1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh chủ đề tổ hợp xác suất lớp 11 với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

97 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 3,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nghiên cứu trước đó về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học phổ thông .... Giả thuyết khoa học Nếu xây dựng và sử dụng hợp lý m

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TẠ THỊ LAN ANH

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH CHỦ ĐỀ TỔ HỢP – XÁC SUẤT LỚP 11 VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN HỌC

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TẠ THỊ LAN ANH

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH CHỦ ĐỀ TỔ HỢP – XÁC SUẤT LỚP 11 VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN HỌC CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ

MÔN TOÁN HỌC

Mã số: 8140209.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Thị Phương Thảo

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: Tác giả xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu

sắc tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt

trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sư Phạm, trường

Đại học giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho

tác giả trong suốt quá trình học tập và làm luận văn

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trịnh Thị Phương

Thảo, người thầy đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình làm luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các giáo viên tổ Toán,

học sinh khối 11 Trường THPT Hồng Thái – huyện Đan Phượng – Hà Nội đã

giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và

thực nghiệm tại trường

Dù đã rất cố gắng, xong luận văn cũng không tránh khỏi những thiếu

sót, tác giả mong nhận được sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn

học viên để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả

Tạ Thị Lan Anh

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 So sánh giữa đánh giá theo tiếp cận nội dung và đánh giá theo tiếp

cận năng lực 7

Bảng 1.2 Qui trình đánh giá 8

Bảng 2.1 Tiêu chí đánh giá sản phẩm “Sơ đồ tư duy” 40

Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá thuyết trình sản phẩm “Sơ đồ tư duy” 40

Bảng 2.3 Tiêu chí đánh giá quá trình làm việc sản phẩm “Sơ đồ tư duy” 41

Bảng 2.4 Tiêu chí đánh giá sản phẩm “Đề kiểm tra” 45

Bảng 2.5 Tiêu chí đánh giá thuyết trình sản phẩm “Đề kiểm tra” 46

Bảng 2.6 Tiêu chí đánh giá quá trình làm việc sản phẩm “Đề kiểm tra” 47

Bảng 2.7 Tiêu chí đánh giá bài báo cáo về Niu – tơn và Pa – xcan 49

Bảng 2.8 Tiêu chí đánh giá thuyết trình báo cáo về Niu – tơn và Pa – xcan 50 Bảng 2.9 Tiêu chí đánh giá quá trình làm báo cáo về Niu – tơn và Pa – xcan 51

Bảng 2.10 Tiêu chí đánh giá dự án 59

Bảng 2.11 Tiêu chí đánh giá thuyết trình dự án 59

Bảng 2.12 Tiêu chí đánh giá quá trình làm việc của dự án 60

Bảng 3.1 Thống kê điểm số 68

Bảng 3.2 Phân phối tần suất 68

Bảng 3.3 Tổng hợp các tham số thống kê 69

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 2.1 Giao diện trò chơi “Ai là triệu phú” 31

Hình 2.2 Giao diện câu hỏi của trò chơi “Ai là triệu phú” 31

Hình 2.3 Giao diện trò chơi thiết kế bằng Quizizz nội dung Hoán vị chỉnh hợp tổ hợp 32

Hình 2.4 Giao diện trò chơi thiết kế bằng Kahoot nội dung 36

xác suất của biến cố 36

Hình 2.5 Giao diện trò chơi thiết kế bằng Quizizz nội dung 37

xác suất của biến cố 37

Hình 2.6 Sản phẩm của học sinh thiết kế sơ đồ tư duy 43

Hình 2.7 Giao diện đề kiểm tra trực tuyến 54

Biểu đồ 1.1 Tỉ lệ GV đã tổ chức KTĐG bằng các ứng dụng CNTT 24

Biểu đồ 1.2 Tỉ lệ GV gặp khó khăn về cơ sở vật chất 24

Biểu đồ 1.3 Tỉ lệ HS sử dụng điện thoại hoặc máy tính trao đổi học tập 25

Biểu đồ 1.4 Tỉ lệ các khó khăn của HS khi đánh giá thông qua các ứng dụng 26

Biểu đồ 1.5 Khảo sát các ứng dụng HS đã từng được sử dụng 26

Biểu đồ 3.1 So sảnh điểm số giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 68

Biểu đồ 3.2 Tần suất điểm số của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 69

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ iv

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 5

1.1 Đánh giá kết quả học tập của học sinh 5

1.2 Đánh giá kết quả học tập môn Toán có sự ứng dụng của công nghệ thông tin 12 1.2.1 Đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh trung học phổ thông 12

1.2.2 Vai trò công nghệ thông tin trong việc hỗ trợ đánh giá kết quả học tập môn Toán ở trường trung học phổ thông 13

1.3 Một số nghiên cứu trước đó về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học phổ thông 15

1.3.1 Trên thế giới 15

1.3.2 Ở Việt Nam 19

1.4 Đặc điểm chủ đề Tổ hợp – Xác suất lớp 11 20

1.4.1 Nội dung, phân phối chương trình 20

1.4.2 Mục tiêu chương trình 21

1.4.3 Một số điểm mới trong nội dung của chương trình 21

1.5 Thực trạng về ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra đánh giá môn Toán lớp 11 ở trường trung học phổ thông 22

1.5.1 Mục đích điều tra 22

1.5.2 Phương pháp và đối tượng điều tra 22

1.5.3 Cách tiến hành 23

1.5.4 Kết quả điều tra 23

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH CHỦ ĐỀ TỔ HỢP – XÁC SUẤT LỚP 11 VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 29

2.1 Tổ chức một số hoạt động đánh giá thường xuyên trong dạy học chủ để Tổ hợp – xác suất với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin 29

Trang 8

2.1.1 Hỏi – đáp 29

2.1.2 Sản phẩm học tập 38

2.2 Tổ chức một số hoạt động đánh giá định kỳ trong dạy học chủ để Tổ hợp – xác suất với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin 52

2.2.1 Bài kiểm tra trực tuyến 52

2.2.2 Dự án học tập 55

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 66

3.2 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 66

3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 66

3.4 Phân tích kết quả thực nghiệm 67

3.4.1 Phân tích về mặt định tính 67

3.4.2 Phân tích về mặt định lượng 68

3.5 Một số thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực nghiệm sư phạm 70

3.5.1 Thuận lợi 70

3.5.2 Khó khăn 70

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ, chương trình giáo dục phổ thông mới được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo kí ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh Và đặc biệt

trong chương trình giáo dục phổ thông mới môn Toán có nêu: “Mục tiêu đánh giá kết quả giáo dục môn Toán là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về sự phát triển năng lực và sự tiến bộ của học sinh trên cơ sở yêu cầu cần đạt ở mỗi lớp học, cấp học; điều chỉnh các hoạt động dạy học, bảo đảm

sự tiến bộ của từng học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục môn Toán nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung Từ đó lập kế hoạch thúc đẩy quá trình học tập tiếp theo” Với mục tiêu như vậy, ngay thời điểm hiện tại, cùng

với việc đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục ở các môn học thì việc đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá cũng được quan tâm đặc biệt, cần có giải pháp đồng bộ

Trong những năm gần đây, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và cách mạng công nghiệp 4.0, trong giáo dục nói chung và dạy học nói riêng có

sự thay đổi đáng kể khi được ứng dụng các công nghệ dạy học hiện đại Đặc biệt trong việc tổ chức hoạt động kiểm tra đánh giá thì những ứng dụng công nghệ này có ưu thế rất lớn so với việc giáo viên tổ chức kiểm tra đánh giá theo kiểu truyền thống Thời gian một tiết học trên lớp chỉ có 45 phút, sự đánh giá của giáo viên về học sinh vẫn chưa được toàn diện; ngoài ra lượng kiến thức mỗi tiết học tương đối nhiều nên vấn đề tự học ở nhà của học sinh cũng rất cần được quan tâm và giáo viên cần nắm bắt được tình hình học tập của học sinh kịp thời để hỗ trợ cho các em

