1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở trường cao đẳng sư phạm hà tây theo tiếp cận đảm bảo chất lượng

140 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành được luận văn “Quản lý sử dụng TBDH ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây theo tiếp cận đảm bảo chất lượng” và toàn bộ chương trình đào tạo Thạc sĩ Quản lý giáo dục,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN CÔNG THÁI

QUẢN LÝ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC

Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ TÂY THEO TIẾP CẬN

ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN CÔNG THÁI

QUẢN LÝ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC

Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ TÂY THEO TIẾP CẬN

ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8 14 01 14

Cán bộ hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn “Quản lý sử dụng TBDH ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây theo tiếp cận đảm bảo chất lượng” và toàn bộ chương trình đào tạo Thạc sĩ Quản lý giáo dục, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Quản lý giáo dục, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp đỡ để em hoàn thành khóa học của mình

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Nhà giáo nhân dân, GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộcđã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây

đã tạo điều kiện để tôi được tham gia và hoàn thành khóa học Cảm ơn các đồng nghiệp trong Phòng Hành chính - Quản trị, cán bộ, giảng viên và sinh viên nhà trường đã hỗ trợ, giúp đỡ và động viên để tôi có thể hoàn thành được bản luận văn tốt nghiệp này

Do trình độ và khả năng còn hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong thầy cô, các anh (chị) học viên và đồng nghiệp tiếp tục đóng góp ý kiến để luận văn được hoàn thiện hơn

Trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Trần Công Thái

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Mở đầu ……… 1

1 Lý do chọn đề tài……… 1

2 Mục đích nghiên cứu……… 4

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu……… 4

4 Câu hỏi nghiên cứu……… 5

5 Giả thuyết khoa học……… 5

6 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 5

7 Giới hạn phạm vị nghiên cứu……… 5

8 Phương pháp nghiên cứu……… 6

9 Những đóng góp của đề tài……… 6

10 Cấu trúc của luận văn……… 7

Chương 1 Cơ sở lí luận về quản lý sử dụng TBDH theo tiếp cận đảm bảo chất lượng……… 8

1.1 Tổng quan nghiên cứu……… 8

1.1.1 Nghiên cứu về sử dụng TBDH trong các trường học………… 8

1.1.2 Nghiên cứu về quản lý sử dụng TBDH trong các trường học… 11

1.2 Các khái niệm cơ bản……… 12

1.2.1 Thiết bị dạy học……… 12

1.2.2 Sử dụng TBDH……… 13

1.2.3 Quản lý, quản lý nhà trường……… 15

1.2.4 Quản lý sử dụng TBDH……… 18

1.2.5 Đảm bảo chất lượng, tiếp cận đảm bảo chất lượng………… 19

1.3 Vai trò của TBDH ở các trường đại học, cao đẳng 20

1.3.1 Vai trò của TBDH trong đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm……… 20

1.3.2 Yêu cầu đối với TBDH trong các trường đại học, cao đẳng…… 24

1.3.3 Sử dụng TBDH theo tiếp cận đảm bảo chất lượng đào tạo…… 25

1.4 Phân loại các thiết bị dạy học……… 27

1.5 Nội dung hoạt động sử dụng TBDH……… 29

Trang 6

1.5.2 Kỹ năng sử dụng TBDH……… 29

1.5.3 Công tác phân bổ TBDH……… 32

1.5.4 Bộ máy nhân sự quản lý TBDH……… 33

1.5.5 Hoạt động khai thác, sử dụng TBDH……… 34

1.5.6 Hoạt động bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa TBDH……… 35

1.6 Nội dung quản lý sử dụng TBDH……… 36

1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng TBDH……… 38

1.7.1 Kế hoạch hóa sử dụng TBDH……… 39

1.7.2 Tổ chức hoạt động sử dụng TBDH……… 40

1.7.3 Lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động sử dụng TBDH……… 41

1.7.4 Giám sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động sử dụng TBDH……… 44

Kết luận Chương 1……… 45

Chương 2 Thực trạng quản lý sử dụng TBDH ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây……… 47

2.1 Giới thiệu khảo sát……… 47

2.1.1 Mục đích……… 47

2.1.2 Nội dung……… 47

2.1.3 Phương pháp……… 47

2.1.4 Đối tượng……… 47

2.2 Khái quát về Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây………… 48

2.3 Thực trạng công tác CSVC-TBDH của Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây……… 50

2.3.1 Thực trạng CSVC-TBDH, các phòng học chuyên ngành, phòng hỗ trợ giảng dạy của Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây…… 50

2.3.2 Thực trạng TBDH phục vụ công tác đào tạo của nhà trường 55

2.3.3 Thực trạng công tác Lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động sử dụng TBDH……… ……… 58

2.3.4 Thực trạng nhận thức của cán bộ, giảng viên và nhân viên về TBDH……… ……… 61

2.3.5 Thực trạng kỹ năng sử dụng TBDH……… 63

2.3.6 Tổ chức bộ máy nhân sự quản lý TBDH……… 66

2.3.7 Thực trạng công tác khai thác sử dụng TBDH……… 68

2.4 Đánh giá chung công tác quản lý sử dụng TBDH ở Trường 75

Trang 7

Cao đẳng Sư phạm Hà Tây………

2.4.1 Những điểm mạnh……… 75

2.4.2 Những điểm yếu……… ……… 76

Kết luận Chương 2……… ………… 77

Chương 3 Biện pháp quản lý sử dụng TBDH theo tiếp cận đảm bảo chất lượng ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây……… 78

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp……… 78

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn……… 78

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi……… 79

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống đồng bộ……… 79

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển……… 80

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và hiệu quả……… 80

3.2 Các biện pháp quản lý sử dụng TBDH ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây ……… 80

3.2.1 Tổ chức nâng cao nhận thức cho cán bộ, giảng viên và nhân viên quản lý sử dụng TBDH……… 81

3.2.2 Đổi mới tổ chức nhân sự và quản lý hành chính……… 83

3.2.3 Cải tiến sắp xếp TBDH ở các phòng bảo quản và phòng học có hiệu quả……… 88

3.2.4 Hợp lí hóa việc phân bổ và bố trí sử dụng TBDH……… 90

3.2.5 Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng sử dụng và sửa chữa TBDH cho Giảng viên và nhân viên kĩ thuật……… 92

3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp 94

3.3.1 Khái quát quá trình khảo nghiệm……… 94

3.3.2 Kết quả khảo nghiệm các biện pháp……… 95

Kết luận chương 3……… ……… 98

Kết luận và khuyến nghị……… 99

Kết luận……… ……… 99

Khuyến nghị……… ……… 102

Tài liệu tham khảo……… ………… 104

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục và đào tạo luôn được coi là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Nghị quyết số 29/NQ-TW khóa XI đã mở ra cánh cửa cho sự đổi mới tư duy

giáo dục, tư tưởng được đề ra trong Nghị quyết là: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 - khóa XI của Đảng Cộng sản Việt

Nam đã khẳng định: “Giáo dục và Đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước, của toàn dân và là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Đầu tư cho giáo dục và đào tạo phải được ưu tiên và đi trước”

Như vậy, có thể nói ngoài việc đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp giảng dạy còn phải đổi mới cả về đầu tư CSVC trường lớp CSVC trường lớp là một nội dung quan trọng mang lại thành công cho giáo dục và đào tạo

Cơ sở vật chất nói chung và thiết bị dạy học nói riêng là tiền đề quan trọng trong công tác giảng dạy và học tập, TBDH nằm trong hệ thống CSVC trường học TBDH là lĩnh vực đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động dạy - học của các nhà trường

Thiết bị dạy học là toàn bộ những trang thiết bị, đồ dùng, dụng cụ được

sử dụng phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy và học tập trong nhà trường Là các thiết bị vật chất được huy động cho việc dạy - học như: thiết bị trực quan, thiết bị nghe nhìn, dụng cụ thí nghiệm, dụng cụ thực hành, hệ thống bảng thông minh, máy chiếu, máy tính,…vv, là yếu tố quan trọng trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy và góp phần thực hiện mục tiêu dạy học

Trang 9

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 - khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tiếp tục khẳng định

“Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”

Cùng với các Nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước về giáo dục và đào tạo, ngày 04/10/2019 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

Thông tư số 16/2019/TT-BGDĐT “Hướng dẫn tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo” hướng

dẫn cụ thể về tiêu chuẩn, định mức sử dụng TBDH trong các Nhà trường Như vậy, có thể nói Đảng, Nhà nước và Ngành giáo dục rất coi trọng sự phát triển giáo dục và đào tạo trong hội nhập quốc tế và phát triển KT-XH Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay để phát triển năng lực, phát triển tư duy, tính sáng tạo của người học, thiết bị dạy học có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong dạy - học ở các nhà trường

