THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC CHỦ ĐỀ TỔ HỢP – XÁC SUẤT BẰNG CÁCH KHAI THÁC SAI LẦM TRONG GIẢI TOÁN ĐỂ PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHÊ PHÁN CHO HỌC SINH .... Khảo sát thực trạng việc dạy và học chủ đề
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
- -
PHÙNG THỊ THU HƯỜNG
PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHÊ PHÁN BẰNG CÁCH KHAI THÁC CÁC SAI LẦM CỦA HỌC SINH
TRONG GIẢI TOÁN TỔ HỢP - XÁC SUẤT
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN HỌC
Trang 2TRONG GIẢI TOÁN TỔ HỢP - XÁC SUẤT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 8140209.01
Người hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN HỮU CHÂU
Trang 3HÀ NỘI - 2020
Trang 4i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và động viên rất nhiều của quý thầy cô, gia đình, các bạn và đồng nghiệp
Trước hết tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, quý thầy cô; Phòng sau đại học; Khoa sư phạm đã tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tác giả học tập, nghiên cứu tại trường Đại học giáo dục – Đại học Quốc gia
Hà Nội
Đặc biệt tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc GS.TS Nguyễn Hữu Châu, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn
Xin được trân trọng cảm ơn Sở giáo dục và đào tạo Hà Nội; Ban giám hiệu,các thầy cô giáo và các em học sinh ở trường THPT Bất Bạt và các trường THPT trong huyện Ba Vì - Hà Nội đã giúp đỡ tác giả rất nhiều trong công tác và khi thực hiện đề tài
Bản thân dù rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn cũng không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của các nhà khoa học, quý thầy cô và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, tháng 10 năm 2020
Tác giả
Phùng Thị Thu Hường
Trang 5ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GDPT: Giáo dục phổ thông GV: Giáo viên
HS: Học sinh SGK: Sách giáo khoa THPT: Trung học phổ thông THPT QG: Trung học phổ thông Quốc gia
Trang 6iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Mục tiêu các bài học của chủ đề Tổ hợp – Xác suất 25
Bảng 2.2 Kết quả khảo sát về loại tư duy mà GV thường chú trọng phát triển cho học sinh khi dạy học 33
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát về vai trò, ý nghĩa của việc rèn luyện tư duy phê phán trong dạy học 34
Bảng 2.4 Nguyên nhân các sai lầm của HS trong giải toán Tổ hợp – Xác suất 36
Bảng 2.5 Kết quả đạt được khi dạy học bằng cách khai thác sai lầm của HS 37
Bảng 2.6 Biện pháp sư phạm được GV sử dụng để phát triển tư duy phê phán cho HS 38
Bảng 2.7 Nội dung HS thích học nhất khi học bộ môn Toán 39
Bảng 2.8 Các lỗi HS thường gặp khi giải bài tập Toán 40
Bảng 2.9 Nguyên nhân dẫn đến các sai lầm của HS 40
Bảng 2.10 Hiệu quả của việc học Toán bằng cách khai khác các sai lầm 41
Bảng 4.1 Thống kê kết quả học tập của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trước khi tiến hành thực nghiệm sư phạm 74
Bảng 4.2 Thống kê kết quả học tập của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sau khi tiến hành thực nghiệm sư phạm 78
Bảng 4.3 Phương sai và độ lệch chuẩn 79
Trang 7iv
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Kết quả khảo sát về loại tư duy mà GV thường chú trọng phát
triển cho học sinh khi dạy học 34 Biểu đồ 2.2 Kết quả khảo sát về vai trò, ý nghĩa của việc rèn luyện tư duy
phê phán trong dạy học 35 Biểu đồ 2.3 Nguyên nhân các sai lầm của HS trong giải toán Tổ hợp – Xác
suất 36 Biểu đồ 2.4 Kết quả đạt được khi dạy học bằng cách khai thác sai lầm của
HS 37 Biểu đồ 2.5 Biện pháp sư phạm được GV sử dụng để phát triển tư duy phê
phán cho HS 38 Biểu đồ 2.6 Nội dung HS thích học nhất khi học bộ môn Toán 39 Biểu đồ 4.1 Kết quả học tập của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trước khi
tiến hành thực nghiệm sư phạm 74
Trang 8v
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iv
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích của nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ của nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Câu hỏi nghiên cứu 4
8 Phương pháp nghiên cứu 4
9 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VIỆC DẠY HỌC PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHÊ PHÁN BẰNG CÁCH KHAI THÁC CÁC SAI LẦM CỦA HỌC SINH TRONG GIẢI TOÁN 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Những nghiên cứu chung về phát triển tư duy phê phán thông qua sai lầm của học sinh 6
1.1.2 Lịch sử phát triển của chủ đề Tổ hợp – Xác suất 7
1.2 Dạy học phát triển tư duy phê phán cho học sinh 7
1.2.1 Tư duy 7
1.2.2 Phân loại tư duy 9
1.2.3 Tầm quan trọng của phát triển tư duy trong dạy học 10
1.2.4 Khái niệm tư duy phê phán 10
1.2.5 Vai trò của tư duy phê phán 11
1.2.6 Sự cần thiết phát triển tư duy phê phán cho học sinh 12
1.2.7 Một số phương pháp dạy học phát triển tư duy phê phán cho học sinh 12
1.3 Các sai lầm của học sinh trong học giải toán 14
Trang 9vi
1.3.1 Học giải bài tập toán 14
1.3.2 Các sai lầm thường gặp trong học giải toán 14
1.3.3 Nguyên nhân các sai lầm gặp phải trong giải toán 19
1.3.4 Dạy học khắc phục sai lầm 19
1.4 Dạy học phát triển tư duy phê phán bằng cách khai thác các sai lầm trong giải toán 21
1.4.1 Mối quan hệ giữa dạy học bằng cách khai thác sai lầm với phát triển tư duy phê phán 21
1.4.2 Một số gợi ý đối với giáo viên khi dạy học bằng khai thác sai lầm 21
Kết luận chương 1 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC CHỦ ĐỀ TỔ HỢP – XÁC SUẤT BẰNG CÁCH KHAI THÁC SAI LẦM TRONG GIẢI TOÁN ĐỂ PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHÊ PHÁN CHO HỌC SINH 24
2.1 Dạy học chủ đề Tổ hợp - Xác suất trong trường phổ thông 24
2.1.1 Vai trò và ý nghĩa của chủ đề Tổ hợp - Xác suất trong chương trình môn Toán THPT 24
2.1.2 Nội dung chủ đề Tổ hợp - Xác suất trong chương trình môn Toán THPT 25
2.1.3 Thực trạng về một số sai lầm thường gặp khi giải bài toán chủ đề Tổ hợp - Xác suất 26
2.2 Khảo sát thực trạng việc dạy và học chủ đề Tổ hợp - Xác suất bằng cách khai thác sai lầm trong giải toán để phát triển tư duy phê phán cho học sinh ở trường THPT Bất Bạt - Ba Vì - Hà Nội 32
2.2.1 Mục đích khảo sát 32
2.2.2 Đối tượng khảo sát 32
2.2.3 Nội dung khảo sát 32
2.2.4 Phương pháp tiến hành khảo sát 33
2.2.5 Kết quả khảo sát 33
Kết luận chương 2 42
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHÊ PHÁN BẰNG CÁCH KHAI THÁC CÁC SAI LẦM CỦA HỌC SINH TRONG GIẢI TOÁN TỔ HỢP - XÁC SUẤT 43
3.1 Định hướng xây dựng các biện pháp dạy học phát triển tư duy phê phán bằng cách khai thác các sai lầm trong giải toán Tổ hợp - Xác suất 43
Trang 10vii
3.2 Một số biện pháp dạy học phát triển tư duy phê phán bằng cách
khai thác các sai lầm trong giải toán Tổ hợp - Xác suất 43
3.2.1 Biện pháp 1: Xây dựng hệ thống các bài tập về chủ đề Tổ hợp - Xác suất mà có nhiều tình huống học sinh thường mắc sai lầm 43
