Lí do chọn đề tài Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo phần định hướng về nội dung giáo dục có yêu cầu: “Hoạt động trải nghiệm và
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tiêu chí tổ chức các HĐTN 11 Bảng 2.1 Phân phối chương trình các bài thuộc chương kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm hoá học 12 THPT 27 Bảng 2.2 Kế hoạch tổ chức 28 Bảng 2.3 Chuẩn bị của giáo viên 30 Bảng 2.4 Mục tiêu dạy học và các hoạt động trải nghiệm của chủ đề kim loại kiềm, ứng dụng, tái chế và vấn đề bảo vệ môi trường 31 Bảng 2.5 Nhiệm vụ thực hiện dự án nghiên cứu TCVL của kim loại kiềm của nhóm 1( chủ đề 1)……… ………….36 Bảng 2.6 Nhiệm vụ thực hiện nghiên cứu TCHH của kim loại kiềm của nhóm
2 (chủ đề 1)……… 36 Bảng 2.7 Sản xuất kim loại kiềm ảnh hưởng đến môi trường và ứng dụng của kim loại kiềm trong thực tiễn của nhóm 3( chủ đề 1)……… 37 Bảng 2.8 Mục tiêu dạy học và các hoạt động trải nghiệm của chủ đề kim loại kiềm thổ và cuộc sống 45 Bảng 2.9 Nhiệm vụ thực hiện dự án nghiên cứu TCVL của kim loại kiềm thổ của nhóm 1( thuộc chủ đề 2)……… 48 Bảng 2.10 Nhiệm vụ thực hiện nghiên cứu TCHH của kim loại kiềm thổ của nhóm 2 ( thuộc chủ đề 2)………49 Bảng 2.11 Nhiệm vụ tìm hiểu ứng dụng, trạng thái tự nhiên và ảnh hưởng của kim loại kiềm thổ và hợp chất của chúng của nhóm 3( thuộc chủ đề 2)…….50 Bảng 2.12 Mục tiêu dạy học và các hoạt động trải nghiệm của chủ đề Nhôm
và vấn đề môi trường 59 Bảng 2.13 Nhiệm vụ thực hiện dự án nghiên cứu TCHH của nhôm của nhóm 1( thuộc chủ đề 3)………68 Bảng 2.14 Nhiệm vụ thực hiện ứng dụng của nhôm của nhóm 2………….69 Bảng 2.15 Nhiệm vụ thực hiện dự án sản xuất kim loại ảnh hưởng đến môi trường và ứng dụng của kim loại trong thực tiễn cuộc sống của nhóm 3 ….70 Bảng 2.16 Phương pháp và công cụ đánh giá HĐTN 74 Bảng 2.17 Phiếu đánh giá (dành cho HS đánh giá lẫn nhau)……….77 Bảng 2.18 Phiếu tự đánh giá dành cho HS……….78 Bảng 2.19 Bảng kiểm quan sát dành cho giáo viên đánh giá năng lực tự học của học sinh và học sinh tự đánh giá lẫn nhau thông qua hoạt động trải nghiệm 1 Bảng 2.20 Thiết kế phiếu tự đánh giá kết quả học tập hoặc sản phẩm của học sinh 2 Bảng 2.21 Ma trận thiết kế bài kiểm tra……….…………83
Trang 6Bảng 3.1 Chất lượng môn Hóa học năm học 2018-2019 của trường THPT Bình Minh 10 Bảng 3.2 Chất lượng môn Hóa học năm học 2018-2019 của trường THPT Kim Sơn C 11 Bảng 3.3 Số liệu kết quả thực nghiệm 12 Bảng 3.4 Điểm trung bình tiêu chí đánh giá năng lực tự học của học sinh…90 Bảng 3.5 Điểm bài kiểm tra lớp đối chứng và lớp thực nghiệm trường THPT Kim Sơn C……….… 92 Bảng 3.6 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích kết quả tổng hợp các bài kiểm tra của Trường THPT Kim Sơn C………93 Bảng 3.7 Điểm bài kiểm tra lớp đối chứng và lớp thực nghiệm trường THPT Bình Minh………94 Bảng 3.8 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích kết quả tổng hợp các bài kiểm tra của Trường THPT Bình Minh……….……96
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Chu trình 4 bước của David Kolb……….……… 12
Biểu đồ 1.1 Mức độ tham gia xây dựng hoạt động dạy học trải nghiệm trong quá trình dạy………21
Biểu đồ 1.2 Một số hình thức dạy học trải nghiệm 22
Biểu đồ 1.3 Mức độ quan tâm của HS đến việc PTNL tự học 23
Biểu đồ 1.4 Đánh giá của HS về lợi ích của việc PTNL tự học 23
Hình 2.1: HS làm thí nghiệm 69
Hình 2.2: HS đến khu vực nhà máy nuôi thủy sản tại địa phương và lấy mẫu nước 74 Hình 2.3: Máy móc bị hoen gỉ và thiết bị không sử dụng bị thải ra môi trường 74
Hình 2.4: HS sau khi trải nghiệm thực tế trình bày sản phẩm của nhóm mình 74
Biểu đồ 3.1: Đường lũy tích điểm kiểm tra lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trường THPT Kim Sơn C……….…93
Biểu đồ 3.2 Đường lũy tích điểm kiểm tra lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trường THPT Bình Minh 19
Trang 91.4 Dạy học phát triển năng lực tự học………16
1.4.1 Năng lực tự học……… ……….16
1.4.2.Quan hệ giữ dạy học trải nghiệm và phát triển năng lực tự học cho học sinh……… ……….20
1.5 Điều tra thực trạng tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học cho HS… 21
1.5.1.Mục đích khảo sát……… …….21
1.5.2 Cách tiến hành khảo sát……… …21
1.5.3 Đối tượng điều tra……… ………21
1.5.4 Kết quả điều tra khảo sát……….…………21
Tiểu kết chương 1……….………25
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH……… … 26
2.1 Phân tích mục tiêu, nội dung và đặc điểm dạy học chương kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm Hoá học 12 trung học phổ thông……… 26
2.1.1 Mục tiêu……… 26
2.1.2 Cấu trúc nội dung kiến thức và phân phối chương trình……… … 26
2.2 Mục tiêu tổ chức hoạt động trải nghiệm……… … 28
2.3 Xây dựng và tổ chức hoạt động trải nghiệm……….….28
2.3.1 Mục đích……….…29
2.3.2 Chuẩn bị……….….30
2.3.3 Thời gian tiến hành……….…………31
2.3.4 Phiếu học tập đối với học sinh ( phụ lục 3) ………31
2.4 Quy trình tổ chức trải nghiệm tại các cơ sở……… …31