Qua thực tế tại các nhà trường cũng chỉ ra rằng để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, cùng với việc đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy thì việc bảo đảm về CSVC cũng như đảm bảo về hiệu quả quản lý và sử dụng TBDH phục vụ đào tạo là hết sức quan trọng Đổi mới quản lý - sử dụng TBDH phục vụ công tác đào tạo của các nhà trường đang là đòi hỏi cấp thiết, cần sự quan tâm đúng mức của các cấp

Hiện nay, TBDH là một trong những yếu tố hỗ trợ đắc lực cho công tác giảng dạy Tuy nhiên, công tác quản lý, khai thác sử dụng TBDH tại các nhà trường còn nhiều bất cập, TBDH tuy được trang bị tương đối nhiều nhưng

Trang 10

gây lãng phí, hiệu quả sử dụng TBDH không cao xảy ra tương đối phổ biến ở các nhà trường Đội ngũ cán bộ được bố trí quản lý, bảo trì, bảo dưỡng TBDH còn hạn chế về năng lực, công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa được chú trọng đúng mức Vì vậy, việc nghiên cứu quản lý và sử dụng TBDH trong các trường đại học, cao đẳng là vấn đề có tính cấp thiết và khách quan

Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, các TBDH hiện đại ngày càng được các nhà trường chú trọng và đưa vào sử dụng như là một công cụ dạy học không thể thiếu Việc áp dụng quản lý chất lượng trong giáo dục và đào tạo đang là một xu thế mới của nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, trong đó có áp dụng quản lý chất lượng trong công tác quản

lý CSVC trong các nhà trường

Giáo dục đại học chính là chìa khóa mở cửa vào nền kinh tế tri thức, góp phần vào sự phát triển KT-XH đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước như Đảng ta đã đề ra

Hệ thống giáo dục trên Thế giới hiện nay đang áp dụng hệ thống Quản

lý chất lượng hiện đại Ở Việt Nam một số nhà trường đã từng bước áp dụng các hệ thống quản lý này, tạo nên cuộc cách mạng trong công tác quản lý góp phần vào sự phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và đặc biệt là nâng cao chất lượng giáo dục đại học

Trường Cao Đẳng Sư phạm Hà Tây là một cơ sở đào tạo giáo viên cho Thủ đô Hà Nội từ cấp học mầm non, tiểu học cho đến cấp trung học cơ sở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây trong thời kỳ đầu mới thành lập và trong thời tập trung bao cấp đã trải qua những khó khăn thiếu thốn về CSVC - TBDH, trong thời kỳ đổi mới nhà trường đã được các cấp đầu tư cơ sở vật chất và thiết bị dạy học tương đối hiện đại và đầy đủ, đáp ứng được phần nào yêu cầu của giảng viên, sinh viên trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học

Trang 11

Tuy đã được đầu tư nhiều về CSVC và TBDH nhưng hiệu quả sử dụng còn hạn chế, sự đầu tư trang thiết bị còn dàn trải, chất lượng chưa cao Công tác tổ chức quản lý, khai thác sử dụng cơ sở vật chất nói chung và các thiết bị dạy học nói riêng chưa đạt hiệu quả mong muốn Vì vậy, nghiên cứu quản lý vấn đề này như thế nào cho hợp lý, đạt hiệu quả đòi hỏi phải có sự nhận thức đúng đắn của các cấp quản lý, của toàn thể cán bộ, giảng viên, sinh viên mà người đứng đầu là Hiệu trưởng

Để quản lý tốt CSVC - TBDH cần có những biện pháp quản lý chặt chẽ

từ công tác đầu tư cho đến khai thác sử dụng CSVC và TBDH từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, tạo uy tín cho nhà trường, nhằm khẳng định vị thế của nhà trường trong đào tạo đội ngũ giáo viên chất lượng cao cho ngành giáo dục của Thủ đô nói riêng và Việt Nam nói chung, hòa nhập với khu vực

và thế giới

Từ các vấn đề nêu trên tôi chọn đề tài “Quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây theo tiếp cận đảm bảo chất lượng” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây, đề xuất các biện pháp quản lý

sử dụng thiết bị dạy học nhằm đảm bảo chất lượng dạy học của nhà trường

3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động sử dụng thiết bị dạy học ở Trường Cao đẳng Sư phạm theo tiếp cận đảm bảo chất lượng

3.2 Đối tƣợng nghiên cứu

Quản lý hoạt động sử dụng thiết bị dạy học ở Trường Cao Đẳng Sư

Trang 12

4 Câu hỏi nghiên cứu

Thiết bị dạy học là yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng lớn tới chất lượng

và hiệu quả của quá trình dạy học, có những nội dung sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu phương tiện thiết bị dạy học Vì vậy, làm thế nào để nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây trong giai đoạn hiện nay? phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục, đổi mới phương pháp giảng dạy của nhà trường, cần phải nghiên cứu làm rõ

5 Giả thuyết khoa học

Quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây

đã được lãnh đạo nhà trường quan tâm chỉ đạo Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập trong một số vấn đề như: các quy trình quản lý sử dụng thiết bị còn thiếu,

sự đầu tư trang thiết bị còn dàn trải chưa đồng bộ, chất lượng của một số thiết

bị chưa cao; công tác tổ chức quản lý, khai thác và sử dụng chưa đạt hiệu quả mong muốn

Nếu áp dụng các biện pháp quản lý sử dụng TBDH theo tiếp cận đảm bảo chất lượng một cách đồng bộ và hợp lý sẽ góp phần phát huy được hết tác dụng, tính năng của TBDH hiện có Từ đó, góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây trong giai đoạn hiện nay

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý sử dụng TBDH theo tiếp cận

đảm bảo chất lượng

6.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý sử dụng

TBDH tại Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây

6.3 Đề xuất biện pháp quản lý sử dụng TBDH tại Trường Cao đẳng Sư

phạm Hà Tây theo tiếp cận đảm bảo chất lượng

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Trang 13

Luận văn tập trung nghiên cứu, khảo sát thực trạng TBDH và công tác quản lý sử dụng TBDH ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây từ năm 2015 -

2019

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích tài liệu, tổng

hợp tài liệu, phân loại, hệ thống hóa

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp quan sát: Quan sát tổng thể CSVC và hoạt động quản lý

sử dụng TBDH ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây

Mục đích: Đánh giá thực trạng CSVC và TBDH hiện có của nhà trường Từ đó, tìm ra giải pháp thực hiện phù hợp với tình hình CSVC và TBDH

- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo, chuyên viên, giáo viên và sinh viên nhằm tìm hiểu kỹ hơn về thực trạng tác quản lý sử dụng TBDH và CSVC

Mục đích: Giải thích nguyên nhân và đề xuất các biện pháp giải quyết nguyên nhân tồn tại

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Gồm các câu hỏi về công tác quản lý sử dụng TBDH và CSVC ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây

Mục đích: Thu thập các số liệu nhằm xác định thực trạng quản lý sử dụng TBDH ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây Từ đó, phân tích các nguyên nhân thành công và hạn chế của thực trạng này

9 Những đóng góp của đề tài

Đề tài góp phần làm rõ thêm các khái niệm về thiết bị dạy học, công tác quản lý sử dụng TBDH theo tiếp cận đảm bảo chất lượng nhằm phục vụ tốt nhất công tác đào tạo giáo viên của nhà trường Chỉ ra các mặt đã đạt được và

Trang 14

các mặt còn hạn chế nhằm cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng một số

phương pháp quản lý sử dụng TBDH hiệu quả

Đề xuất các biện pháp quản lý sử dụng TBDH ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây theo tiếp cận đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới

giáo dục và đào tạo của Nhà trường

10 Cấu trúc của luận văn

Cấu trúc của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC

THEO TẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu các vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu về sử dụng TBDH trong các trường học

Thế kỷ XXI, thế kỷ của thời đại công nghệ, thế kỷ của sự chuyển biến

từ thời kỳ công nghiệp sang thời kỳ phát triển của khoa học công nghệ, của nền kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa Khoa học công nghệ làm biến đổi đời sống vật chất và tinh thần của nhân loại, dẫn đến sự thay đổi căn bản về văn hóa và giáo dục đã được hình thành qua nhiều thế hệ ở từng quốc gia và trên thế giới Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang diễn ra một cuộc chạy đua đầu tư cho giáo dục-đào tạo nhằm khẳng định vị thế và phát triển đất nước

Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục-đào tạo luôn luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, coi đây là một trong những yếu tố then chốt để phát triển KT-

XH của đất nước Việc đầu tư cho giáo dục và đào tạo đang diễn ra sâu rộng trên phạm vi toàn quốc, từ việc đầu tư CSVC đến việc đổi mới sách giáo khoa, đổi mới nội dung chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy với nhiều hình thức khác nhau nhằm mở rộng quy mô trường lớp, tính tích cực chủ động trong dạy - học và nâng cao dân trí

Giáo dục - đào tạo đóng vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, là nhân tố hạt nhân, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới chính phủ các nước đều coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu là khâu then chốt để phát triển kinh tế - xã hội và đời sống văn hóa

Đầu tư cho giáo dục tức là đầu tư cho phát triển, đầu tư cho tương lai,

Trang 16

dành một khoản ngân sách đáng kể để đầu tư cho giáo dục - đào tạo và một trong số đó là đầu tư vào cơ sở vật chất cho các nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy - học theo tinh thần đổi mới nội dung và hình thức dạy học Như vậy, việc đầu tư cho CSVC và quản lý CSVC cũng như TBDH trong các nhà trường phải được quan tâm đúng mức, phải làm thường xuyên và có kế hoạch cụ thể, rõ ràng

Chủ nghĩa Mác- Lênin xem lý luận và thực tiễn là một thể thống nhất

biện chứng với nhau Lênin đã khái quát vấn đề này như sau “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của nhận thức thực tại khách quan”

Quá trình giáo dục và dạy học được gắn kết và cấu thành bởi nhiều thành tố có liên quan chặt chẽ và tương tác với nhau Các thành tố đó là: mục tiêu, nội dung, phương pháp, giáo viên, học sinh và phương tiện (cơ sở vật chất - TBDH) Các thành tố cơ bản này giúp thực hiện hóa quá trình giáo dục

và dạy học

Qua sơ đồ sau, chúng ta có thể thấy mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy - học và mối quan hệ giữa quá trình giáo dục và dạy học:

Mục tiêu

Giáo viên Học sinh, sinh viên

Nội dung Phương pháp

Phương tiện (CSVC - TBDH)

Trang 17

Qua sơ đồ trên ta có thể thấy các mối quan hệ qua lại với nhau giữa các thành tố trong quá trình dạy - học, mối quan hệ giữa quá trình giáo dục và dạy

học, trong đó CSVC là một trong những nội dung không thể tách rời

Ở Việt Nam, có nhiều tác giả nghiên cứu về sử dụng TBDH và Quản lý TBDH trong các nhà trường từ bậc học phổ thông cho đến bậc đại học trong

đó có các bài giảng về quản lý CSVC trong các cơ sở đại học, có thể kể đến một số tập bài giảng như: Tập bài giảng về “Quản lí CSVC, thiết bị trong giáo dục” của Trường Đại học Giáo dục năm 2019 hay “Thiết bị dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đại học” (Tập tài liệu Bồi dưỡng Nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên dạy đại học, cao đẳng) của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và một số cuốn sách bàn về TBDH và quản lý TBDH của tác giả Phạm Minh Hạc - NXB Giáo dục ấn hành năm 1981 với tựa đề

“Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục” hay cuốn sách về “ Lý luận dạy học đại học” của tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức do NXB Đại học Quốc gia phát hành năm 1996,

Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng

sử dụng CSVH-TBDH ở trường phổ thông Việt Nam” do tác giả Trần Quốc Đắc chủ biên, đưa ra quan điểm làm cơ sở cho việc sử dụng TBDH, xác định

vai trò, vị trí của TBDH trong giảng dạy, các tác giả đã nhận định “Thiết bị dạy học phải được sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học Sử dụng có hiệu quả thiết bị dạy học là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo Điều này, đòi hỏi người thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng thiết bị dạy học Người giáo viên không những cần hiểu biết về thiết bị dạy học, về kỹ thuật sử dụng chúng mà còn hiểu sâu về phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng thiết bị dạy học” [11-Tr29]

Trang 18

Tác giả Bùi Minh Hiền (chủ biên) trong cuốn “Quản lý giáo dục” do NXB Đại học Sư phạm phát hành năm 2006 có đề cập đến vai trò của thiết bị dạy học trong sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân, phân loại các nhóm thiết bị giáo dục mà người quản lý cần bao quát để điều hành một cách hiệu quả nhất và đưa ra một số nguyên tắc cùng các giải pháp quản lý thiết bị dạy học ở các nhà trường trong giai đoạn hiện nay

Trong các nghiên cứu của các tác giả nêu trên, các tác giả đã nêu bật tầm quan trọng của thiết bị dạy học trong các nhà trường Các tác giả cũng đã xây dựng được một hệ thống lý luận về vai trò, tác dụng của sử dụng thiết bị dạy học trong công tác giảng dạy Từ đó, đặt ra những yêu cầu và nguyên tắc

sử dụng nó

Thiết bị dạy học được xác định là một thành tố không thể thiếu trong quá trình dạy học, nó đóng vai trò to lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy học và tiếp thu kiến thức của người học Lý luận về thiết bị dạy học đã được làm rõ trong một số công trình nghiên cứu, trong các văn bản chỉ đạo cũng như các giáo trình về lý luận dạy học Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu cũng như các các lý luận về thiết bị dạy học vẫn chưa được các tác giả nghiên cứu một cách tỷ mỉ, chưa xuyên suốt mà vẫn chỉ là các vấn đề chung chung, chưa đầy đủ

1.1.2 Nghiên cứu về quản lý sử dụng TBDH trong các trường học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng

Khi đề cập đến quản lý nói chung và quản lý trường học nói riêng, đặc biệt là quản lý trường học thì một lĩnh vực quản lý không thể thiếu đó là quản

lý CSVC và TBDH Thực tế chứng minh rằng nếu hoạt động quản lý không tốt thì quá trình dạy - học trong nhà trường cũng không đạt được mục tiêu mong muốn Ngược lại, mục tiêu dạy - học của nhà trường muốn đạt được một kết quả tốt đẹp, thì phải có sự đóng góp của hoạt động quản lý từ lãnh

Trang 19

đạo cao nhất cho đến các đơn vị cũng như từng cá nhân và các lực lượng liên quan trong nhà trường Có nhiều nghiên cứu bàn luận đến quản lý nhà trường, quản lý CSVC của nhà trường nhưng chưa trở thành một hệ thống lý luận chặt chẽ, đầy đủ

Tác giả Bùi Minh Hiền trong cuốn “Quản lý giáo dục” đã đưa ra quan

điểm như sau: “Quản lý thiết bị dạy học làm cho nó có mối liên hệ chặt chẽ với giáo viên, với học sinh, với nội dung, với phương pháp dạy, phương pháp học theo định hướng của mục tiêu đào tạo đã vạch ra là khâu quan trọng trong quản lý chung của nhà trường” [16-Tr175]

Để đảm báo chất lượng trong nhà trường nói chung và tiếp cận đảm bảo chất lượng trong quản lý sử dụng TBDH nói riêng cần lưu ý các nội dung sau:

Nội dung 1: Định hướng

Nội dung: Nhà trường trong giai đoạn hiện nay phụ thuộc vào sinh viên, chất lượng nội dung chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra đáp ứng nhu cầu của xã hội và hệ thống CSVC-TBDH hiện đại Vì thế, cần hiểu các nhu cầu hiện tại và tương lai, để đáp ứng tốt đòi hỏi ngày càng cao của xã hội về công tác đào tạo trong mỗi nhà trường

Phân tích: Chất lượng đào tạo và hệ thống CSVC-TBDH là một yếu tố chiến lược, dẫn tới uy tín và khẳng định thương hiệu của mỗi nhà trường Nó đòi hỏi phải luôn đổi mới, cải tiến, phải có khả năng thích ứng và đáp ứng nhanh các yêu cầu của đổi mới giáo dục theo Nghị quyết số 29/NQ-TƯ khóa

XI về giáo dục

Nội dung 2: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo

Nội dung: Lãnh đạo, chỉ đạo phải thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích, kế hoạch và đường lối của nhà trường Công tác lãnh đạo, chỉ đạo cần tạo ra và duy trì môi trường làm việc có hiệu quả trong nội bộ nhà trường,