3.2.2 Biện pháp 2: Tăng cường tạo tình huống dạy học cho học sinh trình bày lời giải để bộc lộ sai lầm và tạo điều kiện để học sinh thảo luận về các sai lầm 52
3.2.3 Biện pháp 3: Tạo cơ hội cho học sinh sửa chữa sai lầm và đánh giá sự tiến bộ của bản thân và bạn học 60
Kết luận chương 3 72
CHƯƠNG 4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73
4.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 73
4.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 73
4.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 73
4.2 Đối tượng thực nghiệm 73
4.3 Nội dung thực nghiệm 75
4.3.1 Thời gian thực nghiệm 75
4.3.2 Nội dung thực nghiệm 75
4.4 Quá trình thực nghiệm 75
4.5 Kết quả thực nghiệm 76
4.5.1 Đánh giá định tính 77
4.5.2 Đánh giá định lượng 77
Kết luận chương 4 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81
1 Kết luận 81
2 Khuyến nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chất lượng dạy và học luôn là mối quan tâm hàng đầu của nền giáo dục
các nước với các câu hỏi thường xuyên được đề cập như: “Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học?” , “Các biện pháp thúc đẩy giáo dục hiện nay là gì?” Để trả lời các câu hỏi đó thì phương pháp dạy học là vấn đề mang tính then chốt Với sự thay đổi toàn cầu về khoa học công nghệ và những yêu cầu của công dân thời đại 4.0, mỗi giáo viên cần không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu mới Người giáo viên giỏi không chỉ là người giỏi về kiến thức chuyên môn mà phải là người có phương pháp truyền đạt hiệu quả, dễ hiểu và phù hợp với đối tượng học sinh của mình
Toán học nói chung là môn học nền tảng cho nhiều ngành khoa học, trong đó môn Toán ở bậc THPT đóng vai trò quan trọng vì vừa cung cấp kiến thức nề tảng cho các môn học khác vừa góp phần định hướng nghề nghiệp cho học sinh, bởi vậy môn Toán là một trong những môn thi bắt buộc trong kỳ thi THPT QG và cũng là môn có trong nhiều khối tổ hợp xét tuyển của các trường Đại học Do đó, nâng cao chất lượng dạy và học toán trong các trường phổ thông luôn nhận được sự quan tâm của các thầy cô và các em học sinh
Trong những năm gần đây, vấn đề dạy học phát triển năng lực được
quan tâm rất nhiều, có nhiều diễn đàn, hội thảo khoa học thảo luận về vấn đề này Song song với đó các phương pháp dạy hiệu quả, phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh trong lĩnh hội tri thức cũng được các giáo viên nghiên cứu và vận dụng trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong các nhà trường Một trong những kĩ năng quan trọng cần phát triển cho học sinh chính là tư duy phê phán Ở nước Mỹ và một số nước Châu Âu, cụm từ
“tư duy phê phán” được các nhà giáo dục học chú ý đặc biệt và kêu gọi nền
Trang 122
giáo dục phải cải cách để đưa kỹ năng này vào các phương pháp giảng dạy Đối với nước ta, theo chương trình giáo dục phổ thông mới, việc chuyển từ dạy học truyền thụ kiến thức sang dạy học tiếp cận năng lực học sinh là vấn
đề cấp thiết, trong đó “tư duy phê phán” được thể hiện ở khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá của học sinh Để phát triển kĩ năng này cho học sinh thì khai thác các sai lầm trong giải toán là một cách làm hiệu quả Thông qua việc phân tích sai lầm, học sinh có thể tự rút ra cho mình những bài học để khi gặp những bài toán tương tự sẽ giải quyết một cách dễ dàng
Theo chương trình giáo dục phổ thông mới, mảng kiến thức Xác suất – Thống kê được đưa vào từ lớp 2 và xuyên suốt đến lớp 12 cho thấy đây là một lĩnh vực quan trọng trong Toán học Với chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, học sinh được học về Tổ hợp - Xác suất ở chương trình Đại số & Giải tích 11 và được đánh giá là một trong những chủ đề khó, câu hỏi về chủ
đề này cũng được đưa vào đề thi THPT QG những năm gần đây và gây khó khăn cho học sinh mặc dù chỉ ở mức độ vận dụng Những bài toán về xác suất đòi hỏi học sinh phải có suy luận chính xác, xét hết các khả năng xảy ra và áp dụng đúng công thức Tuy nhiên, trong quá trình dạy học tác giả nhận thấy học sinh thường mắc các sai lầm dẫn đến giải sai các bài toán xác suất rất nhiều, chẳng hạn: Học sinh không biết khi nào dùng quy tắc cộng, khi nào dùng quy tắc nhân hay nhầm lẫn khi áp dụng công thức tổ hợp, chỉnh hợp,… Những sai lầm đó thường xuất phát từ việc học sinh chưa biết phân tích, suy luận lôgic đúng đắn và chưa rút ra các bài học từ những sai lầm, do đó khi gặp lại bài tương tự học sinh vẫn bị lúng túng
Ở Việt Nam cũng đã có một số luận án tiến sĩ nghiên cứu đến vấn đề
phát triển tư duy phê phán như: Luận án “Rèn luyện tư duy phê phán của học
sinh trung học phổ thông qua dạy học chủ đề phương trình và bất phương trình” của tác giả Phan Thị Luyến (2008); Luận án “Rèn luyện tư duy phê phán cho học sinh thông qua dạy toán 4” của tác giả Trương Thị Tố Mai
Trang 133
(2007), và nhiều đề tài khai thác chủ đề Tổ hợp - Xác suất như: Luận văn thạc
sĩ của tác giả Lê Thanh Huyền (2016) “Phát triển tư duy sáng tạo cho học
sinh THPT trong dạy học chương Tổ hợp - Xác suất lớp 11” Tuy nhiên chưa
có nghiên cứu về phát triển tư duy phê phán bằng cách khai thác các sai lầm trong chủ đề Tổ hợp - Xác suất
Qua nhiều năm nghiên cứu và thực tiễn giảng dạy, chúng tôi chọn đề
tài: “Phát triển tƣ duy phê phán bằng cách khai thác các sai lầm của học sinh trong giải toán Tổ hợp - Xác suất” nhằm giúp học sinh biết phân tích
các sai lầm khi giải toán Tổ hợp - Xác suất, từ đó tổng hợp rút kinh nghiệm cho bản thân và giải quyết các bài toán khác một cách chính xác Ở đây, chúng tôi dùng từ “khai thác” với ý nghĩa là giúp học sinh phát hiện và sử dụng các sai lầm của học sinh vào chính quá trình học tập của các em, làm tăng hiệu quả học tập của học sinh
2 Mục đích của nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn dạy học, đề xuất một số biện pháp dạy học phát triển tư duy phê phán cho học sinh THPT bằng việc khai thác các sai lầm trong giải toán Tổ hợp - Xác suất, từ đó nâng cao chất lượng học toán Tổ hợp - Xác suất nói riêng và môn Toán nói chung cho học sinh THPT, góp phần hiện thực hóa các yêu cầu của chương trình GDPT mới của
Bộ Giáo dục và Đào tạo
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Dạy học chủ đề Tổ hợp - Xác suất trong chương trình môn Toán ở THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp dạy học tư duy phê phán bằng cách khai thác các sai lầm của học sinh trong giải toán Tổ hợp - Xác suất
4 Nhiệm vụ của nghiên cứu
Trang 146 Giả thuyết khoa học
Nếu các biện pháp dạy học bằng cách khai thác các sai lầm đề xuất
trong đề tài được áp dụng trong thực tiễn giảng dạy sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học toán Tổ hợp - Xác suất ở các trường THPT
7 Câu hỏi nghiên cứu
Dạy học chủ đề Tổ hợp - Xác suất bằng cách khai thác sai lầm của học
sinh nên sử dụng biện pháp gì để phát triển tư duy phê phán cho học sinh?