2.4.1.Thiết kế chủ đề trải nghiệm với nội dung kiến thức chương kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm cho học sinh……… ………31
2.4.2 Mục đích……….……70
2.4.3 Thực hiện buổi trải nghiệm……….…………71
2.4.4 Trình bày kết quả………73
2.4.5 Đánh giá hoạt động trải nghiệm……… …74
2.5 Thiết kế công cụ đánh giá năng lực tự học cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm………75
2.5.1 Cơ sở thiết kế công cụ đánh giá……… …75
2.5.2 Thiết kế công cụ đánh giá năng lực tự học của học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm………76
2.5.3 Thiết kế bài kiểm tra……… …83
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo phần định hướng về nội dung giáo dục có yêu cầu: “Hoạt động trải nghiệm và hướng nghiệp là hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học khác nhau để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai” [3]
Năng lực tự học (TH) là một trong ba năng lực cốt lõi của các môn học cần đạt được trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay do đó đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) phải hướng tới phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học ( NLTH) cho người học Đây là một trong những yêu cầu bắt buộc trong đào tạo cho học sinh (HS) ở trường phổ thông nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước
Sự đổi mới PPDH đang trong quá trình thay đổi từ giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ dạy học lấy người thầy làm trung tâm chuyển sang lấy người học làm trung tâm Để thực hiện được điều đó, yếu
tố quan trọng là phải đổi mới PPDH theo lối "truyền thụ kiến thức một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất người học [25]
Một trong các PPDH tích cực theo hướng phát triển năng lực (PTNL) người học có thể áp dụng là tổ chức các hoạt động trải nghiệm (HĐTN) học tập, giúp HS
tự khám phá những kiến thức mới thông qua các hoạt động thực tiễn , qua đó HS có khả năng vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống thực tiễn
Dạy học Hoá học thông qua HĐTN là một trong các phương pháp khá hiệu quả phát huy tính chủ động, TH của HS HĐTN, hướng nghiệp là hoạt động giáo
Trang 12dục được thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12, ở cấp tiểu học thường gọi là HĐTN, ở cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông (THPT) thường gọi là HĐTN, hướng nghiệp” [5]
Nếu áp dụng được các HĐTN ở trường phổ thông sẽ góp phần tăng được sự phấn khởi, khơi dậy sự sáng tạo, khuyến khích và động viên người học tự giác tìm kiếm, học bằng nhiều cách, tự mình tổ chức và xử lý thông tin thay vì lệ thuộc hoàn toàn vào người thầy Chính vì vậy việc thay đổi PPDH để nâng cao năng lực TH cho HS là rất cần thiết và phù hợp với xu thế giáo dục hiện nay
Tuy nhiên, thực trạng việc áp dụng HĐTN trong dạy học ở Việt Nam hiện nay mới bắt đầu được thực hiện rộng rãi ở cấp học tiểu học, với quy mô nhỏ Các cấp học trung học cơ sở và THPT còn hạn chế chưa được triển khai sâu rộng, còn ít trường THPT áp dụng PPDH này, một phần do thời gian, địa điểm hay cách thức tổ chức tốn nhiều thời gian ảnh hưởng đến kế hoạch chung của chương trình môn học Với trường THPT Bình Minh và trường THPT Kim Sơn C – Kim Sơn – thuộc địa phận tỉnh Ninh Bình hiện nay, việc tổ chức các HĐTN trong dạy học còn rất hạn chế, nhất là với môn Hóa học Nội dung các HĐTN giúp nâng cao NLTH cho HS nhất là HS THPT chưa được nghiên cứu và đề cập đúng mức, do đó chúng tôi lựa
chọn đề tài: “ Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức dạy học trải nghiệm chương kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm Hoá học 12 trung học phổ thông” làm luận văn nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Phát triển NLTH cho HS thông qua tổ chức dạy học trải nghiệm tại các cơ sở thực tiễn các nhà máy và cơ sở nuôi thủy hải sản thuộc địa phận tỉnh Ninh Bình gắn với nội dung kiến thức chương kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Hóa học ở trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng cách thức tổ chức các HĐTN cho HS ở trường phổ thông thuộc địa
phận tỉnh Ninh Bình với các nhà máy, vùng biển nuôi hải sản gắn với nội dung kiến
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
TỰ HỌC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TRẢI NGHIỆM 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, trong và ngoài nước về tổ chức HĐTN trong dạy học Hiện nay, trong việc phát triển chương trình giáo dục thì HĐTN được xem là một trong những quan điểm chủ đạo của hầu hết các nước trên thế giới
từ tiểu học đến THPT
1.1.1 Trên thế giới
Việc đổi mới PPDH nói chung cũng như việc sử dụng các HĐTN cho HS đã được các nước có nền giáo dục hiện đại áp dụng từ lâu, ở tất cả các cấp bậc học Có thể kể đến như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ hay Australia…trong đó Mỹ được biết đến như một quốc gia tiên phong trong việc đưa HS đến gần với thực tế hơn Lý thuyết học tập trải nghiệm của David Kolb là một trong những lý thuyết giáo dục được biết đến nhiều nhất trong giáo dục hiện nay Lý thuyết này trình bày một phần hoặc toàn