Trang 20

Phân tích: Hoạt động theo đảm bảo chất lượng sẽ không thể đạt được kết quả nếu không có sự chỉ đạo triệt để của lãnh đạo nhà trường, phải xây dựng những quy định, quy trình rõ ràng, cụ thể và có định hướng Lãnh đạo phải chỉ đạo và xây dựng các chiến lược, hệ thống và các biện pháp huy động

sự tham gia và tính sáng tạo của mọi nhân viên để xây dựng, nâng cao năng lực của tổ chức và đạt kết quả tốt nhất có thể được

Nội dung 3: Sự tham gia của mọi người

Nội dung: Cán bộ, giảng viên và nhân viên là nguồn lực quan trọng nhất của một nhà trường, sự tham gia đầy đủ với những hiểu biết và kinh nghiệm của họ rất có ích cho sự phát triển nhà trường

Phân tích: Để đạt được kết quả trong việc quản lý sử dụng TBDH thì kỹ năng, nhiệt tình, ý thức trách nhiệm của cán bộ, giảng viên và nhân viên đóng một vai trò quan trọng Lãnh đạo nhà trường phải tạo điều kiện để mọi người

có điều kiện học hỏi nâng cao kiến thức, trình độ nghiệp vụ chuyên môn và công tác quản lý

Nội dung 4: Tiếp cận theo quá trình

Nội dung: Kết quả của công tác quản lý sử dụng TBDH sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn và các hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình

Phân tích: Quá trình là tập hợp các hoạt động quản lý sử dụng TBDH

có liên quan với nhau được tiến hành theo một trình tự hợp lí để tạo điều kiện phục vụ tốt nhất cho quá trình giảng dạy và học tập của mỗi nhà trường Nói một cách khác, quá trình là sự chỉ đạo xuyên suốt từ cấp lãnh đạo cao nhất đến cấp thực hiện để tạo ra môi trường thuận lợi trong công tác quản lý và sử dụng TBDH trong mỗi nhà trường

Nội dung 5: Quản lý theo hệ thống và đổi mới phương pháp quản lý

Trang 21

Nội dung: Việc xác định, lập kế hoạch chi tiết một cách có hệ thống các quá trình có liên quan lẫn nhau sẽ đem lại hiệu quả cao trong quản lý sử dụng TBDH Đổi mới là mục tiêu đồng thời cũng là phương pháp để phù hợp với mọi hoàn cảnh, muốn đạt hiệu quả cao thì liên tục phải đổi mới

Phân tích: Nhà trường không thể nâng cao chất lượng giảng dạy nếu không thực hiện quản lý theo hệ thống và đổi mới quản lý cho phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn Quản lý theo hệ thống và đổi mới phương pháp quản lý không phải chỉ trên một lĩnh vực mà phải xem xét toàn bộ các yếu tố tác động đến chất lượng thực hiện công tác quản lý sử dụng TBDH một cách hệ thống, đồng bộ và phải phối hợp hài hoà các yếu tố này

1.2 Các khái niệm cơ bản

Hiện nay, có một số từ thường được sử dụng để chỉ về thiết bị giáo dục

cả trong ngôn ngữ nói và viết như:

- Thiết bị giáo dục - Educational equipments

- Thiết bị trường học - School equipments

- Đồ dùng dạy học - Teaching equipments

- Thiết bị dạy học - Teaching equipments

- Phương tiện dạy học - Mean (facilities) of teaching

Trang 22

- Học liệu - Leaming (school) materials (8)

Như vậy, thiết bị dạy học chính là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, nó là một trong những thành

tố quan trọng và chủ yếu trong hệ thống CSVC của các nhà trường

Tác giả Vũ Trọng Rỹ đã viết “Thiết bị dạy học là một thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc một tập hợp đối tượng vật chất mà người giáo viên sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh Còn đối với học sinh thì đó là nguồn tri thức, là phương tiện giúp học sinh lĩnh hội các khái niệm, định luật vv hình thành ở họ các kỹ năng, kỹ xảo, đảm bảo việc giáo dục, phục vụ đúng mục đích dạy học và giáo dục” [26-Tr44]

Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo lại nhận định về phương tiện dạy học trong

cuốn “Lý luận dạy học ở trường Trung học cơ sở” như sau: “Phương tiện dạy học là tập hợp những đối tượng vật chất được giáo viên sử dụng với tư cách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh và đối với học sinh đó là phương tiện để tiến hành hoạt động nhận thức của mình, thông qua đó mà thực hiện nhiệm vụ dạy học” [3-Tr115]

Tác giả Bùi Minh Hiền và các đồng sự trong cuốn “Quản lý giáo dục”

chương 10 phần “Quản lý thiết bị trong trường học” có viết “Trong công tác dạy học, thầy và trò ngoài chương trình sách giáo khoa, trường lớp thường phải sử dụng đến phương tiện gọi là học cụ, đồ dùng dạy học, thiết bị giáo dục, thiết bị dạy học Thiết bị dạy học có thể được coi là thuật ngữ đại diện cho các cách gọi khác nhau nêu ra trên đây Nó là một bộ phận cơ sở vật chất trường học trực tiếp có mặt trong các giờ học được thầy và trò trực tiếp sử dụng” [15-Tr285]

1.2.2 Sử dụng TBDH

Quản lý TBDH bao gồm các khâu: Trang bị, sử dụng, bảo quản, thanh

lý Trong khuôn khổ luận văn này tập trung vào khâu sử dụng TBDH Sử

Trang 23

dụng TBDH là cách thức sử dụng phương tiện, TBDH của giáo viên và học sinh, phù hợp với mục tiêu dạy học, phát huy cao nhất công năng của TBDH, góp phần phát triển nhận thức của học sinh chuẩn xác hơn, chuyển tải khối lượng kiến thức nhanh và nhiều hơn

Thiết bị dạy học góp phần nâng cao tính trực quan của quá trình dạy học, nó giúp cho người học nhận ra những sự việc, hiện tượng và khái niệm một cách cụ thể hơn, dễ dàng hơn TBDH với tư cách là phương tiện giúp giáo viên chuyển tải thông tin hiệu quả đến học sinh TBDH đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của từng đơn vị kiến thức, mục tiêu của từng bài học TBDH có vai trò cao nhất, hiệu quả nhất để thực hiện mục tiêu chương trình

và SGK

Ngoài ra, TBDH giúp cho giáo viên và học sinh tổ chức có hiệu quả quá trình dạy học, tổ chức nghiên cứu từng đơn vị kiến thức của bài học nói riêng và tổ chức cả quá trình dạy học nói chung, nó đảm bảo cho khả năng truyền đạt của giáo viên, thúc đẩy khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh theo đúng nội dung, chương trình Như vậy, chúng ta có thể thấy được vai trò quan trọng của TBDH trong các nhà trường, nhưng hiện nay một số bộ phận không nhỏ giáo viên còn thiếu kỹ năng sử dụng TBDH trong hoạt động giáo dục

Thiết bị dạy học có ý nghĩa quan trọng nó tác động đến quá trình dạy học, tuy nhiên không phải tự thân nó đã có các ý nghĩa như vậy Điều đó, còn phụ thuộc vào người giáo viên và quy trình sử dụng các thiết bị này Nói một cách khác, muốn phát huy hiệu quả tối đa của các thiết bị dạy học, người giáo viên phải biết sử dụng nó như thế nào, biết phát huy các tính năng cũng như công dụng của từng lạo thiết bị Đối với từng tiết học người giáo viên phải chuẩn bị giáo án, chuẩn bị các TBDH cần thiết phù hợp với nội dung bài

Trang 24

các thiết bị hiện đại có các tính năng kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi người giáo viên phải có kỹ năng và trình độ am hiểu về các thiết bị này

Muốn đạt hiệu quả sử dụng TBDH càng cao thì người giáo viên càng phải có trình độ và kỹ năng sử dụng TBDH tương ứng Như vậy, với các vấn

đề như trên ta có thể thấy thiết bị dạy học dù có hiện đại đến đâu thì bản thân

nó cũng không thể thay thế được vai trò của giáo viên, đặc biệt là phương pháp dạy học của họ Ngược lại, phương pháp dạy học của giáo viên cũng chịu sự tác động, qui định của thiết bị dạy học Vì vậy, giữa các yếu tố nội dung, phương tiện, phương pháp dạy học có tác động qua lại lẫn nhau và có

sự tác động giữa giáo viên với người học Mối quan hệ đó chính là sự tương tác qua lại chủ yếu giữa các yếu tố của quá trình dạy - học, sự tương tác qua lại này tạo nên hiệu quả, chất lượng của quá trình dạy - học

