang 13- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng các giải pháp đề xuất
8 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và hướng phát triển, thì khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh thông qua chủ đề tin học
và xã hội lớp 10
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Các khái niệm
1.1.1 Giao tiếp
Giao tiếp với tư cách là một vấn đề khoa học có lịch sử chưa lâu dài tuy vậy nó thu hút được sự chú ý của rất nhiều nhà khoa học Hiện này có rất nhiều quan niệm về giao tiếp, mỗi quan niệm lại có cơ sở khoa học riêng của
nó Có thể liệt kê các quan niệm điển hình sau:
- Quan niệm về giao tiếp của các nhà tâm lý nước ngoài
+ Nhà tâm lý học người Mỹ E.E.Acguyee đã không dùng thuật ngữ
“Giao tiếp” mà ông nói đến sự tác động, sự truyền và tiếp nhận thông báo và
sự trao đổi thông tin của con người, theo ông, giao tiếp chẳng qua là hai mặt của quá trình thông báo [12,tr.9]
+ T.Chuc – côn (nhà tâm lý học Mỹ) lại xem giao tiếp như sự tác động
qua lại của nhân cách [7,tr.9]
+ Nhà tâm lý học Anh M.Acgain xem giao tiếp như là một quá trình
hai mặt của sự thông báo, đó là quá trình thiết lập sự tiếp xúc và trao đổi thông tin [7,tr.9]
+ T.Steesen, nhà tâm lý học Pháp lại cho rằng giao tiếp như là sự trao đổi ý nghĩ, tình cảm, cảm xúc giữa con người với nhau [7,tr.9]
+ B.V.Xôcôlov, xem giao tiếp như là một yếu tố chung có cả người và
động vật, ông cho rằng: “Giao tiếp là sự tác động lẫn nhau giữa những con
người với nhau và những động vật có tâm lý với nhau, nếu thu hẹp hơn thì
có thể coi giao tiếp là mối quan hệ giữa con người và những động vật nuôi trong nhà” [6,tr.103] Quan niệm này có xu hướng mở rộng khái niệm giao
tiếp
+ A.A Leonchiev định nghĩa giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người, trong đó con người trao đổi thông tin, trao đổi cảm xúc, tri giác lẫn nhau, đưa đến ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau và ông đã mở rộng khái niệm chủ thể giao tiếp đến toàn xã hội Tuy nhiên, ông chưa phân biệt rõ trong quan hệ giao tiếp ai là chủ thể, ai là khách thể Ông cho rằng giao tiếp là dạng hoạt động hoặc là phương thức, điều kiện của hoạt động
Trang 15+ B.Ph.Lômôv cho giao tiếp là sự tác động qua lại của những con người tham gia vào đó như những chủ thể và luôn có sự chuyển hoá giữa chủ thể và khách thể Với sự tác động qua lại như vậy thì giao tiếp tối thiểu phải từ hai người trở lên B.Ph.Lômôv cho rằng giao tiếp và hoạt động là hai phạm trù tương đối độc lập của quá trình thống nhất của đời sống con người Phạm trù “hoạt động” phản ánh mối quan hệ chủ thể, khách thể, còn phạm trù “giao tiếp” phản ánh mối quan hệ chủ thể - chủ thể
Từ những năm 70 trở lại đây, bản chất của hiện tượng giao tiếp đã được giải thích khá đầy đủ và gần gũi, đúng đắn hơn
- Trong bài báo “Tâm lý học giao tiếp”, V.N.Panpherop cho rằng giao
tiếp như là sự tác động qua lại của con người, nội dung của nó là sự nhận thức qua lại và trao đổi thông tin, nhờ sự giúp đỡ của những phương tiện khác nhau với mục đích xây dựng mối quan hệ qua lại có lợi đối với quá trình hoạt động chung [11,tr.14]
- B.D.Parughin trong cuốn “Những cơ sở lý luận của tâm lý học xã
hội” đã nhấn mạnh và chỉ rõ: không thể giải thích giao tiếp một cách phiến
diện một chiều, đây là quá trình tác động qua lại trực tiếp của những cá thể và tác động qua lại gián tiếp của chúng Giao tiếp như là quá trình thông tin, như
là quan hệ giữa con người với nhau và như là quá trình ảnh hưởng lẫn nhau của họ, như là quá trình thể nghiệm của họ và hiểu biết lẫn nhau
+ G.M.Andre Eva trong cuốn Tâm lý học xã hội chỉ ra rằng giao tiếp có
ba mặt quan hệ hữu cơ với nhau, gồm: Mặt thông tin, mặt tri giác của con người với con người, mặt tác động qua lại của con người đối với nhau [1,tr.11]
+ X.M.Xocopnin cho rằng giao tiếp bộc lộ như là tồn tại thực của các quan hệ xã hội mà cá nhân tham gia vào Chính thông qua giao tiếp mà quan
hệ xã hội của họ được bộc lộ như là một quan hệ mang tính xã hội và mang tính người ( có ý thức) Nói cách khác giao tiếp là bề ngoài của các mối quan
hệ của con người, là hiện thực của các quan hệ ấy
+ Về mối quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động, B.H.Lomop chỉ ra rằng: hoạt động và giao tiếp, đó là hai mặt tồn tại của xã hội loài người, hai mặt này
Trang 16gắn bó chặt chẽ với nhau, hơn nữa giữa chúng luôn luôn có sự chuyển hóa từ mặt này sang mặt kia [19,tr.17]
Các quan niệm về giao tiếp của các tác giả Việt Nam:
Ở Việt Nam, xung quanh vấn đề giao tiếp cũng có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau
+ Trong từ điển tiếng Việt (nxb Khoa học xã hội, 1998, 414), “Giao lưu” được định nghĩa là “có sự tiếp xúc và trao đổi qua lại giữa hai dòng, hai luồng khác nhau”, giao tiếp được định nghĩa là “trao đổi, tiếp xúc với nhau, ngôn ngữ là công cụ giao tiếp”