Trang 10

Đối với chương trình môn Toán lớp 11, học sinh được làm quen với nhiều kiến thức mới, đó là phương trình lượng giác, tổ hợp xác suất, dãy số, giới hạn, đạo hàm và hình học không gian Trong đó, nội dung kiến thức về tổ hợp xác suất có ứng dụng rất lớn trong thực tiễn cuộc sống và trong cả những môn học khác Không những vậy, phần kiến thức này là nền tảng để học sinh tiếp tục học tiếp lên các bậc học cao hơn như: học phần Xác suất – Thống kê trong chương trình Đại học, Cao đẳng

Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài: “Tổ chức hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh chủ đề Tổ hợp – Xác suất lớp 11 với

sự hỗ trợ của công nghệ thông tin” để nghiên cứu với mong muốn việc kiểm

tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh được toàn diện và kịp thời với sự

hỗ trợ của công nghệ thông tin

2 Mục đích nghiên cứu

Thiết kế và tổ chức một số hoạt động đánh giá kết quả học tập chương

Tổ hợp – Xác suất lớp 11 với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin Từ đó nâng cao chất lượng học tập của học sinh lớp 11 nói riêng và học sinh trung học

phổ thông nói chung

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận về kiểm tra đánh giá trong dạy học

- Nghiên cứu về khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra đánh giá

- Tìm hiểu thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra đánh giá trong dạy học nói chung, dạy học Toán nói riêng

- Thiết kế một số hoạt động kiểm tra đánh giá môn Toán 11 với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

- Tổ chức thực nghiệm sư phạm đánh giá tính cần thiết, khả thi của các phương án đánh giá đã xây dựng

Trang 11

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học môn Toán ở lớp 11 trung học phổ thông với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra đánh giá chủ đề Tổ

hợp – Xác suất lớp 11 trung học phổ thông

5 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung: Chương “Tổ hợp – Xác suất”, Đại số & Giải tích lớp 11 – trung học phổ thông

Địa điểm: Trường THPT Hồng Thái – huyện Đan Phượng – Hà Nội

6 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng và sử dụng hợp lý một số ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập chủ đề Tổ hợp –

Xác suất lớp 11 sẽ góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, góp

phần nâng cao chất lượng học tập

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nghiên cứu lí luận

- Nghiên cứu về chương trình giáo dục phổ thông mới

- Sưu tầm và nghiên cứu các công trình khoa học đã được công bố có liên quan đến hoạt động kiểm tra đánh giá học sinh trung học phổ thông và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

- Nghiên cứu nội dung, chương trình sách giáo khoa, phân phối chương trình, sách giáo viên chuẩn của bộ môn toán lớp 11 – trung học phổ thông

7.2 Nghiên cứu thực tiễn

- Quan sát, khảo sát thực trạng của hoạt động kiểm tra đánh giá hiện nay về cả hai phía giáo viên và học sinh

Trang 12

- Thăm dò về sự hứng thú của học sinh khi giáo viên tổ chức hoạt động kiểm tra đánh giá có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

7.3 Thực nghiệm sư phạm

Tổ chức thực nghiệm sư phạm để xem xét tính khả thi và hiệu quả của việc sử dụng những ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả và hứng thú của học sinh trong hoạt động kiểm tra đánh giá như đã đề xuất

8 Những đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa lí luận về kiểm tra đánh giá ở trường trung học phổ thông

- Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra đánh giá

- Thiết kế một số hoạt động kiểm tra đánh giá môn toán lớp 11 với sự

hỗ trợ của công nghệ thông tin

- Đánh giá tính khả thi của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nói chung và kiểm tra đánh giá nói riêng

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2 Tổ chức hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh chủ đề Tổ hợp – Xác suất lớp 11 với sợ hỗ trợ của công nghệ thông tin

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

"Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét"[11] Hay

"Kiểm tra là sự theo dõi, tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu được những thông tin cần thiết để đánh giá'' [14]

Theo chúng tôi, trong luận văn này, kiểm tra là thu thập những thông tin, kết quả học tập của người học để làm cơ sở cho đánh giá

1.1.1.2 Đánh giá

Hiện nay việc đánh giá đang được hiểu trên một số quan điểm như sau:

- Theo C.E.Beeby: "Đánh giá giáo dục là sự thu thập và lý giải một cách hệ thống những bằng chứng, như một phần của quá trình, dẫn tới sự phán xét về giá trị theo quan điểm hoạt động";[10]

- Theo R.F.Magor: "Đánh giá là việc miêu tả tình hình của học sinh và giáo viên để dự đoán công việc phải tiếp tục và giúp đỡ học sinh tiến bộ".[10]

Đánh giá trong giáo dục nói chung là quá trình tiến hành có hệ thống để xác định mức độ mà đối tượng đạt được các mục tiêu giáo dục đã xác định trước

1.1.1.3 Đánh giá kết quả học tập

Theo Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc: “Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo

cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để họ học tập ngày một tiến bộ hơn.” [10]

Theo chúng tôi, đánh giá kết quả học tập của HS là quá trình thu thập các dữ liệu về các mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ của HS một cách đầy đủ,

Trang 14

đúng đắn, chính xác từ đó so sánh với các tiêu chí của mục tiêu đã xác định,

để đưa ra quyết định theo điều chỉnh quá trình dạy học tốt hơn

1.1.1.4 Đo lường kết quả học tập

- “Đo lường là tiến trình đạt được sự mô tả bằng số lượng về mức độ

mà một cá nhân làm được trong một lĩnh vực cụ thể” (Gronlud, 1971) [6]

- “Đo lường trong giáo dục là phương tiện để thu thập, phân tích dữ liệu về đặc tính, hành vi con người một cách có hệ thống làm cơ sở cho những hành động thích hợp” (K Stordahl, 1967) [6]

Đối với hoạt động dạy học, đo lường có thể thông qua việc thi kiểm tra

để xác định mức độ của người học nắm được kiến thức của môn học đó đến đâu hoặc mức độ hiểu biết về một vấn đề nào đó ở mức độ nào Kết quả thể hiện chính là điểm số, nó là một đại lượng định lượng

Các loại thang đo chính được sử dụng:

Đối tượng đánh giá là quá trình học tập và rèn luyện của HS Đây được coi là sự thay đổi đáng kể so với đánh giá truyền thống trước kia Đánh giá

Trang 15

tiếp cận năng lực là đánh giá về kiến thức, kĩ năng, thái độ trong hoàn cảnh có

STT Đánh giá tiếp cận nội dung Đánh giá tiếp cận năng lực

1 Bài kiểm tra viết ở trên giấy được

thực hiện khi kết thúc một đơn vị

kiến thức

- Có nhiều bài đánh giá với hình thức đa dạng trong suốt quá trình học tập

2 Đề cao sự cạnh tranh Đề cao sự hợp tác

3 Nặng nề về điểm số Quan tâm đến quá trình tạo ra

sản phẩm, chú ý đến ý tưởng sáng tạo của sản phẩm

4 Giảng dạy chủ yếu kiến thức hàn

lâm

Giảng dạy chú trọng đến việc vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn

5 GV đánh giá là chủ yếu, tự đánh giá

của HS không hoặc ít được công

nhận

Khuyến khích và công nhận tự đánh giá và đánh giá chéo của

HS

6 Việc chấp hành nội quy nhà trường,

tham gia các phong trào thi đua…

nhằm để đánh giá đạo đức của HS

Phẩm chất của HS được đánh giá chú trọng đến năng lực cá nhân, động viên HS thể hiện cá tính

1.1.2.3 Nguyên tắc đánh giá

Cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Tính giá trị

- Tính toàn diện và linh hoạt

- Tính công bằng và tin cậy

- Đánh giá cần quan tâm đến cả kết quả và những trải nghiệm của người học để có được kết quả đó

