Trong quá trình dạy đọc hiểu thơ, cần được tích hợp với việc dạy các kiến thức tiếng Việt theo hướng ứng dụng, từ những trường hợp cụ thể mà tìm hiểu những tri thức khái quát về khái niệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ BÍCH PHƯỢNG
TÍCH HỢP KIẾN THỨC, KĨ NĂNG TIẾNG VIỆT
TRONG DẠY ĐỌC-HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở LỚP 11 THEO
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, Ban Chủ nhiệm khoa Sư phạm, cảm ơn các thầy cô đã giảng dạy lớp Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn khoá QH-2018-S trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành chương trình học tập và luận văn
Tác giả xin được gửi đến PGS.TS Bùi Minh Đức lời cảm ơn chân thành nhất vì đã hướng dẫn cho tác giả trong quá trình triển khai đề tài
Tác giả xin được cảm ơn Ban Giám hiệu, Tổ Ngữ văn trường THPT Chúc Động và trường THPT Xuân Mai , huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội cùng các em học sinh và đồng nghiệp, đã tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt thời gian tác giả thực hiện đề tài
Hà Nội, tháng 12 năm 2020
Tác giả
Nguyễn Thị Bích Phượng
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT Chương trình CTGDPT Chương trình giáo dục phổ thông DHTH Dạy học tích hợp
ĐHQG Đại học Quốc gia ĐHSP Đại học Sư phạm
TN Thực nghiệm SGK Sách giáo khoa
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của giáo viên 35
về việc tích hợp trong dạy đọc- hiểu văn bản thơ 35
Bảng 1.2 Mức độ tổ chức dạy học tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong việc đọc hiểu văn bản thơ ở lớp 11 36
Bảng 1.3 Kết quả khảo sát những khó khăn khi tổ chức dạy học tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong việc đọc hiểu văn bản thơ ở lớp 11 36
Bảng 1.4 Mức độ hứng thú của học sinh khi học đọc hiểu 37
văn bản thơ ở lớp 11 38
Bảng 1.5 Cảm nhận của học sinh khi học đọc hiểu văn bản thơ ở lớp 11 38
Bảng 1.6 Kết quả khảo sát thái độ của học sinh về việc tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt vào dạy đọc hiểu trong giờ học Ngữ văn 40
Bảng 1.7 Tổng hợp nhu cầu đổi mới phương pháp, hình thức dạy học đọc hiểu băn bản thơ ở lớp 11của giáo viên và học sinh 41
Bảng 3.1 Đối tượng dạy học thực nghiệm và đối chứng 93
Bảng 3.2 Thống kê kết quả bài kiểm tra 112
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả bài kiểm tra của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 112
Bảng 3.4 Thống kê kết quả xếp loại sản phẩm sáng tạo của học sinh 114
Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả xếp loại sản phẩm sáng tạo của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 114
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Mức độ tổ chức dạy học tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt
trong việc đọc hiểu văn bản thơ ở lớp 11 36
Biểu đồ1.2.Mức độ hứng thú của học sinh khi học đọc hiểu 38
văn bản thơ ở lớp 11 38
Biểu đồ 1.3 Cảm nhận của học sinh khi học đọc hiểu văn bản 39
Hình 2.1 Cảm xúc và ấn tƣợng về xứ Huế 60
Hình 2.2 Hàng cau 77
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tƣ duy bài thơ “Vội vàng” 89
Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả bài kiểm tra ở các lớp thực nghiệm và các lớp đối chứng 113
Biểu đồ 3.2 So sánh kết quả xếp loại sản phẩm sáng tạo 115
Hình 2.1 Cảm xúc và ấn tƣợng về xứ Huế 60
Hình 2.2 Hàng cau 77
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tƣ duy bài thơ “Vội vàng” 89
Trang 7
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
1.1 Xuất phát từ mục tiêu môn Ngữ văn và quan điểm về dạy học tích hợp của Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 1
1.2 Xuất phát từ đặc trưng của môn Ngữ văn 2
1.3 Xuất phát từ yêu cầu của dạy đọc- hiểu tác phẩm thơ ở lớp 11, theo chương trình Ngữ văn 2018 2
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 4
2.1 Các công trình nghiên cứu về dạy học tích hợp 4
2.2 Các công trình nghiên cứu về dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn ở trường THPT 7
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
3.1 Mục đích nghiên cứu 9
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4.1 Khách thể nghiên cứu 10
4.2 Đối tương nghiên cứu 10
4.3 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Câu hỏi nghiên cứu 10
6 Giả thuyết khoa học 10
7 Phương pháp nghiên cứu 11
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 11
Trang 88 Cấu trúc của luận văn 12
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ TÍCH HỢP KIẾN THỨC, KĨ NĂNG TIẾNG VIỆT TRONG DẠY HỌC ĐỌC-HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở LỚP 11 THEO CHƯƠNG TRÌNHNGỮ VĂN 2018 13
1.1 Tích hợp và dạy học tích hợp 13
1.1.1 Tích hợp 13
1.1.2 Dạy học tích hợp 15
1.2 Dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn 17
1.3 Thơ và đặc trưng của thơ 18
1.4 Đọc hiểu và đọc hiểu văn bản thơ 22
1.4.1 Đọc hiểu 22
1.4.2 Đọc hiểu văn bản thơ 26
1.4.3 Dạy học đọc hiểu văn bản thơ 26
1.5 Tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy học đọc hiểu thơ 27
1.6 Nội dung Tiếng Việt và yêu cầu dạy đọc hiểu văn bản thơ trong Chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018, lớp 11 31
1.6.1 Nội dung Tiếng Việt 32
1.6.2 Yêu cầu dạy đọc hiểu văn bản thơ 33
1.7 Thực trạng tích hợp kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt trong dạy đọc hiểu văn bản thơ ở lớp 11 34
1.7.1 Đối với giáo viên 34
1.7.2 Đối với HS 37
Tiểu kết Chương 1 42
CHƯƠNG 2 CÁC NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP TÍCH HỢP KIẾN THỨC, KĨ NĂNG TIẾNG VIỆT TRONG DẠY HỌC ĐỌC-HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở LỚP 11 THEO CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 2018 43 2.1 Các nguyên tắc tích hợp kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt trong dạy đọc-hiểu
Trang 92.1.1 Bám sát yêu cầu phát triển năng lực học sinh 43
2.1.2 Bám sát đặc trưng của văn bản thơ trong quá trình dạy học 44
2.1.3 Bám sát yêu cầu dạy học tích hợp và tích hợp tiếng Việt 45
2.2 Các biện pháp TH kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy đọc-hiểu văn bản thơ ở lớp 11 theo Chương trình Ngữ văn 2018 45
2.2.1 Xây dựng chủ đề TH kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy đọc-hiểu văn bản thơ ở lớp 11 theo Chương trình Ngữ văn 2018 45
2.2.2 Tổ chức các hoạt động DHTH theo chủ đề 49
Tiểu kết Chương 2 92
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 93
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 93
3.2 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 93
3.2.1 Chọn địa bàn,đối tượng và thời gian thực nghiệm 93
3.2.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 94
3.2.3 Cách thức tiến hành thực nghiệm sư phạm 94
3.3 Giáo án thực nghiệm 97
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 109
3.4.1 Khảo sát phiếu đánh giá của GV 109
3.4.2 Đánh giá sản phẩm sáng tạo của học sinh 111
Tiểu kết Chương 3 110
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 117
1 Kết luận……….119
2 Khuyến nghị……… 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120 PHỤ LỤC
Trang 10vụ đổi mới theo hướng phát triển năng lực HS Nghĩa là giáo dục phổ thông
sẽ chuyển sang tiếp cận năng lực người học thay vì cách tiếp cận nội dung nhằm đào tạo con người có tri thức mới, năng động, sáng tạo khi giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.Theo định hướng ấy, phương pháp dạy học cũng phải thay đổi theo hướng mở rộng, linh hoạt nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học, hình thành và phát triển những năng lực cần thiết giúp cho HS tự tin bước vào cuộc sống
Dạy học tích hợp là xu thế chung của Chương trình giáo dục phổ thông
cả nước Chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018 thực hiện dạy học tích hợp