1.2.3 Quản lý, quản lý nhà trường

1.2.3.1 Quản lý

Khi thế giới chuyển sang nền kinh tế công nghiệp với nền tảng là kinh

tế tri thức làm chủ đạo Các học thuyết, các công trình nghiên cứu về quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng đã ngày càng được chú trọng và phát triển, có thể kể tên một số tác phẩm như: “Những nguyên tắc khoa học quản lý” của F.W.Taylo (1856-1915), “Các nhu cầu của con người trong hoạt động quản lý” của A.Maslow (1908-1970), “Mối quan hệ của con người trong hoạt động quản lý” của Elton Mayo (1880-1949)

Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, với xu thế hội nhập hóa, toàn cầu hóa, một số công trình và học thuyết nổi tiếng về quản lý của các học giả trên thế giới như: cuốn “Những vấn đề cốt yếu về quản lý” của 3 học giả người Mỹ là Hanold Koontz, Cyril O'Dennell, Heinz Weilnrich đã được dịch

và xuất bản phổ biến rộng rãi ở Việt Nam (19)

Trang 25

Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, ở trong tất cả các lĩnh vực đều cần đến công tác quản lý, quản lý có một vai trò quan trọng trong sự thành công của các tổ chức Tuy nhiên, hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất trên thế giới cũng như ở Việt Nam, một số tác giả cho rằng quản lý

là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc của các cá nhân trong một tổ chức, một đơn vị; một số tác giả khác lại cho rằng quản lý

là một hoạt động nhằm đảm bảo sự phối hợp của các cá nhân nhằm đạt được mục đính nhóm

Quản lý theo nghĩa rộng là hoạt động có chủ đích của người quản lý, là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động, tác động vào người khác nhằm thu được kết quả như mong muốn

Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc nêu quan điểm

“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản

lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức’’ [5-Tr16]

Trong cuốn sách “Quản lý giáo dục một số vấn đề lý luận và thực tiễn”

do GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc chủ biên, có nêu:

“Quản lý là hoạt động lôi cuốn tất cả các thành viên trong nhà trường cùng tham gia, từ cán bộ có địa vị cao, cho đến tập thể đội ngũ giáo viên, công nhân viên trong nhà trường, thậm chí cả HS, SV nữa Quản lý có nghĩa

là tiến hành một công việc, là làm cho một sự kiện nảy sinh, là quá trình lôi cuốn tất cả mọi người vào hoạt động của họ trong tổ chức Quản lý là hoạt động chung của toàn bộ tổ chức” [21-Tr12]

Tác giả Trần Kiểm trong cuốn “Khoa học quản lý giáo dục một số vấn

đề lý luận và thực tiễn” có nói rõ về công tác quản lý như sau: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp,

Trang 26

và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của

tổ chức với hiệu quả cao nhất” [17-Tr8]

Hanold Koontz cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức tổ chức về quản lý là một khoa học” [19-Tr 33]

1.2.3.2 Quản lý nhà trường

Nhà trường là một đặc trưng của quá trình giáo dục, nhà trường với vai trò và sứ mệnh của mình vừa là nơi bảo tồn các giá trị văn hóa vừa là nơi truyền thụ tri thức, hầu hết các hoạt động giáo dục đều diễn ra trong nhà trường từ cấp bậc mầm non cho đến các cấp bậc cao hơn như đại học hoặc sau đại học Vì vậy, khi đề cập đến quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng thì không thể không nói đến quản lý nhà trường Quản lý nhà trường có thể xem là quản lý giáo dục nhưng ở cấp độ vi mô Có thể thấy công tác quản

lý trường học bao gồm xử lý các tác động qua lại giữa trường học và xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường

Khi đã có nhà trường thì phải có quản lý nhà trường hay nói cách khác

đó là quản lý giáo dục Trong thực tiễn Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về quản lý giáo dục mà tiêu biểu là cuốn “Quản lý Giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc chủ biên, các tác giả có

nêu: “Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các

cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học-giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra” [20-Tr16)

Trang 27

“Quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra” Hoặc “Quản lý giáo dục là quá trình đạt tới mục tiêu trên cơ sở thực hiện có ý thức và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [20-Tr15]

Như vậy, nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội nó là nơi để tiến hành quá trình giáo dục Thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân cho tương lai Trường học với

tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính giáo dục vừa mang tính

xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, là tế bào quan trọng của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ Trung ương đến địa phương

Tóm lại, quản lý nhà trường là một bộ phận của quản lý giáo dục Quản

lý nhà trường là một hệ thống những tác động sư phạm khoa học và có tính định hướng của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng và Nhà nước trong thực tiễn Việt Nam

1.2.4 Quản lý sử dụng TBDH

Quản lý sử dụng TBDH đó là quá trình tác động có mục đích của người quản lý lên quá trình sử dụng TBDH nhằm mục đích nâng cao sử dụng có hiệu quả, chất lượng của các TBDH đáp ứng mục tiêu dạy - học phát huy tối

đa vai trò của TBDH trong hoạt động dạy và học

Quản lý sử dụng TBDH phải dựa trên các cơ sở pháp lý của các cấp, các ngành về công tác thiết bị trường học, công tác quản lý sử dụng thiết bị dạy học phải tuân theo quy định của Nhà nước

Trong cuốn sách “Quản lý Giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực

Trang 28

trợ chương trình dạy và chương trình học, các tác giả có đề cập về Quản lý

CSVC-TBGD như sau: “Quản lý dạy học không thể thiếu các điều kiện thiết yếu hỗ trợ như CSVC trường học Quản lý tốt các điều kiện này sẽ tác động mạnh mẽ đến chất lượng dạy học Đó là phương tiện giúp giáo viên chuyển tải tri thức, rèn luyện kỹ năng cho học sinh

+ Người quản lý phải quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ thông tin

để quản lý các bộ phận thiết bị-thư viện, văn phòng, giáo vụ,…

+ Đảm bảo CSVC trường học Nhiệm vụ chung là cung cấp đầy đủ các điều kiện về trường lớp, phòng thí nghiệm thực hành, các phương tiện phục

vụ dạy học Đồng thời tạo điều kiện tốt nhất nhằm cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ giáo viên

+ Quản lý tốt công tác thi đua khen thưởng, định ra tiêu chuẩn thi đua phù hợp Định mức thưởng về vật chất, tinh thần

+ Công khai, dân chủ, công bằng, vô tư, tránh tùy tiện trong xét thi đua, tránh trừng phạt, hướng giáo viên noi gương

+ Xử lý kịp thời và có tình, có lý những trường hợp vi phạm quy định của nhà trường”

Thiết bị dạy học được mua sắm, trang bị từ nhiều nguồn kinh phí khác nhau Song dù từ nguồn nào đi nữa đó cũng là tài sản chung của nhà trường, của Nhà nước cho nên phải được quản lý chặt chẽ Quản lý sử dụng TBDH phải tuân thủ các theo các nguyên tắc, theo tính chất, theo các nhóm thiết bị,

nó phải mang tính tổng quát, xem xét từ các yêu cầu về tính khoa học, tính sư phạm, tính mục đích, đặc trưng của ngành, bộ môn và cả yêu cầu về kinh tế

1.2.5 Đảm bảo chất lượng, tiếp cận đảm bảo chất lượng

Mô hình Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance) được ra đời vào những năm 60 của thế kỷ XX Đảm bảo chất lượng là một trong những nhiệm

vụ của nhà sản xuất nhằm đảm bảo cho khách hàng về chất lượng sản phẩm

Trang 29

Trên quan điểm về đảm bảo chất lượng trong quản lý kinh tế Đảm bảo chất lượng trong giáo dục có thể hiểu là hình thức quản lý chất lượng được thực hiện trước và trong quá trình giáo dục

ĐBCL trong giáo dục nhằm phòng ngừa sự xuất hiện sai sót tránh tạo

ra những “sản phẩm giáo dục” có chất lượng không đạt yêu cầu Đảm bảo chất lượng là phương tiện tạo ra sản phẩm không có sai sót do lỗi trong quá trình giáo dục gây ra, chất lượng được quyết định bởi mỗi thầy, cô, cán bộ, nhân viên và cán bộ quản lý tham gia trong quá trình giáo dục Từ ý tưởng này mà người ta quan tâm đến việc tạo nên hệ thống quy chuẩn chất lượng khi

áp dụng mô hình đảm bảo chất lượng để những người trực tiếp làm ra sản phẩm phải tự nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng, biết cách làm thế nào để đạt được chất lượng cao hơn và tự mình mong muốn làm điều đó Ngoài ra, còn lôi kéo, vận động người khác cùng tham gia và làm tốt như họ hoặc làm tốt hơn bản thân họ

