1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản trị công tại nhật bản từ năm 1945 đến nay và giá trị tham khảo cho việt nam

109 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Di sản để lại của những thể chế này là sự méo mó, cực đoan trong quản trị công như thiếu pháp quyền, phi dân chủ, không có cơ chế kiểm soát quyền lực, thiếu minh bạch và trách nhiệm giải

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG QUÝ DƯƠNG

QUẢN TRỊ CÔNG TẠI NHẬT BẢN TỪ NĂM 1945 TỚI NAY VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà nội – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG QUÝ DƯƠNG

QUẢN TRỊ CÔNG TẠI NHẬT BẢN TỪ NĂM 1945 TỚI NAY VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành : Quản trị nhà nước và Phòng chống tham nhũng

Mã số: 8380101.09

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Quân

Hà nội – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn với đề tài “Quản trị công tại Nhật Bản từ

năm 1945 tới nay và giá trị tham khảo cho Việt Nam” là công trình nghiên

cứu của cá nhân tôi, không sao chép của bất cứ ai

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình!

Hà Nội, tháng 9 năm 2020

Người cam đoan

Hoàng Quý Dương

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN TRỊ CỘNG HIỆN ĐẠI 7

1.1 Khái niệm quản trị công và bối cảnh ra đời của lý thuyết quản trị công hiện đại 7

1.1.1 Khái niệm quản trị công 7

1.1.2 Bối cảnh ra đời của lý thuyết quản trị công hiện đại 7

1.2 Các đặc trưng của Quản trị công hiện đại 9

1.2.1 Chú trọng hiệu quả trong hoạt động quản lý, tăng cường kiểm soát kết quả thay cho việc kiểm soát quy trình 9

1.2.2 Phi quy chế hóa 10

1.2.3 Phi tập trung hóa 11

1.2.4 Áp dụng cơ chế thị trường trong quản trị công 12

1.2.5 Tư nhân hóa một phần các hoạt động của Nhà nước 12

1.2.6 Vận dụng phương pháp quản trị doanh nghiệp 14

1.2.7 Định hướng đến khách hàng và định hướng về người dân 15

1.3 Hạn chế của Quản trị công hiện đại 16

CHƯƠNG 2 QUẢN TRỊ CÔNG TẠI NHẬT BẢN TỪ NĂM 1945 TỚI NAY 20

2.1 Lịch sử và bối cảnh 20

2.1.1 Một nước Nhật bị tàn phá 20

Trang 5

2.1.2 Một nước Nhật bị chiếm đóng 21

2.2 Những cải cách trong thời kỳ chiếm đóng (1945 – 1951) 22

2.2.1 Những biện pháp nhằm ổn định tình hình xã hội 23

2.2 2 Cuộc thanh trừng ở Nhật Bản thời kỳ chiếm đóng 24

2.2.3 Hiến pháp 1946 và mô hình Nhà nước Nhật Bản mới 25

2.2.4 Các cải cách về kinh tế 28

2.2.5 Cải cách về giáo dục 29

2.3 Hệ thống chính trị Nhật Bản 30

2.3.1 Thể chế 1955 và tam giác quyền lực tại Nhật Bản 30

2.3.2 Cải cách hành chính 35

2.3.3 Cải cách tư pháp 41

2.4 Vấn đề tham nhũng tại Nhật Bản 43

2.4.1 Chủ thể, hình thức và đặc điểm của tham nhũng 43

2.4.2.Phòng, chống tham nhũng 45

2.5 Quản trị nhà nước trong lĩnh vực kinh tế 48

2.5.1 Thời kỳ tăng trưởng nhanh (1952-1972) 48

2.5.2 Thời kỳ khắc phục khủng hoảng, tiếp tục tăng trưởng (1972 – 1989) 50 2.5.3 Thời kỳ nền kinh tế Nhật Bản lâm vào khủng hoảng và trì trệ (1989 tới nay) 53

2.6 Các tổ chức xã hội, phong trào xã hội và sự tham gia của người dân 59

2.6.1 Các hiệp hội tại Nhật Bản 59

2.6.2 Các phong trào xã hội 61

2.7 Hệ thống an sinh xã hội 64

2.7.1 Giai đoạn 1955 – 1974 64

2.7.2 Giai đoạn 1975 – 1989 65

2.7.3 Giai đoạn từ 1990 tới nay 66

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIÁ TRỊ THAM KHẢO CHO VIỆT NAM HIỆN NAY 68

Trang 6

3.1 Bối cảnh tại Việt Nam 68

3.2 Một số giá trị tham khảo cho quản trị công hiện nay 72

3.2.1 Sự thực dụng trong việc đề ra và thực hiện các chính sách 72

3.2.2 Cải cách hành chính 75

3.2.3 Một số giá trị tham khảo trong quản trị nền kinh tế của Nhật Bản 82

3.2.4 Một số gợi ý trong cải cách tư pháp 87

3.4.3 Tăng cường tuyên truyền và giáo dục pháp luật cho công chúng 90

3.2.5 Một số gợi ý về chính sách hưu trí 90

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

đồng minh (General Headquarter of the Supreme Commander of the Allied Powers)

Democractic Party)

nghiệp (Ministry of International Trade and Industry)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Sự khác biệt giữa quản lý nhà nước truyền thống và quản trị công hiện đại 9 Bảng 2.1 Những chỉ số kinh tế chủ yếu tại Nhật Bảnthập kỷ 1960[46, tr 247] 50

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Mối quan hệ trong Tam giác quyền lực tại Nhật Bản 31

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Năm 1945, Nhật Bản bước ra khỏi cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ 2 với tư cách là một nước chiến bại Hậu quả của chiến tranh đối với đất nước này vô cùng nặng nề Không chỉ phải đối mặt với sự nghèo đói, cơ sở hạ tầng

bị tàn phá mà quốc gia này còn phải gánh chịu thảm họa nhân đạo diễn ra hàng ngày và sự sụp đổ của những thể chế cũ Di sản để lại của những thể chế này là sự méo mó, cực đoan trong quản trị công như thiếu pháp quyền, phi dân chủ, không có cơ chế kiểm soát quyền lực, thiếu minh bạch và trách nhiệm giải trình, sự phân biệt đối xử trong xã hội, sự độc quyền của các tập đoàn kinh tế được Nhà nước chống lưng, tình trạng tham nhũng tràn lan, nhân quyền bị xâm hại

Do yêu cầu bức thiết của thời đại, cũng như những tác động tích cực từ các yếu tố nước ngoài và sự nỗ lực không mệt mỏi của cả dân tộc, Nhật Bản

đã xây dựng nền quản trị công của mình theo hướng tiếp cận rất đặc thù và hết sức độc đáo Ngày nay, khi đã trở thành một cường quốc kinh tế, có tiếng nói và ảnh hưởng mạnh mẽ trên trường quốc tế, mô hình quản trị công của Nhật Bản đã được các nước đang phát triển và kém phát triển tham khảo, học hỏi Việc nghiên cứu lịch sử của mô hình này là cần thiết, để thấy được sự thay đổi (gồm cả sự tiến hóa và sự thoái hóa) đặt trong những hoàn cảnh đặc thù, những giai đoạn lịch sử nhiều biến động, cách những mô hình đó thích nghi với sự xoay chuyển liên tục của quan hệ quốc tế và sự tiến bộ của công nghệ, trong khi những giá trị cốt lõi vẫn được giữ nguyên không thay đổi Đương nhiên, chưa có nền quản trị công nào là hoàn hảo, vì thế việc nghiên cứu lịch sử quản trị công tại Nhật Bản cũng đồng thời phải chỉ ra được những sai lầm, hạn chế đã tồn tại trong những mô hình này

Trang 10

Trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hóa và sự tiến bộ như vũ bão của công nghệ đã và đang đặt ra những thách thức to lớn đối với quản trị công tại Việt Nam, nhiều vấn đề về cả lý luận và thực tiễn được bộc lộ rõ nhưng chưa

có hướng giải quyết thỏa đáng Vì thế, học viên lựa chọn nghiên cứu về quản trị công Nhật Bản giai đoạn từ năm 1945 đến nay với mong muốn từ đó tìm ra được những giá trị tham khảo thiết thực cho Việt Nam

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu và mục đích nghiên cứu

Quản trị công/quản trị nhà nước/quản lý nhà nước nói chung và các khía cạnh của vấn đề nói riêng là đề tài được nghiên cứu tại nhiều học viện, trường đại học, các trường chính trị và viện nghiên cứu tại Việt Nam Sau đây

là một số giáo trình và các đề tài nghiên cứu chủ yếu liên quan tới vấn đề này:

- Nguyễn Thị Quế Anh, Vũ Công Giao, Nguyễn Hoàng Anh (đồng chủ biên), Các lý thuyết, mô hình, cách tiếp cận về Quản trị Nhà nước và Phòng, chống tham nhũng, NXB Hồng Đức, Hà Nội, 2018;

- Nguyễn Thị Quế Anh, Vũ Công Giao, Vũ Ngọc Anh, Nguyễn Thị Minh Hà (đồng chủ biên), Chính phủ mở, Chính phủ điện tử và Quản trị Nhà nước hiện đại, NXB Hồng Đức, Hà Nội, 2019;

- Lê Thị Thu Mai, Dân chủ hóa tại Hàn Quốc, Nhật Bản và những giá trị tham khảo đối với Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2016

Bên cạnh đó cũng có các công trình nghiên cứu về lịch sử Nhật Bản cận hiện đại, chẳng hạn như:

-TS Vĩnh Sính, Nhật Bản cận đại, NXB Lao động, Hà Nội, 2014;

- Takafusa Nakamura (1998), Kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh – sự phát triển và cơ cấu, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Kinh tế Thế giới, Hà Nội;

- GS.TS Nguyễn Nam Trân, Giáo trình lịch sử Nhật Bản

Trang 11

- Trần Thế Nhựt, Vai trò của Fukuzawa Yukichi đối với lịch sử Nhật Bản cận đại, Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, 2011