- Đánh giá trong bối cảnh thực tiễn và vì sự phát triển của người được đánh giá

Trang 16

hiện - Xác định thông tin, bằng chứng về phẩm chất, năng lực;

- Phương pháp, công cụ để thu thập thông tin, bằng chứng về phẩm chất, năng lực;

- Xác định cách xử lý thông tin, bằng chứng thu thập được

3 Lựa chọn và thiết kế công

cụ

- Câu hỏi, bài tập, bảng kiểm, hồ sơ, phiếu đánh giá theo tiêu chí

4 Thực hiện - Thực hiện theo các yêu cầu, kỹ thuật đối với

các phương pháp, công cụ đã lựa chọn, thiết

kế nhằm đạt mục tiêu kiểm tra, đánh giá, phù hợp với từng loại hình đánh giá: GV đánh giá, HS tự đánh giá, các lực lượng khác tham gia đánh giá

5 Xử lý, phân tích kết quả - Phương pháp định tính và định lượng

- Sử dụng phần mềm xử lý thống kê

6 Giải thích và phản hồi kết

quả với HS và phụ huynh

- Giải thích kết quả, đưa ra những nhận định

về sự phát triển của người học về phẩm chất, năng lực so với mục tiêu và yêu cầu cần đạt;

- Lựa chọn cách phản hồi kết quả đánh giá: bằng điểm số, nhận định/nhận xét, mô tả phẩm chất, năng lực đạt được…

1.1.2.5 Phương pháp và công cụ đánh giá

* Nhóm phương pháp kiểm tra viết

Kiểm tra viết là phương pháp HS viết câu trả lời cho các câu hỏi hoặc vấn

đề vào giấy Có 2 hình thức kiểm tra viết phổ biến: trắc nghiệm và tự luận

- Câu hỏi dạng trắc nghiệm khách quan:

Trang 17

Một số dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan: câu hỏi nhiều lựa chọn, câu hỏi điền vào chỗ trống, câu hỏi ghép đôi, câu hỏi đúng sai…

Dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan bao gồm nhiều câu hỏi Mỗi câu hỏi cung cấp một thông tin cụ thể và HS được yêu cầu trả lời rất ngắn bằng đáp

án đúng hoặc một vài từ Vì lượng câu hỏi nhiều mà thời gian trả lời lại ngắn nên bài trắc nghiệm khách quan thường bao hàm được nhiều nội dung cần đánh giá

- Câu hỏi tự luận

Dạng câu hỏi tự luận được dùng phổ biến trong nhà trường Nó cho phép HS trả lời bằng cách tự lựa chọn, tổng hợp và trình bày những tri thức phù hợp nhất Bài kiểm tra theo hình thức tự luận thường có ít câu hỏi, do đó nội dung để kiểm tra không được nhiều

- Quan sát về sản phẩm: HS vận dụng các kiến thức đã học để tạo ra những sản phẩm cụ thể theo yêu cầu của GV Những sản phẩm như: bài luận ngắn, bài tập nhóm, báo cáo thực hành, vẽ biểu đồ, tạo ra được một dụng cụ thực hành, thí nghiệm… HS tự trình bày sản phẩm của mình, GV đánh giá sự tiến bộ và quá trình làm ra sản phẩm đó, đưa ra ý kiến giúp các em hoàn thiện sản phẩm hơn

Thông thường trong quan sát, GV có thể sử dụng 3 loại công cụ để thu thập thông tin là: ghi chép sự kiện, thang đo hoặc bảng kiểm tra

* Nhóm phương pháp vấn đáp

Trang 18

Vấn đáp là phương pháp GV đặt câu hỏi và HS trả lời câu hỏi, nhằm rút

ra những kết luận, những tri thức mà HS cần nắm hoặc tổng kết, củng cố, kiểm tra mở rộng, đào sâu những tri thức mà HS đã học Việc hỏi HS rất hữu ích trong dạy học Đặc biệt là khi cần biết HS có hiểu bài hay không, thu hút

sự chú ý của HS đang mất tập trung

Các hình thức vấn đáp:

- Vấn đáp gợi mở: là hình thức GV đặt những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt

HS rút ra những nhận xét, những kết luận cần thiết từ những sự kiện đã được quan sát hoặc những tài liệu đã được học Hình thức này sử dụng khi cung cấp tri thức mới

- Vấn đáp củng cố: Được sử dụng sau khi giảng tri thức mới, giúp HS củng cố được những kiến thức cơ bản và hệ thống hóa chúng, mở rộng và tìm hiểu sâu hơn những kiến thức đã thu được

- Vấn đáp tổng kết: được sử dụng khi cần dẫn dắt HS khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học sau một phần, một chương hay một môn học

- Vấn đáp kiểm tra: được sử dụng trước, trong và sau giờ giảng, giúp GV kiểm tra kiến thức của HS một cách nhanh gọn, kịp thời để có thể bổ sung củng

cố tri thức ngay nếu cần thiết, nó cũng giúp HS tự kiểm tra kiến thức của mình

Tùy vào mục đích và nội dung dạy học của mình, GV có thể vận dụng

4 hình thức vấn đáp này hợp lý

* Phương pháp đánh giá qua sản phẩm học tập

Đây là phương pháp đánh giá kết quả học tập của HS khi những kết quả

ấy được thể hiện bằng các sản phẩm như bức vẽ, bản đồ, đồ thị, đồ vật, sáng tác, chế tạo, lắp ráp… Sản phẩm là các bài làm hoàn chỉnh, được HS thể hiện qua việc xây dựng, sáng tạo, thể hiện ở việc hoàn thành được công việc một cách có hiệu quả Các tiêu chí và tiêu chuẩn để đánh giá sản phẩm rất đa dạng

Công cụ thường sử dụng trong nhóm phương pháp đánh giá sản phẩm học tập là: bảng kiểm, thang đánh giá theo tiêu chí

Trang 19

* Phương pháp đánh giá qua hồ sơ học tập

Đây là phương pháp đánh giá thông qua minh chứng cho sự tiến bộ của

HS, trong đó HS tự đánh giá bản thân mình, tự ghi lại kết quả học tập trong quá trình học tập, đối chiếu với những mục tiêu đã đề ra để nhận ra sự tiến bộ hoặc chưa tiến bộ, tìm nguyên nhân và cách khắc phục trong thời gian tới Đánh giá qua hồ sơ là sự theo dõi, trao đổi những ghi chép, lưu giữ của chính

HS về những gì các em đã nói, đã làm, cũng như ý thức, thái độ của HS với quá trình học tập của mình cũng như của mọi người Qua đó giúp HS thấy được sự tiến bộ của mình và GV thấy được khả năng của từng HS, từ đó GV

sẽ có những điều chỉnh cho phù hợp hoạt động dạy học và giáo dục

Dựa vào cách sử dụng thông tin trong đánh giá: Đánh giá chính thức/không chính thức

Dựa vào công cụ đánh giá: Đánh giá tiêu chuẩn, đánh giá tiêu chí

Theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông 2018 thì tập trung vào 2 loại: đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ

* Đánh giá thường xuyên

Đánh giá thường xuyên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức, kết hợp với đánh giá của giáo viên các môn học khác, của bản thân học sinh được đánh giá và của các học sinh khác trong tổ, trong lớp hoặc đánh giá của cha

mẹ học sinh Đánh giá quá trình đi liền với tiến trình hoạt động học tập của học sinh, tránh tình trạng tách rời giữa quá trình dạy học và quá trình đánh giá, bảo đảm mục tiêu đánh giá vì sự tiến bộ trong học tập của học sinh

Trang 20

* Đánh giá định kì

Đánh giá định kì có mục đích chính là đánh giá việc thực hiện các mục tiêu học tập Kết quả đánh giá định kì và đánh giá tổng kết được sử dụng để chứng nhận cấp độ học tập, công nhận thành tích của học sinh