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu sách báo, tài liệu, các
công trình có liên quan đến đề tài; phân tích và tổng hợp các tài liệu; phân loại
và hệ thống hóa lý thuyết
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Xây dựng bảng hỏi, thu thập ý
kiến của học sinh và giáo viên về việc dạy và học chủ đề Tổ hợp - Xác suất
Trang 155
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Dạy học thực nghiệm cho học
sinh lớp 11 của trường THPT Bất Bạt về chủ đề Tổ hợp - Xác suất và bước đầu kiểm tra tính khả thi, hiệu quả của đề tài
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý các số liệu sau khi khảo sát
Đánh giá định tính và định lượng kết quả thu được
9 Cấu trúc của luận văn
Luận văn được chia làm 4 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận việc dạy học phát triển tư duy phê phán bằng cách khai thác các sai lầm của học sinh trong giải toán
- Chương 2: Thực trạng việc dạy và học chủ đề Tổ hợp - Xác suất bằng cách khai thác các sai lầm trong giải toán để phát triển tư duy phê phán cho học sinh
- Chương 3: Một số biện pháp dạy học phát triển tư duy phê phán bằng cách khai thác các sai lầm của học sinh trong giải toán Tổ hợp – Xác suất
- Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Trang 166
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VIỆC DẠY HỌC PHÁT TRIỂN TƯ DUY
PHÊ PHÁN BẰNG CÁCH KHAI THÁC CÁC SAI LẦM
CỦA HỌC SINH TRONG GIẢI TOÁN
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu chung về phát triển tư duy phê phán thông qua sai lầm của học sinh
Ở Việt Nam, trong các năng lực cốt lõi mà chương trình giáo dục phổ thông tổng thể hướng tới thì năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo
là hai năng lực rất được chú trọng Để phát triển hai loại năng lực này rõ ràng không thể tách rời khỏi việc phát triển tư duy phê phán do giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Vì vậy những năm gần đây các nhà giáo dục học cũng rất quan tâm đến vấn đề phát triển tư duy phê phán và cũng đã có một số luận án tiến sĩ nghiên cứu đến vấn đề phát triển tư duy phê phán như: Luận án
“Rèn luyện tư duy phê phán của học sinh trung học phổ thông qua dạy học chủ đề phương trình và bất phương trình” của tác giả Phan Thị Luyến (2008); Luận án “Rèn luyện tư duy phê phán cho học sinh thông qua dạy toán 4” của tác giả Trương Thị Tố Mai (2007), và nhiều đề tài khai thác chủ đề Tổ hợp - Xác suất như: Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thanh Huyền (2016) “Phát triển
tư duy sáng tạo cho học sinh THPT trong dạy học chương Tổ hợp - Xác suất lớp 11”… Các nghiên cứu đã đưa ra thực trạng và biện pháp phát triển
tư duy phê phán cho học sinh thông qua một số chủ đề cụ thể, tuy nhiên với chủ đề Tổ hợp - Xác suất chưa có nghiên cứu phát triển tư duy phê phán cho học sinh
Một trong những biện pháp để phát triển tư duy phê phán đó là khai thác các sai lầm của học sinh khi giải toán Vấn đề khai thác sai lầm trong giải
toán cũng được nghiên cứu nhiều trong các sách như: “Phát hiện và sửa chữa
Trang 177
sai lầm cho học sinh trong dạy học Đại số và Giải tích ở trường phổ thông”
của tác giả Vũ Văn Thuận, Nguyễn Hữu Hậu (2010), NXB Đại học Sư phạm;
“ Sai lầm thường gặp và các sáng tạo khi giải toán” của tác giả Trần Phương, Nguyễn Đức Tấn (2010), Nxb Đại học Sư phạm…
1.1.2 Lịch sử phát triển của chủ đề Tổ hợp – Xác suất
Sự ra đời của lý thuyết tổ hợp là do các nhà toán học như: Cardano, Pascal, Ferma và một số người khác đưa ra vào thế kỷ 16, 17 dựa trên thực tiễn từ các trò chơi Giai đoạn phát triển tiếp theo thuộc về nhà Toán học Bernuli (1604 - 1705) với chứng minh được mang tên “quy luật số lớn”, là định lý đầu tiên mang tính lý thuyết, đã khái quát được thực tiễn Các nhà khoa học tiếp theo có công phát triển khoa học này là: Moivre, Laplace, Gauss, Poisson…Giai đoạn thịnh vượng của sự phát triển này gắn với các công trình nghiên cứu của Chebusev và học trò của ông là Makarov (1856 – 1922), Lyapunov (1857 - 1918) Từ đó, lý thuyết xác suất đã trở thành ngành khoa học độc lập và ngày càng phát triển cho đến bây giờ Ngày nay, lý thuyết Tổ hợp - Xác suất còn được ứng dụng trong nhiều ngành khoa học khác như: Khoa học máy tính, vật lý thống kê,…Ngoài ra còn được áp dụng nhiều vào các bài toán thực tế, cho thấy vị trí quan trọng của lý thuyết Tổ hợp
- Xác suất trong chương trình môn Toán
1.2 Dạy học phát triển tƣ duy phê phán cho học sinh
1.2.1 Tư duy
Khái niệm
Tư duy là phạm trù của triết học dùng để chỉ những hoạt động tinh thần, đem những cảm giác của con người cải tạo và sửa đổi thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho con người có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất, được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não con người Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan thông qua các khái niệm, sự suy đoán, lý luận,…
Trang 188
Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính, bản chất, mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết
Tư duy bắt đầu từ hoạt động tâm lý, hoạt động này gắn liền với phản xạ sinh lý và hoạt động đặc trưng của hệ thần kinh cao cấp Đối với triết học, tư duy là một khái niệm – một phạm trù quan trọng Đối với xã hội, tư duy của cộng đồng người là cơ sở để tạo nên hệ thống tư duy xã hội trong các hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật,…Người ta dựa vào tư duy để nhận thức những quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội, con người
và điều chỉnh những hành động của mình cho phù hợp với các quy luật đó
Đặc điểm của tƣ duy
Tư duy có những đặc điểm cơ bản sau: Tính có vấn đề, tính gián tiếp, tính trừu tượng và tính khái quát hóa