Trên thực tế, chúng ta đều có thể hiểu được tính cấp thiết của các công trình nghiên cứu trên Các công trình nghiên cứu trên đều làm rõ được lý luận

về quản trị công/quản trị nhà nước/quản lý nhà nước; trình bày được những hiểu biết sâu sắc về lịch sử Nhật Bản cận hiện đại Ví dụ như luận án Tiến sĩ của tác giả Lê Thị Thu Mai về đề tài “Dân chủ hóa tại Hàn Quốc, Nhật Bản

và những giá trị tham khảo đối với Việt Nam” đã khẳng định được những giá trị mà dân chủ mang lại cho nhà nước và xã hội Hàn Quốc, Nhật Bản và chỉ ra được những thành tựu của Hàn Quốc và Nhật Bản trong quá trình dân chủ hóa, cũng như những giá trị tham khảo cho Việt Nam Một ví dụ khác là luận văn Thạc sĩ lịch sử của tác giả Trần Thế Nhựt về đề tài “Vai trò của Fukuzawa Yukichi đối với lịch sử Nhật Bản cận đại” Luận văn này đã lí giải cho những thành tựu mà Nhật Bản đạt được trong thời kỳ cận đại từ góc nhìn

về vai trò của nhà tư tưởng lỗi lạc Fukuzawa Yukichi Tuy nhiên, mỗi một tác giả với đề tài của mình đều có những cách riêng để trình bày về nội dung mà mình muốn diễn đạt, thường là chỉ về một mảng quản trị công hoặc một mảng lịch sử;vả lại hình thức thể hiện của họ cũng như định hướng đề tàihoàn toàn khác nhau tùy thuộc vào thời điểm nghiên cứu, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, đối tượng nghiên cứu, mục đích nghiên cứu

Hiện nay, tại Việt Nam, lí thuyết về quản trị công hiện đại vẫn còn khá mới mẻ Nhật Bản hiện là một đối tác quan trọng của Việt Nam, có nhiều kinh nghiệm để chúng ta học hỏi, tham khảo, tuy nhiên việc tham khảo thường chỉ tập trung ở những vấn đề rất cụ thể, chẳng hạn như hoạt động nghị viện, cải cách tư pháp, hoặc cụ thể hơn nữa như xây dựng đường sắt cao tốc v.v… Hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu khái quát về lịch sử của

Trang 12

Nhật Bản qua góc độ quản trị công hiện đại, để nhìn nhận và tham khảo các giá trị tích cực cũng như tiêu cực của Nhật Bản một cách có chọn lọc qua một chiều dài lịch sử từ năm 1945 tới nay với nhiều sự kiện tác động đa chiều như: cuộc chiếm đóng của quân đội Đồng Minh, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh lạnh, các mối quan hệ quốc tế thay đổi liên tục, các cuộc suy thoái, bong bóng kinh tế, Cách mạng công nghiệp 4.0 v.v… Những sự kiện này có tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới quản trị công tại Nhật Bản, từ việc ra chính sách của Nhà nước tới các hoạt động của khối xã hội dân sự Tôi nhận thấy những giá trị, những kinh nghiệm đáng học hỏi từ quản trị công tại Nhật Bản

sẽ được nhìn nhận đúng đắn và toàn diện hơn khi đặt nó vào trong dòng chảy của lịch sử

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài là nền quản trị công của Nhật Bản từ năm 1945 tới nay

Khách thể nghiên cứu của đề tài là các sự kiện lịch sử có ảnh hưởng tới quản trị công tại Nhật Bản, các thể chế trong xã hội Nhật Bản, pháp luật và chính sách do nhà nước Nhật Bản ban hành, các học thuyết và trào lưu chính trị tại Nhật Bản, các phong trào xã hội, quan hệ quốc tế và các hiệp định mà Nhật Bản ký kết, sự vận hành của nền kinh tế Nhật Bản và các khách thể khác

có liên quan tới quản trị công tại Nhật Bản

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày lý thuyết về quản trị công hiện đại

- Hệ thống hóa lịch sử Nhật Bản từ năm 1945 tới nay trên các quan điểm, học thuyết về quản trị công hiện đại

- Đánh giá sự tích cực, tiêu cực của nền quản trị công tại Nhật Bản qua các thời kỳ, các khía cạnh

- So sánh và rút ra các giá trị có thể tham khảo cho Việt Nam

Trang 13

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghã duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cũng như quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, luận văn sử dụng

các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp lịch sử: xem xét và trình bày quá trình phát triển của nền quản trị công tại Nhật Bản theo trình tự thời gian trong mối liên hệ với các sự kiện lịch sử và các khách thể nghiên cứu khác

- Phương pháp phân tích so sánh: sự so sánh quản trị công của Nhật Bản với Việt Nam và một số quốc gia khác trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định; hoặc so sánh quản trị công của Nhật Bản giữa các thời kỳ nhằm làm rõ nét sự tương đồng và khác biệt của các đối tượng này

- Phương pháp phân kỳ: phân chia lịch sử quản trị công của Nhật Bản thành các thời kỳ, nhằm nghiên cứu sâu sắc các quá trình lịch sử, làm sáng tỏ nội dung và đặc điểm của các thời kỳ này

- Phương pháp thống kê: Phương pháp này cho phép thông qua tất cả các bản thống kê về số lượng, chẳng hạn như các chỉ số kinh tế, số lượng công nhân tham gia vào các phong trào đấu tranh v v nhằm vạch ra tính quy định thuộc về tính chất của các hiện tượng và quá trình trong lịch sử quản trị công Nhật Bản

6 Ý nghĩa của đề tài

Tác giả thực hiện đề tài nhằm để hiểu sâu sắc hơn về quản trị công trong dòng chảy của lịch sử tại Nhật Bản – một đối tác quốc tế vừa đặc biệt quan trọng của Việt Nam hiện nay và còn là đất nước có những điểm tương

Trang 14

đồng thú vị về lịch sử, văn hóa và cả thể chế Tác giả mong muốn từ đó rút

ra được những giá trị tham khảo cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Quản trị công tại Nhật Bản từ năm 1945 tới nay

Chương 3: Một số giá trị tham khảo cho Việt Nam hiện nay

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN TRỊ CỘNG HIỆN ĐẠI

1.1 Khái niệm quản trị công và bối cảnh ra đời của lý thuyết quản trị công hiện đại

1.1.1 Khái niệm quản trị công

Quản trị nhà nước là cơ chế ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định

để quản lý, giải quyết các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội ở một quốc gia

Khái niệm quản trị công có thể được hiểu là sự mở rộng của khái niệm quản trị nhà nước với sự tham gia của các chủ thể như người dân, các tổ chức

xã hội, khối doanh nghiệp và các thiết chế quốc tế

1.1.2 Bối cảnh ra đời của lý thuyết quản trị công hiện đại

Trong bối cảnh ngày nay, việc quản lý nhà nước không chỉ vì mục tiêu lợi ích công cộng mà còn phải chứng minh tính hiệu quả của hoạt động Giống như doanh nghiệp, nhà nước phải không ngừng nâng cao hiệu quả và giảm chi phí hoạt động, phải hoàn thành các nhiệm vụ của mình trong những điều kiện tốt nhất có thể có, chăm lo đến chất lượng của các dịch vụ mà nhà nước cung ứng và sử dụng hiệu quả nhát những phương tiện sẵn có Tại các nước phương Tây, vấn đề về hiệu quả trong lĩnh vực quản lý công được bàn luận sôi nổi trong hai giai đoạn: trong những năm 1960 nhân danh đòi hỏi

“hợp lý hóa” trong quản lý công và từ những năm 1970 trong bối cảnh khủng hoảng của mô hình nhà nước phúc lợi, buộc giới kỹ trị phải cải cách hoạt động quản trị nhà nước Trong bối cảnh này, nhiều quốc gia trên thế giới đặt vấn đề xem xét lại khu vực công về quy mô và khả năng điều hành sự phát triển của đất nước, đặc biệt các quốc gia như Anh, Mỹ Các cuộc cải cách lớn trong khu vực được tiến hành Tác động của các cuộc cải cách này không chỉ

là những thay đổi lớn đơn thuần mà đó chính là những thay đổi trong nhận

Trang 16

thức của xã hội về vai trò của khu vực công và cách thức điều hành Cách tiếp cận hướng đến kết quả đầu ra, hiệu quả quản lý, phân cấp, phân quyền, áp dụng các yếu tố của thị trường vào nền hành chính trở thành một xu thế lớn của các nền hành chính phát triển

Có thể thấy rằng, trong xã hội ngày nay, nhà nước và doanh nghiệp phải đối mặt cùng một số vấn đề như sau: những tiến triển mau chóng và sâu rộng của khoa học công nghệ, áp lực từ sự cạnh tranh ngày một khốc liệt, đòi hỏi gia tăng năng suất để tối ưu hóa các nguồn lực ngày càng khan hiếm, tìm kiếm và thỏa mãn nhu cầu của lượng khách hàng nhiều hơn Nói cách khác, nhà nước cũng không thoát khỏi những quy tắc mà doanh nghiệp phải tuân thủ nếu muốn nâng cao hiệu quả và năng suất Đồng thời, chúng ta chứng kiến sự xói mòn niềm tin của công chúng vào một số biểu tượng và hệ giá trị

mà dựa trên đó nhà nước tạo lập tính chính danh, ví dụ như dân chủ đại diện, lợi ích công cộng Hiện tượng khủng hoảng về tính chính danh này trùng hợp với sự lên ngôi của các giá trị doanh nghiệp Trong khi quản lý công dường như đồng nghĩa với sự nặng nề, trì trệ và quan liêu thì quản lý tư kiểu doanh nghiệp lại cho thấy sự năng động và sáng tạo Điều này gợi ý cho nhà nước vay mượn một số phương pháp của quản trị tư cho điều hành, quản trị quốc gia Hình thức quản trị công mới được đề xuất vào những năm 1980 nhằm đáp ứng đòi hỏi đó

Quản trị công hiện đại được xây dựng và áp dụng ban đầu tại Anh, rồi được phổ biến tại các nước Anglo-Saxon (Mỹ, Úc, New Zealand ), các nước Bắc Âu và châu Âu lục địa Quản trị công hiện đại dựa theo quan niệm mà theo đó cơ quan hành chính phải hoạt động phỏng theo mô hình của doanh nghiệp tư nhân, mô hình được xem là có hiệu quả Mô hình này đòi hỏi sự thoái lui của nhà nước trong các hoạt động sản xuất (thông qua tư nhân hóa) phải được đi kèm với tăng quyền tự chủ quản lý (managerialization), cạnh