bộ nội dung học tập bằng cách sử dụng một chu trình học tập Đây được coi là giai đoạn đầu tiên trong việc nâng cao nhận thức của HS về các phương pháp tiếp cận kiến thức mới Lí thuyết do David Kolb đề xuất là sự kế thừa và phát triển lí thuyết học tập có liên quan đến kinh nghiệm của các nhà Tâm lí học, Giáo dục học như: John Dewey (1859-1952), Mary Parker Follett (1868-1933); Kurt Lewin (1890-1947); Jean Piaget (1896-1980); Lev Vygotsky (1896-1934); Carl Jung (1875-1961); Carl Rogers (1902-1987); Paulo Freire (1921-1997) và nhiều nhà nghiên cứu khoa học khác Các nghiên cứu về mô hình học tập trải nghiệm của những tác giả trên được David Kolb coi như cơ sở khoa học nền tảng để xây dựng nên lí thuyết của mình
TH được biết đến từ thời xa xưa khi giáo dục còn chưa được công nhận là một ngành khoa học Ngày nay, các công trình nghiên cứu trên thế giới đã nghiên cứu và đi đến khẳng định về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc TH Nhiệm
vụ PTNL TH cho HS đã ngày càng khẳng định vị trí quan trọng , cấp thiết, cần được quan tâm chú trọng hơn Montaigne từng khuyên rằng: “Tốt hơn là ông thầy
Trang 16để cho học trò tự học, tự đi lên phía trước, nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt tốc độ của thầy cho phù hợp với sức học của trò” [7]
J.H Pestalozzi (1746-1872) và A.Disterweg (1790-1866) trong các công trình nghiên cứu của mình luôn hướng tới phát triển khả năng TH cho HS, tạo động lực cho HS tự khám phá, tự tìm tòi và ghi nhận kiến thức một cách chủ động, tích cực Để làm được vậy, các nhà khoa học đều chú trọng đến con đường thực hiện hay cụ thể hơn là chú trọng phát triển trí tuệ, khả năng độc lập, sáng tạo của người học
Sau đó, các tác giả Benn, S I, Holec H.với các bài viết của mình cũng bàn luận về vấn đề này nhưng cho tới sau chiến tranh thế giới thứ II, vấn đề TH này mới được nghiên cứu và khắc phục được những yếu điểm thời kì trước đó Để có được
sự khác biệt đó phải kể đến sự tiến bộ khá nhanh của các nghành khoa học cơ bản cũng như khoa học giáo dục, chính từ những sự tiến bộ này làm cho nhận thức con người thay đổi từ thụ động tiếp thu kiến thức từ GV hay quá chú trọng người học
mà bỏ quên người dạy đến kết hợp hài hoà cả hai chủ thể, vai trò của người dạy không bị mất đi mà lại phát huy được tính tích cực, chủ động của người học
1.1.2 Ở Việt Nam
Hội nhập với sự phát triển của thế giới vấn đề TH ở Việt Nam hiện nay là một nhiệm vụ mang tính cấp thiết với những nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau của nhiều tác giả như Nguyễn Cảnh Toàn, Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim, Thái Duy Tuyên, Bùi Văn Nghị,… trong đó GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn như một tấm gương sáng về TH ở nước ta Từ khi còn là GV trung học đến khi có học vị cao như ngày nay ông luôn đề cao tinh thần TH, cho ra đời nhiều công trình, bài báo khoa học về vấn đề TH Quan điểm của ông cũng như các tác giả khác đều cho rằng TH
là nội lực ẩn bên trong mỗi người học, người dạy là ngoại lực,là yếu tố tác động bên ngoài giúp phát huy được cái nội lực bên trong của người học Chính vì vậy, người dạy và người học là hai chủ thể riêng biệt nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, vai trò của cả hai chủ thể đều rất quan trọng
Các tác giả Nguyễn Nghĩa Dán, Giáo sư Cao Xuân Hạo, Tác giả Dương Thị Linh (2010) lần lượt với các công trình nghiên cứu:“Vì năng lực tự học sáng tạo của học
Trang 17sinh” trong Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 2/1998; “Bàn về chuyện tự học” trong
Kiến thức ngày nay, số 396, năm 2001; Một số vấn đề về hoạt động tự học của sinh
viên trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Giáo dục, số Đặc biệt tháng 1 cũng có những
phân tích cụ thể về vấn đề TH
Để hoạt động TH của người học đạt kết quả cao thì không thể không áp dụng các PPDH tích cực trong đó có dạy học thông qua tổ chức các HĐTN HĐTN xuất hiện trong một số văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong những năm gần đây Cùng với việc "dạy học tích hợp liên môn", "dạy học gắn với sản xuất kinh doanh", "dạy học với di sản" thì trải nghiệm là việc được nhiều nhà trường thực hiện
Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, HĐTN được xếp vào nhóm môn học bắt buộc có phân hóa, trải từ tiểu học đến THPT Trong kế hoạch giáo dục
mà ban soạn thảo chương trình xác định, ngoại trừ lớp 10 trải nghiệm dự kiến 70 tiết/năm học, còn các lớp khác từ 1 đến 12 đều được phân bổ 105 tiết trong một năm học [3]
Trong tọa đàm phản biện dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể,