cả trong mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục Trong đó nhấn mạnh, yêu cầu tích hợp không chỉ chú trọng về nội dung
mà còn coi trọng cả phương pháp dạy và học tích hợp nhằm giúp HS hình thành và phát triển tốt các năng lực đọc, viết, nói và nghe sao cho phù hợp với các đối tượng khác nhau Trên cơ sở đó góp phần phát triển cho HS các phẩm chất chủ yếu và các năng lực chung
Như vậy, nhằm hình thành và phát triển năng lực cho HS một cách có hiệu quả hơn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và đào tạo thì vấn đề đặt ra trong lĩnh vực lí luận và phương pháp dạy học bộ môn là phải tiếp cận, nghiên cứu và vận dụng dạy học tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT
Trang 111.2 Xuất phát từ đặc trưng của môn Ngữ văn
Môn Ngữ văn ở trường phổ thông được xây dựng theo nguyên tắc tích
hợp bởi ba bộ phận cơ bản: Tiếng Việt, Đọc - hiểu văn bản và Làm văn Theo
nguyên tắc tích hợp, mỗi bài học của môn Ngữ văn có sự phối hợp của một số đơn vị kiến thức và kỹ năng của ba hợp phần cơ bản này Phần đọc hiểu văn bản dựa trên một số văn bản văn học hay nhật dụng sẽ tập trung khai thác những điểm nội dung và nghệ thuật của văn bản, trong khi đó phần tiếng Việt
sẽ tìm hiểu và khai thác một số yếu tố ngôn ngữ có tần số xuất hiện cao trong văn bản, để phân tích luyện tập các kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh còn phần làm văn giúp cho học sinh hình thành năng lực tạo lập kiểu văn bản Với việc tích hợp thì các đơn vị kiến thức và kỹ năng đều phải được tìm hiểu, khai thác trên một ngữ liệu chung là văn bản, nhằm mục đích chung rèn kỹ năng đọc, viết, nói, nghe kiểu văn bản đó cho học sinh Vậy nên, hệ thống văn bản tích hợp sẽ tạo độ kết dính chỉnh thể trong một bài học
Hơn nữa, văn học được coi là nghệ thuật của ngôn từ, ngôn ngữ là yếu
tố thứ nhất của văn học, văn học và ngôn ngữ có mối quan hệ hết sức mật thiết không thể tách rời Như thế, việc dạy tích hợp văn học và ngôn ngữ sẽ góp phần tích cực nâng cao năng lực đọc văn và viết văn cho HS
1.3 Xuất phát từ yêu cầu của dạy đọc- hiểu văn bản thơ ở lớp 11 theo chương trình Ngữ văn 2018
Thơ vốn là một thể loại có sức hấp dẫn đặc biệt Là sản phẩm của tư duy hình tượng và hư cấu nghệ thuật, thơ lựa chọn việc giãi bày những cung bậc tình cảm, cảm xúc làm nội dung và phương thức biểu đạt tư tưởng của người viết Nhân vật trữ tình thường hiện ra với những cảm xúc, suy nghĩ Ngôn ngữ thơ cũng là ngôn ngữ giàu nhạc điệu, nhạc tính có khả năng làm rung động trái tim người đọc, tạo cho con người những khoái cảm thẩm mĩ lành mạnh Trước kia, giảng dạy thơ trong nhà trường theo lối giảng bình,
Trang 12dạy học thơ GS.Trần Đình Sử trong bài viết “Đọc hiểu VB – một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay” cho rằng: “Dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kĩ năng đọc để giúp các em hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc hiểu văn bản mà trực tiếp tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể hiện các tư tưởng và các cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính Do đó, hiểu bản chất môn văn là môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự bản chất của văn học, vừa hiểu đúng thực chất của việc dạy văn là dạy năng lực, phát triển chủ thể năng lực của học sinh”[25;tr.2] Theo đó, dạy đọc hiểu thơ ở lớp 11 nhằm giúp HS trở thành bạn đọc sáng tạo, kiến tạo ý nghĩa cho các tác phẩm thơ
Theo chương trình Ngữ văn 2018, yêu cầu về đọc hiểu văn bản thơ ở lớp 11 đề cập đến việc nhận biết và phân tích được vai trò của yếu tố tượng trưng trong thơ Đánh giá được giá trị thẩm mĩ của một số yếu tố trong thơ như ngôn từ, cấu tứ, hình thức bài thơ thể hiện trong văn bản
Trong quá trình dạy đọc hiểu thơ, cần được tích hợp với việc dạy các kiến thức tiếng Việt theo hướng ứng dụng, từ những trường hợp cụ thể mà tìm hiểu những tri thức khái quát về khái niệm, đặc trưng, chức năng, tác dụng của các đơn vị từ vựng, cú pháp Kế đó, vận dụng ngược trở lại để xem xét, đánh giá giá trị của các yếu tố ngôn ngữ ấy trong văn bản đọc hiểu
Vì thế, để dạy và học đọc văn nói chung và đọc-hiểu tác phẩm thơ nói riêng, theo chương trình Ngữ văn THPT mới cần phải trang bị cho HS các kiến thức Việt ngữ với tất cả các đơn vị và cấp độ ngôn ngữ như: từ vựng, ngữ pháp, đoạn văn, văn bản Những đơn vị ngôn ngữ này là những yếu tố chính (chất liệu) để kiến tạo nên thế giới hình tượng của các tác phẩm văn học Điều quan trọng hơn là khi cung cấp tri thức về một đơn vị ngôn ngữ nào
đó, người GV luôn hướng HS liên hệ với các tác phẩm văn học đã và đang học, đặt đơn vị đó, yếu tố tiếng Việt đó trong văn cảnh cụ thể của tác phẩm,
Trang 13Như vậy, bản chất của dạy học tích hợp cần được thể hiện trong giờ Ngữ văn là: hướng dẫn học sinh vận dụng những kiến thức, kỹ năng về tiếng Việt để cảm nhận và lí giải, phân tích những nội dung tiềm ẩn sâu sắc trong các tác phẩm văn chương (trong đó có tác phẩm thơ), trên cơ sở đó thực hành tạo lập các văn bản
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy đọc – hiểu văn bản thơ ở lớp 11 theo chương trình Ngữ văn 2018”
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1 Các công trình nghiên cứu về dạy học tích hợp
Trên thế giới, tư tưởng tích hợp xuất hiện từ rất sớm (những năm 60 của thế kỷ XX) và đã phát triển mạnh mẽ, trở nên phổ biến, áp dụng rộng rãi
ở các nền giáo dục phát triển Tại hội nghị tích hợp về giảng dạy các khoa học
đã được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna (Bungari) với sự bảo trợ của UNESCO vào tháng 9 - 1968 đã có nhiều nhà nghiên cứu giáo dục nghiên cứu về quan điểm dạy học tích hợp ở nhà trường phổ thông Một trong số đó là nhà nghiên cứu Xavier Roegiers với công trình
“Khoa học sư phạm tích hợp hay cần làm như thế nào để phát triển năng lực ở các trường học”[24] Trong công trình này, tác giả đã nhấn mạnh rằng cần đặt toàn bộ quá trình học tập vào một tình huống có ý nghĩa đối với học sinh, đồng thời với việc phát triển các mục tiêu đơn lẻ cần tích hợp các quá trình học tập này trong tình huống có ý nghĩa với học sinh
Như ở Australia, chương trình dạy học tích hợp đã được nước này áp dụng vào trường học từ những thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI Mục tiêu của chương trình giáo dục tích hợp cho giáo dục phổ thông Australia được xác định rõ như sau: Chương trình giáo dục tích hợp là hệ thống giảng dạy tích hợp đa ngành, trong hệ thống đó tầm quan trọng của việc phát triển
Trang 14việc dạy, học và kiểm tra đánh giá năng lực tiếp thu kiến thức cũng như ứng dụng của học sinh phổ thông[18]
Từ những năm 1987, ở Việt Nam, việc nghiên cứu xây dựng môn tự nhiên - xã hội theo quan điểm tích hợp đã được thực hiện và đã được thiết kế đưa vào dạy học ở cấp tiểu học Còn ở cấp trung học chủ yếu vẫn thực hiện tích hợp ở mức thấp, chưa đặt nặng vấn đề dạy học tích hợp ở bậc trung học
Tác giả Đào Trọng Quang với bài “Biên soạn sách giáo khoa theo quan điểm tích hợp, cơ sở lí luận và một số kinh nghiệm”, trong bài viết, nhà nghiên cứu đã đề cập đến bản chất của sư phạm tích hợp, quan điểm tích hợp, một số nguyên tắc chủ đạo và một số kỹ thuật của tích hợp
Nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thống trong cuốn “Đổi mới dạy và học Ngữ văn ở THCS” đã nêu một hệ thống quan điểm tích hợp và dạy học theo hướng tích hợp, tác giả cũng nhấn mạnh sự khác biệt giữa cộng gộp kiến thức và tích hợp kiến thức[29]
Trong công trình nghiên cứu “Vận dụng nguyên tắc liên môn khi dạy các vấn đề văn hóa trong SGK trong lịch sử THPT”(1997), nhà nghiên cứu Trần Viết Thụ cũng đã đưa ra quan điểm vận dụng kiến thức văn học, địa lý, chính trị vào giảng dạy bộ môn lịch sử theo quan điểm liên môn