+ Trong từ điển tâm lý của Nguyễn Khắc Viện (1995), ông định nghĩa
“giao tiếp” là : truyền đi, phát đi một thông tin từ một người hay một nhóm người cho một người hay một nhóm khác, trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Thông tin hay thông điệp được nguồn phát mà người nhận giải mã,
cả hai bên đều vận dụng một mã chung [16,tr.502]
+ Tác giả Trần Trọng Thủy và tác giả Nguyễn Sinh Huy trong quyển:
“Nhập môn khoa học giao tiếp” đã viết: “Giao tiếp của con người là một quá
trình chủ đích hay không có chủ đích, có ý thức hay không có ý thức mà trong đó các cảm xúc và tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ” [14, tr.1-2]
+ Hai tác giả Nguyễn Thạc và Hoàng Anh quan niệm: “Giao tiếp là
hình thức đặc biệt cho mối quan hệ giữa con người với con người mà qua
đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý và được biểu hiện ở các quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau” [1, tr.1-18]
+ Tác giả Nguyễn Quang Uẩn trong cuốn Tâm lý học đại cương cho
rằng: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua đó con
người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Hay nói khác đi, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người - người, hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác” [15,tr.49-51]
Trang 17+ Trong Tâm lý học giao tiếp, Trần Tuấn Lộ viết: “giao tiếp là một loại
nhu cầu và là một loại hoạt động của mỗi người, nhằm tiếp xúc, đối tác và giao lưu với người khác để trao đổi sức lực, thông tin, kinh nghiệm, trí tuệ, tình cảm và thể xác với người khác” [8,tr.49]
+ Trong Giao tiếp sư phạm, tác giả Ngô Công Hoàn cho rằng: “giao tiếp
là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, năng lực, kỹ xảo nghề nghiệp” [4,tr.12]
+ Trong Luyện tập giao tiếp sư phạm, Hoàng Anh cùng với Nguyễn Thạc
cho rằng giao tiếp có bốn dấu hiệu cơ bản sau: giao tiếp là một hiện tượng đặc thù của con người, chỉ riêng con người mới có giao tiếp thực sự khi sử dụng ngôn ngữ và được thực hiện chỉ trong xã hội loài người; giao tiếp là cách thể hiện mối quan hệ với một hay nhiều người khác, trên cơ sở các quan hệ kinh
tế, đạo đức, chính trị và xã hội; giao tiếp thể hiện sự trao đổi thông tin, sự hiểu biết lẫn nhau, sự rung cảm và ảnh hưởng lẫn nhau; giao tiếp dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau giữa con người với con người
+ Hai tác giả Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc (1991), mở rộng khái niệm giao tiếp, cho rằng động vật cũng có giao tiếp Hai ông quan niệm:
“Giao tiếp là sự tiếp xúc với nhau giữa cá thể này với cá thể khác trong
cộng đồng xã hội Loài động vật cũng có thể làm thành những xã hội vì chúng sống có giao tiếp với nhau như xã hội loài ong, xã hội loài kiến” Quan
điểm này trái ngược với Hoàng Anh và Nguyễn Thạc cho rằng giao tiếp chỉ
có ở xã hội loài người
+ Trong cuốn Sổ tay tâm lý học, giao tiếp được định nghĩa là: quá trình
thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa các cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động Giao tiếp bao gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác Giao tiếp có ba khía cạnh: giao lưu, tác động tương hỗ và tri giác [2,tr.38]
Như vậy có thể khái quát thành 3 quan điểm khác nhau về vấn đề giao tiếp:
Trang 18Quan điểm thứ nhất cho rằng giao tiếp là một dạng của hoạt động, hoặc có thể là phương tiện, điều kiện của hoạt động Đại diện cho quan điểm này là A.A.Leonchiev
Quan điểm thứ hai lại cho rằng, hoạt động và giao tiếp được xem xét như hai mặt tương đối độc lập của quá trình thống nhất trong cuộc sống con người, có thể coi đó là hai phạm trù độc lập với nhau Phạm trù hoạt động
phản ánh mối quan hệ “chủ thể - khách thể”, còn phạm trù giao tiếp lại phản ánh mối quan hệ “chủ thể - chủ thể” Đại diện cho quan điểm này là
Lomov
Quan điểm thứ ba cho rằng có một phạm trù hoạt động chung đó là phương thức tồn tại và phát triển của con người Theo các nhà tâm lý học cuộc sống con người là một dòng hoạt động, con người là chủ thể của các hoạt động thay thế nhau Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên, xã hội và bản thân Hoạt động với tư cách là một phạm trù chung nhất bao hàm hai dạng hoạt động chủ yếu
là hoạt động đối tượng và hoạt động giao tiếp (hay gọi là giao tiếp), phản ánh hai loại quan hệ của con người đối với thực hiện khách quan: Hoạt động đối
tượng phản ánh quan hệ “chủ thể - khách thể”, còn giao tiếp phản ánh quan
Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam” định nghĩa “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách
Trang 19thuần thục và chắc chắn – một hay một số hoạt động nào đó Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, trí nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân”