Đảm bảo chất lượng trong các nhà trường, bao gồm đảm bảo chất lượng bên trong (Intemal quality assurance) và đảm bảo chất lượng bên ngoài (Extemal quality assurance) Đảm bảo chất lượng bên trong do nhà trường đảm nhận, đảm bảo chất lượng bên ngoài do các cơ quan chức năng bên ngoài nhà trường thực hiện Đảm bảo chất lượng bên trong nhà trường là nhân tố quan trọng nhất, nhà trường chủ động tạo nên chất lượng

Theo quan điểm của QLCL nói chung và ĐBCL nói riêng đối với quá trình đào tạo trong các nhà trường đại học, cao đẳng thì ĐBCL các điều kiện cho việc triển khai quá trình đào tạo và ĐBCL trong suốt quá trình học của sinh viên cũng như ĐBCL cho đầu ra của quá trình đào tạo đó Với quan điểm như trên các nhà trường cần coi việc ĐBCL cho các thiết bị đào tạo cũng như TBDH là một yếu tố quan trọng cho ĐBCL đào tạo ở một nhà trường và

Trang 30

chúng được vận hành trong mối quan hệ của ĐBCL đầu vào - quá trình - đầu

ra của quá trình đào tạo

1.3 Vai trò của TBDH ở các trường đại học, cao đẳng

1.3.1 Vai trò của TBDH trong đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm

Thiết bị dạy học là vật chất hữu hình, tưởng như vô tri, vô giác nhưng dưới sự điều khiển của người giảng viên đã làm cho thiết bị dạy học thể hiện được những khả năng sư phạm của nó TBDH là cầu nối để người học, người dạy cùng hành động tương tác với nhau, nó làm tăng tốc độ truyền thông tin, tạo ra sự lôi cuốn, hấp dẫn, làm cho việc dạy - học được hiệu quả hơn, nó hỗ trợ đắc lực cho thực hiện đổi mới phương pháp dạy học

Thiết bị dạy học còn góp phần đắc lực trong việc hình thành nhân cách của học sinh sinh viên Như vậy, TBDH vừa là phương tiện giảng dạy của giảng viên vừa là công cụ luyện tập, là đối tượng nhận thức của học sinh sinh viên TBDH còn là một nhân tố không thể thiếu trong cấu trúc của quá trình đào tạo Từ nhận thức nghề nghiệp, kiến thức nghề nghiệp thu nhận được muốn có tay nghề phải thông qua thực hành, việc thực hành từ rèn luyện các động tác cơ bản đến luyện tập kỹ năng nghề phải thông qua công cụ, mà công

cụ trong thực hành nghề không gì khác đó chính là thiết bị dạy học Không có thiết bị dạy học thì không thể có kỹ năng nghề nghiệp

Đối với các môn học ở trường đại học, cao đẳng và đặc biệt là ở các trường đào tạo sư phạm, TBDH giữ vai trò đặc biệt quan trọng và được thể hiện ở những nội dung cụ thể sau đây:

Đẩy mạnh và hướng dẫn hoạt động nhận thức của sinh viên, sử dụng TBDH góp phần nâng cao tính trực quan của quá trình dạy - học, mở rộng khả năng tiếp cận với các đối tượng, hiện tượng, tạo điều kiện trực tiếp cho sinh

Trang 31

viên huy động mọi năng lực hoạt động nhận thức, tiếp cận thực tiễn, nâng cao khả năng tự đào tạo, rèn luyện kỹ năng học tập, kỹ năng nghề nghiệp

Trong quá trình giảng dạy, TBDH được sử dụng có hiệu quả và khoa học sẽ kích thích hứng thú học tập của SV, tạo ra động cơ học tập, rèn luyện thái độ tích cực đối với tài liệu mới Sử dụng TBDH đúng lúc và đúng chỗ, với những phương pháp và lời dẫn thích hợp của GV giúp SV phát triển óc quan sát, khả năng phân tích, tổng hợp và so sánh TBDH sẽ làm gia tăng cường độ lao động, phát huy tư duy sáng tạo của SV, tạo điều kiện nâng cao nhịp độ nghiên cứu tài liệu Sử dụng tốt TBDH còn giúp GV và SV mất ít thời gian và công sức vào tổ chức phụ trong lớp, dành thời gian cho việc thực hiện có hiệu quả cao giờ lên lớp

Thiết bị dạy học tham gia vào quá trình thúc đẩy sự hiện thực hóa mục tiêu đào tạo, góp phần làm cho quá trình đào tạo có chất lượng, hiệu quả Ngoài ra nó còn góp phần tích cực vào giải phóng sức lao động của thầy trò tạo điều kiện cho hoạt động dạy - học diễn ra hợp lý, đúng quy luật Để hoạt động học tập và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp sư phạm cho sinh viên ngày càng hiệu quả thì việc quản lý và sử dụng thiết bị dạy học là vấn đề cần thiết

và quan trọng TBDH là công cụ hỗ trợ đắc lực trong công tác kiểm tra, đánh giá, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên, vấn đề là người sử dụng có phát huy được hết công suất, công dụng của các TBDH vào trong bài giảng hay không mà thôi

Trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã coi các trường sư phạm là đầu tầu của đổi mới giáo dục Vì vậy, ngoài việc chuẩn bị đổi mới nội dung chương trình đào tạo, hình thức giảng dạy, các trường sư phạm còn phải đầu tư CSVC, TBDH hiện đại để đáp ứng được các đòi hỏi mới trong công tác đào tạo giáo

Trang 32

Đặc thù của các trường Cao đẳng Sư phạm là đào tạo giáo viên từ cấp học mầm non, tiểu học cho đến cấp trung học cơ sở Vì vậy, sử dụng TBDH càng phải được quan tâm hơn Hiện nay, hệ thống giáo dục của Việt Nam đang áp dụng một số phương pháp giáo dục mới như: Phương pháp giáo dục Montessori ở cấp bậc mầm non hay phương pháp STEM ở cấp bậc tiểu học, trung học cơ sở

Về phương pháp giáo dục ở mầm non là Montessori, nó khác với phương pháp giáo dục truyền thống, phương pháp giáo dục Montessori đặc biệt nhấn mạnh vai trò của tính chủ động, tự lập, khơi gợi tiềm năng và định hình nhân cách trẻ Trẻ được tự do tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh theo mong muốn, giáo viên lúc này đóng vai trò là người hướng dẫn Trẻ được tự học cách chăm sóc bản thân từ việc nhỏ nhất như: rửa tay, thay quần

Ngoài việc phải học các kiến thức chung, sinh viên sư phạm các chuyên ngành còn phải học các kỹ năng sử dụng TBDH để có thể áp dụng vào công tác giảng dạy sau này ở các trường phổ thông, ví dụ như: sinh viên âm nhạc phải am hiểu về các tính năng cũng như cách sử dụng các TBDH chuyên

Trang 33

ngành như các loại nhạc cụ, hay sinh viên chuyên ngành vật lý, sinh học phải

am hiểu các loại thiết bị thực hành thí nghiệm,…vv

Tóm lại: TBDH trong các nhà trường nói chung và trong các trường Sư phạm nói riêng đóng góp một vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định chất lượng quá trình dạy- học, nó là một thành tố của quá trình dạy - học và

có quan hệ tương hỗ với tất cả các thành tố khác của quá trình dạy học Do

đó, quản lý để nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH là một trong những yếu tố

để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

Năm 2021, đội ngũ giáo viên tại các nhà trường sẽ là lực lượng tham gia chủ yếu vào đổi mới chương trình và sách giáo khoa Sự thành công của đổi mới giáo dục phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ giáo viên, vào CSVC và TBDH trong các nhà trường Với trọng trách là đầu tầu của đổi mới giáo dục, các trường Đại học, Cao đẳng Sư phạm không chỉ có nhiệm vụ đào tạo ra đội ngũ giáo viên có đủ năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức mà còn phải thành thạo kỹ năng sử dụng TBDH đáp ứng yêu cầu thực tiễn giáo dục cũng

như thực hiện chương trình và sách giáo khoa mới

1.3.2 Yêu cầu đối với TBDH trong các trường đại học, cao đẳng

- Trường đại học, cao đẳng (gọi chung là cơ sở đào tạo) là sự cấu thành của các yếu tố như:

+ Những con người: sinh viên, nhà giáo, người quản lý (các cấp lãnh đạo), cán bộ, viên chức và người phục vụ;

+ Những phương tiện, vật chất, kỹ thuật và tài chính;

+ Những tổ chức: Hội đồng trường, Ban giám hiệu, các phòng, ban, trung tâm, các khoa, các tổ bộ môn, các tổ chức Đảng, Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên…