TS Phạm Đỗ Nhật Tiến (nguyên chuyên gia giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng mục đích chính của HĐTN là biến kĩ năng, kiến thức thái độ của người học thành các năng lực đặc thù Vì vậy đó không thể là môn học riêng biệt mà phải gắn liền với từng môn học, là một phần của giáo dục môn học Tuy nhiên, việc lên
kế hoạch và tiến hành áp dụng HĐTN nhằm nâng cao năng lực, cụ thể là NLTH cho
HS vẫn đang chỉ dùng ở cấp bậc tiểu học, các cấp học khác vẫn đang còn bỏ ngỏ hoặc thực hiện chưa đúng, chưa đầy đủ, mang lại hiệu quả học tập chưa cao Bên cạnh đó cũng có một số tác giả khác như Nguyễn Thị Liên, Bùi Ngọc Diệp, Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Mậu Đức… nghiên cứu về nội dung này
Tổ chức các HĐTN trong dạy học Hóa học là cần thiết bởi ngoài các năng lực chung, dạy học Hóa học còn cần trải nghiệm đặc thù môn học như năng lực nghiên cứu khoa học và năng lực thực hành hóa học, năng lực tính toán, năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn Hóa học, năng lực vận dụng kiến thức Hóa học vào thực tiễn Do vậy, để tổ chức dạy học Hóa học một cách hiệu quả, cần thiết phải
Trang 18thiết kế các HĐTN trong dạy học môn Hóa học cho HS theo định hướng PTNL
1.2 Tổng quan về dạy học trải nghiệm
1.2.1 Khái niệm hoạt động
Theo quan điểm lý thuyết về hoạt động, A.N.Leontiev đưa ra khái niệm về hoạt động là một tổ hợp các quá trình con người tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích thỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả của hoạt động là sự cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể, trong hoạt động chú trọng nhiều đến vai trò của chủ thể hoạt động [21]
Chủ thể ở đây là con người chủ động tổ chức, điều khiển các hoạt động ,hành vi, tinh thần, trí tuệ, tác động vào đối tượng như sự vật, tri thức… Hoạt động của con người được phân biệt với hoạt động của loài vật ở tính mục đích của hoạt động
Hoạt động giáo dục ở đây bao gồm hoạt động tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp, như các hoạt động theo chủ đề giáo dục, hoạt động hướng nghiệp giúp HS định hướng nghề nghiệp tương lai Hoạt động giáo dục nghề giúp HS nắm vững kiến thức, kĩ thuật, công nghệ có khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
1.2.2 Khái niệm hoạt động dạy học
Trước đây, quan niệm hoạt động sư phạm chỉ là hoạt động của GV Người
GV đóng vai trò trung tâm trong suốt quá trình dạy và học Trong hoạt động sư phạm, người GV chủ động từ việc chuẩn bị nội dung giảng dạy, PPDH đến những lời hướng dẫn, những câu hỏi, v.v và HS chỉ tiếp nhận một cách thụ động, học thuộc để “trả bài” Tuy nhiên quan niệm này hiện nay đã thay đổi do phát triển của
xã hội, từ góc độ khoa học sư phạm, quan niệm trên chỉ chú trọng hoạt động một mặt, hoạt động của người dạy mà không thấy được mặt kia của hoạt động sư phạm
là hoạt động của người học [11]
Hoạt động học, chủ thể là người học, hướng vào đối tượng là việc học, tiếp nhận và chuyến hóa, phát triển thành những giá trị mới cho chính bản thân mình Hoạt động dạy, lấy người dạy làm chủ thể và việc dạy làm đối tượng chịu sự điều khiển của người dạy Hoạt động dạy và hoạt động học đều phải được tiến hành trên
cơ sở xác lập những mục tiêu đã định trước, nội dung dạy học và các điều kiện triển
Trang 19khai Mục tiêu dạy học là những mong đợi về kết quả mà người học cần phải thực hiện được [14]
1.2.3 Khái niệm trải nghiệm
Trải nghiệm là tổng hợp những tri thức, kĩ năng hoặc những quan sát được tích lũy thông qua việc tham gia hoặc tiếp xúc với những sự vật, sự kiện Trong cuộc sống, trải nghiệm được hình thành qua những hoạt động, sự kiện mà con người đã tham gia Trải nghiệm là thành quả giá trị không chỉ để chúng ta học tập mà còn là những khám phá thú vị để ta trưởng thành hơn, bản lĩnh hơn trong cuộc sống [ 25]
Tác giả Hoàng Phê lại viết trong từ điển tiếng Việt là trải nghiệm được hiểu đơn giản nhất là những gì con người từng gặp qua thực tế, từng biết, từng chịu Trải nghiệm mang đến cho con người kinh nghiệm phong phú bởi khi trải nghiệm, ta đã trải qua con đường “thử” và “sai” Người trải nghiệm nhiều sẽ có nhiều kiến thức, kinh nghiệm sống cho bản thân, giúp con người hình thành năng lực, phẩm chất sống Trải nghiệm có nhiều dạng khác nhau, tùy thuộc vào các tiêu chí khác nhau như phạm vi diễn ra hoạt động, đặc điểm của hoạt động hay nội dung giáo dục thông qua hoạt động
Nhà triết học nổi tiếng người Nga Solovyev V.S cho rằng trải nghiệm là những kiến thức kinh nghiệm thực tế đúc rút ra của mỗi cá nhân; là thể thống nhất chặt chẽ bao gồm kĩ năng và kiến thức[21] HĐTN là kết quả của sự tương tác giữa thế giới xung quanh với con người, được truyền từ đời này sang đời khác Theo quan điểm của các nhà khoa học giáo dục thì trải nghiệm là những tồn tại khách quan tác động vào con người thông qua các giác quan, mang lại cho con người những cảm xúc đặc biệt giúp con người cảm nhận và tri giác được nó, học tập nó từ