Còn theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Năng lực là một tiêu chuẩn đòi hỏi ở một cá nhân khi thực hiện một công việc cụ thể Nó bao gồm sự vận dụng tổng hợp các tri thức, năng lực và hành vi ứng xử trong thực hành Nói một cách khái quát năng lực là một trạng thái hoặc một phẩm chất, một khả năng tương xứng để có thể thực hiện một công việc cụ thể”
Trong cuốn “Tiêu chuẩn năng lực cho đánh giá” của Cơ quan Đào tạo Quốc gia Úc “Năng lực được mô tả bao gồm kiến thức, năng lực và sự áp dụng phù hợp những kiến thức và năng lực đó theo tiêu chuẩn thực hiện trong việc làm
Theo Cục kiểm định chất lượng Bộ Giáo dục Singapore “Năng lục là hệ thống kiến thức năng lực thái độ của một cá nhân để giải quyết vấn đề trong học thuật học trong cuộc sống”
Nhìn chung, mỗi nhà nghiên cứu đứng ở những góc độ tiếp cận vấn đề khác nhau để trình bày những quan niệm khác nhau về năng lực song đều chụm lại ở những điểm chung nhất:
Thứ nhất, khi nói đến năng lực là nói đến khả năng thực hiện, có khả năng làm việc biết làm và đạt hiệu quả chứ không chỉ đơn thuần là biết và hiểu, hành động làm, thực hiện phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và năng lực chứ không phải làm việc một cách máy móc, mù quáng (làm nhưng không hiểu gì và không có hiệu quả
Thứ hai, Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có
để thực hiện một hoạt động nào đó” như năng lực tư duy, năng lực tài chính hoặc là “phẩm chất tâm sinh lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” như năng lực chuyên môn, năng lực lãnh đạo
Thứ ba, Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động Năng lực
Trang 20vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy (kinh nghiệm, trải nghiệm)
Thứ tư, Về mặt thực hiện, năng lực phản ánh năng lực làm, tri thức phản ánh năng lực nghĩ và thái độ phản ánh năng lực cảm nhận Năng lực là
“tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lý và giá trị xã hội) được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hoạt động”
Có thể nhận định rằng: Chỉ khi một người có một năng lực tương ứng với một hành động hay một công việc nào đó thì người đó được công nhận là
có năng lực, được phép giải quyết công việc đó Ngược lại, ai đó muốn giải quyết được một công việc và muốn được người khác thừa nhận là có năng lực giải quyết công việc đó thì họ phải chứng minh, thể hiện được là mình có đủ năng lực để thực hiện được công việc ấy Như thế, năng lực không thể bất định khả năng có thể xảy ra hoặc không xảy ra mà phải biểu hiện ra trong thực tại, tức là hiện thực hóa khả năng, tiềm năng và phải cho thấy chứng cứ Bất cứ năng lực nào cũng đều tích hợp kiến thức, năng lực và thái độ nhưng cũng không phải cứ đơn giản có ba thành tố trên là thành năng lực
Theo chúng tôi, trong cách tiếp cận của nghiên cứu học thuật đặc biệt là cách tiếp tiếp cận của khoa học sư phạm “Năng lực là tổ hợp thuộc tính tâm sinh
lý và trình độ chuyên môn đã được chứng thực/chứng tỏ là hoàn thành một hoặc nhiều công việc theo các tiêu chuẩn tương ứng trong bối cảnh hoạt động thực tế” Quá trình hình thành năng lực phải gắn với luyện tập, thực hành và trải nghiệm các công việc thuộc nghề nào đó và bảo đảm thực hiện có hiệu quả Nó bao gồm
cả khả năng chuyển tải kiến thức, năng lực, kinh nghiệm và thói quen làm việc vào các tình huống trong phạm vi của nghề Nó cũng bao gồm cả sự tổ chức thực hiện, sự thay đổi, cách tân và tính hiệu quả cá nhân cần có để làm việc với đồng nghiệp, với người lãnh đạo, quản lý cũng như với khách hàng của mình Như vậy, ngoài bộ ba then chốt kiến thức - năng lực - thái độ, năng lực còn phải phụ thuộc vào một số yếu tố chủ quan khác như thể chất - sinh lý và yếu tố khách quan như bối cảnh và điều kiện làm việc
Trang 211.1.3 Năng lực giao tiếp
Nghiên cứu về NLGT, các nhà nghiên cứu đã có những quan niệm khác nhau với cách nhìn và khai thác khác nhau
Nghiên cứu về NLGT, tác giả Hoàng Anh quan niệm: NLGT là năng lực của con người biểu hiện trong quá trình giao tiếp Đó là các khả năng sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ… là hệ thống các thao tác cử chỉ, điệu bộ, hành vi được chủ thể giao tiếp phối hợp hài hòa
Khái niệm năng lực giao tiếp được nhìn nhận ở nhiều góc độ với nhiều quan điểm khác nhau, trong luận văn này, dựa trên kết quả nghiên cứu của những nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi sử dụng khái niệm năng lực giao tiếp như sau:
Năng lực giao tiếp là khả năng nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lý bên trong của đối tượng và bản thân, đồng thời sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ, biết cách
tổ chức, điều khiển, điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằm đạt được mục đích đề
ra
1.1.4 Học sinh trung học phổ thông
- Học sinh trung học phổ thông là thuật ngữ để chỉ nhóm học sinh đầu
tuổi thanh niên (từ 15, 16 tuổi đến 17, 18 tuổi)
Theo tâm lý học lứa tuổi, tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu
từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi trưởng thành Tuổi thanh niên là thời kỳ từ 14, 15 tuổi đến 25 tuổi, trong đó chia làm hai thời kỳ:
Từ 14, 15 tuổi đến 17, 18 tuổi: giai đoạn đầu tuổi thanh niên (giai đoạn học sinh trung học phổ thông)
Từ 17, 18 tuổi đến 25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (giai đoạn thanh niên – sinh viên)
Trang 221.2 Giao tiếp và năng lực giao tiếp
1.2.1 Chức năng và vai trò của giao tiếp
1.2.1.1 Vai trò của giao tiếp
Giao tiếp là một hiện tượng tâm lý quan trọng trong đời sống cá nhân
và xã hội, nó có mặt trong mọi hoạt động của đời sống con người Nếu không có giao tiếp thì sẽ không có sự tồn tại của xã hội vì xã hội luôn luôn
là một cộng đồng người có ràng buộc, liên hệ với nhau
Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người, không có giao tiếp thì con người không thể tồn tại được Giao tiếp giữ vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển tâm lý, thông qua giao tiếp, cá nhân quan hệ với cá nhân khác và với toàn xã hội, từ đó cá nhân tiếp thu nền văn hóa xã hội và biến nó thành cái của riêng mình Đồng thời cá nhân lại đóng góp vào sự phát triển của nền văn hóa xã hội và tự điều chỉnh, điều khiển bản thân theo các chuẩn mực xã hội
Nhà tâm lý học B.F.Lomov cho rằng: chúng ta nghiên cứu lối sống của một cá nhân cụ thể, chúng ta không thể chỉ giới hạn sự phân tích xem
nó làm cái gì và như thế nào, vì thế cùng với hoạt động, giao tiếp có một vai trò cơ bản trong việc hình thành và phát triển nhân cách
Theo nhà tâm lý học Vygotsky, giao tiếp có vai trò quan trọng không chỉ trong việc làm phong phú thêm nội dung ý thức của trẻ, trong việc giúp trẻ tiếp thu những tri thức, NL mới mà nó còn quy định cấu tạo trung gian của các quá trình tâm lý cao cấp đặc trưng cho con người Ông còn cho rằng giao tiếp là một nhu cầu hữu cơ của con người, “ Bất kỳ một nhu cầu nào trẻ
sơ sinh, không kể đó là nhu cầu gì, đều dần dần trong quá trình phát triển trở thành nhu cầu của nó về người khác, về sự tiếp xúc với người, về sự giao tiếp đối với họ”
1.2.1.2 Chức năng của giao tiếp
Xét dưới gốc độ cá nhân, theo B.Ph.Lomov giao tiếp có 3 chức năng sau: + Chức năng thông tin
+ Chức năng điều chỉnh
Trang 23+ Chức năng cảm xúc
Xét dưới góc độ nhóm, giao tiếp có những chức năng:
+ Chức năng nhận thức
+ Chức năng tổ chức hoạt động chung
+ Chức năng thiết lập quan hệ
Xét dưới góc độ tâm lí học xã hội, giao tiếp có hai chức năng:
+ Chức năng liên kết: Nhờ chức năng này con người hiểu được nhau, liên hệ, xây dựng mối quan hệ với nhau
+ Chức năng đồng nhất: Thực hiện sự hoà hợp của cá nhân vào trong nhóm xã hội
Xét dưới góc độ giao tiếp là một phạm trù của tâm lý học hiện đại, giao tiếp có các chức năng sau:
+ Chức năng định hướng hoạt động con người, bao gồm cả việc xác định mục đích, nhu cầu, động cơ giao tiếp
+ Chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi: Chủ thể giao tiếp điều chỉnh nhu cầu, tình cảm… cho phù hợp với mục đích, nhiệm vụ giao tiếp
+ Chức năng truyền đạt tri thức, năng lực trong hoạt động,…
Dựa vào các cách phân loại trên có thể thấy rằng giao tiếp có rất nhiều chức năng, trong đó các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở một chức năng chung đó là giao tiếp làm diễn ra các hoạt động qua lại một cách hợp lý của con người Trên cơ sở các cách phân loại đó, chúng tôi rút ra một số chức năng chung của giao tiếp như sau:
+ Chức năng phối hợp các hoạt động: trong giao tiếp con người cùng đối tượng giao tiếp của mình có thể trao đổi, phối hợp hoạt động với nhau để giải quyết một nhiệm vụ nào đó, đạt tới mục đích đã định
+ Chức năng thông tin: Trong quá trình giao tiếp mỗi cá nhân có thể vừa là nguồn phát thông tin tới đối tượng giao tiếp nhưng đồng thời cũng là nơi tiếp nhận thông tin từ đối tượng giao tiếp
Trang 24+ Chức năng cảm xúc: Trong giao tiếp chủ thể bộc lộ quan điểm của mình đối với một vấn đề, hiện tượng nào đó, đồng thời biểu lộ rung cảm, thái
độ, tâm trạng của mình đối với chủ thể khác
+ Chức năng nhận thức, đánh giá lẫn nhau: Trong giao tiếp mỗi cá nhân tự bộc lộ nhận thức, tình cảm, tư tưởng, quan điểm của mình, đó là cơ
sở để đối tượng giao tiếp đánh giá, nhận xét và ngược lại đối phương cũng đánh giá, nhận xét lại chính bản thân
+ Chức năng điều chỉnh hành vi: Trong giao tiếp con người có thể điều chỉnh hành vi của mình và tác động đến động cơ, quá trình ra quyết định, hành động của đối tượng giao tiếp nên đối tượng giao tiếp cũng phải điều chỉnh hành vi của họ cho phù hợp với mục đích giao tiếp
1.2.2 Phân loại và đặc điểm của từng năng lực giao tiếp
Có rất nhiều cách phân loại năng lực giao tiếp, mỗi cách phân loại có
cơ sở khoa học riêng, V.P.Dakharop đã chia các năng lực giao tiếp thành bốn nhóm cơ bản:
+ Nhóm NL đóng vai tích cực chủ động trong giao tiếp
+ Nhóm NL thể hiện sự thụ động trong giao tiếp