Trang 17

tranh theo quy luật của thị trường các dịch vụ (marketization); giám sát liên tục các nguồn lực được sử dụng, quản trị hướng tới sự thay đổi (management for change) hơn là duy trì cấu trúc hiện có (maintenance management), quản

lý nguồn nhân lực hướng tới tạo cho các cá nhân và tổ chức nhiều quyền tự chủ hơn

Sự khác biệt giữa quản lý nhà nước truyền thống (mô hình Weber) và quản trị công hiện đại được thể hiện ở bảng dưới đây:

Bảng 1.1 Sự khác biệt giữa quản lý nhà nước truyền thống và quản trị

công hiện đại

Mô hình Weber Quản trị công hiện đại Mục tiêu Tuân thủ các quy tắc,

quy trình và thủ tục (đúng quy trình)

Đạt được kết quả đề ra, làm hài lòng khách hàng (người dân)

Tổ chức Tập quyền (thứ bậc,

mang tính chức năng, cấu trúc hình tháp)

Phi tập trung hóa (ủy quyền, phân quyền, cấu trúc mạng lưới)

Sự chia sẻ trách

nhiệm giữa chính trị

và pháp lý

Không rõ ràng Rõ ràng

Thực thi nhiệm vụ Phân công, phân cấp

và chuyên môn hóa

Tự chủ

Sự tuyển chọn Thông qua thi tuyển Hợp đồng, đấu thầu

Sự thăng tiến của

Ngân sách Dựa theo khả năng Dựa theo mục tiêu đề ra

1.2 Các đặc trƣng của Quản trị công hiện đại

1.2.1 Chú trọng hiệu quả trong hoạt động quản lý, tăng cường kiểm soát kết quả thay cho việc kiểm soát quy trình

Trong mô hình quản trị công hiện đại, vai trò của khoa học quản lý và của các nhà quản lý, nhất là các nhà quản lý theo lối quản trị doanh nghiệp

Trang 18

được đề cao và chính là yếu tố quyết định việc đạt được mục tiêu của quản lý Nếu trong mô hình hành chính truyền thống, các nhà hành chính chủ yếu làm nhiệm vụ thi hành mệnh lệnh và làm theo các quy tắc, quy trình định sẵn thì ngày nay với tư cách nhà quản trị, họ phải tính toán, dự toán, sáng tạo và năng động để đạt được mục tiêu Vì mục tiêu phải đạt là hiệu quả, hiệu suất của hoạt động quản lý, các nhà hành chính bên cạnh việc quan tâm đến quy trình, phương pháp còn phải quan tâm đến mục đích có đạt được không, cụ thể là hiệu quả được lượng hóa, đánh giá bằng các chỉ tiêu đánh giá dựa trên so sánh kết quả/chi phí Hiệu quả trong quản lý công thường được đúc kết thành 3 tiêu chí: hiệu quả, hiệu suất và tính kinh tế Dĩ nhiên, tính hiệu quả của hành chính công có những nét khác với hiệu quả của doanh nghiệp Đối với cơ quan hành chính, hiệu quả công việc không thể đơn thuần là “hiệu suất”, năng suất như các doanh nghiệp tư nhân, mà chính quyền phải quản lý tốt hơn các nguồn lực được phân bổ Hiệu quả của cơ quan hành chính được đánh giá căn cứ vào mức độ thực hiện các mục tiêu do các địa biểu dân cử đặt ra trước đó chứ không chỉ căn cứ vào khả năng sinh lợi về mặt kinh tế

Ngoài ra, quản lý công phải hướng tới mục đích cải thiện “hiệu quả công”, thông qua việc cho phép chính quyền (cơ quan công quyền) đạt được các mục tiêu do các thiết chế chính trị giao cho với một chi phí tối thiểu Như vậy, đòi hỏi nhà nước nỗ lực thường xuyên tăng năng suất, giảm chi phí mà không làm giảm chất lượng dịch vụ công cung cấp Đòi hỏi này dẫn đến việc xem xét lại cấu trúc của quản lý, các phương thức tổ chức lao động và phương pháp quản lý

1.2.2 Phi quy chế hóa

Cách tiếp cận quản trị công mới không đòi hỏi những quy định chặt chẽ như một mạng lưới dày đặc mà nền hành chính công truyền thống yêu cầu các công chức phải tuân thủ một cách cứng nhắc và nghiêm ngắt Thay vào đó,

Trang 19

quản trị công mới cần một cơ chế mềm dẻo, linh hoạt hơn, dễ thích nghi với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội mới Người công chức không nhất thiết phải làm công ăn lương suốt đời mà họ có thể làm hợp đồng toàn phần hoặc bán phần, miễn là họ phải đạt được mục tiêu của tổ chức đặt ra khi làm việc Công dân không còn là chủ thể thụ động hưởng dịch vụ của nhà nước mà trở thành khách hàng sử dụng dịch vụ, có quyền được đòi hỏi phục vụ

Khi xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ trong nó không ngừng được sinh ra và cũng ngày càng trở nên phức tạp, chồng chéo khiến các thể chế, các quy định, thủ tục của nhà nước cũng ngày càng trở nên quá nặng nề, phức tạp đến nỗi người dân không thể hiểu và tiếp cận, còn cơ quan hành chính nhà nước cũng khó áp dụng Từ đó, đặt ra yêu cầu phải cải cách thể chế theo hướng đơn giản hóa các thủ tục hành chính để giải quyết các vấn đề hành chính nhanh hơn, đỡ tốn kém hơn Một hệ thống lập quy ít phức tạp tạo ra một chế độ công vụ đa dạng hơn, tạo điều kiện cho cấp địa phương phát huy sáng kiến và phát triển các dịch vụ theo yêu cầu cá nhân Nhưng đồng thời, nó cũng có mặt trái là dẫn đến sự đối xử khác nhau giữa các công dân, tạo ra nguy cơ phân phối không đồng đều các loại hình dịch vụ trong dân chúng và giữa các vùng miền khác nhau Một hệ thống chính sách bao gồm các quy định đơn giản, cởi mở hơn và số lượng ít sẽ gia tăng tự do cá nhân cho công dân, thúc đẩy phát triển kinh tế cho các doanh nghiệp

1.2.3 Phi tập trung hóa

Vấn đề này được thể hiện dưới những hình thức khác nhau, ở những mức độ khác nhau nhưng xu hướng chung là chính phủ trung ương giao quyền hạn, trách nhiệm, thẩm quyền nhiều hơn cho các đơn vị chính quyền địa phương (phân quyền theo lãnh thổ) hay cho các bộ, ngành, các đơn vị tổ chức bên dưới (phân quyền theo chức năng) trong việc chủ động quản lý các nguồn lực được phân bổ trong phạm vi thẩm quyền, đồng thời đề cao mối

Trang 20

quan hệ giữa chính phủ với các bộ phận hoạch định chính sách, giữa cấp hoạch định chinhs ách với cấp thi hành Sự độc lập ngày càng cao giữa chính quyền trung ương và các cấp chính quyền địa phương trở thành pháp nhân công quyền đi liền với sự củng cố mạnh mẽ vai trò trung tâm của chính phủ, tạo ra những chính sách và phương pháp quản lý năng động, thích ứng với môi trường luôn biến động

Phân quyền hành chính nhằm đạt các mục đích như: phát huy tính chủ động sáng tạo của chính quyền địa phương, làm cho nền hành chính sát và phù hợp hơn với đặc điểm kinh tế - xã hội địa phương; phát triển dịch vụ đa dạng hơn theo hướng người tiêu dùng là khách hàng, làm cho dịch vụ công có hiệu quả cao; phát triển nền dân chủ, tăng cường sự tham gia của công dân trong nền hành chính công; thúc đẩy sự công bằng, trách nhiệm giải trình giúp cho công dân dễ dàng giám sát hoạt động của các nhà chức trách

1.2.4 Áp dụng cơ chế thị trường trong quản trị công

Một trong những ưu điểm của cơ chế thị trường là khuyến khích cạnh tranh để tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực đầu vào, phát huy tính sáng tạo trong việc thực hiện nhiệm vụ để tạo ra kết quả đầu ra rẻ nhất, tốt nhất, đáp ứng yêu cầu của khách hàng nhiều nhất Áp dụng các yếu tố của cơ chế thị trường trong quản trị công như cạnh tranh, đấu thầu để đề cao tính hiệu quả của nền hành chính, lượng hóa, so sánh kết quả/chiphí trong việc thực hiện chính sách, làm cho nền hành chính trở nên năng động, đa dạng, phong phú, thoát khỏi vỏ ốc quan liêu truyền thống của bộ máy quản lý kiểu cũ

Cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ công có thể diễn ra khá đa dạng, không chỉ giữa các tổ chức tư nhân mà còn có thể được thực hiện giữa các cơ quan nhà nước và tư nhân, thậm chí giữa các cơ quan nhà nước với nhau

1.2.5 Tư nhân hóa một phần các hoạt động của Nhà nước

Xu hướng này bắt đầu tại Anh khi Margaret Thatcher lên nắm quyền vào năm 1979 và sau đó phổ biến ra nhiều quốc gia trên thế giới Tư nhân hóa

Trang 21

không chỉ là công cụ để nâng cao hiệu quả của lĩnh vực công mà còn xuất phát từ lý do chính phủ đã có quá nhiều chức năng, nếu không tư nhân hóa thì không thể đáp ứng nhanh chóng các yêu cầu ngày càng tăng của người dân Trong quá trình tư nhân hóa này, nhà nước phải “nhỏ tới mức cần thiết” và cho phép “xã hội lớn tới mức có thể, tức là nhà nước chỉ trực tiếp hành động khi thực sự cần, và cho phép thị trường và cộng đồng được đảm nhận tất cả những gì họ có thể và muốn làm Khi đó, quy mô của nhà nước, về cả nhiệm

vụ và cơ cấu, sẽ tinh giản tới mức tối đa, cho phép nhà nước vận hành một cách năng động, sáng tạo, tiết kiệm và hiệu quả hơn Ngoài ra, ý nghĩa quan trọng khác của tư nhân hóa là thu hút được đông đảo các thành phần xã hội, nhất là khu vực tư, cá nhân và các tổ chức phi chính phủ tham gia vào hoạt động của nền hành chính công