Hiện nay, xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng vào đổi mới chương trình và SGK THPT và ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà quản lí và đội ngũ GV trên cả nước
Tháng 8 năm 2015, trường Đại học sư phạm Hà Nội đã triển khai, biên soạn và xuất bản các bộ sách bồi dưỡng GV trong đó có bộ sách “DHTH phát triển năng lực học sinh” gồm hai quyển: Quyển một là về khoa học tự nhiên, quyển hai là về khoa học xã hội Đây là một trong những tài liệu giúp GV tham khảo, chủ động, tự tin, sáng tạo hơn trong việc lựa chọn nội dung tích
Trang 15hợp, chủ đề tích hợp, góp phần tích cực vào việc cải cách giáo dục ở trường phổ thông
Trong công trình nghiên cứu “Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc phát triển chương trình giáo dục Việt Nam giai đoạn sau 2015” tác giả Cao Thị Thặng đã tổng quan các vấn đề lí luận và thực tiễn về xu thế tích hợp trong chương trình giáo dục một số nước trên thế giới Công trình đã phân tích thực trạng việc vận dụng quan điểm dạy và học tích hợp trong chương trình giáo dục Việt Nam, bên cạnh đó cũng đề xuất những giải pháp vận dụng quan điểm tiếp cận tích hợp vào việc phát triển chương trình phổ thông Việt Nam trong tương lai sau năm 2015[27]
Ngày 27/11/2012, tại Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra buổi hội thảo do
Bộ GD-ĐT tổ chức với chủ đề “Dạy tích hợp-dạy học phân hóa trong chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015”, rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra
mô hình dạy học tích hợp và phân hóa cho giáo dục phổ thông nước nhà dựa trên kinh nghiệm một số nước như Hàn Quốc, Pháp… và đề xuất xu hướng tích hợp trong chương trình trong đó ở bậc THCS, bên cạnh các môn bắt buộc sẽ có các môn tự chọn Các nhà nghiên cứu cũng đề xuất cần chú trọng tích hợp trong nhiều môn học và giảm các môn học bắt buộc, tăng môn học tự chọn, trong đó nhấn mạnh bên cạnh các môn học Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ, Công nghệ, Giáo dục công dân sẽ xây dựng hai môn học mới gồm môn Khoa học tự nhiên (trên cơ sở các môn Lí, Hóa, Sinh trong chương trình hiện hành)
và môn Khoa học xã hội (trên cơ sở môn Sử, Địa trong chương trình hiện hành và các vấn đề xã hội)[12]
Tác giả Đào Thị Hồng trong đề tài nghiên cứu “Phát triển kĩ năng dạy học theo hướng tích hợp ở trường tiểu học, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” (2007) đã khẳng định khi phân tích khái niệm và ý nghĩa của dạy học tích hợp: “Muốn tiến hành có hiệu quả, cần phải chú trọng đến việc bồi dưỡng
Trang 16trình, tài liệu xem nó dựa trên môn khoa học xác định nào, có thể mở rộng quan hệ tương tác với các môn khoa học khác như thế nào, mức độ tích hợp thể hiện ra sao? [19]
Trong công trình “Hình thành năng lực dạy học tích hợp cho GV trung học phổ thông” tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh đã nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc DHTH, tác giả cũng nghiên cứu biên soạn tài liệu dạy học một số môn học như Vật lí, Sinh học, Địa lí…ở trường THPT, cùng với đó tổ chức tập huấn hình thành năng lực dạy học tích hợp cho GV THPT[15]
2.2 Các công trình nghiên cứu về dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông
Những năm gần đây, dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông cũng nhận được sự quan tâm của các tác giả Có thể kể
ra đây một số công trình:
- Tu từ học với vấn đề giảng dạy Ngữ văn, (Đinh Xuân Lạc, NXB Giáo
dục, 1967)
- Phương pháp giảng văn dưới ánh sáng ngôn ngữ học hiện đại, (Đái
Xuân Minh,Tủ sách Đại học Sư phạm- tài liệu lưu hành nội bộ-1997)
- Tích hợp trong dạy học Ngữ văn bậc THCS, (Nguyễn Văn Đường-
Tạp chí giáo dục Q4/2002)
- Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối trong dạy học Ngữ văn,
(Nguyễn Trọng Hoàn, Tạp chí Giáo dục số 22/2002)
- Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể, (Nguyễn
Viết Chữ, 2003, NXB Đại học Sư phạm
- Thiết kế dạy học Ngữ văn 11 theo hướng tích hợp, (Trương Dĩnh,
2008, NXB Giáo dục, Hà Nội)
Trang 17-Vận dụng biện pháp tích hợp vào dạy học loại bài thực hành kĩ năng
sử dụng tiếng Việt lớp 10, (Nguyễn Thị Hường, Luận văn Thạc sĩ, Trường
Đại học Giáo dục- ĐHQG Hà Nội, 2012)
- Bàn về việc tích hợp trong dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông,
(Nguyễn Thị Hiền, Kỉ yếu hội thảo khoa học quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông Việt Nam, Huế- tháng 1/2013)
- Dạy học tích hợp và dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường THPT: thực trạng và giải pháp,(Huỳnh Văn Thế (2015), Kỉ yếu hội thảo khoa học,
2.3 Những công trình nghiên cứu về dạy đọc hiểu thơ ở lớp 11
Hiện nay, với sự đóng góp tích cực của rất nhiều nhà nghiên cứu, diện mạo của vấn đề đọc hiểu các tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông, trong đó có tác phẩm thơ ở lớp 11 ngày càng đạt được những thành tựu đáng được ghi nhận Có thể kể ra đây một số công trình tiêu biểu:
- Nghệ thuật đọc diễn cảm, (Vũ Nho, 1999, nhà xuất bản Thanh Niên,
Hà Nội)
- Vấn đề đọc hiểu và dạy đọc hiểu, (Nguyễn Thái Hòa, 2004, Thông tin
Khoa học Sư phạm, số 05)
- Đọc- hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường, (Nguyễn Thanh
Hùng (chủ biên), 2008, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội)
- Kĩ năng đọc- hiểu văn bản Ngữ văn, (Nguyễn Kim Phong, 2008, nhà
Trang 18- Đọc hiểu văn bản nghệ thuật trong giờ Ngữ văn- nhìn từ hoạt động học tập của HS, (Đỗ Huy Quang, 2009, Tạp chí khoa học Giáo Dục, số 41)
- Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào giờ đọc hiểu tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ”- Hàn Mạc Tử, “Vội Vàng”-Xuân Diệu ở trường THPT, (Đỗ Huy Sơn, Luận văn thạc sĩ Giáo dục hoc, Trường Đại học Sư
phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, 2011)
- Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông, (Phạm Thị Thu Hương, 2012, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội)
- Văn bản văn học và đọc hiểu văn bản, (Trần Đình Sử, 2011, in trong
tài liệu tập huấn GV trường chuyên-môn Ngữ văn, Bộ Giáo dục và Đào tạo)
- Giảng dạy thơ trữ tình hiện đại trong nhà trường phổ thông, (Nguyễn
Thị Thanh Hương, 2012, Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, tháng 9, Hà Nội)
Tóm lại, những công trình nêu trên là cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài
“Tích hợp kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt trong dạy đọc-hiểu văn bản thơ
ở lớp 11 theo Chương trình Ngữ văn 2018”, đồng thời cũng cho thấy vấn
đề tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy đọc hiểu văn bản thơ ở trường THPT còn những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu, nhất là theo yêu cầu của CTGDPT môn Ngữ văn 2018
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy học đọc-hiểu văn bản thơ ở lớp 11 theo chương trình Ngữ văn
Trang 19- Nghiên cứu thực trạng tiến hành việc tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy học đọc-hiểu văn bản thơ ở lớp 11 theo chương trình Ngữ văn
Quá trình dạy học văn bản thơ ở lớp 11
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tổ chức tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy học đọc-hiểu văn bản thơ ở lớp 11 theo chương trình Ngữ văn 2018
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu tiến hành dựa trên những yêu cầu về đọc hiểu văn bản thơ và kiến thức tiếng Việt theo Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn 2018, lớp 11
-Thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Chúc Động và THPT Xuân Mai (huyện Chương Mỹ -Thành phố Hà Nội)
5 Câu hỏi nghiên cứu
-Thế nào là tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy học đọc hiểu?
-Làm thế nào để thực hiện việc tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy đọc hiểu văn bản thơ ở lớp 11 theo Chương trình Ngữ văn 2018?