+ Nhóm NL điều chỉnh sự phù hợp cân bằng trong giao tiếp
+ Nhóm NL diễn đạt cụ thể, dễ hiểu
Ông cho rằng bốn nhóm NLGT trên có thể phân chia thành 10 NLGT Chúng tôi cũng sử dụng cách chia của V.P.Dakharop trong khóa luận này, dưới đây chúng tôi xin trình bày ra 10 NLGT cụ thể của V.P.Dakharop Qua bảng trắc nghiệm Tâm lý của ông chúng tôi rút ra được các năng lực cần có để có một NLGT [5, tr.22-35] Dưới đây xin đưa ra các năng lực cụ thể và có phân tích nhỏ
Trang 251.2.2.1 Năng lực thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp
+ Biết cách làm quen với người lạ; biết làm cho người lạ gần gũi mình + Biết cách mở đầu câu chuyện đối với đối tượng giao tiếp
+ Có khả năng tiếp xúc đám đông
+ Có khả năng thích nghi với môi trường mới
+ Tiếp xúc với mọi người dễ dàng và tự nhiên
Thiết lập mối quan hệ hay nói đơn giản hơn đó là làm quen Để làm quen với một người nào đó, trước tiên ta phải tìm hiểu về họ như: giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, sở thích, hoàn cảnh gia đình… Tất cả những cứ liệu này sẽ giúp ta tìm ra chủ đề chung để mở đầu câu chuyện, gợi chuyện, dẫn dắt câu chuyện giao tiếp Mỗi đối tượng khác nhau, với những mục đích thiết lập mối quan hệ khác nhau sẽ có nghệ thuật thiết lập mối quan hệ riêng
1.2.2.2 Năng lực biết cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp
+ Biết kết hợp hài hòa nhu cầu, sở thích của mình với mọi người khi giao tiếp
+ Biết quan tâm tới nhu cầu, sở thích của họ
+ Thường cố gắng tìm hiểu nhu cầu của người khác
1.2.2.3 Năng lực nghe đối tượng giao tiếp
+ Trong lúc nghe đối tượng giao tiếp thì không suy nghĩ việc riêng + Nhắc lại được bằng lời những gì đối tượng giao tiếp đã nói
+ Diễn đạt chính xác ý đồ trong lời nói của đối tượng giao tiếp
+ Nhận biết được ý nghĩa giọng điệu của lời nói
+ Nhận ra ngụ ý trong lời nói của đối tượng giao tiếp
+ Tập trung lắng nghe
+ Nhận biết đối tượng giao tiếp lạc đề
Lắng nghe không phải bản năng mà là nghệ thuật, năng lực cần phải
Trang 26rèn luyện lâu dài Lắng nghe chính là hùng biện nhất nhưng ít ai biết được điều này Trong giao tiếp với nhau chúng ta thường tranh nhau thể hiện mà ít
có ai tranh nhau để lắng nghe
Để có năng lực lắng nghe tốt cần tuân thủ các bước sau đây của quy trình lắng nghe:
- Tập trung: yếu tố đầu tiên để lắng nghe hiệu quả là tập trung Tập trung có nghĩa là trong một thời điểm chỉ làm một việc Nhiều người giao tiếp không thành công vì trong khi lắng nghe người khác truyền tải thông điệp thì để các công việc khác xen vào Kết quả là thông điệp được truyền tải từ ngươì nói đến người nghe không có một cách hiểu như nhau Tập trung lắng nghe cũng là biểu hiện tôn trọng người nói, giúp người nói có thêm sự tin tưởng để giao tiếp cởi mở hơn
- Tham dự: Có người nói phải có người nghe, người gửi phải có người nhận Tham dự trong lắng nghe được biểu hiện bằng sự chú ý của đôi mắt, những cái gật đầu của người nghe; về ngôn từ là những từ đệm: dạ, vâng, ạ, thế à, thật không?
- Hiểu: Nhiều cuộc giao tiếp diễn ra theo kiểu “Ông nói gà, bà nói vịt” vì không hiểu được thông điệp của giao tiếp Để hiểu được thông điệp của người gửi, yêu cầu người nghe phải xác định lại thông điệp bằng cách trình bày lại nội dung của người nói theo ý hiểu của mình hoặc bằng cách đặt câu hỏi để xác định như: tôi hiểu như thế này có đúng không?, hoặc ý anh là…?
- Ghi nhớ: Ghi nhớ thông điệp chính
- Hồi đáp: Giao tiếp là quá trình tương tác 2 chiều giữa người gửi và người nhận Sau khi nhận thông điệp, bước tiếp theo cần có sự hồi đáp với người gửi Có đi có lại mới toại lòng nhau, mới có thể hoàn chỉnh quá trình giao tiếp cũng như lắng nghe
- Phát triển: Giao tiếp không phải là một thời điểm mà là một quá trình Quá trình hồi đáp là sự chấm dứt cho một chu trình mới Chu trình lắng nghe vừa miêu tả là một mô hình khép kín và diễn ra theo chiều xoáy trôn ốc đi lên
Trang 27Lắng nghe một cách hiệu quả là lắng nghe như thể bạn là người Bác sỹ đang chẩn đoán triệu chứng của bệnh nhân, hoặc là một phi công đang tiếp xúc với đài kiểm soát trong một cơn bão Người biết lắng nghe là người biết tiếp nhận những thông tin mới, những ý kiến mới và lợi điểm là nắm được thông tin, cập nhật hoá thông tin, và giải quyết được vấn đề
1.2.2.4 Năng lực tự chủ cảm xúc hành vi
+ Kiềm chế được trêu chọc, khích bác, nói xấu
+ Giữ được bình tĩnh khi người tiếp xúc có định kiến, chụp mũ mình + Tự chủ cảm xúc, hành vi của mình khi tranh luận
+ Không bị mất cân bằng cảm giác
1.2.2.5 Năng lực tự kiềm chế kiểm tra đối tượng giao tiếp
+ Áy náy khi xen vào chuyện người khác
+ Biết hay khuyên bảo, chỉ dẫn người khác trong giao tiếp là không tốt + Biết cách an ủi những người đang có điều gì lo lắng, buồn phiền + Biết ngăn cản người hay nói
+ Biết cách tác động vào người đang lung túng, bối rối
+ Biết làm cho người nói chuyện bị xúc động chi phối ngừng lời