1.2 Đánh giá kết quả học tập môn Toán có sự ứng dụng của công nghệ thông tin

1.2.1 Đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh trung học phổ thông

- Đặc điểm của đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh THPT

+ Đảm bảo như đánh giá theo qui chế: Qui chế đánh giá xếp loại theo thông tư 58/2011 của Bộ giáo dục và thông tư 26/2020 sửa đổi, bổ sung một

số điều trong thông tư 58/2011

+ Đánh giá riêng của môn Toán: đánh giá bằng hình thức nhận xét hoặc cho điểm theo thang điểm từ 0 đến 10, tính điểm trung bình sau mỗi học kì và

cả năm học Điểm kiểm tra thường xuyên hệ số 1, kiểm tra giữa kì hệ số 2, kiểm tra học kì hệ số 3 KT định kì theo phân phối chương trình, KT thường xuyên thì với môn Toán mỗi HS kiểm tra ít nhất 4 lần/1 học kì

Những điểm mới của thông tư 26/2020:

- Kiểm tra, đánh giá thường xuyên được thực hiện theo hình thức trực tiếp hoặc trực tuyến thông qua: hỏi – đáp, viết, thuyết trình, thực hành thí nghiệm, sản phẩm học tập Số lần kiểm tra, đánh giá thường xuyên không giới hạn số đầu điểm

- Kiểm tra, đánh giá định kì được thực hiện sau mỗi giai đoạn giáo dục nhằm đánh giá kết quả học tập, rèn luyện và mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của HS theo chương trình môn học, hoạt động giáo dục theo qui định Kiểm tra, đánh giá định kì bao gồm kiểm tra, đánh giá giữa kì và kiểm tra, đánh giá cuối kì được thông qua bài kiểm tra trên giấy hoặc trên máy tính, bài thực hành, dự án học tập

Trang 21

1.2.2 Vai trò công nghệ thông tin trong việc hỗ trợ đánh giá kết quả học tập môn Toán ở trường trung học phổ thông

Việc sử dụng CNTT trong dạy học nói chung và hỗ trợ kiểm tra đánh giá nói riêng có tác động to lớn làm thay đổi căn bản nội dung và phương pháp dạy học Nó giúp việc đánh giá trở nên nhẹ nhàng, đa dạng và khách quan CNTT có thể kể đến một số vai trò sau:

- Hỗ trợ đổi mới hình thức tổ chức kiểm tra kết quả học tập của học sinh: Phần mềm hỗ trợ KT-ĐG kết quả học tập trực tuyến là hình thức hỗ trợ

cao nhất Tuy nhiên, hình thức này hiện nay chưa được áp dụng rộng rãi vì trình độ tin học và kiến thức, kỹ năng khác nhau Nhưng với hình thức KT này

có thể hỗ trợ HS tự KT-ĐG để điều chỉnh quá trình học tập của mình Ngoài ra các phần mềm KT-ĐG hiện nay còn có thể giúp chấm bài KT trắc nghiệm trên

máy sau khi HS làm bài trên giấy

- Hỗ trợ ĐG, phân tích chất lượng học sinh: Các phần mềm hiện nay có

thể làm thay con người trong việc ĐG và phân tích chính xác chất lượng HS từ

đó điều chỉnh quá trình dạy học cho phù hợp với mục tiêu đào tạo và đối tượng

HS Một số phần mềm có thể hỗ trợ cho chúng ta như thông báo các thông số câu hỏi sau khi phân tích; đưa ra các báo cáo về năng lực, điểm thực của thí sinh sau khi phân tích; thống kê, báo cáo, lập biểu đồ về kết quả thi theo các tiêu chí khác nhau Đặc biệt, các phần mềm còn có khả năng giúp chúng ta lưu vết bài KT và khai phá dữ liệu để theo dõi kết quả học tập của HS trong

Trang 22

Các tính năng chính của những ứng dụng trên là hỗ trợ GV giảng dạy thông qua một lớp học ảo HS đăng nhập hoặc tham gia lớp học theo mã lớp

GV cung cấp, nghe giảng qua màn hình máy tính hoặc điện thoại, có thể tương tác với GV

Trong bối cảnh dịch Covid – 19 như năm nay đang diễn ra thì những phần mềm dạy học trực tuyến thực sự được quan tâm và tìm hiểu Chúng giúp cho GV và HS không bị gián đoạn quá trình dạy và học Tuy nhiên, khi dạy học trực tuyến vẫn còn một số hạn chế như GV không thể bao quát được HS

có thực sự làm việc và nghe giảng hay không; không quan sát được thái độ học tập của HS Chính vì thế, những ứng dụng này nên dùng khi GV trao đổi những nội dung ngắn với HS như giải đáp các thắc mắc về bài học mà trên lớp chưa giải đáp được, không nên trao đổi hoặc dạy học nhiều nội dung dễ dẫn đến mất tập trung ở HS

* Nhóm 2: Công cụ được thiết kế dưới dạng trò chơi: Quzizz; Kahoot; Socrative; Plickers

Những ứng dụng này là các trò chơi, được thiết kế với giao diện đẹp và

dễ sử dụng cho cả người tạo ra nội dung và người chơi HS chơi bằng cách sử dụng điện thoại thông minh có kết nối mạng, hoặc các thẻ đáp án có mã hóa

GV có thể vận dụng vào việc khởi động tạo hứng thú cho HS đầu giờ học hoặc kiểm tra nhanh kiến thức HS cuối giờ Khi sử dụng những ứng dụng trò chơi này, HS sẽ hào hứng hơn với việc học hoặc củng cố làm bài tập Tuy nhiên, trong lớp học còn một số HS chưa có điện thoại thông minh hoặc mạng Internet kém cũng có thể ảnh hưởng đến việc tổ chức trò chơi bằng các ứng dụng này

* Nhóm 3: Công cụ thu thập phản hồi của người học tức thời: Menti; Google Form; MS Form

Khi kết thúc một nội dung dạy học và GV muốn khảo sát ý kiến của HS ngay lập tức thì có thể sử dụng các ứng dụng trên Mục đích này thường phù hợp với những môn học xã hội hoặc những giờ ngoại khóa, tập huấn cho HS

Trang 23

* Nhóm 4: Công cụ trao đổi thông tin với người học: Padlet; Zalo; Messenger

GV có thể lập nhóm trên một số mạng xã hội thông dụng như Zalo, Facebook để GV và HS trao đổi thêm thông tin về bài học, chia sẻ tài liệu học tập, sản phẩm học tập… Giúp cho khoảng cách giữa GV và HS gần gũi hơn

và GV cũng nắm bắt được tâm lý và tình hình học tập của các em HS tốt hơn Ngoài ra, sử dụng Padlet cũng là một lựa chọn phù hợp cho những bài học cần chia sẻ các tài liệu, sản phẩm nộp của HS là dạng ảnh hoặc file mềm cần

có sự sắp xếp hệ thống và lưu được lâu dài

* Nhóm 5: Công cụ giao bài tập và chấm điểm: Shub classroom; Labhok

Tính năng chính là giao bài tập cho HS thực hiện và có chấm điểm báo điểm cho HS ngay lập tức GV có thể sử dụng vào mục đích giao bài tập về nhà hằng ngày và có thể kiểm tra tiến độ của HS thường xuyên mà không cần thu vở chấm vở như trước đây Ngoài ra, các thầy cô có thể sử dụng để làm bài kiểm tra trực tuyến thay thế cho bài kiểm tra giấy Tuy nhiên, với ứng dụng Shub Classroom, nếu dùng bản miễn phí thì các bài tập chưa hỗ trợ đảo

đề và đáp án Vì vậy khi làm bài tập hoặc bài kiểm tra dễ có tình trạng HS trao đổi đáp án với nhau nên kết quả thu được chưa được khách quan