-Làm thế nào đánh giá được tính hiệu quả của việc tiến hành tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy đọc hiểu văn bản thơ ở lớp 11 theo chương trình Ngữ văn 2018?
Trang 20Nếu sử dụng một cách nghiêm túc các biện pháp tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy đọc hiểu văn bản thơ ở lớp 11 theo chương trình Ngữ văn 2018 thì sẽ góp phần phát triển năng lực đọc hiểu văn bản thơ và kĩ năng sử dụng tiếng Việt của HS trong trường THPT ở địa bàn huyện Chương
Mĩ, thành phố Hà Nội
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xác lập cơ sở lý luận như: tích hợp, dạy học tích hợp, kiến thức, kĩ năng tiếng Việt, thơ, đọc hiểu văn bản thơ
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi và phỏng vấn sâu để thu thập thông tin về thực trạng dạy học đọc hiểu thơ ở lớp 11 nói chung và hoạt động tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy đọc hiểu văn bản thơ ở lớp 11 nói riêng…
- Phương pháp quan sát: quan sát hoạt động dạy và học của giáo viên, học sinh để thu thập những thông tin cần thiết
- Phương pháp sử dụng bài tập: đánh giá năng lực đọc hiểu văn bản thơ của học sinh theo yêu cầu của CTGDPT môn Ngữ văn 2018, lớp 11
- Thực nghiệm sư phạm: Để đánh giá hiệu quả của việc tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy đọc hiểu văn bản thơ ở lớp 11 theo chương trình Ngữ văn 2018
- Phương pháp thống kê toán học: Để xử lý các kết quả nghiên cứu
Trang 218 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề tích hợp kiến thức, kĩ
năng tiếng Việt trong dạy đọc hiểu văn bản thơ ở lớp 11 theo chương trình Ngữ văn 2018
Chương 2: Các nguyên tắc và biện pháp tích hợp Tiếng Việt trong dạy
đọc hiểu văn bản thơ ở lớp 11 theo chương trình Ngữ văn 2018
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 221.1.1 Tích hợp
1.1.1.1 Khái niệm tích hợp
Trong tiếng Việt, tích hợp đƣợc ghép từ hai từ tích và hợp Tích: (danh
từ) là kết quả của phép nhân; (động từ): dồn góp từng ít cho thành số lƣợng
đáng kể (Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học; tr 981) Hợp:(danh từ): tập
hợp mọi phần tử của các tập hợp khác; (động từ): gộp chung; (tính từ): không
mâu thuẫn, đúng với đòi hỏi Tích hợp: lắp ráp, kết nối các thành phần của
một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ
Trong tiếng Anh, tích hợp đƣợc viết là “integration” một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể” Có thể hiểu đó là sự
phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống
ấy
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”.[13; tr 1217]
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”
Theo định nghĩa của UNESCO, tích hợp là “Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của
Trang 23tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau”[16; tr 7]
Tóm lại, có thể hiểu tích hợp là sự xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ Trong giáo dục, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của
bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của
bộ môn đó Tích hợp là một trong những quan điểm dạy học nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống hiện đại
- Tích hợp đa môn: Tích hợp đa môn tập trung trước hết vào các môn học liên quan với nhau có chung một định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhưng mỗi môn lại có một chương trình riêng Tích hợp đa môn được thực hiện theo cách tổ chức các môn học xoay quanh một chủ đề, đề tài, dự
án, tạo điều kiện cho người học vận dụng tổng hợp kiến thức của các môn học
có liên quan
- Tích hợp liên môn: là hình thức GV tổ chức chương trình học tập xoay quanh các nội dung học tập chung như: các chủ đề, các khái niệm và kĩ năng liên ngành, liên môn Tích hợp liên môn còn được hiểu như là phương
án, trong đó nhiều môn học liên quan được kết lại thành một môn học mới với
Trang 24- Tích hợp xuyên môn: Là quá trình GV tổ chức chương trình học tập xoay quanh các vấn đề và mối quan tâm của người học Trong quá trình học,
HS phát triển kĩ năng sống khi áp dụng các kĩ năng môn học và liên môn vào hoàn cảnh thực tế Khi ranh giới giữa các môn học bị xóa nhòa thì có thể xem
tích hợp xuyên môn là đỉnh cao của DHTH
bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà học sinh sẽ gặp sau này, hòa nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống; Thứ hai, phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho học sinh vận dụng vào xử lý những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống, hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo; Thứ ba, dạy sử dụng kiến thức trong tình huống thực tế, cụ thể, có ích cho cuộc sống sau này; Thứ tư, xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học Thông tin càng phong phú, đa dạng thì tính hệ thống phải càng cao, có như thế học sinh mới thực sự làm chủ và vận dụng được kiến thức đã học khi gặp một tình huống bất ngờ, chưa từng gặp
GS Nguyễn Minh Thuyết, Tổng Chủ biên Chương trình giáo dục phổ thông mới, cho rằng: “Dạy học tích hợp là xu thế chung của chương trình giáo dục phổ thông các nước Tuy nhiên, có nhiều mức độ tích hợp khác nhau Các
môn Khoa học tự nhiên, Lịch sử và Địa lí trong chương trình giáo dục phổ
Trang 25thông của Việt Nam mới tích hợp ở mức độ thấp, tức là tích hợp liên môn, chứ chưa phải là tích hợp ở mức độ cao như nhiều nước trên thế giới” [34]
Dạy học tích hợp là xu thế chung của Chương trình giáo dục phổ thông
cả nước So với chương trình hiện hành, chủ trương dạy học tích hợp trong Chương trình giáo dục phổ thông mới có một số điểm khác như: tăng cường tích hợp nhiều nội dung trong cùng một môn học; xây dựng một số môn học tích hợp mới ở các cấp học, tinh thần chung là tích hợp cao ở các lớp học, cấp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học, cấp học trên; thực hiện dạy học tích hợp cả trong mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục
Tóm lại, dạy học tích hợp là định hướng thiết kế và tổ chức nội dung giáo dục giúp học sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực, cấu phần khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong đời sống, qua đó phát triển được các năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề Tính tích hợp thể hiện qua sự huy động, kết hợp, liên hệ và xử lí có hiệu quả các yếu tố có quan hệ với nhau của các lĩnh vực, các môn học, các hợp phần trong một môn học, bài học, để giải quyết có hiệu quả một vấn đề học tập và hướng đến nhiều mục tiêu khác nhau
Trang 261.2 Dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn
Trong lĩnh vực Giáo dục ngôn ngữ và văn học, Ngữ văn là môn học bắt buộc, được tổ chức học từ lớp 1 đến lớp 12 Ở tiểu học gọi là môn Tiếng Việt,
ở trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) gọi là Ngữ văn
Trong CT Ngữ văn 2018, môn học này chú trọng mục tiêu và giải pháp giúp HS phát triển toàn diện các phẩm chất và năng lực; kết hợp phát triển các năng lực chung (tự chủ và tự học; giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo) với phát triển các năng lực đặc thù (NL ngôn ngữ, NL văn học, ) Môn Ngữ văn giúp HS hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp và các năng lực cốt lõi để học tập tốt các môn học khác, để sống và làm việc hiệu quả, và để học suốt đời