1.2.2.6 Năng lực diễn đạt cụ thể, dễ hiểu
+ Nói chuyện hấp dẫn, có duyên
+ Diễn đạt ngắn gọn ý kiến của mình
+ Biết nhiều lời trong giao tiếp là không tốt
+ Nhận ra người khác nói chuyện rời rạc
Khi trao đổi thông tin với ai đó, để đạt được mục đích giao tiếp ta phải trải qua quá trình truyền thông Tuy nhiên, làm thế nào để thông điệp bạn muốn gửi cho người nhận đến “đích” và đạt hiệu quả cao, bạn phải hiểu được quá trình truyền thông và năng lực diễn đạt
Trang 281.2.2.7 Năng lực linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp
+ Tiếp thu ý kiến, quan điểm của người khác
+ Chú ý tới lý lẽ mới của đối tượng giao tiếp
+ Không bảo thủ giữ khư khư ý kiến trong tranh luậ nếu biết nó sai lầm
+ Biết được “gió chiều nào che chiều đó” là không tốt
+ Biết được thái độ, phản ứng của đối tượng giao tiếp là những thông tin rất quan trọng cần
+ Thay đổi quan điểm trong tình thế câu chuyện đã theo hướng khác
1.2.2.8 Năng lực thuyết phục đối tượng trong giao tiếp
+ Thuyết phục là khả năng dùng các công cụ gây ảnh hưởng làm cho người khác làm một điều gì đó
Để thuyết phục hiệu quả có rất nhiều cách Trong đó có cách sử dụng chiến lược sau:
- Sử dụng uy tín: trình độ, chú tâm, danh tiếng, nhân cách
- Lập luận lôgic Để lập luận lôgic thì luận cứ, chứng cứ giữ vai trò rất quan trọng
- Thể hiện tình cảm Ông bà ta có câu: “Một bồ cái lý không bằng một
+ Biết đầu tư thời gian thuyết phục người trái ý với mình
1.2.2.9 Năng lực điều khiển quá trình giao tiếp
V.P.Dakharop, một người có KN điều khiển quá trình giao tiếp là người có những năng lực:
Trang 29+ Duy trì nề nếp trong lớp, tổ chức của mình
+ Tự tin khẳng định điều gì đó như “đinh đóng cột” khi biết rõ về điều
đó 100%
+ Biết cách tạo bầu không khí tin in tưởng, giúp đỡ nhau trong lớp + Tổ chức, đề xướng các hoạt động tập thể và các cuộc vui của bạn bè + Hướng mọi người tập trung dứt điểm việc nào đó khi chuyển sang việc khác
+ Tự tin trong khi trò chuyện
1.2.2.10 Năng lực nhạy cảm trong giao tiếp
+ Áy náy khi làm phiền người khác
+ Biết được thái độ của đối tượng giao tiếp đối với mình
+ Động lòng trước đứa trẻ khóc
+ Nhạy cảm với nỗi đau của bạn bè và người thân
+ Áy náy, băn khoăn với sự khó chịu của bạn bè, người thân
+ Nắm bắt trạng thái của người khác
+ Động lòng khi thấy người bên cạnh đau khổ
1.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT
1.3.1 Sự phát triển chung
- Đặc điểm phát triển thể lực:
Theo kết quả chương trình “Nâng cao năng lực làm việc và hỗ trợ tâm
lý nhóm cho các cán bộ làm công tác chăm sóc và giáo dục trẻ em” là dự án
được thực hiện trong khuôn khổ hợp tác giữa Share và chương trình bảo vệ trẻ
em của đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, tuổi vị thành niên là giai đoạn cực kỳ phức tạp, trẻ thấy cơ thể mình biến đổi, mất tất cả những điểm tựa đã có, phải rời xa tuổi thơ để đến với thế giới của người lớn Nhưng thế giới này vẫn chưa phải là thế giới của chúng và thậm chí chính trẻ phản bác lại thế giới đó (trẻ thường xuyên đối lập với người lớn và không thừa nhận uy quyền của người
Trang 30lớn) để tìm kiếm các điểm tựa mới từ bạn bè (không phải lúc nào cũng là bạn
Sự xuất hiện của ham muốn tình dục là một sự đảo lộn đối với trẻ em tuổi vị thành niên Lúc này đó là thứ ham muốn của người lớn chứ không còn đơn thuần là những băn khoăn về tình dục như trong giai đoạn ấu thơ Chúng cũng không biết phải đề cập và ứng xử với bạn khác giới như thế nào, những người bạn này vừa lôi cuốn chúng nhưng lại làm chúng e ngại…tất cả những yếu tố trên làm cho trẻ vị thành niên thay đổi tâm trạng thường xuyên và khó hiểu (lúc này trẻ có thể là một người rất dịu hiền và tốt bụng, lúc sau lại trở nên khép kín, hung hăng và khó chịu)
Trước những xáo trộn này trẻ vị thành niên có thể có hai thái độ hoàn toàn đối lập nhau:
+ Hoặc trẻ không muốn rời bạn bè (gia đình mới của trẻ) với những người bạn này, trẻ tìm kiếm các điểm tựa và làm vài điều dại dột
+ Hoặc là trẻ phản ứng bằng cách trốn chạy và giam mình trong sự đơn độc bằng cách ở lỳ một mình trong phòng hoặc trước máy tính
- Nảy sinh cảm nhận về tính chất người lớn của bản thân:
Ranh giới giữa tuổi thanh niên và tuổi người lớn trong con mắt của thanh niên không phải bao giờ cũng hiện lên một cách rõ ràng Trong quan
hệ với trẻ nhỏ tuổi hơn hay trong quan hệ với các bạn đồng lứa, thanh niên có
xu hướng cố gắng thể hiện mình như người đã lớn Họ hướng tới các giá trị
Trang 31của người lớn, so sánh mình với người lớn, mong muốn được tự lập tự chủ trong giải quyết các vấn đề của riêng họ
- Sự phát triển tự ý thức:
Những thay đổi về vị thế xã hội, sự thách thức khách quan của cuộc sống dẫn đến sự xuất hiện ở lứa tuổi thanh niên những nhu cầu về hiểu biết thế giới, hiểu biết xã hội và các chuẩn mực quan hệ người - người, hiểu mình
và tự khẳng định cái tôi của mình trong xã hội