* Nhóm 6: Công cụ hỗ trợ việc dạy và học: công cụ trộn đề trắc nghiệm, chấm bài trắc nghiệm, vẽ sơ đồ tư duy bằng các ứng dụng, cắt ghép dựng video, âm thanh…

1.3 Một số nghiên cứu trước đó về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học phổ thông

1.3.1 Trên thế giới

Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về việc ứng dụng CNTT trong việc dạy-học, có thể kể đến:

Trang 24

Đề tài Ảnh hưởng của công nghệ đến động lực học tập của HS của tác giả James Francis [20] được nghiên cứu đã được hoàn thành tại trường Hiến chương New England là một trường bán công trong môi trường đô thị ở New England, bao gồm các học sinh từ lớp 7-12 với số lượng là 349 tại thời điểm can thiệp công nghệ thông qua phân tích dữ liệu Các cuộc khảo sát của học sinh được thực hiện để đánh giá nhận thức và động lực của học sinh, kế hoạch giáo dục cá nhân của học sinh đã được xem xét và các quan sát trong lớp học

đã được thực hiện Kết quả cho thấy học sinh cảm thấy có động lực thông qua việc sử dụng công nghệ cụ thể trong lớp học Nghiên cứu sâu hơn có thể hỗ trợ trong việc cập nhật các kỹ thuật giảng dạy để hỗ trợ tốt hơn cho giáo dục hòa nhập cũng như tăng cường động lực của học sinh Tác giả kết luận rằng: Công nghệ có mặt ở khắp mọi nơi và được tích hợp hoàn toàn vào cuộc sống hàng ngày của học sinh, mang lại cho học sinh kết nối với một lượng thông tin khổng lồ Việc sử dụng công nghệ này trong lớp học đúng cách có lợi ích giúp nâng cao thành tích học tập của học sinh cũng như các giáo viên với tất cả các cấp độ kỹ năng Tác giả muốn đề cập sâu về việc hỗ trợ cho HS khuyết tật

Theo Comi và nhóm tác giả [16] đã cung cấp bằng chứng về việc liệu các hoạt động giảng dạy liên quan đến CNTT có ảnh hưởng đến thành tích của học sinh hay không Nghiên cứu được thực hiện trên một mẫu đại diện của học sinh lớp 10 và các giáo viên phụ trách tương ứng ở khu vực Bologna, khu vực đông dân nhất và kinh tế tiên tiến ở miền Bắc Italy Tác giả thấy rằng các phương pháp giảng dạy dựa trên máy tính làm tăng hiệu suất của học sinh khi họ tăng cường nhận thức của học sinh về sử dụng CNTT và khi họ tăng cường giao tiếp Ngoài ra, bài viết cho thấy tác động tiêu cực của các hoạt động đòi hỏi vai trò tích cực của học sinh trong các lớp học sử dụng CNTT-

TT Phát hiện của nhóm tác giả cho thấy rằng hiệu quả của CNTT ở trường phụ thuộc vào thực tế mà giáo viên tạo ra và khả năng tích hợp CNTT vào quá trình giảng dạy của họ

Trang 25

Theo bài báo đề cập đến ảnh hưởng của CNTT đối với thành tích học tập môn Toán của tác giả Ramteke, S [22], điều tra những ảnh hưởng của công nghệ thông tin và truyền thông đến thành tích học tập của học sinh 100 học sinh đã được chọn chia thành hai nhóm, số lượng học sinh trong mỗi nhóm là 50 Nhóm đối chứng được dạy theo cách dạy truyền thống và nhóm thực nghiệm được dạy bằng CNTT Sau khi dạy cả hai nhóm, bài kiểm tra đã được tiến hành trên cùng một tham số và sử dụng t - test để phân tích dữ liệu Dựa trên phân tích thống kê, người ta thấy rằng công nghệ thông tin và truyền thông ảnh hưởng tích cực đến thành tích học tập của sinh viên và CNTT được biên soạn hiệu quả và có giá trị hơn trong giảng dạy Toán học khi trái ngược với các kỹ thuật giảng dạy thông thường & công nghệ truyền thông nên được

sử dụng trong giảng dạy Toán học để nâng cao thành tích của học sinh

Luận án tiến sĩ của tác giả Mohammed I Isleem xét các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng CNTT của GV [21] Nghiên cứu này xác định mức

độ sử dụng máy tính cho mục đích giảng dạy của các giáo viên giáo dục công nghệ tại các trường công lập Ohio Nghiên cứu cũng điều tra các mối quan hệ giữa mức độ sử dụng và các yếu tố được lựa chọn: chuyên môn; truy cập; thái độ; hỗ trợ và đặc điểm giáo viên Một thiết kế nghiên cứu khảo sát đã được sử dụng bằng 63 biến quan sát Một bảng câu hỏi đã được phát triển và gửi đến

1170 giáo viên giáo dục công nghệ tại các trường công lập Ohio – Hoa Kỳ trong năm học 2002 - 2003 Nội dung khảo sát của đề tài này là tài liệu tham khảo hữu ích cho chúng tôi trong quá trình xây dựng bảng hỏi nhằm điều tra thực trạng ứng dụng CNTT trong việc dạy học nói chung và đánh giá kết quả học tập của học sinh nói riêng tại các trường THPT

Theo bài báo Using Technology for Formative Assessment to Improve Students' Learning” [17], Mục tiêu chính của nghiên cứu này nhằm xác định tính hiệu quả của việc sử dụng công cụ đánh giá quá trình hình thành dựa trên công nghệ Plickers, trong việc cải thiện việc học tập của học sinh Phát hiện

Trang 26

rõ ràng nhất xuất hiện từ nghiên cứu này là việc sử dụng các công cụ dựa trên công nghệ, như Plickers, giúp tăng cường đánh giá quá trình và do đó, cải thiện việc học tập của học sinh Ngoài ra, người ta thấy rằng sự tham gia của học sinh được cải thiện, khi giáo viên sử dụng Plickers để đánh giá quá trình dẫn đến việc tạo ra một môi trường học tập hiệu quả, thúc đẩy việc học Hơn nữa, các công cụ này giúp cung cấp việc học tập cá nhân và thu hút học sinh phản hồi, từ đó dẫn đến việc tạo ra môi trường giảng dạy và học tập hiệu quả Những người tham gia trong nghiên cứu này chỉ ra tầm quan trọng của việc sử dụng đánh giá quá trình dựa trên công nghệ Hơn nữa, sử dụng các công cụ dựa trên công nghệ như Plickers giúp cung cấp phản hồi và làm cho lớp học thú vị, vui vẻ và nhiều thông tin Bộ Giáo dục ở Bahrain khuyến khích sử dụng công nghệ trong tất cả các tổ chức giáo dục

Các nghiên cứu ở nước ngoài cũng cho thấy tầm quan trọng và tính hiệu quả khi sử dụng công nghệ vào dạy học và đánh giá Ngày nay việc sử dụng CNTT là xu hướng, có nhiều hiệu quả không những trong giảng dạy mà kiểm tra đánh giá cũng được rất nhiều GV quan tâm Một lượng lớn tài liệu nhấn mạnh hiệu quả của việc sử dụng đánh giá quá trình trong quá trình dạy

và học

Qua việc tổng quan những nghiên cứu này, chúng tôi kế thừa nhiều nội dung quan trọng Tuy nhiên, những nghiên cứu về đánh giá kết quả học tập của HS có sử dụng CNTT chưa nhiều, đặc biệt là trong môn Toán THPT Do

đó, chúng tôi nghiên cứu về sử dụng CNTT trong đánh giá kết quả học tập của HS đối với môn toán THPT với sự kế thừa những nghiên cứu trước đó Nghiên cứu thực nghiệm sâu hơn là cần thiết để điều tra tính hiệu quả của việc sử dụng các công cụ dựa trên công nghệ để đánh giá quá trình và phản hồi về thành tích và hiệu suất của học sinh