+ Tính có vấn đề: Tư duy chỉ nảy sinh khi gặp tình huống “có vấn đề” Tình huống có vấn đề là tình huống chưa có đáp án, nhưng đáp số đã tiềm ẩn bên trong, tình huống chứa điều kiện giúp ta tìm ra đáp số đó Nhưng không phải tình huống có vấn về nào cũng kích thích hoạt động tư duy, muốn kích thích tư duy thì tình huống có vấn đề phải được cá nhân nhận thức đầy đủ, được trở thành nhiệm vụ tư duy của cá nhân Nghĩa là cá nhân phải xác định được cái gì đã biết, đã cho vào cái gì chưa biết, cần phải tìm và có nhu cầu tìm nó Tính “có vấn đề” của tư duy là đặc điểm cơ bản và quan trọng nhất của tư duy
+ Tính gián tiếp: Tính gián tiếp của tư duy thể hiện ở chỗ con người sử dụng ngôn ngữ để tư duy Khi tư duy, chúng ta sẽ sử dụng ngôn ngữ để thể hiện tư duy của mình, con người tư duy bằng não do đó không có cách nào cho người khác thấy tư duy của mình được, vì vậy phải thông qua ngôn ngữ Nhờ có ngôn ngữ mà con người sử dụng các kết quả nhận thức vào quá trình
tư duy (phân tích, tổng hợp, đánh giá,…) để nhận thức được các bên trong
Trang 19để tư duy Khái quát hóa là quá trình con người dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau có chung thuộc tính liên hệ, quan hệ nhất định thành một nhóm một loại Nhờ có tính trừu tượng và khái quát của tư duy con người không chỉ giải quyết được nhiệm vụ hiện tại mà có thể giải quyết được nhiệm
vụ của tương lai
1.2.2 Phân loại tư duy
Có nhiều cách phân loại tư duy, sau đây là một số cách phân loại điển hình:
Phân loại theo cách thể hiện
+ Tư duy bằng hình tượng
+ Tư duy bằng ngôn ngữ
Phân loại theo cách vận hành
+ Tư duy kinh nghiệm
+ Tư duy sáng tạo
+ Tư duy phê phán
+ Tư duy lôgic
+ Tư duy phân tích
+ Tư duy tổng hợp
Phân loại theo nội dung
+ Tư duy khoa học
+ Tư duy nghệ thuật
+ Tư duy triết học
+ Tư duy tín ngưỡng
Trang 2010
1.2.3 Tầm quan trọng của phát triển tư duy trong dạy học
Trong các loại hình tư duy được đề cập ở trên thì ba loại tư duy có vai trò quan trọng cần được phát triển cho học sinh trong quá trình dạy học, đó là:
Tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, tư duy lôgic Trong cuộc sống cũng như trong học tập, để có thể suy nghĩ sâu rộng và có cách giải quyết hiệu quả một vấn đề thì học sinh phải có kĩ năng tư duy bậc cao Điều này không tự nhiên
có được mà học sinh cần phải học, rèn luyện Học sinh nào cũng có khả năng học, rèn luyện khả năng tư duy, nhưng để biến khả năng đó của học sinh thành hiện thực thì người giáo viên có vai trò quan trọng giúp học sinh hình thành và phát triển kĩ năng tư duy trong quá trình học tập Từ đó các em có thể có những suy nghĩ lôgic, sáng tạo, biết giải quyết vấn đề, ra quyết định cũng như có những ý tưởng mới, khả năng xử lý, phân tích thông tin và lên kế hoạch cho tương lai của mình Như vậy khả năng tư duy gắn liền với thực tiễn, thực hành
1.2.4 Khái niệm tư duy phê phán
Tư duy phê phán là quá trình con người vận dụng tích cực trí tuệ vào việc phân tích, tổng hợp, đánh giá sự việc từ quan sát, kinh nghiệm, chứng cứ, học thức, thông tin nhằm đánh giá tính đúng, sai của sự việc
Nhà triết học Francis Bacon đã khẳng định: “Một người khởi đầu bằng
sự vững tin, anh ta sẽ kết thúc bằng sự nghi ngờ Nhưng nếu anh ta bằng lòng khởi đầu bằng sự nghi ngờ, anh ta sẽ kết thúc bằng sự tin tưởng” Tư duy phê phán luôn đòi hỏi phải kiểm tra, thử thách những điều mình vốn tin, những quan điểm, suy nghĩ
Hoài nghi chính là bước khởi đầu của tư duy phê phán Người có tư duy phê phán sẽ không tin vào những gì họ nghe và nhìn thấy ngay ở lần đầu tiên nó xuất hiện Họ sẽ xem xét vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau, lấy thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Họ sẵn sàng nhận những thông tin trái
Trang 21Như vậy, tư duy phê phán là kĩ năng không thể thiếu để học sinh có thể giải quyết sáng tạo, đúng đắn một bài toán Để rèn luyện tư duy phê phán thì học sinh phải luôn thường trực các dấu hỏi trong mọi bài toán
1.2.5 Vai trò của tư duy phê phán
Tư duy phê phán có vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Để tiếp thu kiến thức, mỗi người phải có tư duy phê phán để phân biệt được đúng – sai khi trước mỗi vấn đề, từ đó tránh được những sai lầm
Tư duy phê phán tạo điều kiện phân tích, đánh giá, giải thích và xây dựng lại những suy nghĩ của bản thân, giảm rủi ro trong vận dụng, hành động hay suy nghĩ
Tư duy phê phán có một số vai trò sau:
+ Tư duy phê phán là nền tảng của tư duy độc lập: Đây là một trong những điều không thể thiếu để dẫn đến thành công Mỗi người đều phải có tư duy độc lập để nói lên quan điểm, cách nghĩ của mình trong mọi tình huống gặp phải
+ Tư duy phê phán giúp phát triển tư duy sáng tạo: Trong cả học tập
và cuộc sống, học sinh cần có được sự sáng tạo dựa trên cái cũ, tìm tòi ra những điều mới mẻ để nâng cao khả năng của bản thân cũng như hiệu quả trong mọi lĩnh vực Tuy nhiên để có sự sáng tạo, học sinh phải được rèn luyện thêm về tư duy phê phán, bởi tư duy phê phán giúp ta có cái nhìn tích cực, hướng đến cái mới tốt hơn, hoàn hảo hơn, có ích hơn trên con đường không ngừng sáng tạo
Trang 2212
+ Tư duy phê phán giúp học sinh có cái nhìn khách quan hơn: Thay vì chỉ chăm chăm theo ý kiến chủ quan của bản thân mình, tư duy phê phán giúp học sinh nhìn nhận và phân tích các ý kiến khách quan của người khác và từ
đó đưa ra ý kiến của bản thân mình
+ Tư duy phê phán giúp giải quyết các vấn đề trong cuộc sống: Tư duy phê phán giúp học sinh biết phân tích, xem xét vấn đề, phê phán những cái sai, đứng về những điều đúng đắn từ đó đưa ra những hướng giải quyết vấn đề một cách hợp lý nhất
1.2.6 Sự cần thiết phát triển tư duy phê phán cho học sinh