- Sự phát triển trí tuệ:
Lứa tuổi thanh niên là giai đoạn quan trọng của sự phát triển trí tuệ Xét
về mặt trí tuệ, đây là giai đoạn mà con người đang ở thời kỳ thịnh vượng nhất của sự phát triển trí tuệ Họ nhạy cảm với kích thích từ môi trường, có thể nhớ rất nhanh và nhớ nhiều, phản xạ trí tuệ nhạy bén, linh hoạt và sáng tạo Nắm được đặc điểm phát triển tâm lý dưới ảnh hưởng của hoạt động học tập của học sinh THPT sẽ giúp chúng tôi đưa ra được những phương pháp rèn luyện năng lực giao tiếp kích thích được tư duy, hứng thú và mang lại hiệu quả nhanh nhất đối với học sinh THPT Nguyễn Huệ - Ninh Bình Các đặc điểm này thể hiện ở những mặt sau:
+ Tri giác:
Thời kỳ này trẻ có độ nhạy cảm cao về tri giác nhìn và tri giác nghe, có
sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan vận động: mắt nhìn, tai nghe, tay viết, óc suy nghĩ Quan sát của các em chịu sự điều khiển của ngôn ngữ nhiều hơn Ở các em, phát triển tư duy gắn chặt với phát triển ngôn ngữ
+ Trí nhớ:
Học sinh THPT đang ở giai đoạn phát triển cao của trí nhớ họ có có khả năng nhớ rất nhanh Các loại trí nhớ phát triển nhưng trí nhớ có chủ định giữ vai trò quan trọng nhất Hình thức ghi nhớ phong phú và đa dạng song ghi nhớ từ ngữ và logic chiếm ưu thế và tăng rõ rệt
+ Chú ý:
Chú ý có chủ định chiếm ưu thế, các em biết đề ra mục đích của chú ý, năng lực di chuyển và phân phối chú ý của học sinh THPT được phát triển và hoàn thiện Điều này giúp các em có thể thực hiện và hoàn thành hai hay
Trang 32nhiều hoạt động cùng một lúc, làm gia tăng hiệu quả và chất lượng hoạt động,
ví dụ khả năng vừa nghe giảng, vừa ghi chép bài
+ Tư duy và tưởng tượng:
Tư duy hình thức được xây dựng ở giai đoạn này và cho phép trẻ thiết lập mối quan hệ giữa hiện thực và khả năng Kiểu tư duy này có đặc điểm đó
là dựa vào những đặc điểm có tính chất tượng trưng, dựa vào một hệ thống kí hiệu quy ước như ngôn ngữ, các ký hiệu toán học, vật lý học…để phân tích, suy luận ra những kết luận, thoát khỏi mối liên hệ trực tiếp với vật thật và mô hình thay thế, trước khi giải quyết vấn đề, thiếu niên có khả năng đưa ra giả thuyết cho tình huống và dựa vào giả thuyết đó để xây dựng chiến lược, giải quyết vấn đề đặt ra
1.3.2 Đặc điểm giao tiếp của lứa tuổi học sinh THPT
Các nhà tâm lý học đã khẳng định, cùng với sự thay đổi từ hoạt động chủ đạo này sang hoạt động chủ đạo khác ở các lứa tuổi khác nhau thì giao tiếp cũng mang những đặc điểm khác nhau Theo các công trình nghiên cứu của Lixina và các cộng sự của bà thì hoạt động giao tiếp có hình thức cảm xúc trực tiếp là dạng hoạt động chủ đạo của trẻ sơ sinh Đến tuổi đi nhà trẻ thì có
sự chuyển tiếp từ giao tiếp cảm xúc trực tiếp sang hoạt động thao tác với đối tượng Ở lứa tuổi mẫu giáo thì hoạt động vui chơi đã trở thành hoạt động chủ đạo Tức là trẻ giao tiếp chủ yếu với bạn bè cùng lứa tuổi và thông qua các trò chơi phân vai Ở giai đoạn này, bên cạnh phương tiện giao tiếp cơ bản là lời nói trẻ còn sử dụng khá linh hoạt những phương tiện phi ngôn ngữ như nét mặt, cử chỉ, điệu bộ Thông qua các trò chơi phân vai, trẻ bắt đầu lĩnh hội được một số nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức trong các trong các mối quan hệ
xã hội của người lớn Ở tuổi nhi đồng thì hoạt động học tập trở thành hoạt động chủ đạo Dưới ảnh hưởng của hoạt động này mà sự giao tiếp của học sinh có những đặc điểm mới Bên cạnh mối quan hệ giao tiếp với những người thân trong gia đình, với bạn bè, thôn xóm…các em còn có thêm quan
hệ giao tiếp với những người bạn mới và thầy cô Thông qua giao tiếp với thầy cô, các em lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội lịch sử, những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức, những quy tắc hành vi một cách có mục đích,
có tổ chức Ở lứa tuổi thiếu niên, theo các nhà tâm lý học T.V.Dragunova và
Trang 33D.B.Enconhin thì hoạt động giao tiếp cá nhân thân tình là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này Giao tiếp ở lứa tuổi này có đặc điểm là tái tạo những quan hệ của người lớn và tiếp thu các chuẩn mực đó Ở lứa tuổi này thường diễn ra sự xung động trong hoạt động giao tiếp với người lớn và đây cũng là một đặc điểm khác biệt của tuổi thiếu niên so với các tuổi khác Đến tuổi thanh niên và tuổi trưởng thành thì hoạt động giao tiếp không còn giới hạn ở giao tiếp cá nhân thân tình nữa mà được mở rộng trong nhiều lĩnh vực quan hệ khác nhau của hoạt động nghề nghiệp và hoạt động thực tiễn nói chung Con người lúc này biết vận dụng một cách sáng tạo những chuẩn mực đạo đức, những quy tắc hành vi của các mối quan hệ đã được tiếp thu trong các thời kỳ trước và bổ sung vào đó những yếu tố mới để phù hợp với yêu cầu thực tại
Cụ thể, đặc điểm giao tiếp của lứa tuổi học sinh trung học phổ thông có những điểm đáng lưu ý sau:
+ Giao tiếp với người lớn
Quan hệ với bạn bè và cha mẹ Tình bạn là cảm tình quan trọng nhất