Trang 27

và máy tính điện tử để đạt được mục đích.” [9]

Tác giả Trịnh Thị Phương Thảo [13] đã tổng kết: Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thông, đã có một số nghiên cứu ứng dụng CNTT&TT trong dạy học nói chung và tự học riêng trong đó máy tính điện tử được sử dụng như một công cụ hữu ích Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ, các thiết bị kỹ thuật số cầm tay với đặc tính nổi trội

là tính di động ngày càng trở nên tinh xảo Việc khai thác các thiết bị kỹ thuật

số cầm tay trong giáo dục đào tạo đã mở ra một hình thức học tập mới: Học tập di động Sử dụng máy tính điện tử trong tự học không cho phép việc tự học được diễn ra mọi lúc, mọi nơi, thậm chí diễn ra ngay cả khi người học di chuyển như việc sử dụng điện thoại di động Mặt khác nếu sử dụng điện thoại

di động thì việc tương tác giữa GV với HS, giữa các HS với nhau sẽ phong phú, đa dạng và thân thiện hơn vì điện thoại di động nhỏ gọn dẽ dàng cho việc mang theo khi di chuyển

Ở Việt Nam, đã có những nghiên cứu về lĩnh vực đánh giá trong giáo dục như: Trần Thị Tuyết Oanh với “Đánh giá kết quả học tập” hay Sái Công Hồng cùng các tác giả với “Kiểm tra đánh giá trong dạy học” [6] [10]

Tác giả Nguyễn Kim Dung trong bài báo “Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở một số trường trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh” [3] đã cho biết thực trạng KTĐG kết quả học tập: phương

pháp KTĐG chưa đa dạng, HS áp lực thi cử, chú trọng đánh giá về điểm số,

Trang 28

các phương pháp kiểm tra nhằm cải tiến chất lượng học tập như dự án, giải quyết vấn đề, các bài trình diễn, quan sát, không được các GV sử dụng Một trong những cách thay đổi là ứng dụng CNTT vào KTĐG Trong quá trình sử dụng CNTT vào dạy học, có một số yếu tố ảnh hưởng như mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và KTĐG nói riêng, điều kiện cơ sở vật chất, đặc điểm cá nhân, thái độ của cá nhân đối với việc sử dụng CNTT

Trong lĩnh vực ứng dụng CNTT trong KTĐG, có các công trình nghiên cứu của một số tác giả, nhưng đối tượng hướng tới là SV hoặc được ứng dụng trong môn học khác không phải Toán Điển hình là tác giả Lê Thị Thu Hiền

với luận án Tiến sĩ “Đổi mới hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập môn Vật lý của học sinh dự bị đại học dân tộc với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin” [5], hay nhóm tác giả Nguyễn Đình Định, Trịnh Thị Phú, “Ứng dụng phần mềm Maple để xây dựng hệ thống bài kiểm tra đánh giá kết quả học tập” đăng trên Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức [4]

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy vấn đề ứng dụng CNTT trong KTĐG được đề cập trong một số tài liệu, bài viết, công trình nghiên cứu Đây

là những gợi mở quý giá, chỉ ra về lý luận cũng như hướng vận dụng trong nghiên cứu đề tài Tuy nhiên, chưa có công trình, luận án, luận văn nào nghiên cứu về đánh giá kết quả học tập môn Toán chủ đề Tổ hợp - xác suất với sự hỗ trợ của CNTT

1.4 Đặc điểm chủ đề Tổ hợp – Xác suất lớp 11

1.4.1 Nội dung, phân phối chương trình

- Theo chương trình hiện hành

Theo Phân phối chương trình phần tổ hợp – xác suất được dạy trong 15 tiết cụ thể như sau:

Bài 1: Quy tắc đếm (3 tiết)

Bài 2: Hoán vị - chỉnh hợp – tổ hợp (3 tiết)

Bài 3: Nhị thức Niu – tơn (2 tiết)

Trang 29

Bài 4: Phép thử và biến cố (2 tiết)

Bài 5: Xác suất của biến cố (3 tiết)

Bài 6: Ôn tập chương 2 (2 tiết)

- Hình thành những khái niệm mới có liên quan đến các quy tắc đếm

- Tính được các tổ hợp, các chỉnh hợp và số các hoán vị của một tập hợp gồm n phần

- Phân biệt được sự khác nhau của chỉnh hợp và tổ hợp

- Xây dựng được không gian mẫu, cách xác định biến cố và xác suất b) Về kỹ năng

- Sử dụng thành thạo công thức tổ hợp, chỉnh hợp và các công thức về xác suất

- Áp dụng tính được vào các bài toán cụ thể

c) Về tư duy, thái độ

- Tự giác, tích cực, độc lập và chủ động phát hiện cũng như lĩnh hội kiến thức trong quá trình hoạt động

- Cẩn thận chính xác trong lập luận và tính toán

1.4.3 Một số điểm mới trong nội dung của chương trình

Theo chương trình giáo dục phổ thông mới ban hành năm 2018 của môn Toán, các nội dung về thống kê và xác suất được tăng cường rõ rệt, bổ sung thêm thời lượng và được đưa vào chương trình giáo dục từ lớp 2 của cấp Tiểu học Riêng đối với cấp THPT, chương trình có một số điểm thay đổi so với chương trình hiện hành như sau :

Trang 30

- Phần đại số tổ hợp (qui tắc cộng, qui tắc nhân, hoán vị, chỉnh hợp, tổ hợp, nhị thức Niu – tơn) sẽ được tách sang mạch kiến thức về Đại số

- Phần thống kê và xác suất cấp THPT được phát triển từ nền tảng kiến thức các lớp học dưới nhưng chuyên sâu hơn và hoàn thiện các kiến thức và

kĩ năng Nội dung được phân bố từ lớp 10 đến lớp 12 chứ không tập trung phần thống kê cho lớp 10 và phần xác suất cho lớp 11 như hiện hành

- Thời lượng của mạch kiến thức thống kê và xác suất trong chương trình mới tương đối cao và tăng dần theo từng cấp học – từ chỗ chiếm 3% tổng thời lượng chương trình môn Toán ở cấp tiểu học được nâng dần lên để chiếm khoảng 14% thời lượng chương trình môn Toán ở cấp THPT

1.5 Thực trạng về ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra đánh giá môn Toán lớp 11 ở trường trung học phổ thông

Nhằm làm rõ thực trạng về ứng dụng CNTT trong kiểm tra, đánh giá môn Toán lớp 11 ở trường THPT, chúng tôi tiến hành điều tra với các nội

dung như sau:

1.5.1 Mục đích điều tra

Khi tiến hành điều tra chúng tôi đặt ra những mục tiêu chính sau đây:

- Tìm hiểu tình hình sử dụng các ứng dụng CNTT trong kiểm tra đánh giá môn Toán ở trường THPT: tác dụng, mức độ sử dụng, mức độ cần thiết, hình thức và kinh nghiệm sử dụng

- Tìm hiểu những khó khăn trong việc thiết kế và sử dụng các ứng dụng CNTT trong kiểm tra đánh giá

- Tìm ra các biện pháp nâng cao chất lượng thiết kế và sử dụng một

cách có hiệu quả

1.5.2 Phương pháp và đối tượng điều tra

Phương pháp: sử dụng phiếu điều tra trực tuyến

Đối tượng điều tra: GV và HS ở một số trường THPT trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Trang 31

1.5.3 Cách tiến hành

Do tình hình phức tạp của dịch Covid – 19, để tiến hành điều tra, chúng tôi đã trao đổi và gửi phiếu thăm dò ý kiến bằng Google Form tới các GV

Toán THPT

1.5.4 Kết quả điều tra

Sau khi tiến hành điều tra và xử lí số liệu thu được kết quả như sau: Kết quả thu về:

- Đối với GV: 35 phản hồi

- Đối với HS: 110 phản hồi

a) Một số kết quả thu được khi xin ý kiến GV các trường:

Sau quá trình khảo sát ý kiến và tổng hợp, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng CNTT trong dạy học nói chung trong nhà trường THPT là phổ biến Những công việc như soạn giáo án bằng Word, PowerPoint, tra cứu thông tin trên Internet để phục vụ soạn giảng hay phản hồi thông tin với phụ huynh,

HS, đồng nghiệp bằng các ứng dụng công nghệ được diễn ra hàng ngày, hàng tuần với tỉ lệ cao Tuy nhiên, việc dạy học có sử dụng máy chiếu hoặc dạy học

ở phòng học đa phương tiện còn hạn chế do cơ sở vật chất của nhà trường chưa đáp ứng đủ cho tất cả các lớp học

Đặc biệt trong việc kiểm tra đánh giá, khi được hỏi về việc tổ chức cho

HS kiểm tra đánh giá bằng các ứng dụng hoặc trang web hỗ trợ ta có kết quả: 20% GV trả lời là chưa bao giờ thực hiện (Biểu đồ 1.1) Điều này cho chúng tôi thấy rằng có một số GV chưa tiếp cận hoặc chưa biết đến những ứng dụng hoặc trang web để hỗ trợ trong việc kiểm tra đánh giá Không những thế, nó còn hỗ trợ GV cả việc phân tích kết quả của HS, sắp xếp thứ hạng

Trang 32

Biểu đồ 1.1 Tỉ lệ GV đã tổ chức KTĐG bằng các ứng dụng CNTT

Đối với thực trạng sử dụng như trên, qua khảo sát chúng tôi có thể đưa

ra một số khó khăn như sau:

* Điều kiện về cơ sở vật chất chưa đáp ứng HS chưa có đủ 100% thiết

bị di động hoặc máy tính có kết nối Internet; Wifi kém; phòng máy vi tính tại trường chưa đáp ứng đủ số lượng máy cho mỗi học sinh sử dụng một cái Những khó khăn này được các thầy cô giáo nhất trí rất cao với tỉ lệ đồng ý 60% và tỉ lệ rất đồng ý là 37,1% (Biểu đồ 1.2)

Biểu đồ 1.2 Tỉ lệ GV gặp khó khăn về cơ sở vật chất

Ngoài ra, một tỉ lệ lớn GV đồng ý rằng cần đầu tư nhiều thời gian để tìm hiểu và chuẩn bị (71,4% đồng ý và 22,9% rất đồng ý)

Về khó khăn mất thời gian tập huấn cho học sinh để sử dụng thành thạo về các ứng dụng hoặc các trang web hỗ trợ học tập thì có 57,1% GV đồng ý, 11,4% rất đồng ý và có 31,4% là không đồng ý với quan điểm này

Trình độ học sinh thấp nên không cần thiết tổ chức kiểm tra bằng máy tính/thiết bị di động: Có đến 74,3% không đồng ý, 10% rất không đồng ý và

Trang 33

còn lại là đồng ý với quan điểm này Điều đó cho thấy việc tổ chức đánh giá bằng hình thức mới này là cần thiết với mọi đối tượng

Kiểm tra trên giấy có thể lưu lại làm minh chứng dễ dàng hơn kiểm tra bằng máy tính/thiết bị di động: Có 40% GV không đồng ý và 60% đồng ý với ý kiến này

b) Một số kết quả thu được khi khảo sát học sinh

Qua quá trình khảo sát thực tế HS, những điều kiện để HS có thể thực hiện được các đánh giá của GV thông qua sự hỗ trợ của CNTT, chúng tôi thu được một số kết quả sau:

- Có 99% HS được hỏi có sử dụng điện thoại di động và 96,2% HS trả lời rằng điện thoại di động của HS có kết nối được Internet

- Có 54,3% HS có máy tính để bàn hoặc máy tính xách tay

- Khi sử dụng điện thoại hoặc máy tính, các em cũng có ý thức trong việc trao đổi bài học môn toán với bạn bè, có 29,5% là trao đổi thường xuyên,

có 67,6% thỉnh thoảng trao đổi (Biểu đồ 1.3)

Biểu đồ 1.3 Tỉ lệ HS sử dụng điện thoại hoặc máy tính trao đổi học tập

Ngoài việc trao đổi bài học với bạn bè, các em cũng chủ động trong việc truy cập vào các web hướng dẫn học môn toán (64,8% là thỉnh thoảng và 22,9% thường xuyên) Tuy nhiên vẫn còn một số em chưa tự giác tìm tòi học hỏi thêm ngoài giờ học trên lớp (12,4%)

Trang 34

- Đối với vấn đề ứng dụng CNTT trong kiểm tra đánh giá, có 15,2% số

HS trả lời thường xuyên được làm, 72,4% là thỉnh thoảng và 12,4% chưa bao giờ được làm bài kiểm tra đánh giá thông qua các ứng dụng

- Những khó khăn HS gặp phải khi thầy cô kiểm tra đánh giá bằng các ứng dụng (Biểu đồ 1.4)

Biểu đồ 1.4 Tỉ lệ các khó khăn của HS khi đánh giá thông qua

các ứng dụng

- Một số ứng dụng các em đã từng được sử dụng (Biểu đồ 1.5)

Biểu đồ 1.5 Khảo sát các ứng dụng HS đã từng được sử dụng

Kết luận: Qua thực tiễn khảo sát GV và HS trên địa bàn, chúng tôi tổng kết lại được một số vấn đề như sau:

Trang 35

- Việc ứng dụng CNTT trong dạy học của GV khá phổ biến, tuy nhiên việc đánh giá kết quả học tập có sự hỗ trợ của CNTT chưa nhiều Lí do chủ yếu là do cơ sở vật chất của nhà trường cũng như của HS chưa đáp ứng được yêu cầu sử dụng

- Các thầy cô đều nhận thấy sự hữu ích khi vận dụng các ứng dụng CNTT vào trong dạy học Nó giúp việc đánh giá trở nên nhanh chóng, khách quan và chính xác hơn

- HS còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với cách đánh giá mới này nên cần được thầy cô hướng dẫn tận tình cách thức thực hiện Có một phần nhỏ các em HS cho rằng việc làm bài tập hoặc bài kiểm tra trên máy tính hoặc điện thoại làm em mất tập trung làm bài hơn trên giấy và chất lượng làm bài phụ thuộc do mạng Internet Đây là một căn cứ để GV cân nhắc khách quan khi đánh giá HS

Trang 36

Kết luận chương 1

Chương 1 chúng tôi tập trung làm sáng tỏ một số khái niệm về đánh giá, đặc biệt là những quan điểm đánh giá theo chương trình giáo dục phổ thông mới Đối với quan điểm đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh, giáo viên cần nắm rõ về đối tượng đánh giá, nguyên tắc đánh giá, quy trình đánh giá, phương pháp và công cụ đánh giá, hình thức đánh giá Bên cạnh đó tác giả đã nghiên cứu những công trình khoa học trên thế giới và ở Việt Nam về vấn đề sử dụng CNTT trong dạy học nói chung và kiểm tra đánh giá nói riêng Những công trình nghiên cứu này đã cung cấp cho tác giả góc nhìn tổng quan và sâu sắc thêm về những ưu điểm khi áp dụng công nghệ vào kiểm tra đánh giá và cũng là gợi ý cho tác giả khi nghiên cứu một số nội dung của luận văn này Cùng với đó là thực trạng về việc ứng dụng các công nghệ hiện đại vào kiểm tra đánh giá ở một số trường THPT trên địa bàn hiện nay Dựa trên các cơ sở lý luận và thực tiễn của chương 1 làm cơ sở để chúng tôi thiết kế những phương án vận dụng CNTT trong từng nội dung đánh giá nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh và giảm tải áp lực thi kiểm tra cho cả thầy và trò