Tại sao phải phát triển tư duy phê phán cho học sinh? Câu hỏi này sẽ được giải đáp qua một số lí do sau:
Thứ nhất, trong học tập thì học không chỉ để biết Biết là mức độ thấp nhất của việc học, nếu học chỉ để biết thì chỉ là “học vẹt” Theo Khổng Tử thì những bước cần thiết cho việc học là: Học cho rộng, hỏi cho kỹ, suy nghĩ cho cẩn thận, phân tích cho rõ ràng và thực hành cho rốt ráo Những bước này tương ứng với các thang bậc mức độ trong dạy học của Bloom Sự học chỉ tiến xa và lên cao được nếu học sinh trang bị cho mình những kĩ năng tư duy phê phán, và lúc đó mới phát triển được bản thân
Thứ hai, trong cuộc sống mọi người phải có tư duy phê phán để có thể
xử lý nhiều nguồn thông tin trái chiều và đưa ra quyết định đúng đắn Với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, hàng ngày mọi người đều tiếp nhận vô số thông tin chưa được kiểm chứng, do đó phải trang bị kỹ năng tư duy phê phán
để phân tích và phân biệt được đúng sai của nguồn thông tin đó, tránh được các quyết định sai lầm
1.2.7 Một số phương pháp dạy học phát triển tư duy phê phán cho học sinh
Giáo viên có thể rèn luyện tư duy phê phán cho học bằng các cách sau đây:
Trang 2313
+ Dạy các em học sinh tự đặt câu hỏi: Một học sinh muốn có tư duy phê phán phải biết đặt câu hỏi tại sao trước mọi vấn đề, các em phải đặt trong đầu các thắc mắc tại sao nó như vậy và tại sao nó không phải như thế kia Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở việc biết đặt câu hỏi tại sao thì chưa đủ để trau dồi kĩ năng tư duy phê phán mà phải luôn biết tìm câu trả lời đúng cho câu hỏi mình đặt ra, bởi sự chủ động tìm ra câu trả lời thích hợp nhất sẽ là cách nhanh nhất
để rèn luyện tư duy phê phán cho chính mình
+ Phân tích vấn đề: Khi một vấn đề được đưa ra cần giải quyết, các em không chỉ biết phân tích bình thường, nhìn nhận sự việc ở mặt bề nổi mà cần nhìn vào chiều sâu của vấn đề đó, một người muốn có tư duy phê phán tốt thì nên đào sâu phân tích để hiểu kỹ hơn về bản chất của sự vật, hiện tượng, vấn
đề đó
+ Luôn luôn học hỏi, trau dồi kiến thức: Trong học tập cũng như trong cuộc sống muốn thành công thì phải chịu khó học hỏi, học hỏi mọi lúc, mọi nơi, từ những người xung quanh, đôi khi cả những người mà ta cho rằng kém hơn mình vì ai cũng có mặt mạnh và mặt yếu, phải biết học hỏi những cái hay, cái tốt đẹp từ người khác, phải có nhiều kiến thức mới phát triển kĩ năng
tư duy phê phán được
+ Rèn luyện nhìn nhận vấn đề khách quan: Khi xem xét một vấn đề, phải xem xét mọi khía cạnh của vấn đề để đưa ra ý kiến phản biện lại, các em không dựa quá nhiều vào ý kiến chủ quan của bản thân mà phải nhìn nhận vấn
đề khách quan bằng cách đưa ra các bằng chứng và luận điểm xác đáng
+ Điều chỉnh quan điểm bản thân: Trong cuộc sống, ý kiến cá nhân không phải lúc nào cũng đúng, không tránh khỏi những lúc có sai lầm, do
đó các em không được bảo thủ, phải điều chỉnh quan điểm của bản thân, lắng nghe ý kiến của người khác, để phân tích, đánh giá rút ra vấn đề cần giải quyết
Trang 2414
+ Dành thời gian để cải thiện chức năng não bộ: Muốn phát triển tư duy phê phán thì não bộ phải khỏe mạnh, não bộ hoạt động bình thường sẽ giúp
học sinh nghiêm túc, tập trung suy nghĩ, phân tích và tư duy vấn đề
1.3 Các sai lầm của học sinh trong học giải toán
1.3.1 Học giải bài tập toán
Thông thường, hoạt động giải bài tập toán được tổ chức sau khi giáo viên hình thành kiến thức mới Nó được xem như công cụ để củng cố, luyện tập kiến thức mới vừa được dạy hay là một phương tiện để giáo viên kiểm tra, đánh giá học sinh Ngoài ra, việc dạy học giải bài tập toán còn có vị trí quan trọng trong việc hình thành kiến thức, kĩ năng cho học sinh
Để giải được một bài toán, học sinh phải thực hiện các bước sau:
+ Bước 1: Tìm hiểu nội dung đề bài, phân tích và nghiên cứu đề bài + Bước 2: Tìm cách giải: Suy nghĩ, tìm tòi cách giải dựa trên việc phân tích đề tài, phán đoán và các kiến thức sẵn có liên quan đến bài toán như công thức, cơ sở lý thuyết,…để tìm ra phương án giải tối ưu
+ Bước 3: Trình bày cách giải: Sắp xếp theo trình tự các kiến thức để đưa ra lời giải dễ hiểu
+ Bước 4: Nghiên cứu sâu lời giải: Nghiên cứu khả năng ứng dụng của lời giải, mở rộng hay lật ngược vấn đề từ đó sáng tạo ra bài toán mới
Một số yêu cầu của việc giải bài tập toán:
+ Lời giải không có sai lầm
+ Lời giải phải có cơ sở lý luận
+ Lời giải phải đầy đủ
+ Lời giải có phương án tối ưu, dễ hiểu
1.3.2 Các sai lầm thường gặp trong học giải toán
Trong quá trình dạy học, quan sát học sinh giải toán, tác giả thấy học sinh của mình thường mắc phải các sai lầm sau đây:
Trang 2515
+ Hiểu sai hoặc không hiểu khái niệm, kí hiệu toán học
Ví dụ 1.1: Tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của hàm số
Từ bảng biến thiên suy ra min f x 0,max f x 3
Sai lầm: Học sinh không hiểu đúng khái niệm giá trị lớn nhất và giá trị
nhỏ nhất, để hàm số xác định được giá trị lớn nhất M (nhỏ nhất m)thì phải tồn tại số x0sao cho f x 0 M f x 0 m Trong ví dụ trên không có số
Sai lầm: Học sinh hiểu không đúng về kí hiệu “! ”, đây là một kí hiệu
thường dùng trong toán Tổ hợp, tuy nhiên nó chỉ là kí hiệu nên ta không được thực hiện các phép toán với nó mà phải đưa về phép toán tương đương với kí hiệu
0
Trang 26Sai lầm: Ở bài giải trên học sinh mắc hai sai lầm: Sai lầm thứ nhất học
sinh tính phép toán lũy thừa sai do nhầm lẫn 2
5 với 5 2 , sai lầm thứ hai học sinh chuyển phép chia phân số thành nhân với phân số nghịch đảo mà chưa thực hiên phép toán lũy thừa, dẫn đến kết quả bài toán sai
+ Xét thiếu các trường hợp của bài toán
Lời giải của học sinh:
Điều kiện của phương trình là x1, khi đó ta có:
Sai lầm: Phép biến đổi tương đương bất phương trình trên ở bước đầu
tiên là sai, nó chỉ đúng cho trường hợp x 1 0 x 1, còn trường hợp
1 0
x thì phải đổi chiều bất đẳng thức, như vậy lời giải trên sai hoàn toàn
do học sinh chưa phân chia đúng các trường hợp phải xét
+ Giải bài toán có điều kiện mà quên điều kiện
Ví dụ 1.5: Giải bất phương trình sau x2 3x 2 x2 1
Lời giải của học sinh:
x x x x x x x x
Trang 2717
Vậy tập nghiệm của bất phương trình là ;1
Sai lầm: Học sinh quên tìm điều kiện có nghĩa của căn bậc hai là biểu
thức trong căn phải không âm, như vậy nếu tìm điều kiện của bất phương
trình trên là
2 2
21
11
1 0
1
x x
x x
phương trình trên phải là ; 1
+ Hiểu sai đề bài, không tìm đúng yêu cầu bài toán
+ Thiếu kiến thức lôgic nên suy diễn sai
Ví dụ 1.7: Cho phương trình 2 2
x m xm m Tìm m để phương trình có nghiệm trên đoạn 1;1
Lời giải của học sinh:
Sai lầm: Ở lời giải trên học sinh đã sử dụng tính chất liên tục của hàm
số để làm, thoạt nhìn thì có vẻ lời giải rất hợp lý và đây cũng là cái sai mà nhiều học sinh mắc phải Định lý về tính liên tục của hàm số như sau: “Nếu hàm số y f x liên tục trên đoạn a b và có ; f a f b 0 thì tồn tại ít nhất một số c a b; sao cho f c 0” , hay định lý còn thường được áp dụng ở vế kết luận là phương trình f x 0 có ít nhất một nghiệm trên đoạn
Trang 2818
a b Tuy nhiên định lý trên không đúng cho mệnh đề đảo vì có rất nhiều ;hàm số có f a f b 0 tuy nhiên phương trình f x 0 vẫn có nghiệm trên a b Học sinh thường suy diễn các định lý toán học chưa chính xác do ;thiếu kiến thức lôgic, chỉ khi nào hai mệnh đề tương đương thì chiều ngược lại của định lý mới đúng, hoặc là mệnh đề “ Nếu A thì B” đúng thì mệnh đề
“Nếu không B thì không A” cũng đúng
+ Nhớ sai công thức, tính chất
Ví dụ 1.8: Giải phương trình 2 2
log x2 3.log x2 1 0
Lời giải của học sinh:
Điều kiện của phương trình là x 2
2log x2 3log x2 1 0Đặt log2x2t, ta được phương trình
3 17 4
x x
Kết hợp điều kiện thấy hai nghiệm trên đều thỏa mãn
Sai lầm: Học sinh sai ngay ở phép biến đổi tương đương phương trình
đầu tiên, học sinh áp dụng sai tính chất của lôgarit, cụ thể:
Trang 2919
phương trình ở bài giải trên là không chính xác
+ Kĩ năng diễn đạt kém nên trình bày lời giải sai
1.3.3 Nguyên nhân các sai lầm gặp phải trong giải toán
- Hiểu không đầy đủ và chính xác các khái niệm toán học, ký hiệu toán học
- Học sinh thiếu kiến thức cần thiết về lôgic
- Học sinh không nắm vững phương pháp giải các bài toán cơ bản
- Học sinh nhớ và vận dụng sai công thức
1.3.4 Dạy học khắc phục sai lầm
Qua thực tiễn giảng dạy và nghiên cứu viết đề tài này, tác giả nhận thấy học còn mắc nhiều sai lầm khi giải toán, kể cả các em học tốt ở các lớp chọn của các trường Tuy nhiên, nhiều thầy cô còn lúng túng trong việc lựa chọn phương pháp dạy học nên vấn đề phát hiện và sửa chữa sai lầm cho học sinh trong giải toán chưa được chú trọng khai thác Một thực tế nữa là việc thay đổi hình thức thi từ tự luận sang trắc nghiệm đã làm thay đổi tư duy, phương pháp học tập của học sinh rất nhiều, nhiều học sinh chỉ chú trọng đến đáp án của bài toán mà không quan trọng cách tư duy hay suy luận do đó dần mất đi khả năng trình bày, lý luận một bài toán Do đó, việc cần thiết phải có các nghiên cứu về sai lầm của học sinh mắc phải khi giải toán để làm tài liệu học tập cho học sinh và cũng là tài liệu tham khảo cho các giáo viên toán trong quá trình dạy học
Việc dạy học bằng cách phát hiện và sửa chữa các sai lầm trong giải toán của học sinh đã phát huy tác dụng, làm nâng cao năng lực phản biện, tư duy phê phán cho học sinh Dạy học khắc phục sai lầm là tạo cơ hội cho học sinh quan sát, phát hiện, phản biện các bài giải sai từ đó đưa ra lời giải đúng cho bài toán, đồng thời cũng là cơ hội để học sinh tự trình bày quan điểm cá nhân đối với các bài toán khó trong các giờ thảo luận chuyên đề
Trang 3020
Ngoài các phương pháp dạy học truyền thống, các nhà nghiên cứu về phương pháp dạy học đã đưa ra một số phương pháp mới có chú trọng đến việc khai thác các sai lầm của học sinh trong giải toán Có thể kế đến một số phương pháp sau đây
Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề dựa trên tình huống có vấn đề trong dạy học Khi học sinh mắc sai lầm ở lời giải là phát sinh tình huống có vấn đề, nó phát sinh từ lôgic bên trong của việc giải toán chứ không phải do giáo viên tạo ra Tìm ra cái sai của mình hay của bạn mình đều là sự khám phá.Từ sự khám phá này học sinh chiếm lĩnh được kiến thức một cách trọn vẹn hơn Tuy nhiên cần phải gây niềm tin cho học sinh là bản thân mình có thể tự tìm ra sai lầm ở một lời giải nào đó Học sinh có thể suy nghĩ và trao đổi để tự tìm ra sai lầm
Phương pháp dạy học phân hóa cũng có thể hạn chế và sửa chữa các sai lầm của học sinh trong giải toán Sự phân hóa trong nhờ tạo ra các “bẫy” sai lầm khác nhau cho từng đối tượng học sinh, thể hiện ngay ở việc giáo viên giao bài tập trên lớp hay bài tập về nhà Sự phân hóa ngoài thông qua các công việc tổ chức hoạt động theo nhóm, phụ đạo riêng cho học sinh mắc những sai lầm trầm trọng
Các biện pháp được đề xuất đều dựa trên quan điểm hoạt động trong phương pháp dạy học với các tư tưởng chủ đạo đã được GS Nguyễn Bá Kim [6, tr.124] đã đúc kết như sau:
- Cho học sinh thực hiện và tập luyện những hoạt động và hoạt động thành phần tương thích với nội dung và mục đích dạy học
- Gây động cơ hoạt động và tiến hành hoạt động
- Truyền thụ tri thức, đặc biệt là tri thức phương pháp như phương tiện
và kết quả của hoạt động
- Phân bậc hoạt động làm chỗ dựa cho quá trình điều khiển hoạt động dạy học
Trang 3121
1.4 Dạy học phát triển tƣ duy phê phán bằng cách khai thác các sai lầm trong giải toán