đó rút ra kinh nghiệm cho bản thân và ứng dụng trong cuộc sống, hình thành nên các kĩ năng, kĩ xảo[21]
Trải nghiệm là kiến thức kinh nghiệm thực tế, là thể thống nhất bao gồm cả kiến thức và kĩ năng, là sự tương tác giữa con người và thế giới, được truyền từ thế
hệ này qua thế hệ khác Các HĐTN là không giống nhau ở mỗi người Tuỳ thuộc vào cảm nhận và tri giác của mỗi người đối với thế giới xung quanh mà kinh nghiệm thu được cũng không giống nhau
Trang 201.2.4 Khái niệm dạy học trải nghiệm
Từ khái niệm dạy học và khái niệm trải nghiệm ta có dạy học trải nghiệm là hoạt động giáo dục nhằm truyền thụ vốn tri thức, kinh nghiệm trong xã hội loài người, giúp người học tổng hợp thông qua quá trình quan sát, tiếp xúc với sự vật, hiện tượng Dạy học trải nghiệm chú trọng vào việc tổ chức các HĐTN giúp người học tự rút ra được kinh nghiệm cho bản thân HS có thể tìm hiểu những ứng dụng của Hóa học trong đời sống thực tiễn, có thể kết nối kiến thức, kĩ năng học phần kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ và nhôm với các vấn đề thực tiễn đặt ra Điều đó
có thể dẫn tới đạt được một số tiêu chí của năng lực đặc thù trong môn Hóa học ở trường phổ thông
Từ các hoạt động sẽ hình thành các khái niệm, định nghĩa tương ứng trong chu trình trải nghiệm, quan sát, phân tích các ứng dụng thực tiễn để có thể hiểu được tính chất ứng dụng của các chất Từ đó giải thích được tính chất đó dựa trên đặc điểm cấu tạo trong điều kiện phù hợp tương ứng với các HĐTN hay tổng hợp so sánh tính chất hóa học (TCHH) giữa các chất vào tình huống cụ thể để giải thích hiện tượng qua đó có thể đưa ra đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, khắc phục vướng mắc những vấn đề trong thực tiễn Để làm rõ những vấn đề đã đặt
ra, nhóm nghiên cứu tiến hành xây dựng và tổ chức các HĐTN thăm quan thực tế trong dạy học phần kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ và nhôm nhằm mục đích nâng cao hiệu quả dạy và học ở trường phổ thông
Theo ý kiến của tác giả Trần Thị Kim Cúc và Nguyễn Phan Lâm Quyên đăng
trên tạp chí Giáo dục số 453 thì DHTN là quá trình mà người dạy khuyến khích, tạo điều kiện cho người học nghiên cứu, trải nghiệm các hoạt động thực tế nhằm giúp người học hình thành tri thức mới [6]
Để thu được kết quả trong học trải nghiệm thì người học sẽ phải tổng hợp kết quả từ trí tuệ, tinh thần, thể chất cũng như cảm nhận của bản thân trong quá trình tham gia và thực hiện trải nghiệm Vì vậy người học cần phải tự chủ, tự lực, phát huy tất cả khả năng TH và sáng tạo của bản thân nhằm đạt được kết quả như người học mong muốn
Trong quá trình trải nghiệm, người học được tham gia tích cực vào việc
Trang 21nghiên cứu và khám phá, thúc đẩy bản thân tìm tòi, tự đặt câu hỏi và tìm đáp án cho câu hỏi của bản thân Nâng cao tinh thần tự giác, tự chịu trách nhiệm về hành động của mình Trải nghiệm không chú trọng đến kết quả của người học phải hoàn mỹ
mà hướng tới sự phát triển nhận thức của người học trong suốt quá trình Nâng cao được nhận thức của người học là nền tảng cho sự ý thức, tự PTNL trong tương lai
Từ những khái niệm trên, tác giả đưa ra mục tiêu tổ chức HĐTN trong bảng dưới đây
Bảng 1.1 Tiêu chí tổ chức các HĐTN
MỤC TIÊU TỔ CHỨC Hình
ở trường và ngoài xã hội
về các hoạt động của bản thân
Xây dựng, hình thành
và phát triển NLTH
Hình thành tính kỉ luật
và trách nhiệm cao
Xây dựng ý thức cộng đồng từ các hoạt động mang tính nhóm, tập thể
Xây dựng thói quen học tập có
tổ chức,
có kế hoạch cụ thể
1.3 Chu trình hoạt động trải nghiệm
1.3.1 Chu trình dạy học trải nghiệm theo David Kolb
Theo David Kolb học tập trải nghiệm là quá trình kiến thức được tạo ra thông qua sự chuyển đổi kinh nghiệm Kiến thức là thành quả của sự kết hợp giữa kinh nghiệm có được và chuyển đổi kinh nghiệm theo chu trình 4 bước như sơ đồ
Trang 22Sơ đồ 1.1 Chu trình 4 bước của David Kolb
Từ chu trình học tập trải nghiệm theo David Kolb thấy rằng quá trình tạo ra kiến thức có thể thông qua sự chuyển đổi kinh nghiệm Hình thức học tập này cũng phù hợp với định hướng đổi mới giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông của Việt Nam hiện nay là dạy học theo định hướng PTNL Ứng dụng chu trình dạy học trải nghiệm của David Kolb trong dạy học Hóa học có thể mô tả theo các bước như sau:
Bước thứ nhất kinh nghiệm rời rạc:
Đây là giai đoạn những kiến thức, những kinh nghiệm được HS tiếp thu, tích lũy trong quá trình học tập nghiên cứu của mình, là lúc phát sinh các dữ liệu trong chu trình học tập trải nghiệm Đây là bước mà thông thường được liên kết với các trò chơi hoặc các hoạt động tham quan dã ngoại Những vấn đề cần thiết tại giai đoạn này của chu trình học tập trải nghiệm là phát triển các dữ liệu chung Hay nói cách khác là những tiếp thu bước đầu chưa tạo nên một thể thống nhất hoàn toàn
Bước thứ hai quan sát có tư duy:
Đây là giai đoạn chủ yếu của chu trình học tập, GV lập kế hoạch đảm bảo để thực