Trang 37

* Tư duy, thái độ

- Có thái độ tích cực trong học tập, chủ động trong tư duy, sáng tạo trong quá trình vận dụng

- Chủ động phát hiện, chiếm lĩnh tri thức mới, biết quy lạ về quen, có tinh thần hợp tác xây dựng cao

* Định hướng các năng lực có thể hình thành và phát triển: Năng lực

Trang 38

giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng công

nghệ thông tin, năng lực sử dụng ngôn ngữ

B Thời điểm đánh giá

- Dự kiến vào cuối tiết học của mỗi nội dung

- Thời gian: 7 đến 10 phút

C Nội dung đánh giá

* Tổ chức theo phương pháp truyền thống

- GV hỏi – đáp củng cố từng câu hỏi, HS trả lời tương ứng

- GV phát phiếu học tập, củng cố qua một số câu hỏi, yêu cầu HS lên chữa Đối với cách tổ chức này, HS được trả lời câu hỏi không nhiều Điều này gây bất lợi cho GV là không đánh giá được đa số HS trong lớp có phản hồi như thế nào về bài học Để từ đó rút kinh nghiệm và chỉnh sửa cho những tiết học sau

* Phương án sử dụng CNTT

Phương án 1: Sử dụng PowerPoint, trò chơi Ai là triệu phú

Phương án 2: Sử dụng trò chơi Quizziz

* Thiết kế

Phương án 1: Trò chơi PowerPoint Ai là triệu phú

GV sử dụng mẫu trò chơi có sẵn, nhập câu hỏi Thực hiện phần đánh giá cuối tiết học thông qua trò chơi này

Nội dung câu hỏi:

(Phụ lục 3) Minh họa:

Trang 39

Hình 2.1 Giao diện trò chơi “Ai là triệu phú”

Hình 2.2 Giao diện câu hỏi của trò chơi “Ai là triệu phú”

Phương án 2: Trò chơi Quizizz

- Truy cập vào trang web quizizz.com

- Đối với GV chưa có tài khoản, chúng ta có thể dễ dàng tạo tài khoản bằng cách liên kết với Google hoặc đăng kí bằng Email của mình

Trang 40

- Sau khi đăng nhập xong, GV làm theo các bước đã hướng dẫn để tạo trò chơi/bộ câu hỏi của mình

- Minh họa :

Hình 2.3 Giao diện trò chơi thiết kế bằng Quizizz nội dung

Hoán vị chỉnh hợp tổ hợp

Ngày đăng: 01/04/2021, 06:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Hồ Sỹ Anh (2013), Đề xuất giải pháp quản lý và đánh giá chất lượng đối với học sinh phổ thông Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục, TP Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất giải pháp quản lý và đánh giá chất lượng đối với học sinh phổ thông Việt Nam
Tác giả: Hồ Sỹ Anh
Năm: 2013
[3] Nguyễn Kim Dung (2012), Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở một số trường trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí khoa học Trường ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh, số 39, tr 5 – 13, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở một số trường trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Kim Dung
Năm: 2012
[4] Nguyễn Đình Định, Trịnh Thị Phú (2018), “Ứng dụng phần mềm maple để xây dựng hệ thống bài kiểm tra đánh giá kết quả học tập”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức, số 39 – 2018, tr 48-54, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng phần mềm maple để xây dựng hệ thống bài kiểm tra đánh giá kết quả học tập”
Tác giả: Nguyễn Đình Định, Trịnh Thị Phú
Năm: 2018
[5] Lê Thị Thu Hiền (2011), Đổi mới hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập môn Vật lý của học sinh dự bị đại học dân tộc với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Trường Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập môn Vật lý của học sinh dự bị đại học dân tộc với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Tác giả: Lê Thị Thu Hiền
Năm: 2011
[6] Sái Công Hồng, Lê Thái Hưng, Lê Thị Hoàng Hà, Lê Đức Ngọc (2020), Giáo trình kiểm tra đánh giá trong dạy học, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình kiểm tra đánh giá trong dạy học
Tác giả: Sái Công Hồng, Lê Thái Hưng, Lê Thị Hoàng Hà, Lê Đức Ngọc
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2020
[8] Phạm Đình Khương (2006), Một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học toán của học sinh trung học phổ thông, Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học toán của học sinh trung học phổ thông
Tác giả: Phạm Đình Khương
Năm: 2006
[9] Đỗ Thị Hồng Minh (2015), Dạy học tương tác trong môn toán ở trường trung học phổ thông qua chủ đề phương trình và bất phương trình, Luận án Tiến sĩ khoa học giáo dục, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tương tác trong môn toán ở trường trung học phổ thông qua chủ đề phương trình và bất phương trình
Tác giả: Đỗ Thị Hồng Minh
Năm: 2015
[10] Trần Thị Tuyết Oanh (2016), Đánh giá kết quả học tập, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả học tập
Tác giả: Trần Thị Tuyết Oanh
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2016
[13] Trịnh Thị Phương Thảo (2015), Phát triển năng lực tự học Toán cho học sinh lớp 12 với sự hỗ trợ của điện thoại di động, Kỷ yếu Hội thảo khoa học dạy học tích hợp & dạy học phân hóa ở trường trung học đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực tự học Toán cho học sinh lớp 12 với sự hỗ trợ của điện thoại di động
Tác giả: Trịnh Thị Phương Thảo
Năm: 2015
[14] Phạm Hữu Tòng (2001), Chức năng tổ chức kiểm tra định hướng hoạt động học của dạy học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.B. TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng tổ chức kiểm tra định hướng hoạt động học của dạy học
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2001
[15] Buzzetto-More, N. A., & Alade, A. J. (2006). Best practices in e- assessment. Journal of Information Technology Education:Research, 5, 251-269 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Information Technology Education: "Research, 5
Tác giả: Buzzetto-More, N. A., & Alade, A. J
Năm: 2006
[16] Comi, S. L., Argentin, G., Gui, M., Origo, F., & Pagani, L. (2017). Is it the way they use it? Teachers, ICT and student achievement. Economics of Education Review, 56, 24-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economics of Education Review, 56
Tác giả: Comi, S. L., Argentin, G., Gui, M., Origo, F., & Pagani, L
Năm: 2017
[17] Elmahdi, I., Al-Hattami, A., & Fawzi, H. (2018). Using Technology for Formative Assessment to Improve Students' Learning. Turkish Online Journal of Educational Technology-TOJET, 17, 182-188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Turkish Online Journal of Educational Technology-TOJET, 17
Tác giả: Elmahdi, I., Al-Hattami, A., & Fawzi, H
Năm: 2018
[19] Hatlevik, O. E. (2017). Examining the relationship between teachers’ self-efficacy, their digital competence, strategies to evaluate information, and use of ICT at school. Scandinavian Journal of Educational Research, 61, 555-567 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scandinavian Journal of Educational Research, 61
Tác giả: Hatlevik, O. E
Năm: 2017
[22] Ramteke, S. (2020) . Effect of ICT on Students Achievements in Mathematics. Our Heritage, 68, 1568-1571 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Our Heritage, 68
[12] Quốc hội, Nghị quyết 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông Khác
[18] Ghavifekr, S., Kunjappan, T., Ramasamy, L., & Anthony, A. (2016). Teaching and Learning with ICT Tools: Issues and Challenges from Khác
[20] James Francis (2017), The Effects of Technology on Student Motivation And Engagement In Classroom-Based Learning, A dissertation Doctor of Education, University of New England Khác
[21] Mohammed I. Isleem (2003), Relationships of selected factors and the level of computer use for instructional purposes by technology education teachers in Ohio public schools: a statewide survey, A dissertation Doctor of Education, The Ohio State University Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w