1.4.1 Mối quan hệ giữa dạy học bằng cách khai thác sai lầm với phát triển
tư duy phê phán
Để có một bài giải toán chính xác học sinh phải trải qua nhiều giai đoạn, khi thao tác tư duy ở các giai đoạn đó chỉ cần mắc sai lầm ở một bước
sẽ dẫn đến bài toán sai Do đó, khi giải toán học sinh phải luôn biết đặt ra các câu hỏi như: Tại sao lại áp dụng công thức này mà không phải công thức khác, tại sao bài toán này làm được cách này mà bài toán khác lại không làm được,…Và khi học sinh mắc sai lầm ở một bước nào đấy, giáo viên cần giúp học sinh phân tích xem tại sao lại dẫn đến sai lầm đó, từ đó để học sinh rút ra các bài học cho bản thân mình để không mắc sai lầm như vậy nữa
Như đã trình bày ở phần trên, để rèn luyện tư duy phê phán cho học sinh thì giáo viên cần dạy học sinh biết đặt câu hỏi, phân tích bài toán, nhìn nhận vấn đề ở nhiều khía cạnh, không áp đặt suy nghĩ chủ quan của cá nhân
mà phải xem xét các ý kiến khách quan khác Do đó việc phân tích những sai lầm trong giải toán của học sinh là cách hữu hiệu để phát triển tư duy phê phán cho các em
1.4.2 Một số gợi ý đối với giáo viên khi dạy học bằng khai thác sai lầm
Để dạy học bằng việc khai thác các sai lầm các giáo viên cần lưu ý một
số vấn đề sau:
Thứ nhất, giáo viên phải là người có chuyên môn tốt, kiến thức vững vàng Đối với mỗi bài toán có thể có nhiều cách giải khác nhau, đặc biệt với các học sinh giỏi luôn tìm ra các cách giải sáng tạo, đòi hỏi người giáo viên phải nhanh nhạy, phải nghiên cứu và đưa ra các các kết luận đúng về lời giải
đó Đồng thời giáo viên phải dự đoán được trước các sai lầm mà học sinh có thể gặp phải ở mỗi thời điểm, mỗi chủ đề trong quá trình học tập Chỉ có chuyên môn tốt thì giáo viên mới chủ động trong mọi tình huống của quá
Trang 32Thứ ba, trong mọi biện pháp dạy học thì tính giáo dục phải được chú trọng Giáo viên nên lấy sự phát triển nhân cách học sinh làm mục tiêu cho các biện pháp, giúp học sinh thấy được tầm quan trọng của sự chính xác trong lời giải, tránh được các sai lầm khi sai lầm chưa xuất hiện Tính giáo dục giúp học sinh xác định được động cơ học tập môn Toán, có ý chí trong học Toán, giải Toán Học sinh không ngại khó, biết kiên trì và cẩn thận để đi đến lời giải đúng Ngoài ra, tính giáo dục còn góp phần hình thành các thói quen tốt cho học sinh như: Biết tự kiểm tra việc làm của mình, phủ định sai lầm của chính mình và giúp người khác nhận ra sai lầm và điều quan trọng là mọi sai lầm đều có thể sửa chữa được nếu tìm ra nguyên nhân và có ý chí khắc phục
Trang 3323
Kết luận chương 1
Vấn đề khai thác các sai lầm trong giải toán để phát triển tư duy phê phán cho học sinh là một phương pháp hay và hiệu quả trong dạy học Nghiên cứu ở chương 1 cho phép chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
- Tư duy phê phán là một trong ba loại tư duy cơ bản cần phát triển cho học sinh trong quá trình dạy học
- Để phát triển tư duy phê phán cho học sinh thì việc khai thác các sai lầm trong giải toán là cách tiếp cận hiệu quả
- Học sinh còn mắc nhiều sai lầm trong giải toán nên giáo viên cần hệ thống lại các sai lầm đó để giúp học sinh phát hiện, sửa chữa, tránh mắc phải trong quá trình học tập
- Giáo viên phải phân tích được nguyên nhân dẫn đến các sai lầm của học sinh, từ đó có thể dự đoán các sai lầm khi nó chưa xảy ra để đưa ra lời giải đúng cho một bài toán
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận của vấn đề phát triển tư duy phê phán bằng cách khai thác các sai lầm trong giải toán của học sinh giúp tác giả có thêm cơ sở khoa học và phân tích thực trạng việc dạy và học chủ đề Tổ hợp - Xác suất bằng cách khai thác các sai lầm ở chương 2
Trang 34
24
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC CHỦ ĐỀ TỔ HỢP – XÁC SUẤT BẰNG CÁCH KHAI THÁC SAI LẦM TRONG GIẢI TOÁN
ĐỂ PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHÊ PHÁN CHO HỌC SINH
2.1 Dạy học chủ đề Tổ hợp - Xác suất trong trường phổ thông
2.1.1 Vai trò và ý nghĩa của chủ đề Tổ hợp - Xác suất trong chương trình môn Toán trung học phổ thông
Theo chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, chủ đề Tổ hợp – Xác suất được trình bày là một chương (Chương II) của sách giáo khoa Đại số & Giải tích 11 Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể thì Xác suất thống kê là một trong ba mạch kiến thức chính và được đưa vào xuyên suốt từ lớp 2 đến lớp 12
Xu thế chung của giáo dục Toán học phổ thông trên thế giới hiện nay là tăng cường thực hành ứng dụng cho học sinh, vì vậy đa số các nước trên thế giới đã lựa chọn các tri thức Toán học có nhiều ứng dụng thực tiễn vào giảng dạy như Thống kê Toán và Lý thuyết xác suất Theo Vũ Đình Hòa: “ Sự chuyển hướng xây dựng Toán học hiện đại dựa trên cơ sở của lý thuyết tập hợp được mở ra ở cuối thế kỷ XIX Một trong những ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của lý thuyết tập hợp là lý thuyết tính toán với tập hợp hữu hạn như: Tổ hợp, hoán vị, chỉnh hợp,…Các bài toán Tổ hợp là một bộ phận quan trọng của Toán học, có nội dung rất phong phú và nhiều ứng dụng trong thực tiễn khoa học kỹ thuật cũng như trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta”[8]
Các kiến thức về Tổ hợp - Xác suất có mặt ở rất nhiều bộ môn, là một trong những khoa học nền tảng của các khoa học và có rất nhiều ứng dụng vào bài toán thực tiễn Chính vì vậy, dạy học chủ đề Tổ hợp – Xác suất ngày càng có vị trí quan trọng trong môn Toán nói chung và môn Toán ở bậc phổ thông nói riêng
Trang 3525
2.1.2 Nội dung chủ đề Tổ hợp - Xác suất trong chương trình môn Toán trung học phổ thông
2.1.2.1 Nội dung của chủ đề Tổ hợp - Xác suất