ở lứa tuổi THPT Ở tuổi này giao tiếp với người lớn tuổi hoặc nhỏ tuổi chiếm
vị trí nhỏ Điều này là do thanh niên khát khao có nhưng quan hệ bình đẳng trong cuộc sống Giai đoạn này họ đã có nhu cầu sống tự lập: tự lập về hành
vi, tình cảm và đạo đức, giá trị Mối quan hệ với cha mẹ trong giai đoạn này trở nên phức tạp nhưng cũng dần bình đẳng hơn
+ Giao tiếp trong nhóm bạn
Ở tuổi này, quan hệ với bạn bè được mở rộng và chiếm vị trí quan trọng Nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi phát triển mạnh
mẽ Tình bạn trong giai đoạn này có ý nghĩa rất quan trọng, học sinh giai đoạn này có khát vọng tự khám phá bản thân mình nhưng vì chưa có khả năng hiện thực hóa biểu tượng bản thân mình nên thanh niên muốn kiểm tra mình bằng cách so so sánh với người khác Chính tình bạn thân thiết giúp họ đối chiếu được những trải nghiệm, ước mơ…
+ Giao tiếp với bạn khác giới
Ở tuổi học sinh THPT đã xuất hiện một loại tình cảm đặc biệt - tình yêu nam nữ Đây là trạng thái hoàn toàn mới trong đời sống tình cảm của lứa tuổi này Tuy nhiên tình cảm này chỉ mới dùng ở mức yêu đương bạn bè, do lứa
Trang 34tuổi này ít bộc lộ tình cảm của mình Nhìn chung đây là một vấn đề phức tạp
nó đòi hỏi sự nghiên cứu từ nhiều phía
1.4 Thực trạng năng lực giao tiếp của học sinh trường THPT Nguyễn Huệ – Ninh Bình
1.4.1 Thực trạng chung về năng lực giao tiếp của học sinh
Theo thang trắc nghiệm Dakharop về năng lực giao tiếp, năng lực giao tiếp của con người có thể chia làm 10 năng lực cơ bản đó là:
1 Khả năng tiếp xúc và thiết lập mối quan hệ (câu 1, 11, 21, 31, 41, 51, 61
và 71)
2 Biết cân bằng nhu cầu cá nhân khi giao tiếp (câu 2, 12, 22, 32, 42, 52, 62, 72)
3 Năng lực nghe đối tượng giao tiếp (câu 3, 13, 23, 33, 43, 53, 63, 73)
4 Năng lực tự chủ cảm xúc, hành vi (câu 4, 14, 24, 34, 44, 54, 64, 74)
5 Năng lực kiềm chế, kiểm tra người khác (câu 5, 15, 25, 35, 45, 55, 65, 75)
6 Năng lực diễn đạt dễ hiểu, cụ thể (câu 6, 16, 26, 36, 46, 65, 76)
7 Năng lực linh hoạt mềm dẻo ( câu 7, 17, 27, 37, 47, 57, 67, 77)
8 Năng lực thuyết phục đối tượng giao tiếp (câu 8, 18, 28, 38, 48, 58, 68, 78)
9 Khả năng chủ động điều khiển quá trình giao tiếp (câu 9, 19, 29, 39, 49,
59, 69, 79)
10 Sự nhạy cảm trong giao tiếp (câu 10, 20, 30, 40, 50, 60, 70, 80)
Sau khi tiến hành điều tra bằng bảng hỏi trắc nghiệm năng lực giao tiếp của Dakharop (Phụ lục) ở bốn lớp 10A, 10B, 10D, 10H gồm 179 HS và xử lý
số liệu điều tra, chúng tôi tiến hành phân tích và thu được kết quả như sau:
Trang 35Bảng 1.1: Kết quả NL tiếp xúc và thiết lập mối quan hệ
Trang 37Bảng 1.7: Kết quả NL linh hoạt mềm dẻo
Trang 38Trung bình mức độ năng lực giao tiếp của học sinh THPT Nguyễn Huệ – Ninh Bình đạt 8,9 điểm/16 điểm, tương đương với xếp loại năng lực giao tiếp chỉ đạt mức trung bình Điều này đúng với giả thuyết mà chúng tôi đặt ra
ở giả thuyết nghiên cứu: Năng lực giao tiếp của học sinh THPT Nguyễn Huệ – Ninh Bình còn chưa thực sự tốt và cần có những biện pháp tác động để giúp
các em phát triển năng lực giao tiếp cho các em
Theo kết quả điều tra của chúng tôi, trong số 10 năng lực giao tiếp trên, năng lực mà các em học sinh THPT Nguyễn Huệ – Ninh Bình đạt cao nhất là
sự nhạy cảm trong giao tiếp (đạt 10,6 điểm), đạt loại khá Điều đó có nghĩa là, các em có khả năng nhận diện được thái độ cư xử của người khác đối với mình, có thể xúc động và tìm cách giúp đỡ khi người khác có biểu hiện buồn, nhạy cảm với nỗi đau của bạn bè và người thân, cảm thấy áy náy, băn khoăn trước điều khó chịu của bạn bè, người thân, có khả năng nắm bắt được tâm trạng người khác
Năng lực giao tiếp mà các em học sinh THPT Nguyễn Huệ – Ninh Bình còn kém nhất đó là năng lực tự chủ cảm xúc hành vi, điểm trung bình của năng lực này chỉ đạt 6,17 điểm, xếp loại yếu Điều này là tương đối hợp lý vì trong độ tuổi có nhiều biến động về tâm – sinh lý và trải nghiệm cuộc sống chưa nhiều nên các em dễ đánh mất thăng bằng cảm xúc, dễ mất bình tĩnh… Cùng với năng lực tự chủ hành vi, cảm xúc còn kém thì khả năng thuyết phục đối tượng giao tiếp của các em cũng mới chỉ đạt 6,38 điểm/16 điểm, xếp vị trí thứ 9/10; năng lực tiếp xúc và thiết lập mối quan hệ cũng chỉ đạt 6,61 điểm/16 điểm, ở mức yếu
Mức độ xếp loại năng lực của 10 năng lực trên được thống kê ở bảng
sau:
Trang 39Bảng 1.11: Thực trạng các năng lực giao tiếp của học sinh trường THPT
Nguyễn Huệ – Ninh Bình
TB
Thứ bậc
2 62,6 42 23,5 3 1,6 9,88 5
Trang 40TT NL
TB
Thứ bậc
1.4.2 So sánh năng lực giao tiếp của học sinh theo giới tính
Bảng 1.12: Xếp loại mức độ năng lực giao tiếp theo giới tính
Điểm trung bình năng lực 7,4 8,8 Xếp loại năng lực TB TB
Theo bảng trên, mức độ năng lực giao tiếp trung bình của các em nam
là 7,4 điểm, thấp hơn các em nữ 1,4 điểm Tuy xếp loại mức độ năng lực của
cả nam và nữ đều đạt mức trung bình, nhƣng có thế thấy rằng với số điểm 7,4