Trang 23hiện được các giai đoạn tiếp theo Giai đoạn này HS tái cấu trúc các mẫu và sự tương tác với các hoạt động từ các báo cáo HS sử dụng tư duy, phân tích và đánh giá các sự kiện, hiện tượng dựa trên những tri thức và kinh nghiệm rời rạc về vấn
đề
Bước thứ ba khái quát hóa:
HS khái niệm hóa những kinh nghiệm đã tổng hợp được qua hai bước trên.Từ đó
HS tạo ra những khái niệm mới rồi chuyển đổi kinh nghiệm thành tri thức của mình
Bước thứ tư thử nghiệm:
Giai đoạn cuối của chu trình nhằm đạt được mục đích của HĐTN đã được thiết kế, những tri thức được tổng hợp sẽ được áp dụng vào đời sống thực tiễn để kiểm chứng cũng như phát triển hay giải quyết vấn đề gặp phải trong thực tế
1.3.2 Quy trình tổ chức các hoạt động trải nghiệm
Từ các bước của dạy học trải nghiệm Kolb tác giả đưa ra quy trình tổ chức các HĐTN Quy trình tổ chức các HĐTN là việc làm quan trọng, quyết định tới sự thành công của các HĐTN Qui trình tổ chức các HĐTN phải đảm bảo khai thác được những gì HS đã từng trải nghiệm, qua đó hình thành kinh nghiệm mới, kiến thức, kĩ năng, thái độ và năng lực cho HS Có thể tóm tắt quy trình các bước tổ chức HĐTN trong dạy học hóa học như sau:
Bước 1: Căn cứ mục tiêu chương trình xác định yêu cầu tổ chức HĐTN
Bước 2: Đặt tên cho hoạt động làm sao tạo ấn tượng cho HS
Bước 3: Từ các yêu cầu cần đạt được của chương trình, xác định mục tiêu của các hoạt động
Bước 4: Từ điều kiện cụ thể và mục tiêu xác định nội dung , phương pháp và hình thức của các hoạt động
Bước 5: Lập kế hoạch hoạt động để thực hiện mục tiêu đã đề ra
Bước 6: Thiết kế cụ thể chi tiết các hoạt động, tiến trình, thời gian cụ thể của từng nhóm, của từng cá nhân trong mỗi hoạt động
Bước 7: Kiểm tra lại nội dung từng hoạt động, điều chỉnh sai sót các khâu nếu có, các bước của toàn bộ hoạt động và hoàn thiện chương trình hoạt động
Bước 8: Lưu trữ kết quả hồ sơ HS: phiếu đánh giá, báo cáo HĐTN và kết quả của
Trang 24sản phẩm hoạt động
1.3.3 Ý nghĩa của hoạt động trải nghiệm đối với học sinh THPT
Dạy học trải nghiệm được tổ chức nhằm rút ngắn khoảng cách giữa lí thuyết
và thực tế thông qua các HĐTN trong đó có hoạt động thực tế tại các nhà máy, cơ
sở sản xuất gắn liền với thực tế địa phương Sau khi hoàn thành hoạt động này, HS
sẽ hình thành được một số năng lực cần thiết đáp ứng nhu cầu của nền giáo dục đổi mới nói riêng và thời đại 4.0 nói chung Bên cạnh đó, HĐTN giúp HS biết trân trọng giá trị cuộc sống và hình thành NLTH nhằm phục vụ cho chính cuộc sống và
tự định hướng được cho tương lai của bản thân HS
Hào hứng, phấn khởi hơn: HS được tham gia, chủ động trong các hoạt động của
bản thân Việc tự chủ thúc đẩy HS tự giác nghiên cứu, tìm tòi kiến thức để giải thích những vấn đề thực tế trong cuộc sống, tạo thêm động lực cho HS học hỏi và phát triển bản thân Việc thay đổi môi trường học tập từ gò bó trên lớp học ra môi trường
mở cũng làm tăng sự thích thú, tính tò mò khám phá của HS hơn
Học sinh luôn thấy thích thú khám phá thực tế địa phương: Việc tìm hiểu chính quê
hương, địa phương nơi mình sinh sống luôn tạo một hứng thú lớn đối với HS nhất là
HS còn vận dụng kiến thức lý thuyết vào giải quyết thực tế, chứng tỏ kiến thức của bản thân với những người xung quanh
Qua các buổi trải nghiệm tại cơ sở giúp HS hiểu hơn về môi trường, tiềm năng phát triển của địa phương từ đó xây dựng được tình yêu quê hương và định hướng nghề nghiệp trong tương lai
Phát triển một số kĩ năng, bộc lộ năng khiếu cho HS: Kĩ năng TH, làm việc nhóm,
lập kế hoạch, quản lý tiến độ công việc, phân công công việc, quan sát, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về hành động…và phát triển một số năng khiếu của bản thân như văn nghệ, thuyết trình, phỏng vấn…
Thông qua những buổi học trải nghiệm và thực tế các em còn được học hỏi, phát huy giá trị của bản thân, biết tôn trọng, lắng nghe, có tinh thần trách nhiệm, dũng
cảm và cầu thị, tăng sự tương tác giữ bản thân với môi trường xung quanh, mang đến lợi ích vượt trội
Cung cấp môi trường học tập an toàn: Việc trải nghiệm ở chính địa phương nơi HS
Trang 25sinh ra và lớn lên sẽ là một môi trường khá an toàn khi HS ít nhiều đã được tiếp xúc
tìm hiểu Cũng chính vì môi trường học tập thân quen mà việc rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành cũng đơn giản, dễ dàng hơn, tạo điều kiện giúp HS
hoàn thành công việc tốt hơn
1.3.4 Các hình thức của dạy học trải nghiệm cho học sinh
1.3.4.1 Trải nghiệm trong nhà trường
a) Câu lạc bộ Hoá học
Các hoạt động thường thấy trong câu lạc bộ thường rất phong phú, đa dạng
Có thể là tổ chức những buổi biểu diễn thí nghiệm vui, ảo thuật về Hoá học, tổ chức các hoạt động giáo dục STEM hay những buổi giao lưu thảo luận về một chủ đề cụ thể (các phương pháp học tập Hoá học hiệu quả, những ứng dụng của Hoá học trong đời sống, ) [21]
b) Hội thi/ cuộc thi về Hoá học