Nội dung môn Ngữ văn mang tính tổng hợp, bao gồm cả tri thức văn hóa, đạo đức, triết học, lịch sử, địa lí,… nên liên quan tới nhiều môn học và hoạt động giáo dục khác như Lịch sử, Địa lí, Nghệ thuật, Đạo đức, Giáo dục công dân, Ngoại ngữ, Tự nhiên và Xã hội, Hoạt động trải nghiệm Các kĩ năng được phát triển trong môn Ngữ văn, với chức năng của môn học công
cụ, giúp HS học các môn khác thuận lợi, hiệu quả hơn; ngược lại nội dung giáo dục của các môn học khác cũng cung cấp thêm dữ liệu để môn Ngữ văn
khai thác
Cũng theo CT Ngữ văn 2018, dạy học tích hợp đòi hỏi giáo viên Ngữ văn trước hết phải thấy được mối liên hệ nội môn (đọc, viết, nói và nghe), theo đó nội dung dạy đọc có liên quan và lặp lại ở các nội dung dạy viết, nói
và nghe; kiến thức và kĩ năng đọc hiểu mà học sinh tích lũy được trong quá trình tiếp nhận văn bản thuộc các kiểu loại khác nhau sẽ giúp cho kĩ năng viết, nghe và nói tốt hơn Những kiến thức và cách thức diễn đạt học sinh học được trong quá trình đọc sẽ được dùng để thực hành viết Tương tự, những điều học được khi đọc và viết sẽ được học sinh dùng khi nói Cùng với yêu cầu tích
Trang 27dụng các cơ hội để lồng ghép một cách nhuần nhuyễn, hợp lí vào giờ học các yêu cầu giáo dục liên môn (lịch sử, địa lí, giáo dục công dân, nghệ thuật) và những nội dung giáo dục ưu tiên xuyên suốt toàn chương trình giáo dục phổ thông (chủ quyền quốc gia, hội nhập quốc tế, giữ gìn bản sắc văn hóa, phát triển bền vững,bảo vệ môi trường, quyền con người, quyền trẻ em, bình đẳng giới,giáo dục tài chính ) Tất nhiên, dạy học tích hợp còn gắn liền với các hoạt động nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, đa dạng hóa các phương pháp, hình thức tổ chức và phương tiện dạy học mang tính đặc thù của môn học, sao cho khi kết thúc mỗi cấp lớp, học sinh đạt được các yêu cầu cần đạt
mà chương trình đã đề ra
Có thể thấy, phạm vi tích hợp trong giờ dạy Ngữ văn rất phong phú: có thể tích hợp nội môn (giữa Đọc văn - tiếng Việt - làm văn hay giữa những bài học có cùng chủ đề); có thể tích hợp liên môn Ngữ văn - Lịch sử (mở rộng theo hướng vận dụng những kiến thức về hoàn cảnh lịch sử - xã hội, thời đại,
về nhân vật lịch sử…để lí giải lịch sử phát sinh, khai thác giá trị về nội dung
và nghệ thuật, thành công và hạn chế của tác phẩm); tích hợp Ngữ văn - Địa lí (theo hướng vận dụng kiến thức hiểu biết về các địa danh, thổ nhưỡng, khí hậu để lí giải rõ chi tiết về thiên nhiên, hình tượng nhân vật,…); tích hợp Ngữ văn - Mĩ thuật (có thể cho học sinh vẽ tranh minh họa về một số hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm: thiên nhiên, con người,…); tích hợp Ngữ văn -
nghệ thuật (hát, ngâm thơ, diễn kịch, sân khấu hóa)…
1.3 Thơ và đặc trưng của thơ
Thơ là một trong những hình thức sáng tác văn học đầu tiên trong lịch
sử phát triển của loài người Thế nên, có một thời gian rất dài thuật ngữ thơ được dùng chỉ chung cho văn học Dù thơ có lịch sử lâu đời như vậy nhưng
để tìm một định nghĩa thể hiện hết đặc trưng bản chất của nó cho việc nghiên cứu thơ ngày nay thì thật không dễ
Trang 28Trong nền lý luận văn học cổ điển Trung Hoa, các nhà thơ thường quan niệm: "Cái cảm hoá được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng
gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa" (Bạch Cư Dị) Với quan niệm này, chúng ta có thể hiểu khi bàn về thơ, không chỉ dừng lại ở việc nêu lên các yếu tố cấu thành tác phẩm
mà còn chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa chúng, giống như gốc rễ, mầm lá, hoa, quả gắn liền với nhau trong một thể thống nhất hoàn chỉnh và sống động Đây
có thể coi là quan niệm về thơ toàn diện và sâu sắc nhất trong nền văn học này
Còn với các nhà Cấu trúc chủ nghĩa Châu Âu lại có những cách hiểu khác về thơ Trong tiểu luận "Thơ là gì", Jacobson viết: "Nhưng tính thơ được biểu hiện ra như thế nào? Theo cái cách từ ngữ được cảm nhận như là từ ngữ chứ không phải như vật thay thế đơn giản của đối tượng được chỉ định, theo cách những từ, những cú pháp, những ngữ nghĩa của chúng, hình thức bên trong và bên ngoài của chúng không phải là các dấu hiệu vô hồn của hiện thực
mà còn có trọng lượng riêng, giá trị riêng" Ông kết luận: "Chức năng thi ca đem nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp" Mặc
dù có lưu ý ít nhiều đến hoạt động nguyên lý tương đương về ý nghĩa nhưng trong tư duy nghiên cứu của Jacobson, cái ý nghĩa ở đây chỉ là ý nghĩa của đối tượng gọi tên và ý nghĩa ngữ pháp nảy sinh từ những mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc có tính chất khép kín của văn bản Nhưng trên thực tế ta thấy, ý nghĩa của thơ nhiều khi đã vượt ra ngoài giới hạn của văn bản
Ở Việt Nam, khái niệm "thơ là gì?" cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu
đề cập đến với nhiều quan niệm, nhiều khuynh hướng khác nhau Các tác giả trong nhóm Xuân thu nhã tập đã lí giải bản chất của thơ như sau: "Thơ là một cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thuý, cao siêu" Nhà thơ Tố Hữu lại cho
Trang 29nghĩa thơ dưới góc nhìn của cấu trúc: "Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và suy nghĩ do chính hình thức ngôn ngữ này" Định nghĩa này đã kế thừa được những khám phá quan trọng về thơ của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các trường phái khác nhau của Tây Âu trong mấy chục năm qua
Theo tác giả, cách định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình
Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học có thể xem là
chung nhất: "Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”[16]
Định nghĩa này đã khu biệt được đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ trong những thể loại văn học khác đồng thời định danh một cách đầy đủ về thơ ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật
Như vậy, chúng ta cũng có thể chỉ ra các đặc trưng khác biệt của thơ so với văn xuôi đó là:
Thứ nhất, ngôn ngữ thơ rất giàu nhạc tính: Thơ trữ tình phản ánh cuộc
sống qua những rung động của tình cảm Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy Nếu như trong văn xuôi, các đặc tính của ngôn ngữ (như cao
độ, cường độ, trường độ ) không được tổ chức thì trong thơ, trái lại, những đặc tính ấy lại được tổ chức một cách chặt chẽ, có dụng ý, nhằm tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ ngữ không nói hết Bởi thế, đặc trưng tính nhạc được coi là đặc trưng chủ yếu mang tính loại biệt rõ nét của ngôn ngữ thơ ca Theo các nhà nghiên cứu, nhạc tính trong thơ được thể hiện
ra ở ba mặt cơ bản Đó là: sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp Sự cân đối là sự tương xứng hài hoà giữa các dòng thơ Sự hài hoà đó có thể là hình ảnh, là âm thanh, cũng có thể là cách sắp xếp tổ chức mà chúng ta dễ dàng