Để làm được điều đó, cần xác định lại những nhiệm vụ chủ yếu mà nhà nước buộc phải đảm nhiệm trong số các nhiệm vụ mà nhà nước đang thực hiện, qua đó điều chỉnh lại quy mô các nhiệm vụ của nhà nước theo hướng giảm bớt, gọn nhẹ hơn và tập trung vào các nhiệm vụ cốt lõi Việc chuyển giao thực hiện các nhiệm vụ không cốt lõi mà nhà nước đang đảm nhận sang cho khu vực tư nhân được thực hiện dưới những hình thức khác nhau, không chỉ dưới hình thức bán đi các tài sản của nhà nước, chuyển sở hữu công thành

sở hữu tư mà còn bao hàm rất nhiều hình thức khác, trong đó có thể kể đến các hình thức như đấu thầu, làm hợp đồng thầy phụm cho thuê hay cổ phần hóa các doanh nghiệp để nâng cao tính cạnh tranh

Quá trình tư nhân hóa giúp cho nhà nước giảm bớt sức ép chi ngân sách trong bối cảnh nguồn thu của ngân sách ngày càng eo hẹp và nhu cầu chi ngân sách, nhất là cho mục đích an sinh xã hội, ngày càng tăng Tư nhân hóa cũng tăng cường hiệu quả hoạt động đầu tư từ ngân sách nhà nước, tăng thêm khả năng tập trung nguồn lực cho các nhóm đối tượng cần được ưu tiên để đảm bảo tốt hơn công bằng xã hội Tuy nhiên, tư nhân hóa cũng đặt ra nhiều vấn

Trang 22

đề thách thức đối với hoạt động quản lý của nhà nước đối với xã hội, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu như: trong khi coi tư nhân hóa là yêu cầu tất yếu, khách quan của quá trình cải cách để nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của nhà nước thì cũng có thể nhận thấy rõ ràng rằng không phải nhiệm

vụ nào mà nhà nước đang đảm nhận cũng có thẻ tư nhân hóa Bên cạnh đó, khả năng kiểm soát của nhà nước đối với việc thực hiện các nhiệm vụ sau khi

tư nhân hóa và khả năng bảo đảm côngbằng xã hội, khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của các nhóm yếu thế cũng là những vấn đề càn quan tâm khi tư nhân hóa Mức độ, phạm vi tư nhân hóa và xã hội hóa ở các nước khác nhau, tùy thuốc vào hoàn cảnh của mỗi quốc gia và bối cảnh chính trị

1.2.6 Vận dụng phương pháp quản trị doanh nghiệp

Bên cạnh việc tăng cường áp dụng cơ chế thị trường, làm thay đổi mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường, chuyển giao một số hoạt động của nhà nước cho khu vực tư nhân dưới sự giám sát của nhà nước, vẫn có những nhiệm vụ đòi hỏi nhà nước phải trực tiếp thực hiện Trong trường hợp này,

mô hình quản trị của khu vực tư, nhất là quản trị doanh nghiệp là một mẫu hình tốt cho các nhà nước học tập Trong mô hình quản trị công hiện đại, các

cơ quan cung cấp dịch vụ của nhà nước áp dụng các phương pháp quản trị của doanh nghiệp để tăng hiệu quả, chất lượng và sự linh hoạt trong đáp ứng các dịch vụ cho yêu cầu ngày càng cao của người dân cả về số lượng và chất lượng Những giải pháp cụ thể từ quản trị doanh nghiệp mà nhà nước có thể vận dụng nhằm tăng chất lượng hoạt động của nền hành chính bao gồm:

- Cải cách trong lĩnh vực tổ chức bộ máy hành chính: xây dựng một cơ cấu tổ chức hành chính mềm dẻo và năng động hơn, giảm bớt tầng nấc và xác định rõ cơ chế phối hợp giữa các cấp, các cơ quan nhà nước

- Cải cách trong lĩnh vực nhân sự hành chính: tăng cường mức độ giao lưu về nhân sự giữa bộ máy nhà nước và khu vực phi nhà nước để tăng khả năng luân chuyển nhân sự, vận dụng kỹ thuật quản lý nguồn nhân lực của khu

Trang 23

vực doanh nghiệp vào cải thiện hoạt động quản trị nhân sự cứng nhắc trong

cơ quan nhà nước

- Cải cách trong lĩnh vực bảo đảm nguồn lực vật chất cho hoạt động hành chính: thay đổi cách thức phân bổ ngân sách theo định hướng nhiệm vụ

và kết quả hoạt động, tăng quyền chủ động ngân sách cho chính quyền địa phương…

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng quản trị nhà nước có những nét đặc thù riêng, khác với quản trị của doanh nghiệp, nên không phải bất cứ phương pháp nào

áp dụng có hiệu quả ở khu vực tư cũng có thể áp dụng thành công ở khu vực công Cần phân biệt rõ và không biến hành chính công thành tổ chức quản lý

tư nhân theo cơ chế thị trường

1.2.7 Định hướng đến khách hàng và định hướng về người dân

Quản trị công hiện đại không coi người dùng dịch vụ (người dân) là các đối tượng thụ hưởng hay đối tượng nộp thuế, mà coi họ là khách hàng, vì thế nên lợi ích của khách hàng được tính đến trong mọi dịch vụ và dịch vụ cung cấp cho khách hàng cần có chất lượng Tuy nhiên, việc đánh giá chất lượng trong dịch vụ công luôn là vấn đề phức tạp Thông thường trong quản trị công, để đánh giá chất lượng dịch vụ công cần sử dụng các công cụ như sau:

- Khảo sát thị trường và sự hài lòng của khách hàng: khách hàng sẽ

trực tiếp đánh giá chất lượng dịch vụ, qua đó làm cơ sở để cải tiến dịch vụ Dịch vụ được coi là đủ chất lượng khi nó đảm bảo sự hài lòng của khách hàng Người ta có thể sử dụng khảo sát sự hài lòng của khách hàng như một công cụ để làm căn cứ cho kỷ luật hành chính

- Các chứng chỉ chất lượng như ISO, EDUQUA: Các tổ chức mong

muốn được cung cấp ngân sách cho dịch vụ công thì cần đạt những chứng chỉ nhất định Tuy nhiên, công cụ này có thể mang đậm tính quan liêu, chúng không có mối liên hệ thực sự với hoạt động mà cơ quan hành chính hay đơn

Trang 24

vị sự nghiệp đang làm mà chỉ là công cụ marketing Các chứng chỉ giúp đánh giá chất lượng của tổ chức nhiều hơn là đánh giá chất lượng của dịch vụ

- Thảo luận về chất lượng: tạo ra các diễn đàn về chất lượng với sự

tham gia rộng rãi của nhiều người nhằm cải tiến dịch vụ Tuy nhiên, rủi ro của công cụ này là đôi khi trở thành diễn đàn để thể hiện các đánh giá tiêu cực

Quản trị công hiện đại không chỉ coi người dân là khách hàng sử dụng dịch vụ công mà còn định hướng về người dân, đưa người dân trở thành đối tác cùng thực hiện dịch vụ công Quá trình ra quyết định cần có sự tham gia của người dân như là một đối tác cùng thực hiện dịch vụ, và đỉnh cao là việc định nghĩa chất lượng dịch vụ không xuất phát từ người cung cấp mà từ người dân

1.3 Hạn chế của Quản trị công hiện đại

Quản trị công mới khó có thể đạt được sự tự chủ về hoạt động cung ứng dịch vụ công như mục tiêu mà nó mong đợi, bởi đặc tính cố hữu của hành chính công là sự phụ thuộc lớn vào quyền lực công và các nguồn cấp ngân sách Đây là các cơ quan sẽ cấp phát ngân sách, phương tiện cho các dịch vụ công hoặc các đối tượng tác động tới việc cấp phát ngân sách này dựa trên mục tiêu do chính họ đề ra Điều đáng nói là trong một số trường hợp thì các mục tiêu này được định nghĩa một cách hẹp và cụ thể đến mức mà cung cách hoạt động của quản trị công sẽ phụ thuộc vào cách định nghĩa các mục tiêu kể trên

Quản trị công mới được dựa trên nền tảng sáng kiến cá nhân, nhưng một khi các sáng kiến này gặp rủi ro, người ta sẽ không dám đưa ra các sáng kiến nữa Như vậy, quản trị công hiện đại tiềm ẩn những rủi ro, đó là mâu thuẫn giữa phát huy sáng kiến cá nhân với rủi ro mất việc, mà khi đối diện với những rủi ro công việc, người ta thường không dễ phát huy sáng kiến cá nhân

Có lẽ rất khó để động viên, khuyến khích các công chức phát huy sáng kiến khi việc đó đồng thời đặt họ vào nguy cơ mất việc, không đảm bảo cuộc sống

Trong quản trị công mới, về lý thuyết thì người ta dựa trên chất lượng dịch vụ, nhưng bởi khái niệm chất lượng dịch vụ rất trừu tượng nên trong thực

Trang 25

tiễn người ta thường đánh giá chất lượng dịch vụ qua các tiêu chí định lượng như hiệu suất, giá cả, và đặc biệt là chi phí (càng rẻ càng tốt) Vì thế vấn đề này phát sinh mâu thuẫn, một mặt đòi hỏi chất lượng dịch vụ cao nhưng mặt khác lại cần giá thành dịch vụ phải được cắt giảm Trong thực tiễn, các cơ quan hành chính thường bị kiểm soát về tài chính nhiều hơn là về chất lượng

Hạn chế của các chỉ số hiệu suất hoạt động khi thường xuyên có khoảng cách giữa các chỉ số quy định với thực tiễn Đó cũng chính là khoảng cách giữa mong muốn về thúc đẩy chất lượng công việc với những chỉ số tự hạn chế việc thúc đẩy chất lượng dịch vụ trong một số trường hợp

Sự thiếu khả thi trong cá thể hóa dịch vụ theo nhu cầu khách hàng Quản trị công hiện đại mong muốn cá thể hóa dịch vụ theo nhu cầu khách hàng tuy nhiên trong bối cảnh cắt giảm ngân sách thì việc cá thể hóa dịch vụ theo từng khách hàng là khó khả thi Trong khi đó, cơ quan hành chính thường có xu hướng ngược lại là tiêu chuẩn hóa các dịch vụ, tạo nên các sản phẩm dịch vụ “chung” cho số đông khách hàng