+ Hệ thống CSVC bao gồm: Đất đai, nhà xưởng, khu TDTT, sân chơi,

Trang 34

thiết bị phục vụ dạy học và phục vụ công tác hành chính; các tài sản vô hình cũng như các tài sản hữu hình được huy động cho công tác giảng dạy, học tập

và các hoạt động mang tính giáo dục- đào tạo khác để đạt được mục đích giáo dục - đào tạo

- Một cơ sở đào tạo, ngoài các yếu tố như có nội dung chương trình đào tạo tiên tiến, hệ thống giáo trình, sách, tài liệu tham khảo phong phú; chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giảng viên có trình độ cao Một nhà trường có đầy đủ các yếu tố nêu trên nhưng cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, không theo kịp sự phát triển của xã hội thì sẽ không thể có được một chất lượng đào tạo tốt nhất Vì vậy, đầu tư CSVC trong các cơ sở đào tạo phải được chú trọng, có mục đích, mục tiêu rõ ràng

Như vậy, có thể thấy CSVC-TBDH trong các cơ sở đào tạo có vai trò quyết định đến sự thành công trong công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Đất nước Việc tăng cường đầu tư, cũng như tăng cường công tác quản lý cơ sở vật chất, trang bị các phương tiện giảng dạy và học tập hiện đại sẽ góp phần đào tạo nên đội ngũ lao động có chất lượng, đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong xu thế hội nhập toàn cầu như hiện nay

Các cơ sở đào tạo với mục đích là đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao Trong quá trình dạy - học, việc truyền tải kiến thức tới người học

là vô cùng quan trọng, không chỉ cung cấp lý thuyết mà còn phải linh hoạt kết hợp với trực quan sinh động là các TBDH, thực hành giúp người học dễ dàng tiếp thu kiến thức, và hình thành được kỹ năng ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn

Từ những vấn đề nêu trên, ta có thể thấy TBDH trong các cơ sở đào tạo

có một vị trí đặc biệt quan trọng Vì, TBDH là một công cụ thiết yếu để triển khai quá trình đào tạo và là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình tổ chức dạy và học, TBDH có vai trò quan trọng trong việc ĐBCL dạy - học, cũng

Trang 35

như việc nâng cao khả năng sư phạm TBDH còn có vai trò đặc biệt trong việc nâng cao khả năng xây dựng, hình thành, củng cố, hệ thống hoá và vận dụng kiến thức vào thực tiễn; nó tạo môi trường tự học, tự khám phá đối với sinh viên và học viên các cơ sở đào tạo

1.3.3 Sử dụng TBDH theo tiếp cận đảm bảo chất lượng đào tạo

Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Giáo dục và đào tạo đang có một sự chuyển hướng mạnh mẽ trong việc đổi mới công tác quản

lý, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, trong đó có áp dụng các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng trong các cơ sở đào tạo, cũng như xây dựng các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng quản lý CSVC, quản lý sử dụng TBDH

Trong giáo dục đại học, ĐBCL được xác định là các hệ thống các chính sách, thủ tục, quy trình, hành động và thái độ được xác định từ trước nhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng

Trong cuốn sách “Quản lý chất lượng trong giáo dục” do tác giả

Nguyễn Đức Chính chủ biên có nhận định “Quản lý chất lượng trong giáo dục cần xây dựng và vận hành một hệ thống quản lý (trên cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí) nhằm tác động vào các điều kiện đảm bảo chất lượng trong tất cả các giai đoạn của quá trình giáo dục, cho tất cả các sản phẩm của cả

hệ thống chứ không nhằm vào chất lượng của từng giai đoạn hay từng sản phẩm đơn lẻ” [8-Tr40]

Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam đang áp dụng ba cấp độ quản lý chất lượng được nhiều người biết đến đó là : Kiểm soát chất lượng (Quality Control), Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance) và Quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management)

Trang 36

Theo ISO 9000 thì “Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống, được tiến hành trong hệ thống chất lượng và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng thỏa đáng rằng thực thể sẽ đáp ứng các yêu cầu về chất lượng”

Cho đến nay, các nhà quản lý giáo dục vẫn sử dụng phương thức quản

lý truyền thống như: Kế hoạch hóa, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá Để việc quản lý sử dụng TBDH trong các cơ sở đào tạo được hiệu quả và chất lượng, ngoài việc tổ chức quản lý sử dụng theo phương thức quản

lý truyền thống thì các cơ sở đào tạo cần áp dụng các biện pháp đảm bảo chất lượng theo các tiêu chuẩn của Nhà nước cũng như các tiêu chuẩn quản lý chất lượng trên thế giới để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng TBDH trong bối cảnh Việt Nam hiện nay

Quản lý chất lượng là một phương thức quản lý mới, đã được áp dụng rộng rãi trong quản lý sản xuất, kinh doanh Bản chất của nó là quản lý bằng các quy trình, các quy trình được xây dựng từ các công việc cụ thể của từng

cơ sở đào tạo

Để áp dụng được quy trình quản lý chất lượng, lãnh đạo nhà trường phải thấy được tầm quan trọng của đảm bảo chất lượng và phải đảm bảo cho tất cả mọi người trong tổ chức tích cực tham gia vào hoạt động đó

Hiện nay, hầu hết các cơ sở đào tạo ở Việt Nam chỉ áp dụng quản lý sử dụng TBDH theo phương thức truyền thống mà chưa chú trọng đến việc áp dụng các tiêu chuẩn ĐBCL trong việc quản lý sử dụng TBDH Việc áp dụng các tiêu chuẩn ĐBCL sẽ làm cho công tác quản lý sử dụng TBDH đạt hiệu quả cao hơn so với biện pháp quản lý truyền thống, nó tránh được các rủi ro không đáng có

Tóm lại, sử dụng TBDH ở các cơ sở đào tạo theo tiếp cận đảm bảo chất lượng tức là phải xây dựng, bổ sung, phát triển các điều kiện nhằm có kế

Trang 37

hoạch sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích về CSVC cũng như TBDH trong suốt quá trình, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Vì vậy, nghiên cứu để vận dụng ĐBCL vào quản lý sử dụng TBDH là điều kiện khách quan trong bối cảnh hiện nay

1.4 Nội dung hoạt động sử dụng TBDH

1.4.1 Nhận thức của cán bộ, giảng viên về TBDH

Trong đổi mới phương pháp giảng dạy nói chung và dạy học theo hướng tích cực hóa nói riêng, hoạt động nhận thức, bồi dưỡng năng lực thực hành để học sinh sinh viên có thể tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi, khám phá kiến thức thì TBDH đóng một vai trò hết sức quan trọng

Hiện nay, một số cán bộ, giáo viên, nhân viên chưa nhận thức, quan tâm đúng mức đến vai trò, tác dụng của TBDH trong quá trình giảng dạy, thậm chí còn xem nhẹ tác dụng của TBDH trong công tác giảng dạy

Một trong những nguyên nhân của việc trên, đó là việc ngại sử dụng TBDH, chưa am hiểu hết các tính năng, tác dụng cũng như hạn chế về công nghệ thông tin Vì vậy, giáo viên cần mạnh dạn, không ngại khó, tự thiết kế

và sử dụng bài giảng điện tử, tự thiết kế TBDH sẽ giúp rèn luyện được nhiều

kỹ năng để phối hợp tốt các phương pháp dạy học tích cực khác Ngoài ra giáo viên còn phải tự bồi dưỡng cho mình các kĩ năng sử dụng thiết bị dạy học, tham gia các lớp tập huấn, tự tìm hiểu các tính năng, tác dụng của TBDH

1.4.2 Phân loại các thiết bị dạy học

CSVC-TBDH trong các cơ sở giáo dục là tài sản công do nhà nước đầu

tư và giao cho nhà trường quản lý sử dụng TBDH của các nhà trường được đầu tư mua sắm từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí huy động khác, do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước biếu, tặng, đóng góp

Trang 38

hoặc được hình thành từ các hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác cho Nhà trường, bao gồm:

- Trụ sở làm việc của nhà trường: đất, nhà làm việc, nhà giảng đường, nhà ký túc xá và các công trình phụ trợ phục vụ cho hoạt động đào tạo như:

hệ thống cấp điện, chiếu sáng, hệ thống cấp nước sạch và thoát nước sinh hoạt vv

- Thiết bị phục vụ giáo dục và TBDH

+ Thiết bị phục vụ giáo dục: Bàn ghế ngồi làm việc, tủ đựng tài liệu, tủ trưng bày, giá đựng công văn, giá đựng tài liệu, bộ bàn ghế họp, tiếp khách; máy vi tính để bàn, máy vi tính xách tay, máy in, máy quét, máy fax, máy photocopy, máy hủy tài liệu; máy chiếu, màn chiếu, thiết bị trang âm; điện thoại, thiết bị kết nối internet Các thiết bị khác như: Máy thu hình, tủ lạnh, máy đun nước uống…