Trang 30Đối với thơ hiện đại, yêu cầu này không khắt khe Tuy vậy, nhà thơ vẫn hết sức chú ý đến hiệu quả nghệ thuật của phép đối xứng trong thơ của mình; Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ thể hiện ở cách hoà âm, ở sự thay đổi độ cao giữa hai nhóm thanh điệu, âm thanh, nhịp điệu trong thơ không đơn thuần là hình thức mà là những yếu tố góp phần biểu hiện những khía cạnh tinh vi của đời sống tình cảm con người; Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở sự dùng vần, điệp từ, ngữ và điệp cú, nó tạo nên vẻ đẹp trùng điệp cho ngôn ngữ thơ Như vậy, nhạc điệu trong thơ là một đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ
Thứ hai, ngôn ngữ thơ có tính hàm súc: Là thể loại có một dung lượng
ngôn ngữ hạn chế nhất trong các loại tác phẩm văn học, nhưng thơ lại có tham vọng chiếm lĩnh thế giới Chính sự hạn định số tiếng trong câu thơ, bài thơ buộc người nghệ sỹ phải phát huy sự tư duy ngôn ngữ để lựa chọn từ ngữ cho tác phẩm Như vậy, tính hàm súc là khả năng của ngôn ngữ có thể miêu tả mọi hiện tượng của cuộc sống một cách cô đọng, ít lời mà nói được nhiều ý, ý tại ngôn ngoại Hàm súc cũng có nghĩa là phải chính xác, giàu hình tượng, có tính truyền cảm và thể hiện cá tính của người nghệ sĩ Định lượng số tiếng trong thơ cũng là tiền đề tạo ra sự xuất hiện với một mật độ dày đặc các phương tiện nghệ thuật trong thơ so với văn xuôi Nhiều lúc, trong một bài thơ, có thể thấy xuất hiện cùng một lúc các phương tiện tu từ khác nhau, như
ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, tượng trưng, điệp từ, điệp ngữ
Thứ ba, ngôn ngữ thơ có tính truyền cảm: Như ta đã biết tác phẩm văn
học là sản phẩm của cảm xúc của người nghệ sĩ trước cảnh đời, cảnh người, trước thiên nhiên Vì thế, ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương phải biểu hiện được cảm xúc của tác giả và phải truyền được cảm xúc của tác giả đến người đọc, khơi dậy trong lòng người đọc những cảm xúc thẩm mĩ Tuy nhiên, do đặc trưng của thơ là tiếng nói trực tiếp của tình cảm, trái tim nên ngôn ngữ thơ ca có tác dụng gợi cảm đặc biệt Ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ
Trang 31văn bản thơ, lời thơ thường là lời đánh giá trực tiếp thể hiện quan hệ của chủ thể với cuộc đời cho nên sự lựa chọn từ ngữ, phương thức tu từ trong thơ bao giờ cũng nhằm làm cho nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán, ca ngợi trở nên nổi bật Nhạc điệu thơ cũng là một trong những yếu tố tạo nên tính truyền cảm của ngôn ngữ thơ
Có thể nói, thơ là một hình thái nghệ thuật cao quí, tinh vi của sáng tạo văn học nghệ thuật Vì vậy, ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ mang tính nghệ thuật; ngôn ngữ thơ trước hết mang đầy đủ những thuộc tính của ngôn ngữ văn học,
đó là: tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình, tính biểu cảm Tuy nhiên, ở mỗi loại tác phẩm khác nhau, những đặc điểm ấy lại biểu hiện dưới những sắc thái và mức độ khác nhau Đồng thời, mỗi loại tác phẩm lại có những đặc trưng ngôn ngữ riêng
1.4 Đọc hiểu và đọc hiểu văn bản thơ
1.4.1 Đọc hiểu
Đọc hiểu là khái niệm xuất hiện khoảng những thập niên 40 của thế kỉ
XX Khái niệm đọc hiểu gắn liền với khái niệm đọc văn Descartes (1596 – 1650) đã nói rất hay về đọc văn như sau: “Đọc một cuốn sách hay cũng giống như sự đối thoại với những người phong nhã từ những thế kỉ trước Chính trong cuộc đối thoại ấy họ đem đến cho chúng ta những gì tinh túy như trong
tư tưởng của họ” [33;tr71] Còn A Puskin (1799 - 1837) thì cho rằng đọc văn
là cách học tập tốt nhất Cho đến nay vẫn phát huy ý nghĩa sâu xa của nó Đọc văn khi đã trở thành thói quen, có ý thức lại ảnh hưởng lâu dài đến trình độ văn hóa của con người
Nhà văn Nguyễn Khải cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của đọc văn trong “Tùy bút chính trị” (Diễn đàn 2006), đại ý là: chỉ có những giây phút chìm đắm trong sự đọc họ mới có cơ hội ngẫm nghĩ về thân phận của mình, của đồng loại để tìm lại cái bản gốc cá nhân đang lưu lạc nơi góc khuất nào
Trang 32đó của riêng mình Rời khỏi trang sách là rơi ngay vào vòng quay của trăm ngàn công việc chả có nghĩa lí gì ngoài sự mưu sinh để tồn tại
Ở Việt Nam, khái niệm ĐHVB cho đến nay vẫn còn có nhiều điểm cần trao đổi thảo luận, trước hết là vấn đề về bản chất của khái niệm ĐHVB
Tác giả Nguyễn Thái Hòa trong bài viết “Vấn đề đọc hiểu và dạy đọc hiểu” đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học Sư phạm, số 8, năm 2004, cũng
đã từng nêu khái quát vấn đề đọc văn đó là dù đơn giản hay phức tạp đều là hành vi ngôn ngữ, sử dụng một loạt thủ pháp và thao tác bằng cơ quan thị giác, thính giác để tiếp nhận, phân tích, giải mã và ghi nhớ nội dung thông tin, cấu trúc văn bản
Tác giả Phan Trọng Luận cũng có nhận định rằng đọc văn không phải
là quá trình thụ động tiếp nhận nghĩa văn bản mà là cả một quá trình kiến tạo, làm sống dậy nghĩa của văn bản bằng sự tương tác tích cực với văn bản Theo tác giả, khi đọc văn là người đọc đang trò chuyện với tác giả và với chính bản thân mình Cuộc trò chuyện đó giúp bản thân người đọc hiểu biết thêm và cũng là để tự nhận thức Từ quan niệm đọc văn như thế những nhà nghiên cứu tiếp thu và phát triển thành khái niệm đọc hiểu Đọc hiểu là một phạm trù khoa học có khái niệm và lí thuyết của nó Đọc hiểu có mặt ở tất cả các giai đoạn, thời điểm của quá trình đọc tác phẩm văn chương, không nhiều thì ít, không sâu thì nông, không toàn diện thì phiến diện, người đọc luôn thu nhận được kiến thức, vẻ đẹp của ngôn từ, hình tượng nghệ thuật đã làm nên ý nghĩa nào đấy trong quá trình tiếp nhận Từ những góc nhìn khác nhau theo mục đích nghiên cứu đọc hiểu như góc nhìn triết học, văn hóa, ngôn ngữ, giao tiếp, đối thoại, giáo dục người ta sẽ nhấn mạnh yếu tố này hay yếu tố khác trong đọc hiểu.[22]
Theo tác giả Nguyễn Thanh Hùng, quy trình đọc hiểu tác phẩm văn chương trước hết là giai đoạn “đọc hiểu giá trị ý nghĩa tầng cấu trúc ngôn từ”
Trang 33cuối cùng là giai đoạn “đọc hiểu giá trị ý nghĩa tầng tư tưởng và ý vị nhân sinh của tác phẩm” Tác giả viết: “Hiểu ý nghĩa tầng cấu trúc ngôn từ của tác phẩm văn chương là tìm cách nắm vững ngày càng đầy đủ và sâu sắc mối quan hệ giữa những kí hiệu nền tảng như: từ, nhóm từ, đoạn, phần của văn bản tác phẩm (…) Ngoài ra, khi tìm hiểu tầng cấu trúc ngôn từ tác phẩm văn chương còn phải nắm được không gian ngữ nghĩa trong các loại văn cảnh” [20; tr48] Về cấp độ đọc hiểu ý nghĩa tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật, tác giả viết: “Hiểu tầng cấu trúc này người đọc có điều kiện thâm nhập vào sự sáng tạo nghệ thuật mới mẻ trong tác phẩm một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất” [20; tr50] Về cấp độ đọc hiểu tầng cấu trúc tư tưởng và ý vị nhân sinh, tác giả viết như sau: “khi đọc TPVC chân chính, độc giả bao giờ cũng tìm thấy những ý nghĩa tư tưởng, quan niệm và sự trình bày khác nhau về chúng được quy tụ vào những tư tưởng nhân bản của con người” [20; tr54] Tác giả còn lưu ý thêm các cấp độ đọc hiểu này không tách biệt nhau mà cuối cùng phải
tự tìm thấy ý nghĩa trong giá trị tổng thể, cốt lõi suy ra từ ba tầng cấu trúc ấy”