Giới hạn của gói tiền lương khiến cho chính sách khen thưởng đối với công chức xuất sắc cũng khó thực hiện Mặt khác quản trị công khuyến khích sáng kiến cá nhân nhưng vì không có sự chắc chắn bảo đảm cho các hoạt động cá nhân nên cuối cùng thì các cá nhân sẽ không thiết tha với việc phát huy sáng kiến đầy rủi ro

Ngoài ra, còn một số yếu tố tạo nên hạn chế cho quản trị công hiện đại như:

- Mong muốn giảm chi phí và mong muốn cải thiện chất lượng dịch vụ:

vì giá cả là tiêu chí dễ nhận thấy và có thể đo đếm trong khi chất lượng dịch

vụ thì rất khó đánh giá, nên các nền hành chính công sẽ có xu hướng nhấn mạnh hơn đến việc làm chủ các chi phí chứ không phải nâng cao chất lượng dịch vụ công

Trang 26

- Sự mâu thuẫn giữa các mệnh lệnh của cơ quan với các mong đợi của khách hàng Mâu thuẫn này đặt nặng lên vai các công chức trong cơ quan hành chính: một mặt vừa phải tuân thủ các quy định hành chính, nội quy, quy chế cơ quan và quy trình làm việc; mặt khác phải đối diện với khách hàng với những yêu cầu và mong đợi hoàn toàn khác biệt, thậm chí mâu thuẫn Trong khi đó, nếu cần cân nhắc giữa hay đòi hỏi đó, thì cơ quan hành chính chủ quản thường có nhiều phương tiện để trừng trị công chức hơn là khách hàng, dẫn đến tình trạng nền quản trị sẽ vẫn coi trọng các mệnh lệnh hành chính hơn

là phục vụ nhu cầu của khách hàng

Quản trị công hiện đại là những phương thức được đề ra nhằm nâng cao hiệu quả của nền hành chính theo hướng minh bạch, tinh gọn, năng động, hướng tới phục vụ người dân thay vì cai trị, quản lý người dân như trong mô hình hành chính công truyền thống Về bản chất, đây là những tiếp cận mới đối với hành chính công Mục tiêu chính của quản trị công hiện đại là nâng cao chất lượng của hoạt động quản lý nhà nước, hướng tới xây dựng một nền hành chính năng động, linh hoạt trong điều hành, giám sát và quản lý các chủ thể khác nhau của xã hội nhằm nâng cao hiệu quả của khu vực công và quản

- Thay đổi cấu trúc của hệ thống quản trị: chuyển từ mô hình thứ bậc sang cấu trúc linh hoạt hơn, lôi kéo sự tham gia của nhiều chủ thể khác, kể cả các chủ thể trong khu vực tư;

Trang 27

- Phân cấp, phân quyền: để đối phó với áp lực cần ra quyết định nhanh chóng, các chủ thể quản trị có xu hướng chuyển quyền ra quyết định cho các cấp dưới, cấp cơ sở, thậm chí là các chủ thể ngoài khu vực công;

- Phi quy chế hóa: hệ thống các quy tắc cứng nhắc không còn giữ vai trò quan trọng như trước, các chế độ về biên chế dần được thay thế bằng chế

độ lương theo kết quả hoạt động

Bên cạnh đó, những hoạt động của các chủ thể quản trị trong quản trị công hiện đại có thể tóm tắt như sau:

- Tư nhân hóa, thúc đẩy cạnh tranh và tìm cách gợi mở mọi nguồn lực

và sự tham gia từ cộng đồng, bao gồm cả xã hội hóa;

- Thiết kế hoạt động theo kết quả, xác định chủ thể quản lý theo nhu cầu khách hàng;

- Định hướng đến khách hàng, coi người sử dụng dịch vụ công là khách hàng và quyết định cơ bản các hoạt động dịch vụ công;

- Áp dụng các cơ chế của thị trường như sử dụng những cơ chế khuyến khích của thị trường, thậm chí sử dụng thị trường như công cụ đạt mục tiêu quản trị công

Trang 28

CHƯƠNG 2 QUẢN TRỊ CÔNG TẠI NHẬT BẢN TỪ NĂM 1945 TỚI NAY

Nền kinh tế Nhật Bản gặp phải tình trạng thiếu năng lượng và lương thực trầm trọng do sự gián đoạn nhập khẩu sau chiến tranh khiến Nhật Bản thiếu trầm trọng nhiên liệu và nguyên liệu để sản xuất Mùa thu năm 1945, ngành than chỉ cung cấp được khoảng 1 triệu tấn so với mức 3-4 triệu tấn trước chiến tranh, gây khủng hoảng trầm trọng cho ngành vận tải đường sắt và ngành điện Tình trạng gián đoạn nhập khẩu cũng khiến Nhật Bản thiếu hụt phân bón trầm trọng, trực tiếp dẫn đến sự mất mùa năm 1945, khiến người dân phải sống dưới mức tối thiểu Ước tính khẩu phần ăn trung bình một ngày của mỗi người Nhật vào thời kỳ này chỉ khoảng 1000 calories[4, tr 44] so với khẩu phần trung bình của người lính Mỹ trong Thế chiến thứ 2 là 3600 calories[57] Sản xuất đình trệ gây nên sự mất cân đối trầm trọng giữa cung và cầu, cộng thêm sự gia tăng nhu cầu chi tiêu của chính phủ để thanh toán các chi phí quân sự, tiền

Trang 29

lương cho binh sĩ giải ngũ, tiền đền bù thiệt hại… đã tạo nên nạn siêu lạm phát, nền kinh tế Nhật Bản càng lâm vào tình cảnh khốn đốn

Chẳng những đất nước bị tàn phá và kiệt quệ, tinh thần dân tộc của Nhật Bản cũng bị suy sụp Thất bại trong chiến tranh đã làm phá sản hệ tư tưởng quân phiệt, hiếu chiến mang tên “Đại Đông Á” tồn tại qua nhiều thập

kỷ ở Nhật Bản Thuyết “Đại Đông Á” khẳng định các chính sách của Nhật Bản cần phải dựa trên tinh thần vĩ đại của dân tộc Nhật Bản, để xây dựng và lãnh đạo một trật tự mới ở châu Á bao gồm lãnh thổ Nhật Bản, Mãn Châu Lý, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á Đây là tư tưởng trực tiếp dẫn dắt Nhật Bản bước vào chiến tranh, khiến trẻ em Nhật bị động viên từ năm 12 tuổi, hàng triệu phụ nữ và người già phải lao động trong các xưởng vũ khí và chui rúc trong các hầm mỏ, hàng triệu thanh niên phải cầm súng ra chiến trường Đến khi giấc mộng Đại Đông Á tan vỡ, cả dân tộc Nhật Bản bàng hoàng nhận

ra họ đã bị lừa dối bởi chính sách điên rồ của giới quân phiệt, phải nỗi nhục nhã ê chề mà không bao giờ quên được Người dân Nhật đã thể hiện sự khinh miệt và căm giận công khai đối với giới quân đội còn các cựu quân nhân thì

tự nhận thấy bản thân không chỉ là những kẻ đã thất bại trong việc hoàn thành nghĩa vụ với tổ quốc, mà còn là những tên tội phạm đê hèn đã gây ra thảm họa chiến tranh và những hành vi tàn ác trên các thuộc địa[56]

2.1.2 Một nước Nhật bị chiếm đóng

Hội nghị của lãnh đạo ba nước Liên Xô, Mỹ, Anh được tổ chức tại Potsdam, Đức từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/1945 đã quyết định về chính sách đối với Nhật Bản với bản Tuyên cáo Potsdam có nội dung chính như sau:

(1) Vĩnh viễn loại trừ chủ nghĩa quân phiệt ở Nhật Bản

(2) Giới hạn lãnh thổ của Nhật Bản trong phạm vi các hòn đảo Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku và các hòn đảo nhỏ xung quanh

Trang 30

(3) Quân Đồng minh sẽ chiếm đóng Nhật Bản

(4) Giải giáp hoàn toàn quân đội Nhật Bản

(5) Trừng trị tội phạm chiến tranh, thúc đẩy tự do ngôn luận, tôn giáo, tín ngưỡng, tư tưởng và nhân quyền

(6) Nghĩa vụ bồi thường chiến tranh của Nhật Bản và cấm Nhật Bản phát triển những kỹ nghệ phục vụ chiến tranh

Thực hiện Tuyên cáo Potsdam, ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng, lực lượng quân đội Đồng Minh, chủ yếu là Mỹ đã chiếm đóng Nhật Bản từ 14/8/1945 tới 28/4/1952 Thống tướng Douglas MacArthur, người được chỉ định đứng đầu Tổng hành dinh bộ tư lệnh quân đội đồng minh (General Headquarters of the Supreme Commander for the Allied Powers, gọi tắt là SCAP) đã chỉ đạo quân chiếm đóng và Chính phủ Nhật Bản thực hiện các mục tiêu mà Chính phủ Mỹ nói riêng và Đồng minh nói chung đề ra

2.2 Những cải cách trong thời kỳ chiếm đóng (1945 – 1951)

Thời kỳ chiếm đóng của Đồng minh (thực chất là Mỹ) kéo dài 7 năm tại Nhật Bản Thời kỳ này, tại Nhật Bản tồn tại và vận hành một chính quyền

“kép”: Chính phủ Nhật Bản vẫn được công nhận và trực tiếp điều hành đất nước, trong khi quân đội chiếm đóng điều hành bộ máy một cách gián tiếp qua các bản công hàm, ghi nhớ, chỉ thị, khuyến cáo gửi cho phía Chính phủ Nhật Bản thực hiện Tuy chỉ điều hành đất nước một cách gián tiếp, song những chính sách và cải cách của SCAP lại rất cơ bản, quan trọng, có tầm ảnh hưởng cực lớn đối với lịch sử Nhật Bản, dù không tránh khỏi những hạn chế

Vì thế, có thể nói trong thời kỳ này, SCAP chính là chủ thể quan trọng bậc nhất đối với quản trị công tại Nhật Bản Ba mục tiêu căn bản của SCAP là bài trừ chủ nghĩa quân phiệt, dân chủ hóa và cải cách kinh tế Nhật Bản được thể hiện trong các chính sách mà SCAP ban hành ở Nhật Bản trong thời kỳ này