Trong sách giáo khoa Đại số & Giải tích 11, chủ đề Tổ hợp - Xác suất được trình bày trọn vẹn ở chương II với các bài cụ thể và số tiết như sau:
Bài 1: Quy tắc đếm (2 tiết)
Bài 2: Hoán vị - Chỉnh hợp - Tổ hợp (3 tiết)
Bài 3: Nhị thức Niu - tơn (2 tiết)
Bài 4: Phép thử và biến cố (2 tiết)
Bài 5: Xác suất của biến cố (3 tiết)
Ngoài 5 bài trên thì có thêm 1 tiết thực hành sử dụng máy tính cầm tay trong giải toán Tổ hợp - Xác suất và 1 tiết Ôn tập chương
2.1.2.2 Mục tiêu cần đạt được khi dạy học chủ đề Tổ hợp - Xác suất
Mục tiêu cụ thể của từng bài được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1 Mục tiêu các bài học của chủ đề Tổ hợp – Xác suất
- Học sinh vận dụng được quy tắc cộng, quy tắc nhân vào các bài toán đếm
- Học sinh chủ động, hợp tác, tự giác trong học tập
- Cẩn thận trong tính toán
tổ hợp
- Vận dụng các công thức tính số các hoán vị, chỉnh hợp, tổ hợp vào các bài toán cụ thể
- So sánh, phân biệt được hoán vị, chỉnh hợp, tổ hợp
- Rèn luyện tư duy khái quát hóa
- Học sinh chủ động, hợp tác, tự giác trong học tập
- Cẩn thận trong tính toán
Trang 36- Viết được tam giác
pa - xcan
- Khai triển được nhị thức bất kỳ theo công thức khai triển nhị thức Niu - tơn
- Tính được hệ số bất kỳ trong khai triển nhị thức Niu - tơn
- Học sinh chủ động, hợp tác, tự giác trong học tập
- Cẩn thận trong khai triển nhị thức
- Học sinh mô tả được không gian mẫu và các biến cố của một phép thử
- Phát biếu các biến
cố dưới dạng mệnh
đề
- Học sinh chủ động, hợp tác, tự giác trong học tập
- Nêu được định nghĩa hai biến cố độc lập và công thức nhân xác suất
- Học sinh tính được các xác suất của một biến cố theo định nghĩa cổ điển
- Sử dụng các công thức cộng, công thức nhân xác suất vào các bài toán
- Học sinh chủ động, hợp tác, tự giác trong học tập
- Cẩn thận trong tính toán
2.1.3 Thực trạng về một số sai lầm thường gặp khi giải bài toán chủ đề Tổ hợp - Xác suất
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy học sinh thường gặp các sai lầm sau khi giải toán chủ đề Tổ hợp - Xác suất:
2.1.3.1 Học sinh nhầm lẫn giữa chỉnh hợp và tổ hợp, nhầm lẫn giữa quy tắc cộng và quy tắc nhân
Trang 3727
Đây là sai lầm phổ biến nhất của học sinh khi giải toán Tổ hợp - Xác suất Nguyên nhân dẫn đến sai lầm này là do học sinh chưa nắm vững khái niệm tổ hợp và chỉnh hợp, khái niệm quy tắc cộng và quy tắc nhân, chưa phân biệt được điểm khác nhau giữa tổ hợp và chỉnh hợp, khi nào dùng quy tắc cộng và khi nào dùng quy tắc nhân nên không biết áp dụng vào từng trường hợp cụ thể
Sau đây là một số ví dụ cho sai lầm loại này:
Ví dụ 1 Lớp 10A có 30 học sinh Có bao nhiêu cách chọn ra 3 bạn học
sinh làm ban cán sự lớp trong đó có 1 bạn làm lớp trưởng, một bạn làm bí thư
và một bạn làm lớp phó?
Lời giải
Số cách chọn ra 3 học sinh trong số 30 học sinh vào ban cán sự lớp chính là số tổ hợp chập 3 của 30 phần tử Do đó số cách chọn là C303 4060
Phân tích sai lầm: Giáo viên có thể đặt câu hỏi gợi ý để học sinh có
thể tự nhận ra sai lầm trong lời giải trên như sau: Giả sử đã chọn được 3 học sinh vào ban cán sự lớp rồi thì việc phân công 3 bạn đó vào các chức vụ lớp trưởng, bí thư, lớp phó có tạo ra các cách chọn khác khau không? Vậy lời giải trên sẽ phải điều chỉnh như thế nào cho đúng?
Lời giải đúng: Số cách chọn ra 3 học sinh trong số 30 học sinh và phân
công vào 3 chức vụ khác nhau là số chỉnh hợp chỉnh hợp chập 3 của 30 phần
tử, vậy số cách chọn là A303 24360
Ví dụ 2 Trong lớp 10B có 10 học sinh nam và 6 học sinh nữ giỏi văn
nghệ Hỏi có bao nhiêu cách chọn ra 3 học sinh nam và 3 học sinh nữ để ghép thành 3 đôi biểu diễn văn nghệ?
Lời giải
Lời giải 1: Số cách chọn 3 hs nữ là C cách 63
Số cách chọn 3 hs nam là C cách 103
Trang 38Số cách ghép 3 hs nam và 3 hs nữ để được 3 đôi là 3! cách
Số cách chọn theo yêu cầu đề bài là C C63 103.3! 14400 cách
Lời giải 3: Là lời giải đúng cho bài toán
2.1.3.2 Sai lầm khi giải phương trình về chỉnh hợp, tổ hợp và không xét điều kiện
Nguyên nhân của sai lầm là do học sinh hay quên các điều kiện để có
Trang 39Học sinh làm bài như trên thì biến đổi đúng nhưng kết luận nghiệm sai
do không đặt điều kiện để chỉnh hợp và tổ hợp có nghĩa, điều này sẽ dẫn đến chọn sai đáp án với đề thi trắc nghiệm như hiện nay và hs sẽ mất điểm câu này mặc dù biết làm
Bổ sung cho lời giải trên như sau: Điều kiện của bất phương trình (1) là
3,
x x Do đó tập nghiệm của (1) là S 3;4
2.1.3.3 Học sinh chưa nắm vững mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và cú pháp của ngôn ngữ Tổ hợp - Xác suất
Ví dụ 4 Từ các chữ số 0; 1; 2; 3 có thể lập được bao nhiêu số tự
nhiên có 5 chữ số trong đó chữ số 1 có mặt 2 lần và các chữ số còn lại chỉ
Vậy số các số thỏa mãn yêu cầu bài toán là 3.4! 72 số
Phân tích sai lầm
Bài giải trên mắc 2 sai lầm Thứ nhất, nếu coi 2 số 1 là 2 phần tử khác nhau thì chọn a1 có 4 cách Thứ hai, hai vị trí nào đó của 2 chữ số 1 sẽ cho hai hoán vị giống nhau nên các số sẽ bị trùng
Trang 4030
Theo lập luận trên thì số các số thỏa mãn bài toán là 4.4! 48
2 số
2.1.3.4 Sai lầm do xét thiếu các trường hợp của bài toán
Đây cũng là sai lầm thường gặp khi giải toán xác suất, học sinh thường mắc sai lầm này trong các bài toán có nhiều trường hợp mà không xét hết các khả năng có thể xảy ra của bài toán hoặc đưa về xét biến cố đối mà phát biểu biến cố đối sai
Ví dụ 5 Trong hộp kín chứa 5 quả cầu xanh, 4 quả cầu đỏ và 3 quả
cầu vàng, lấy ngẫu nhiên 3 quả cầu Tính xác suất để lấy được 3 quả cầu có
Gọi A là biến cố: “Lấy được 3 quả cầu có đủ 3 màu”
Ta suy ra A là biến cố: “ Lấy được 3 quả cầu cùng màu”
A xảy ra khi lấy được 3 quả cầu màu xanh hoặc 3 quả cầu màu đỏ hoặc
3 quả cầu màu vàng Ta có 3 3 3
Lời giải đúng
Ta có 3
12 220