Trong bài viết “Từ giảng văn qua phân tích tác phẩm đến dạy học đọc hiểu văn bản văn học”, tác giả Trần Đình Sử còn tạm chia ra một số cách hiểu khái niệm đọc hiểu: “Về khái niệm đọc văn bản văn học nhìn chung có thể xác định với các nội dung như sau: Đọc là hoạt động tâm lí nhằm giải mã văn bản; Đọc là hoạt động tìm nghĩa, và vì ý nghĩa là cái không hiển thị rõ ràng nên đọc là hoạt động cảm thụ kết hợp với tư duy nhằm kiến tạo ý nghĩa Đã
có vai trò của cảm thụ và tư duy thì đọc là hoạt động mang tính cá thể hoá cao
độ, gắn với trình độ, cá tính, trí tuệ của người đọc Đọc hiểu là tự hiểu Không
ai hiểu hộ được cho ai Sự kiến tạo ý nghĩa xác định đọc là hoạt động sáng tạo Hoạt động tìm nghĩa là quá trình đối thoại với tác giả và cộng đồng lí giải (tính liên chủ thể, tính hợp tác) Hoạt động chiếm lĩnh văn bản tất yếu phải xử
lí mối liên hệ giữa văn bản đang đọc với trường văn bản xung quanh (tính liên
Trang 34Tác giả Trần Đình Sử trong khi trò chuyện với GV về chủ đề “Văn bản văn học: ngôn từ, thông báo, ý nghĩa” đã đưa ra các cấp độ đọc hiểu đó là: 1) Đọc thông 2) Đọc thông báo 3) Đọc ý nghĩa 4) Đọc tổng hợp Xuất phát từ cấu trúc luận, tác giả cũng xây dựng những kĩ năng đọc hiểu tương thích, như
kĩ năng đọc ngôn từ, kĩ năng đọc thông báo, kĩ năng đọc tư tưởng tình cảm và
kĩ năng đọc tổng hợp Trong khi đó, tác giả Nguyễn Thanh Hùng lại đề nghị rèn luyện bốn kĩ năng sau: 1) Kĩ năng đọc chính xác 2) Kĩ năng đọc phân tích 3) Kĩ năng đọc sáng tạo 4) Kĩ năng đọc tích lũy[26]
Theo tác giả Nguyễn Trọng Hoàn : “Đọc không chỉ đọc bằng kĩ thuật
mà còn đọc bằng hồn, đọc bằng khế ước văn hóa, bằng trải nghiệm không ngừng Đọc văn, chính là đọc người, đọc nhân cách nhà văn để hoàn thiện nhân cách của mình Và do đó, mỗi hình ảnh, mỗi chi tiết trong tác phẩm cũng là gợi ý cho hình dung, tưởng tượng, so sánh để người đọc tri âm Đọc văn để thấy người, thấy thời đại” [17; tr25]
Tác giả Phạm Thị Thu Hương thì nhấn mạnh đến tầm quan trọng của kĩ năng đọc hiểu “Không có kĩ năng đọc, độc giả sẽ không thể làm việc với các con chữ, giải mã, xây dựng thông điệp nghệ thuật và đáp ứng đối với văn bản mình đang đọc (…) Đơn giản nhất là kĩ năng chuyển từ kí hiệu chữ viết sang tín hiệu âm thanh gắn với hiểu nghĩa của từ trong văn cảnh mà chúng ta quen
gọi là “hành động đọc” [21; tr58] Và tác giả đưa ra khái niệm “Đọc hiểu văn bản thực chất là quá trình người đọc kiến tạo nghĩa của văn bản đó thông qua hệ thống các hoạt động, hành động, thao tác”
Trong nhiều quan niệm về ĐHVB, chúng tôi lựa chọn cách hiểu của PISA Để đánh giá năng lực ĐHVB của HS, tổ chức OECD quan niệm : “Đọc hiểu là sự hiểu biết, sử dụng và phản hồi lại trước một văn bản viết, nhằm đạt được mục đích, phát triển tri thức và tiềm năng cũng như việc tham gia hoạt động của một ai đó trong xã hội.”[13]
Trang 351.4.2 Đọc hiểu văn bản thơ
Chúng ta đã biết, đọc hiểu thơ là đọc cái chủ quan của người viết bằng cách đồng hóa tâm hồn, tình cảm của mình vào trang sách “lấy hồn tôi để hiểu hồn người” như khi viết Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã từng tâm sự
Đọc hiểu thơ là một quá trình, gồm nhiều thao tác Ở mỗi người, quá trình ấy có thể diễn khác nhau, nhưng về cơ bản gồm các bước sau đây:
- Đầu tiên, cần biết rõ tên bài thơ, tên tác giả, thời gian và hoàn cảnh sáng tác, đó là cơ sở ban đầu để tiếp cận tác phẩm
- Tiếp đến là đọc và quan sát bước đầu để có sự hiểu biết chung về bài thơ Qua việc đọc, xác định chủ thể trữ tình (chủ thể trữ tình thường xuất hiện
ở hai dạng: cái tôi trữ tình và chủ thể trữ tình ẩn), đối tượng trữ tình, hình tượng trữ tình và giọng điệu chủ đạo của bài thơ
- Sau đó cảm nhận nội dung, ý nghĩa bài thơ qua câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu, kết cấu, các biện pháp tu từ…
- Cuối cùng là lí giải, đánh giá toàn bộ bài thơ cả về hai phương diện nội dung và nghệ thuật Đặc biệt là phải chỉ ra những đóng góp của tác giả (thể hiện qua tác phẩm) cho thơ và cho cuộc sống con người
1.4.3 Dạy học đọc hiểu văn bản thơ
Thơ có nhiều thể, mỗi văn bản lại là một sinh thể nghệ thuật riêng Nhưng tựu chung lại, nhắc đến thơ là nhắc đến: nội dung trữ tình, nhân vật trữ tình, tứ thơ, ngôn ngữ thơ, nhạc tính trong thơ, biểu tượng thơ
Dạy đọc hiểu văn bản thơ phải bám sát những yếu tố chung về thể loại cùng với việc chú ý những đặc tính riêng của mỗi bài Do văn bản thơ được tổ chức đặc biệt,ngôn ngữ giàu nhạc điệu và hình ảnh nên cần tổ chức cho học sinh đọc thành tiếng, chậm rãi, có khi ngâm nga để hình ảnh,nhịp điệu, âm hưởng của văn bản thơ mở ra và đọng lại thành ấn tượng trong tâm trí Đọc văn bản thơ không chỉ có nhiệm vụ tượng thanh các con chữ mà còn tượng
Trang 36tình- người phát ngôn, bộc bạch, thổ lộ, giãi bày trong thơ Tiếp đó giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc kĩ từng khổ thơ, câu thơ, phân tích, cắt nghĩa từng hình ảnh thơ, từ ngữ, biện pháp nghệ thuật tiêu biểu để phát hiện ý thơ, tình thơ và cảm nhận được cái hay, cái đẹp, cái độc đáo trong cách giãi bày tâm tư của tác giả Trong quá trình đọc hiểu ý nghĩa của văn bản thơ, cần có các cách thức khơi gợi học sinh liên tưởng, tưởng tượng, kết nối với thực tiễn
và kinh nghiệm của bản thân để lí giải và đồng cảm với nhân vật trữ tình Trên cơ sở đó, kết hợp các tri thức ngoài văn bản (tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ), rút ra nhận định về tình cảm, thái độ, tư tưởng của người viết Tùy theo thể loại, đặc trưng nghệ thuật của văn bản thơ và ý đồ sư phạm của giáo viên thì dạy đọc hiểu văn bản thơ có thể đi từ bố cục, cấu tứ, thi luật, điểm nhìn của nhân vật trữ tình
Từ đặc trưng chung của hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản văn học, kết hợp với đặc tính riêng về thể loại của thơ, có thể xác định những hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản thơ như sau: (1) Tạo tâm thế, bối cảnh đọc hiểu thơ;(2) Tìm hiểu tri thức đọc hiểu (tri thức về thể loại thơ nói chung, về đặc điểm riêng của văn bản thơ được dạy, về tác giả, hoàn cảnh ra đời ); (3) Đọc hiểu văn bản thơ (đọc văn bản và cảm nhận chung về giọng điệu thơ; đọc hiểu ý nghĩa của thơ qua một/ một số yếu tố hình thức nghệ thuật (bố cục, cấu
tứ, thi luật, điểm nhìn của nhân vật trữ tình ) gắn liền với việc phân tích ngôn
từ, hình ảnh, biểu tượng, các biện pháp nghệ thuật và sự huy động vốn sống, trải nghiệm cá nhân,liên tưởng, tưởng tượng của học sinh để các em có được
sự đồng cảm với người viết; (4) Củng cố và vận dụng kết quả đọc hiểu văn bản thơ; (5) Mở rộng và trải nghiệm sáng tạo
1.5 Tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy học đọc hiểu thơ
Nếu không có những tri thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt thì khó có thể đọc hiểu thành công một tác phẩm văn học Ngược lại, không có năng lực
Trang 37sử dụng tiếng Việt văn hóa, hiệu quả Do đó, dạy học đọc hiểu tác phẩm văn học trong đó có dạy đọc hiểu thơ cần thiết phải gắn với việc tích hợp kiến thức và kĩ năng tiếng Việt
Tác phẩm văn chương chính là nơi chưng cất vẻ đẹp của ngôn ngữ dân tộc, là nơi tiếng nói dân tộc được kết tinh để trở nên đẹp đẽ nhất, rực rỡ nhất