Trang 31

2.2.1 Những biện pháp nhằm ổn định tình hình xã hội

Động thái đầu tiên của SCAP để ổn định tình hình xã hội đó là lập tức chấm dứt sự điều hành của giới quân sự Nhật Bản trong việc cung cấp và phân phối hàng hóa, nhu yếu phẩm Nhiều người trong giới quân sự bị bắt vì tình nghi đã gây ra chiến tranh Ngày 16/9/1945, MacAthur công bố lực lượng

vũ trang của Nhật Bản đã bị giải trừ hoàn toàn, toàn bộ nền công nghiệp quân

sự bị đóng cửa, tất cả cán bộ, công nhân viên làm việc trong ngành này nghỉ việc Các kho vũ khí của quân đội Nhật Bản bị phá hủy và những thiết bị phục

vụ sản xuất quân giới được phân chia cho các nước Đồng minh

Nhằm khuyến khích xu hướng dân chủ trong xã hội Nhật Bản, ngày 11/9/1945, SCAP đã ra chỉ thị yêu cầu Nội các thực hiện 5 chính sách cải cách lớn gồm có: thành lập công đoàn, giải phóng phụ nữ, cải cách hệ thống giáo dục theo đường lối dân chủ, triệt bỏ các chính sách đàn áp, dân chủ hóa nền kinh tế Luật duy trì trị an bị hủy bỏ, lực lượng Cảnh sát đặc biệt bị giải tán, các tù nhân chính trị đều được trả tự do Bộ Nội vụ là cơ quan có quyền lực lớn trong việc kiểm soát đời sống xã hội thời chiến bị phế bỏ Các hoạt động chính trị và tự do tư tưởng vì thế được bảo đảm Tuy nhiên, một điều đáng lưu ý là là tuy quần chúng có tự do nhưng họ không được tự do chống đối lực lượng chiếm đóng Các loại sách vở, báo chí trước khi xuất bản đều phải chịu sự kiểm duyệt theo Đạo luật về báo chí, các chương trình phát thanh thì cũng chịu sự kiểm duyệt theo tinh thần của Đạo luật về phát thanh

Tháng 1 năm 1946, Thiên hoàng Showa đã tự mình đưa ra tuyên ngôn Ningen sengen (Nhân gian tuyên ngôn) xác nhận rằng mình chỉ là con người bình thường (ningen) chứ không phải là một vị thần sống bất khả xâm phạm như cách người ta vẫn tôn vinh Hệ quả là chính phủ sẽ không còn quản lý,hỗ trợ trực tiếp cho Thần đạo và các đền thần xã vốn đóng vai trò tượng trưng

Trang 32

cho chế độ quân phiệt Kể từ nay, liên hệ giữa quốc gia và thần đạo sẽ được phân biệt một cách minh bạch Tuyên ngôn của Thiên hoàng có vai trò hỗ trợ rất lớn đối với 5 chính sách cải cách của SCAP

2.2 2 Cuộc thanh trừng ở Nhật Bản thời kỳ chiếm đóng

Sau những biện pháp ổn định tình hình sau chiến tranh, SCAP đã đẩy mạnh quá trình diệt trừ tận gốc chủ nghĩa quân phiệt khỏi xã hội Nhật Bản Đối tượng bị thanh lọc là hàng loạt quan chức cao cấp, chính trị gia, quân nhân, nhà báo v.v có liên hệ với quân phiệt Lúc bấy giờ, dư luận và một số chính trị gia ở các nước Đồng minh cho rằng Thiên Hoàng có liên hệ chặt chẽ với các thế lực quân phiệt và cũng là tội phạm chiến tranh cần phải xử lý Tuy nhiên, SCAP đã gạt bỏ ý kiến đó do nhận thấy việc phế truất, xử tội Thiên Hoàng sẽ gây bất mãn trong xã hội Nhật Bản, thậm chí kích động chiến tranh

du kích, mà vì thế có thể SCAP sẽ phải thiết lập chính quyền quân sự, như vậy kế hoạch dân chủ hóa Nhật Bản sẽ bị phá sản

Cuộc thanh trừng này được tiến hành trong suốt thời kỳ lực lượng Đồng minh chiếm đóng với nhiều giai đoạn Tháng 1 năm 1946, chính quyền mới đưa ra Bộ luật thanh lọc hàng ngũ công chức 21 vạn người công nhân viên của các giới chính trị, tài chính, quan chắc, báo chí đều bị điều tra về quá khứ tham gia Chiến tranh Thái Bình Dương Đến năm 1946, tòa án đặc biệt ở Tokyo và các tòa án binh ở trong và ngoài Nhật Bản được thành lập để xét xử tội phạm chiến tranh Các phạm nhân chiến tranh tùy theo mức độ trách nhiệm được chia ra làm các hạng A, B và C với tổng số khoảng 5.700 người

bị khởi tố Mùa hè năm 1948, các hoạt động thanh trừng bị chững lại và chuyển hướng Do tình hình thế giới có nhiều thay đổi, SCAP đã thực thi

“đường lối đảo ngược” trong một số chính sách của mình tại Nhật Bản, trong

đó có chính sách thanh trừng Những làn sóng kiến nghị liên tục trong nhân dân và việc hủy bỏ các nhóm bị thanh trừng đã đưa ngày càng nhiều người ra

Trang 33

khỏi diện bị tình nghi và trở lại chính trường Số lượng người bị thanh trừng cũng giảm mạnh

Cuộc thanh trừng của SCAP còn nhiều hạn chế như phân chia tội phạm chiến tranh chưa phù hợp, chưa kiểm soát tốt những người bị tình nghi, chỉ dựa vào báo cáo phân loại tội phạm chứ không dựa vào hành động cụ thể của từng cá nhân, nhiều người bị thanh trừng sau đó đã trở lại vị trí cũ trong chính quyền v.v Tuy nhiên, kết quả thu được của cuộc thanh trừng này là rất tích cực Với ưu thế chính trị tuyệt đối và những biện pháp mạnh mẽ, cương quyết, SCAP đã loại bỏ được khỏi các cơ quan đầu não của Chính phủ Nhật cũng như các chính đảng những phần tử quân phiệt cao cấp, xóa bỏ được các nguy cơ khôi phục lực lượng quân sự; tạo môi trường thuận lợi cho xu hướng dân chủ, tự do có cơ hội phát triển Cuộc thanh trừng cũng tạo điều kiện cho những chính trị gia có xu hướng ôn hòa, dân chủ được nắm những vị trí cao cấp trong guồng máy chính trị

2.2.3 Hiến pháp 1946 và mô hình Nhà nước Nhật Bản mới

Nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi các chính sách phi quân sự hóa và dân chủ hóa Nhật Bản, SCAP đã soạn thảo một bản Hiến pháp mới cho Nhật Bản với 3 nguyên tắc quan trọng:

Nguyên tắc thứ nhất, Thiên Hoàng là biểu tượng của Nhà nước và sự

thống nhất của toàn dân nhưng có quyền lực chính trị bị hạn chế Nếu như điều 4 của Hiến pháp 1889 quy định “Thiên Hoàng đứng đầu đế quốc và có quyền lực tối cao” thì Điều 4 của Hiến pháp 1946 chỉ quy định “Thiên Hoàng

sẽ thực hiện những quy định đối với vấn đề Nhà nước như đã ghi rõ trong Hiến pháp này và sẽ không có quyền lực gì liên quan đến Chính phủ” Việc hạn chế quyền lực của Thiên Hoàng chính là cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất mà Hiến pháp mới tạo ra nhằm làm biến đổi cơ cấu chính trị ở Nhật Bản lúc đó

Trang 34

Nguyên tắc thứ hai, chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân Lời mở

đầu của Hiến pháp 1946 ghi rõ: “Chúng tôi, nhân dân Nhật Bản tuyên bố rằng quyền lực này được thực hiện thông qua các đại biểu của nhân dân và mưu cầu lợi ích cho nhân dân Chúng tôi phản đối và hủy bỏ mọi Hiến pháp, luật

lệ, sắc lệnh trái với nguyên tắc này”[52, tr 155] Hơn nữa, Hiến pháp mới còn quy định rõ về việc đảm bảo các quyền cơ bản của công dân, quyền tự nhiên của con người Những mối ràng buộc có tính chất phong kiến, hạn chế những quyền con người đã bị thủ tiêu, tạo điều kiện cho xu hướng phát triển tự do về kinh tế, chính trị, xã hội, tạo cơ hội và động viên tinh thần, năng lực của mọi công dân trong xã hội

Nguyên tắc thứ ba, Nhật Bản phải từ bỏ chiến tranh và xóa bỏ mọi lực

lượng vũ trang Đây là sự phủ định khuynh hướng quân phiệt và bành trướng của Nhật Bản trong quá khứ Trong Điều 9 về việc từ bỏ chiến tranh, Hiến pháp mới cũng nhấn mạnh: “Nhân dân Nhật Bản chân thành mong muốn một nền hòa bình, an ninh và chính nghĩa trên toàn thế giới, không dùng vũ lực để

uy hiếp trong việc giải quyết những tranh chấp quốc tế” Hơn nữa, Khoản 2 Điều 9 còn nhấn mạnh thêm: “Để thực hiện mục đích trên, lục quân, không quân và hải quân cũng như các tiềm năng chiến tranh khác của Nhật Bản sẽ không bao giờ được duy trì Quyền tham chiến của Nhật Bản sẽ không bao giờ được chấp nhận”[52,tr 40] Đây là những lời tuyên bố mạnh mẽ cho một

kỷ nguyên mới, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giải trừ quân bị và diệt trừ tận gốc thế lực quân phiệt

Trên cơ sở của 3 nguyên tắc nói trên, Hiến pháp mới đưa ra hệ thống

tổ chức nhà nước theo mô hình phương Tây hiện đại với 3 ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập, cân bằng Kế thừa Hiến pháp Minh Trị, Nghị viện mới được tổ chức theo hình thức lưỡng viện, nhưng bản chất đã khác rất nhiều bởi cơ chế bầu cử được sửa đổi, bổ sung theo hướng xóa bỏ sự phân

Trang 35

biệt về chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính, điều kiện xã hội hay lý lịch gia đình, học vấn, tài sản, thu nhập trong điều kiện bầu cử, ứng cử Cơ chế giám sát và kiềm chế quyền lực giữa hai Viện được hình thành và các nghị sĩ của cả hai viện đều là đại biểu được nhân dân bầu ra Nghị viện Nhật Bản theo Hiến pháp 1946 được giao những thẩm quyền rộng rãi trong quản trị công, đó là: quyền lập pháp; quyết định và giam sát ngân sách; giám sát các hoạt động của

cơ quan hành pháp; và quyền thực hiện các hoạt động giám sát khác như kiểm tra tính hợp hiến của pháp luật, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các thành viên Nội các, quyền điều tra lập pháp, quyền phê chuẩn đối với một số chức danh của Nhà nước