- Các tài sản vật chất vô hình mà việc sử dụng phải chi trả bằng tiền của nhà trường gồm: tiền như điện, nước, điện thoại, internet, phần mềm tin học

Trên cơ sở tài sản mà một cơ sở giáo dục phải có như trên, ta có thể phân loại các TBDH thành các nhóm khác nhau tùy thuộc vào tiêu chí, dấu hiệu và chủng loại Thiết bị dạy học của một nhà trường sau khi được kiểm kê

và nhập về được phân loại theo các nhóm như sau:

- Theo tính chất của phương tiện dạy học bao gồm: Phương tiện mang tin, phương tiện truyền tin

+ Phương tiện mang tin: là bản thân mỗi phương tiện đều chứa đựng một khối lượng tin nhất định như: tài liệu in, băng đĩa âm thanh hoặc hình ảnh, tranh vẽ, phim ảnh, mô hình, vật thật v.v

+ Phương tiện truyền tin: là các phương tiện đa chức năng dùng để truyền tin tới người học như hệ thống tăng âm, loa, micro; ti vi và các đầu đọc

Trang 39

VIDEO, VCD, DVD; các loại máy chiếu phim dương bản, máy chiếu qua đầu, máy chiếu đa phương tiện, máy vi tính, vv

- Theo nhóm các dụng cụ thí nghiệm sinh, hóa, lý bao gồm: Dụng cụ, hóa chất, tranh ảnh, bảng biểu, … theo khối, theo môn, và thiết bị dùng chung

1.4.3 Nguyên tắc sử dụng TBDH

Sử dụng TBDH trong điều kiện hiện nay là hết sức quan trọng, nó giúp cho giáo viên có thể thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp truyền thụ kiến thức cho người học Trong hoạt động dạy học giáo viên

sử dụng TBDH phải mang tính khoa học, dễ hiểu và mang tính sư phạm cao, TBDH chịu sự chi phối của nội dung và phương pháp dạy học Vì vậy, muốn

có kết quả cao trong công tác giảng dạy thì người giáo viên phải thành thạo các kỹ năng sử dụng TBDH, việc sử dụng TBDH có đạt yêu cầu hay không, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng và sự sáng tạo của mỗi giáo viên

TBDH tại các cơ sở đào tạo giáo viên bao gồm nhiều loại hình khác nhau như: Tranh, ảnh, bản đồ, biểu bảng, mô hình, mẫu vật, hoá chất, dụng cụ thí nghiệm, băng ghi âm, băng ghi hình, máy chiếu, máy tính, vv mỗi loại đồ dùng, thiết bị này có các tính năng, tác dụng khác nhau trong quá trình giảng dạy nói chung và ở từng môn học nói riêng Thực tiễn cho thấy, các phương pháp dạy học chỉ thực hiện được nhờ có sự hỗ trợ của các TBDH nhất định, trong những hình thức dạy học nhất định, với những thủ pháp sử dụng phong phú, đa dạng và hợp lý

Về quan niệm sử dụng TBDH trong quá trình dạy học:

Người giáo viên phải có quan niệm đúng đắn về việc sử dụng TBDH tức là phải nhận thức được TBDH là chỗ dựa trực quan để phát triển tư duy trừu tượng cho người học trong quá trình dạy và học TBDH chính là các thiết

Trang 40

Khi sử dụng thiết bị dạy học phải tập trung cho việc dạy và học các nội dung, phải phản ánh, thể hiện rõ ràng dấu hiệu bản chất của nội dung bài giảng

Sử dụng TBDH phải phù hợp với mức độ yêu cầu nội dung bài học:

Giáo viên sử dụng TBDH đúng cách, đúng lúc sẽ mang lại hiệu quả thực sự Muốn vậy, các thao tác khi sử dụng TBDH phải đảm bảo tính gợi mở cho học sinh hướng tới kiến thức Sử dụng đúng lúc thiết bị dạy học tức là việc trình bày phương tiện vào lúc cần thiết, lúc học sinh cần được quan sát, gợi nhớ kiến thức, hình thành kĩ năng trong trạng thái tâm, sinh lí thuận lợi nhất Việc coi trọng đúng mức khi sử dụng TBDH và việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt bằng lời, bằng kí hiệu đảm bảo chính xác, chuẩn mực và thống nhất nhằm phát triển năng lực học tập của học sinh, hạn chế những áp đặt, yêu cầu vượt quá sự tiếp thu kiến thức của học sinh

Vậy, muốn sử dụng TBDH đạt hiệu quả cao thì giáo viên phải biết đưa

ra đúng thời điểm cũng như nội dung và phương pháp dạy học cần đến Cần đưa phương tiện theo trình tự bài giảng, tránh trưng bày đồng loạt trên bàn, giá, tủ trong một tiết học cũng như biến lớp học thành một phòng trưng bày các TBDH

Sử dụng TBDH trong dạy học phải chính xác, rõ ràng, có tính sư phạm:

Khi sử dụng TBDH giáo viên phải căn cứ vào trình độ chung của người học và sử dụng đúng chỗ Tức là, tìm vị trí thích hợp để giới thiệu phương tiện trên lớp học hợp lí nhất, giúp cho người học có thể sử dụng nhiều giác quan nhất để tiếp xúc với phương tiện một cách đồng đều ở mọi vị trí trong lớp học

Vị trí trình bày phương tiện dạy học phải đảm bảo các yêu cầu chung cũng như các yêu cầu riêng của nó, cả về vị trí được chiếu sáng, thông gió và

Ngày đăng: 01/04/2021, 06:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đặng Quốc Bảo (1997), Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục, Trường cán bộ quản lý giáo dục TW1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1997
3. Đặng Quốc Bảo (1999), Khoa học tổ chức và quản lý, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học tổ chức và quản lý
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1999
4. Nguyễn Ngọc Bảo (chủ biên), Trần Kiểm (2008), Lý luận dạy học ở trường Trung học cơ sở, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học ở trường Trung học cơ sở
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo (chủ biên), Trần Kiểm
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2008
6. Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (2014), Tài liệu bồi dưỡng viên chức làm công tác thiết bị dạy học ở trường THCS, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng viên chức làm công tác thiết bị dạy học ở trường THCS
Tác giả: Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
7. Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2014), Đại cương khoa học quản lý, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
8. Nguyễn Đức Chính (2002), Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học. NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2002
9. Nguyễn Đức Chính (2008), Đánh giá chất lượng trong giáo dục. Khoa Sư phạm, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chất lượng trong giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Năm: 2008
10. Nguyễn Đức Chính (chủ biên) (2017), Quản lý chất lượng trong giáo dục, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: (chủ biên)" (2017), "Quản lý chất lượng trong giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Chính (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2017
11. Nguyễn Khắc Chương (2004), Lý luận quản lý giáo dục đại cương, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận quản lý giáo dục đại cương
Tác giả: Nguyễn Khắc Chương
Năm: 2004
12. Trần Quốc Đắc (chủ biên) (2002), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng sử dụng CSVH-TBDH ở trường phổ thông Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng sử dụng CSVH-TBDH ở trường phổ thông Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Đắc (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
13. Trần Khánh Đức (2010), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
14. Trần Khánh Đức (2011), Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
15. Tô Xuân Giáp (2001), Phương tiện dạy học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện dạy học
Tác giả: Tô Xuân Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
16. Phạm Minh Hạc (1981), Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1981
17. Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức (1996), Lý luận dạy học đại học, NXB Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1996
18. Bùi Minh Hiền (chủ biên) (2006), Quản lý giáo dục, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: (chủ biên)" (2006), "Quản lý giáo dục
Tác giả: Bùi Minh Hiền (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
19. Trần Kiểm (1997), Quản lý giáo dục và quản lý trường học, Viện khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục và quản lý trường học
Tác giả: Trần Kiểm
Năm: 1997
20. Trần Kiểm (2004), Khoa học quản lý giáo dục một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Giáo dục, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lý giáo dục một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
21. Hanold Koonzt (1992), Những vấn đề cốt yếu của quản lý, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt yếu của quản lý
Tác giả: Hanold Koonzt
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 1992
24. Nguyễn Văn Lê, Đỗ Hữu Tài (1996), Chuyên đề quản lý trường học tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề quản lý trường học tập 1
Tác giả: Nguyễn Văn Lê, Đỗ Hữu Tài
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w