và bộc lộ hết bản chất của mình Mặt khác, những tác phẩm Văn học cũng là nơi kiểm chứng hiệu quả nhất cho những lý thuyết ngôn ngữ mà HS đã được tiếp thu Để sử dụng tiếng Việt hay và đạt hiệu quả giao tiếp cao, “khi nói và viết, chẳng những cần sử dụng tiếng Việt đúng theo các chuẩn mực của tiếng Việt, mà còn cần sử dụng một cách sáng tạo, có sự chuyển đổi linh hoạt theo các phương thức và quy tắc chung, theo các phép tu từ để cho lời nói, câu văn
có tính nghệ thuật và đạt hiệu quả giao tiếp cao”[2; tr.68] Văn bản văn học chính là một mảnh đất phì nhiêu, màu mỡ để HS thấy rõ những giá trị tu từ, giá trị phong cách của ngôn ngữ… Do đó, sẽ rất hiệu quả nếu tích hợp được kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy đọc hiểu văn bản văn học nói chung và văn bản thơ nói riêng
Nội dung tích hợp kiến thức, kĩ năng tiếng Việt trong dạy học đọc hiểu thơ được thể hiện qua các phương diện chính sau:
- Tích hợp kiến thức tiếng Việt
Sự tích hợp này xuất phát từ mối quan hệ giữa tác phẩm và ngôn ngữ Ngôn ngữ là công cụ sáng tác và cảm nhận tác phẩm Ngược lại, tác phẩm với
sự sáng tạo trong sử dụng không ngừng thúc đẩy sự phát triển của ngôn ngữ, đem lại cho ngôn ngữ nhiều tầng nghĩa mới Mục tiêu của dạy đọc hiểu tác phẩm là giúp học sinh cảm thụ được, hiểu được cái hay, cái đẹp của tác phẩm; nhưng sự cảm, hiểu đó chỉ có được khi học sinh nắm bắt được ý nghĩa của ngôn từ Vì vậy dạy ĐHTP cần có sự phối hợp, hỗ trợ của kiến thức ngôn ngữ
Trang 38Từ đặc điểm của Chương trình Ngữ văn 2018, có thể thấy kiến thức tiếng Việt chủ yếu được phân bố, lồng ghép, tích hợp trong khi dạy đọc, viết, nói và nghe; kết nối việc rèn luyện các kĩ năng này với cung cấp kiến thức tiếng Việt hết sức chọn lọc dựa trên một hay một cụm ngữ liệu chung cho toàn bài học Ngữ văn Kiến thức tiếng Việt gồm những nội dung cơ bản về từ vựng, ngữ pháp, hoạt động giao tiếp, sự phát triển của ngôn ngữ và các biến thể ngôn ngữ Trong dạy đọc hiểu tác phẩm thơ, tích hợp kiến thức tiếng Việt hướng tới việc khai thác những tín hiệu thẩm mĩ được tạo lập từ nghệ thuật dùng từ, đặt câu Và yêu cầu tích hợp đặt ra chủ yếu là phải vận dụng kiến thức tiếng Viết vào việc giải quyết các vấn đề có ý nghĩa trong sử dụng từ ngữ, hoặc sự sáng tạo về mặt cú pháp ở văn bản đọc hiểu, qua đó, giúp cắt nghĩa nội dung và giá trị tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm Các tín hiệu thẩm
mĩ về ngôn ngữ trong văn bản chính là điểm hội lưu của hoạt động tích hợp với sự tham gia của những tri thức ngoài văn bản về tiếng Việt và đặc điểm cụ thể của văn bản đọc hiểu
- Tích hợp kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, viết, nói-nghe)
Khi dạy một bài thơ, GV phải làm thế nào có thể tích hợp được các kĩ năng sử dụng tiếng Việt như kĩ năng đọc diễn cảm, kĩ năng đọc thông, kĩ năng viết văn biểu cảm, viết bài bình giá một bài thơ, kĩ năng thuyết trình về một bài thơ để HS thể hiện, bộc lộ được kết quả cảm nhận của mình về thơ một cách hiệu quả
Trong quá trình dạy đọc hiểu, trong hoạt động đọc tổng quan văn bản thơ, người dạy có thể tích hợp kĩ năng đọc diễn cảm Đọc diễn cảm là đỉnh cao của quá trình luyện đọc, qua giọng đọc diễn cảm giúp cho người nghe tái hiện được bức tranh thơ bằng trí tưởng tượng, từ đó tạo hứng thú để HS bước vào các hoạt động đọc tiếp theo Đọc thơ là để làm cho tác phẩm thơ vang lên như một bản nhạc làm cho nó ngân nga trong hồn người Giáo sư Trần Thanh
Trang 39“sáng hết hình và ngân hết nhạc” Đọc diễn cảm là làm sao lột tả được nội dung tình cảm của nó, phải đọc đúng giọng điệu, làm lây lan cảm xúc của nhà văn đến người đọc, truyền cảm hứng cho độc giả
Hay trong quá trình dạy học nói, GV cũng có thể tích hợp kĩ năng thuyết trình về tác phẩm thơ, kĩ năng bình thơ…từ đó HS có thể nắm được các yêu cầu khi thuyết trình, khi bình thơ như cần phải nói to, rõ ràng; sử dụng kết hợp ngôn ngữ nói (ngữ điệu phù hợp) và các phương tiện kèm ngôn ngữ (cử chỉ, điệu bộ), các phương tiện hỗ trợ (tranh, ảnh, inforgraphic)… Trong quá trình dạy viết, GV cũng có thể tích hợp được kĩ năng làm thơ, kĩ năng viết văn biểu cảm…
Về kĩ năng đọc: Gồm yêu cầu về kĩ thuật đọc và đọc hiểu Với chương trình THPT thì đọc hiểu là yêu cầu quan trọng Đọc hiểu văn bản văn học nói chung và văn bản thơ nói riêng cần đạt được những yêu cầu sau:
+ Đọc hiểu nội dung văn bản: Thể hiện qua các yêu cầu HS sau khi đọc phải hiểu được chi tiết, đề tài, chủ đề, tư tưởng, thông điệp có trong văn bản,
cả nội dung bề nổi (hiển ngôn, tường minh, nghĩa đen, các biểu đạt ) và nội dung bề sâu (hàm ngôn, hàm ẩn, nghĩa bóng, cái được biểu đạt )
+ Đọc hiểu hình thức thể hiện qua việc yêu cầu HS khi đọc phải hiểu (nhận biết, phân tích, nhận xét, đánh giá) được đặc điểm các kiểu văn bản và thể loại thơ, các thành tố của thể loại thơ như: điểm nhìn, vần thơ, nhịp thơ, lí
lẽ, ngôn ngữ biểu đạt
+ Liên hệ, so sánh, kết nối là các yêu cầu cần đạt hướng tới kĩ năng biết liên hệ, so sánh giữa các văn bản thơ, kết nối văn bản với bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội, kết nối văn bản với trải nghiệm cá nhân người đọc để hiểu thêm văn bản
+ Đọc mở rộng, học thuộc lòng một số đoạn văn bản chọn lọc Đây là yêu cầu nhằm khuyến khích văn hóa đọc, ý thức đọc và niềm say mê đọc sách
Trang 40Về kĩ năng viết: Gồm các yêu cầu về kĩ thuật viết và viết văn bản: Nếu
ở cấp tiểu học, kĩ thuật viết gồm các yêu cầu về tư thế viết, kĩ năng viết chữ
và viết chính tả, kĩ năng trình bày bài viết thì đến cấp trung học, đòi hỏi HS phải đạt được yêu cầu về quy trình tạo lập văn bản và yêu cầu thực hành viết theo đặc điểm của các kiểu văn bản Đối với quy trình viết đòi hỏi HS cần biết các bước tạo ra một sản phẩm viết (câu, đoạn văn,văn bản) Các bước đó gồm: Xác định nội dung viết (viết về cái gì); Thu thập tư liệu và hình thành ý chính cho đoạn, bài viết; Viết đoạn, bài; Chỉnh sửa (bố cục, dùng từ, đặt câu, chính tả) Đối với yêu cầu thực hành viết đoạn văn, bài văn đòi hỏi HS biết vận dụng các bước nêu ở quy trình để tạo ra đoạn văn, bài văn Có nhiều cách thực hành viết đoạn văn và bài văn theo các kiểu văn bản nhưng có thể phân thành hai loại: Loại thực hành theo các bước gồm: thực hành xác định nội dung viết; thực hành thu thập tư liệu, tìm ý và lập dàn ý; thực hành diễn đạt, trình bày; thực hành sửa lỗi Loại thực hành tổng hợp viết đoạn, bài văn vận dụng cả bốn bước nêu trên với yêu cầu thể hiện được chủ đề, ý tưởng chính; phù hợp với yêu cầu về kiểu văn bản; có mở đầu, triển khai, kết thúc; các câu, đoạn có mối liên kết với nhau
Về kĩ năng nói và nghe: Kĩ năng nói gồm các yêu cầu về âm lượng, tốc
độ, sự liên tục, cách diễn đạt, trình bày, thái độ, sự kết hợp các cử chỉ, điệu
bộ, phương tiện hỗ trợ khi nói Kĩ năng nghe gồm các yêu cầu về cách nghe, cách ghi chép, hỏi đáp, thái độ, sự kết hợp các cử chỉ, điệu bộ khi nghe, nghe qua các phương tiện kĩ thuật Kĩ năng nói và nghe có tính tương tác: gồm các yêu cầu về thái độ, sự tôn trọng nguyên tắc hội thoại và các quy định trong thảo luận, phỏng vấn Nhìn chung, nói hoặc nghe đều cần phải chú ý ba yêu cầu: nội dung, cách thức và thái độ nói, nghe
1.6 Nội dung Tiếng Việt và yêu cầu dạy đọc hiểu văn bản thơ trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018, lớp 11