Đối với cơ quan hành pháp là Nội các, Hiến pháp 1946 đưa ra hai cải

cách lớn Thứ nhất, quyền hành pháp được tách rời hoàn toàn khỏi Thiên

hoàng và được giao cho Thủ tướng và Nội các Thủ tướng được quyền bổ nhiệm và cách chức tất cả thành viên trong Nội các nhằm đảm bảo sự thống nhất về tổ chức của Nội các Để đảm bảo việc kiểm soát các lực lượng vũ trang, Cục phòng vệ chính thức được thành lập như một bộ phận trực thuộc Văn phòng Thủ tướng Ngoài ra, Nội các còn có thẩm quyền về đại xá và đặc xá; một số quyền trong lĩnh vực tư pháp như quyền bổ nhiệm chánh án và các thẩm phán; một số quyền trong lĩnh vực lập pháp như triệu tập các khóa họp

bất thường của Nghị viện Thứ hai, Hiến pháp 1946 xác lập rõ ràng trách

nhiệm của Thủ tướng và Nội các đối với Nghị viện Thủ tướng do Nghị viện bầu từ các Nghị sĩ và Nội các phải có phần lớn thành viên là Nghị sĩ Thủ tướng và Nội các có thể bị Nghị viện luận tội hoặc bỏ phiếu bất tín nhiệm

Toàn bộ quyền tư pháp của Nhật Bản được trao cho Tòa án tối cao và các Tòa cấp dưới được thành lập theo quy định của pháp luật Không được thành lập bất kỳ một Tòa án đặc biệt nào cũng như không một cơ quan Hành pháp nào được trao quyền tư pháp cuối cùng (Điều 76 Hiến pháp 1946) Tòa

Trang 36

án tối cao cũng là cơ quan được Hiến pháp 1946 trao quyền xem xét tính hợp hiến của các hoạt động lập pháp trong quan hệ quyền lực Hệ thống Tòa án của Nhật Bản bao gồm: Tòa án tối cao là cơ quan xét xử cao nhất Tòa án cấp cao chủ yếu xét xử phúc thẩm Tòa án địa phương cấp tỉnh có thẩm quyền xét

xử sơ thẩm hầu hết các vụ kiện dân sự, các vụ án hình sự và hành chính Tòa

án gia đình chuyên xét xử các vụ việc về hôn nhân gia đình và các tội phạm của người chưa thành niên Tòa án đơn giản xét xử sơ thẩm các vụ kiện dân

sự có giá trị tranh chấp nhỏ và các vụ án hình sự nhỏ [16, tr 88]

2.2.4 Các cải cách về kinh tế

Nhận thấy chế độ địa chủ là hang ổ tiềm tàng của chủ nghĩa quân phiệt trong xã hội Nhật Bản[15, tr 299], SCAP và chính phủ Nhật đã chỉ đạo thực hiện một cuộc cải cách ruộng đất khá triệt để từ năm 1946 đến năm 1950 Ngày 9/12/1945, SCAP đã đưa ra chỉ thị cho Chính phủ Nhật Bản phải thực hiện CCRĐ với mục tiêu: “ Xóa bỏ những trở ngại kinh tế nhằm phục hồi

và củng cố các xu hướng dân chủ, tạo ra sự tôn trọng đối với các giá trị đích thực của con người, để phá bỏ sự kìm hãm kinh tế vốn đọa đày người nông dân Nhật Bản trong nhiều thế kỷ áp bức phong kiến[19,tr 320]” Trong 5 năm thực hiện chương trình CCRĐ, phần lớn ruộng đất phát canh đã chuyển sang tay người canh tác Diện tích do tá điền lĩnh canh nộp tô trong toàn quốc giảm

từ 45,9% vào tháng 11 năm 1946 xuống 10% vào tháng 8 năm 1950 Số lượng hộ canh tác có ruộng riêng đã tăng từ 31% vào năm 1941 lên 70% năm

1955 Tỷ lệ nông dân không có ruộng riêng giảm từ 28% xuống còn 4% Địa chủ vắng mặt đã bị xóa bỏ do hầu hết đất của họ đã bị chuyển nhượng cho tá điền Khoảng 70-80% số ruộng đất cho thuê hoặc tự canh tác của địa chủ làng

xã cũng bị thu mua và chuyển nhượng cho nông dân Với những kết quả đó, chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ đã bị thủ tiêu, tàn dư phong kiến của nền nông nghiệp bị phá bỏ và từ đó làm tan rã chế độ đẳng cấp vốn ăn sâu bén

rễ ở nông thôn Nhật Bản

Trang 37

Nhận thấy mối liên hệ chặt chẽ của các Zaibatsu với guồng máy chiến tranh của Nhật Bản, SCAP thực hiện các cải cách về Công – Thương nghiệp, chủ yếu tập trung vào việc giải thể các công ty tư bản lũng đoạn Zaibatsu và chuyển từ cơ chế độc quyền của thời kỳ trước và trong chiến tranh, sang cơ chế thị trường cạnh tranh tự do Đồng thời, để loại trừ thế lực của những gia đình Zaibatsu, các lãnh đạo của Zaibatsu đều phải về hưu và bị cấm hoạt động tài chính trong vòng 10 năm cùng những người có liên hệ gia tộc với họ bị trục xuất khỏi các tập đoàn Để ngăn chặn các Zaibatsu tái hoạt động, “Luật chống độc quyền” và “Luật thủ tiêu sự tập trung thế lực kinh tế trong thời kỳ quá độ” đã được ban hành, qua đó phân tách các Zaibatsu thành nhiều công ty riêng biệt

Đến năm 1948, tình hình thế giới thay đổi khiến chính sách cải cách Công – Thương nghiệp của SCAP chuyển hướng, việc giải thể các Zaibatsu

và thanh lọc kinh tế phần nào bớt cứng rắn hơn Tuy nhiên, không vì thế mà cuộc cải cách Công – Thương nghiệp mất đi ý nghĩa của nó, bản chất của nền kinh tế Nhật Bản đã thay đổi hoàn toàn Mô hình quản lý kiểu Zaibatsu trước đây không còn tồn tại, các công ty mới đều được quản lý theo cách hiện đại

Uy quyền của các tập đoàn lớn như Mitsui, Mitsubishi, Sumimoto và Yasuda trong nền kinh tế thị trường đã suy giảm Bên cạnh đó, việc thanh lọc nhân sự của các công ty cũng tạo cơ hội cho các nhân vật trẻ, tạo báo trong kinh doanh

và có trình độ học vấn được đặt vào các vị trí quản lý cấp cao Những nhà quản lý này chính là những “tài sản” quý giá của Nhật Bản được tạo ra từ chính sách cải cách quản lý Công – Thương nghiệp, là một trong những nhân

tố quan trọng tạo nên sự “thần kỳ” của nền kinh tế Nhật Bản sau này

2.2.5 Cải cách về giáo dục

Nhận thấy hệ thống giáo dục của Nhật Bản là nơi nuôi dưỡng tư tưởng quân phiệt, cực đoan, ngay từ khi cuộc chiếm đóng bắt đầu, SCAP đã chỉ đạo

Trang 38

Chính phủ Nhật Bản thực hiện cải cách về giáo dục Trên tinh thần của Hiến pháp mới, SCAP đã ra chỉ thị loại bỏ các nội dung liên quan đến Thần đạo khỏi chương trình giáo dục, chấm dứt việc giảng dạy về tính thần thánh của Thiên hoàng Nền giáo dục mới thể hiện tính đa dạng, thực tế khi nói đến lịch

sử Nhật Bản và đứng trên lập trường của dân chúng để khuyến khích phát triển tư tưởng hòa bình Bộ Giáo dục mở nhiều môn học mới, ưu tiên cho các

bộ môn khoa học xã hội, loại bỏ dần các môn học mang tính tuyên truyền như môn “Tu thân” và “Quốc sử” Cuộc thanh trừng của SCAP cũng được tiến hành ở học đường, loại bỏ khỏi đội ngũ giáo viên khoảng 200.000 người có tư tưởng quân phiệt[56,tr 228], thay vào đó là một lực lượng giáo viên mới có tư tưởng dân chủ Chế độ giáo dục 6-5-3-3 (6 năm tiểu học, 5 năm sơ trung, 3 năm cao trung và 3 năm đại học) được chuyển đổi thành chế độ 6-3-3-4 và

nâng cao mức giáo dục bắt buộc lên 9 năm

Cải cách trong lĩnh vực Đại học cũng được mở rộng bằng việc tạo điều kiện cho các trường cao đẳng được nâng lên thành đại học, mỗi tỉnh đều có ít nhất một trường đại học Chỉ trong vài năm, giáo dục đại học tại Nhật Bản mở rộng gấp nhiều lần so với thời chiến, cả về số lượng trường, số lượng sinh viên và số lượng giảng viên Phong trào bình đẳng nữ quyền kết hợp với sự phát triển về giáo dục Đại học khiến số lượng sinh viên nữ trong các trường Đại học cũng tăng lên nhanh chóng

2.3 Hệ thống chính trị Nhật Bản

2.3.1 Thể chế 1955 và tam giác quyền lực tại Nhật Bản

Vào giai đoạn cuối của thời kỳ chiếm đóng, bức tranh chính trị của Nhật Bản đã bộc lộ khá rõ nét, khi các ứng cử viên độc lập và các chính đảng nhỏ dần lui vào hậu trường, để lại trên sân khấu chính trị còn lại 4 đảng lớn kình địch nhau: Hai đảng thuộc phe xã hội là Đảng Xã hội cánh tả và Đảng