Hội thi/cuộc thi có thể được tổ chức với quy mô khác nhau như trong lớp học, trường học hay giữa các trường với nhau bằng nhiều phương thức khác như: Thi hùng biện, thuyết trình về sản phẩm Hoá học của nhóm, thi vẽ tranh, nghiên cứu khoa học cấp trường, thi làm thí nghiệm vui, làm những sản phẩm ý nghĩa tặng người thân như son môi, xà phòng…Khi tổ chức các cuộc thi này không quan trọng sản phẩm làm ra phải hoàn mỹ mà điều quan trọng là khi tổ chức hội thi là phải vui
vẻ, sôi động, có tính thi đua sáng tạo và đậm chất “hoá học”, sau cuộc thi HS học được những gì cho bản thân, phát triển được những điểm mạnh nào, còn GV quan sát, nhận xét, đánh giá HS từ đó đưa ra các hướng giải quyết tốt hơn tất cả vì sự tiến
bộ của HS [21]
c) Nghiên cứu khoa học
Đối với HS đây là hoạt động khá quan trọng, là bước nền tảng cho các hoạt động nghiên cứu khoa học sau này Nghiên cứu việc ứng dụng của các nội dung đó trong thực tiễn, tìm hiểu quy trình, giai đoạn, các kiến thức được sử dụng để tạo ra ứng dụng/ sản phẩm, từ đó chỉ ra các kiến thức liên quan trong các môn học thuộc lĩnh vực Mục đích chính của loại hình hoạt động này là giúp HS tìm hiểu về cách thức hoạt động, vận hành của một hệ thống nhất định thay vì chỉ đơn thuần thu thập
Trang 27Những quan điểm trên cho thấy TH là quá trình mang tính cá nhân và do cá nhân tự thực hiện Để tiến hành được công việc này, cá nhân phải tự giác, tích cực, huy động các năng lực trí tuệ để lĩnh hội những vấn đề đặt ra bằng hành động của chính mình để đạt được mục đích Tổng hợp các quan niệm về TH của các tác giả
và để phù hợp với các hướng nghiên cứu, chúng tôi đưa ra định nghĩa về TH như sau: TH là tự mình suy nghĩ, hoạt động một cách tự giác, chủ động, tự lực và tích cực để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng và thái độ học tập
1.4.1.2.Các hình thức của tự học
Như đã đề cập ở trên thì TH có các hình thức TH khác nhau như: TH có sự hướng dẫn trực tiếp, TH có hướng dẫn gián tiếp và TH không có hướng dẫn Tuy nhiên các hình thức này có sự đan xen lẫn nhau có thể kể đến như:
a Tự học thông qua hướng dẫn trực tiếp
TH trên lớp có sự hướng dẫn của GV: Hình thức TH này phụ thuộc khá nhiều vào GV GV là người giám sát cũng đồng thời là người đề ra kế hoạch, định hướng HS TH theo phương hướng và cách thức cụ thể, phù hợp cho sự PTNL của
HS Thực hiện theo hình thức này cũng đem lại một số kết quả nhất định nhưng HS vẫn còn khá thụ động vào sự điều khiển của GV
TH với nguồn tài liệu, hướng dẫn của GV Với HS THPT thì hình thức này phù hợp với đối tượng có học lực khá giỏi trở lên hoặc đối tượng ôn luyện HS giỏi
vì hình thức này đòi hỏi khả năng tập trung khá cao của HS Người học thông qua các tài liệu mà GV cung cấp sẽ nghiên cứu, khám phá và tổng hợp thông tin sau đó
GV sẽ củng cố lại những kiến thức đó Hình thức này sẽ mất nhiều thời gian hơn và đòi hỏi sự hợp tác cao của HS
Để giúp HS có thể TH ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ Để thực hiện được hình thức này GV cũng cần cung cấp kiến thức nền tảng trước cho HS Từ những kiến thức đấy HS mới có thể thực hiện được các nhiệm vụ ở nhà như làm bài tập về nhà…
b Tự học không có hướng dẫn
Ngoài việc TH theo sự hướng dẫn của GV, HS cũng cần chủ động nghiên cứu, tìm hiểu thêm các kiến thức bổ trợ và phát triển cho bài học Hoạt động
Trang 28này hoặc do GV định hướng thêm hoặc do HS tự tìm hiểu phù hợp với mục đích của HS
c Tự học thông qua hướng dẫn gián tiếp
Với hình thức này, cả GV và HS vẫn có thể trao đổi thông tin, giải đáp thắc mắc hay làm bài kiểm tra… dù khoảng cách địa lý xa
Như vậy HS có thể TH theo nhiều hình thức khác nhau để chiếm lĩnh kiến thức Trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu tập trung vào nghiên cứu hoạt động
TH của HS ngoài lớp học trải nghiệm thực tiễn và trong lớp học dưới sự hướng dẫn của GV thông qua tài liệu hướng dẫn TH và thực tiễn thực tế tại các cơ sở sản xuất
ở địa phương HS học tập
Ngoài ra, HS còn TH theo sở thích, đam mê của bản thân Với HS THPT thì nhu cầu học rất cụ thể, họ thường học nhằm phục vụ cho mục đích thi của mình vì thế quá trình TH cũng chỉ tập trung chính vào những môn thi đó Việc học theo sự đam mê, sở thích riêng còn rất hạn chế
1.4.1.3 Cấu trúc của năng lực tự học
Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, NLTH được xác định là một trong 3 năng lực chung cốt lõi cần được hình thành và phát triển cho HS trong tất cả các môn học và ở các cấp học
Đánh giá kết quả TH và điều chỉnh quá trình TH là khả năng phân tích,tổng hợp, so sánh, đối chiếu và rút ra kết luận đối với kết quả mà bản thân nhận được từ
đó lại xây dựng và hoàn thiện hơn các kế hoạch TH tiếp theo nhằm đạt mục tiêu nâng cao kết quả học tập của bản thân
Từ đó, chúng tôi đưa ra bảng 1.2 về cấu trúc của NLTH thành phần ứng với
HS THPT như sau:
Trang 30đổi cũng như mong muốn được hỏi HS có NLTH luôn có ý thức cầu tiến trong học tập, đặt mục tiêu cao nhất là trao dồi tri thức cho bản thân