Xã hội cánh hữu; Hai đảng thuộc phe bảo thủ là Đảng Tự do và Đảng Dân

Trang 39

chủ Sự kiện hai đảng thuộc phe xã hội sáp nhập vào tháng 10 năm 1955 (trở thành Đảng Xã hội Nhật Bản) và hai đảng thuộc phe bảo thủ sáp nhập vào tháng 11 năm 1955 (trở thành Đảng Dân chủ - Tự do) đã hoàn thiện bức tranh chính trị của Nhật Bản thời kỳ này Năm 1955, một hệ thống chính trị mới đã được thiết lập với chính đảng cầm quyền là Đảng Dân chủ - Tự do (LDP), trong khi chính đảng đối lập chính là Đảng Xã hội Nhật Bản Từ năm 1955 tới nay, vì đảng nắm quyền hầu như không thay đổi nên các cuộc xung đột, thường chỉ xảy ra chủ yếu trong nội bộ LDP hơn là giữa các đảng chính trị khác Kết quả là, một hệ thống phe phái rất phức tạp hoạt động trong nội bộ LDP, ảnh hưởng đến hoạt động của cả quốc hội Nhật Bản Các phe phái trong LDP dựa trên các cá nhân có thế lực, thường là thành viên kỳ cựu của LDP, nhiều người trong số họ là cựu Thủ tướng hoặc là người có khả năng trở thành thủ tướng trong tương lai Số lượng và quy mô của các phe phái liên tục thay đổi Lịch sử Nhật Bản gọi mô hình chính trị này là “thể chế 1955”

Bên cạnh đó, sự liên kết chặt chẽ giữa giới chủ doanh nghiệp, giới chính trị và giới quan chức là một đặc trưng quan trọng của hệ thống chính trị Nhật Bản Quyền lãnh đạo đất nước, sức ảnh hưởng tới quản trị công tại Nhật Bản được phân chia trong ba giới trên đã hình thành nên cái gọi là “tam giác quyền lực Nhật Bản” Ba giới này có những mối liên hệ khăng khít, tạo nên

sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Nhật Bản, nhưng cũng làm nảy sinh không ít những vấn đề tiêu cực do sự thiếu minh bạch của nó

GIỚI CHÍNH TRỊ

GIỚI QUAN CHỨC GIỚI CHỦ DOANH NGHIỆP

Sơ đồ 2.1 Mối quan hệ trong Tam giác quyền lực tại Nhật Bản

Trang 40

Giới chủ doanh nghiệp thời kỳ này bao gồm 4 tổ chức xã hội, hoạt động riêng biệt nhưng bổ trợ cho nhau, đó là:

- Keidanren (Liên đoàn các tổ chức kinh tế): có chức năng cơ bản là

duy trì đối thoại thường xuyên với các cơ quan Nhà nước và tạo các diễn đàn trung gian với các doanh nghiệp nước ngoài

- Keizai Doyukai (Ủy ban phát triển kinh tế Nhật Bản): là một tổ chức

mang tính ôn hòa với chủ trương kêu gọi hợp tác giữa giới chủ và công nhân

- Nikkeiren (Hiệp hội các liên đoàn chủ doanh nghiệp Nhật Bản): có

mục tiêu là giúp đỡ các chủ doanh nghiệp đối mặt với các phong trào công nhân, công đoàn Các hoạt động của Nikkeiren chủ yếu gắn liền với các chính sách, pháp luật về lao động

- Nissho (Phòng thương mại và công nghiệp Nhật Bản): là tổ chức lâu

đời nhất, được thành lập năm 1922, với chủ trương bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực địa phương

Bốn tổ chức này đều có khuynh hướng hoạt động là bảo vệ quyền lợi chung của cộng đồng các doanh nghiệp Với những đặc thù riêng của mình, quan hệ giữa bốn tổ chức thiên về phân công trong hoạt động cho phù hợp với mục tiêu và chức năng hơn là cạnh tranh giữa các tổ chức

Giới quan chức ở đây chủ yếu nói đến các quan chức hành chính do vai trò vượt trội trong quản trị công của ngành hành pháp tại Nhật Bản thời kỳ này Trong thời kỳ Nhật Bản bị chiếm đóng, lực lượng chiếm đóng đã hợp tác tích cực và trực tiếp với các quan chức hành chính, do vậy, bộ máy hành chính đã duy trì sự hiện diện bền vững và có ảnh hưởng lớn của mình trong quản trị công Ngoài ra, giới quan chức còn có được sự tôn trọng và kính nể một cách truyền thống đối với các quan chức trong lĩnh vực hành chính Vai trò vượt trội đối với quản trị công của ngành hành pháp tại Nhật Bản còn nằm

ở việc soạn thảo các dự thảo luật và đề xuất phân bổ ngân sách

Ngày đăng: 01/04/2021, 06:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Quế Anh, Vũ Công Giao, Nguyễn Hoàng Anh (2018), Các lý thuyết, mô hình, cách tiếp cận về Quản trị Nhà nước và Phòng, chống tham nhũng, NXB Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết, mô hình, cách tiếp cận về Quản trị Nhà nước và Phòng, chống tham nhũng
Tác giả: Nguyễn Thị Quế Anh, Vũ Công Giao, Nguyễn Hoàng Anh
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2018
2. Nguyễn Thị Quế Anh, Vũ Công Giao, Vũ Ngọc Anh, Nguyễn Thị Minh Hà (2019), Chính phủ mở, Chính phủ điện tử và Quản trị Nhà nước hiện đại, NXB Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ mở, Chính phủ điện tử và Quản trị Nhà nước hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thị Quế Anh, Vũ Công Giao, Vũ Ngọc Anh, Nguyễn Thị Minh Hà
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2019
3. Phan Cao Nhật Anh (2015), “Thiếu hụt lực lượng lao động và vấn đề phát huy năng lực phụ nữ ở Nhật Bản”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, (177) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiếu hụt lực lượng lao động và vấn đề phát huy năng lực phụ nữ ở Nhật Bản”, "Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á
Tác giả: Phan Cao Nhật Anh
Năm: 2015
4. Antoine – Donnet, Pierre (1991), Nước Nhật mua cả thế giới, NXB Thông tin – Lý luận, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước Nhật mua cả thế giới
Tác giả: Antoine – Donnet, Pierre
Nhà XB: NXB Thông tin – Lý luận
Năm: 1991
5. Trương Hòa Bình, Ngô Cương (2014), Hệ thống Tòa án của một số nước trên thế giới, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống Tòa án của một số nước trên thế giới
Tác giả: Trương Hòa Bình, Ngô Cương
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2014
6. Bộ Tư pháp (2011), Nghiên cứu Tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp của năm quốc gia Trung Quốc, In-đô-nê-xia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp của năm quốc gia Trung Quốc, In-đô-nê-xia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2011
7. Brochier, Hubert (1971), Câu chuyện thần kỳ về kinh tế của Nhật Bản 1950 – 1970, Việt Nam Thông Tấn xã, Hà Nội, 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện thần kỳ về kinh tế của Nhật Bản 1950 – 1970
Tác giả: Brochier, Hubert
Năm: 1971
8. Chalmers, J. (1989) MITI và sự thần kỳ Nhật Bản, Tập III, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện kinh tế thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: MITI và sự thần kỳ Nhật Bản
9. Đặng Thị Tuyết Dung (2014), “Cải cách bộ máy hành chính Nhật Bản giai đoạn 1945 – 1954: Một số nội dung chủ yếu”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á (166) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách bộ máy hành chính Nhật Bản giai đoạn 1945 – 1954: Một số nội dung chủ yếu”, "Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á
Tác giả: Đặng Thị Tuyết Dung
Năm: 2014
10. Eiichi, Aoki (2019), Nhật Bản Đất nước và con người, NXB Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản Đất nước và con người
Tác giả: Eiichi, Aoki
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2019
11. Đỗ Thị Thu Hà, Đỗ Gia Hùng (2018), “Chính sách khoa học và công nghệ của Nhật Bản giai đoạn 1973 – 1991”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á,(210) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách khoa học và công nghệ của Nhật Bản giai đoạn 1973 – 1991”, "Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hà, Đỗ Gia Hùng
Năm: 2018
12. Vũ Tiến Hân (2015), “Sự hình thành và phát triển của nền chính trị chính đảng tại Nhật Bản”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, (168) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành và phát triển của nền chính trị chính đảng tại Nhật Bản”, "Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á
Tác giả: Vũ Tiến Hân
Năm: 2015
13. Nguyễn Thanh Hiền (2002), Nhật Bản trong thời kỳ Đảng Dân chủ - Tự do cầm quyền (1955 – 1993), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản trong thời kỳ Đảng Dân chủ - Tự do cầm quyền (1955 – 1993)
Tác giả: Nguyễn Thanh Hiền
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2002
14. Hoàng Thị Minh Hoa (1999), Cải cách ở Nhật Bản trong những năm 1945 – 1951, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách ở Nhật Bản trong những năm 1945 – 1951
Tác giả: Hoàng Thị Minh Hoa
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1999
15. Vũ Thị Phương Hoa (2018), “Hệ thống tiết kiệm bưu điện Nhật Bản: quá trình hình thành, phát triển và tư nhân hóa”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, (209) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống tiết kiệm bưu điện Nhật Bản: quá trình hình thành, phát triển và tư nhân hóa”, "Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á
Tác giả: Vũ Thị Phương Hoa
Năm: 2018
16. Holloway, Nigel; Bowring, Phillip (1992), Chân dung nước Nhật ở châu Á, NXB Thông tin – Lý luận, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung nước Nhật ở châu Á
Tác giả: Holloway, Nigel; Bowring, Phillip
Nhà XB: NXB Thông tin – Lý luận
Năm: 1992
17. Đoàn Kim Huy (2017), “Đào tạo đội ngũ công chức cho hệ thống chính quyền địa phương ở Nhật Bản và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, (197) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo đội ngũ công chức cho hệ thống chính quyền địa phương ở Nhật Bản và kinh nghiệm cho Việt Nam”, "Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á
Tác giả: Đoàn Kim Huy
Năm: 2017
18. Juro,Teranishi; Yutaka,Kosai (1995), Kinh nghiệm cải cách kinh tế Nhật Bản, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm cải cách kinh tế Nhật Bản
Tác giả: Juro,Teranishi; Yutaka,Kosai
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1995
19. Ngô Hương Lan (2013), “Một số vấn đề xã hội Nhật Bản những năm đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, (150) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề xã hội Nhật Bản những năm đầu thế kỷ XXI”, "Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á
Tác giả: Ngô Hương Lan
Năm: 2013
20. Li - Tan (2008), Nghịch lý của Chiến lược đuổi kịp, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghịch lý của Chiến lược đuổi kịp
Tác giả: Li - Tan
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w