b) Về tính cách: có động cơ học tập rõ ràng, khoa học; có tính độc lập cũng như kỉ luật cao Người TH đặt mình vào một khuân khổ nhất định và luôn đề cao ý thức rèn luyện bản thân, luôn nhắc nhở bản thân thực hiện được những gì đã đề ra; tự tin cũng như hoạt động có mục đích, luôn thích học và tò mò ở mức độ cao HS có NLTH luôn đặt ra những câu hỏi cho bản thân và cho mọi người xung quanh từ đó tìm cách để giải đáp thắc mắc của bản thân Khi giải đáp được rồi người học lại càng hứng thú học tập, đào sâu tìm kiếm kiến thức hơn Quá trình này ở người TH
là lâu dài, bền bỉ Cũng chính vì vậy mà họ thường rất kiên nhẫn, không dễ bỏ cuộc c) Về kỹ năng: có kỹ năng thực hiện các nhiệm vụ học tập, tìm kiếm và xử lý thông tin , quản lý thời gian và lập kế hoạch thực hiện cho bản thân
1.4.2.Quan hệ giữ dạy học trải nghiệm và phát triển năng lực tự học cho học sinh
Chương trình tổng thể môn Hoá học có nêu rõ: Trong dạy học môn Hoá học, giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động tìm tòi, khám phá, thực hành khoa học, đặc biệt là tra cứu, xử lí các nguồn tài nguyên hỗ trợ tự học (trong
đó có nguồn tài nguyên số), thiết kế và thực hiện các thí nghiệm, các dự án học tập
để nâng cao năng lực tự chủ và tự học ở học sinh Do đó, HĐTN trong dạy học và
hoạt động nhằm phát triển NLTH cho HS có mối liên hệ mật thiết, khăng khít và qua lại lẫn nhau HĐTN trong đó GV giữ vai trò định hướng, dẫn dắt giúp HS khám phá thế giới xung quanh, tác động tích cực vào quá trình TH, giúp HS cảm thấy thú
vị, hào hứng, khơi dậy sự tò mò và tự tìm hiểu thêm của người học Các HĐTN lý thú, phù hợp với đối tượng học tập sẽ làm nền móng vững chắc cho quá trình học tập và TH tập của người học nói chung và HS THPT nói riêng, khiến họ luôn tự đặt
ra các câu hỏi từ đó lại xác định nhiệm vụ hoặc kế hoạch nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi đó Với tâm lý thích khám phá của đối tượng HS THPT, hoạt động học tập trải nghiệm sẽ là một hoạt động thú vị, HS có thể khám phá, nghiên cứu khoa học
về những vấn đề xung quanh họ Khi họ đã cảm thấy thích thú sẽ tự giác tìm hiểu, hăng say nghiên cứu từ đó NLTH cũng được phát triển hơn, hình thành cho bản thân tư duy Hoá học
Trang 32Tuy phần lớn thầy/ cô có đánh giá về dạy học trải nghiệm ( 56,1%) nhưng mới chỉ có 33,3% GV thường xuyên áp dụng PPDH này trong quá trình dạy học của bản thân Nội dung và hình thức tổ chức hoạt động dạy và học trải nghiệm chưa phong phú, phần lớn mới chỉ áp dụng thông qua trải nghiệm trên sách, báo, phòng thí nghiệm
Biểu đồ 1.2 Một số hình thức dạy học trải nghiệm
Kết quả khảo sát HS với việc học trải nghiệm và phát triển NLTH cho thấy: phần lớn HS quan tâm (46,7%) và rất quan tâm ( 35,3%) đến việc phát triển NLTH của bản thân ( biểu đồ 1.1) tuy nhiên đa số lại mới chỉ có dự định xây dựng kế hoạch học tập cho bản thân nhưng chưa thực hiện Với 41,3% HS đã được học trải nghiệm nhưng rất ít, HS cũng gặp phải một số khó khăn để phát triển NLTH của bản thân thông qua HĐTN và chịu tác động lớn nhất từ các yếu tố tiêu cực bên ngoài (số liệu điều tra cụ thể xem Phụ lục 1)
%
Số lượng
Trang 33Biểu đồ 1.3 Mức độ quan tâm của HS đến việc PTNL tự học
Biểu đồ 1.4 Đánh giá của HS về lợi ích của việc PTNL tự học
Nhận xét chung
Đa số GV đều nhận thấy rằng việc phát triển NLTH cho HS là rất cần thiết
và quan trọng nhưng việc sử dụng các PPDH nhằm phát triển NLTH cho HS hiện
nay vẫn còn hạn chế do những nguyên nhân sau:
- Cở sở học tập còn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới Việc tổ chức cho
HS tham gia các HĐTN còn gặp nhiều khó khăn về thời gian, địa điểm, cách tổ chức và sắp xếp
- GV chưa được tập huấn, còn thiếu kinh nghiệm về cách tổ chức các HĐTN trong dạy học nhằm PTNL TH của HS
HS chưa có thói quen TH cũng như chưa có phương pháp TH hiệu quả,
54.9
37.8
7.3
0 0
Không cần
sự hướng dẫn của giáo viên
Rèn luyện
kĩ năng tự học suốt đời
Chủ động
về thời gian
Trang 34thiếu sự hướng dẫn của GV và tài liệu TH do một số nguyên nhân:
- HS còn ỷ lại, thụ động và phụ thuộc nhiều vào GV
- Các hoạt động học tập trên lớp chưa thú vị, hấp dẫn để thu hút HS xây dựng
kế hoạch TH cho bản thân
- Thiếu phương pháp, kĩ năng để TH hiệu quả, tâm lý ngại thay đổi làm HS không muốn thay đổi phương pháp học tập của bản thân
Như vậy, để khắc phục hiện trạng trên GV cần có những biện pháp phát triển NLTH hiệu quả cho HS để HS không cảm thấy khó khăn trong quá trình TH đồng thời hình thành phương pháp luyện tập TH góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường phổ thông hiện nay
Trang 35Tiểu kết chương 1
Từ việc tổng quan tình hình nghiên cứu tác giả nhận thấy rằng việc phát triển NLTH trong dạy học Hoá học cho HS là một vấn đề quan trọng, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Theo định hướng đó trong chương này tác giả đã nghiên cứu và trình bày một số vấn đề về cơ sở lý luận của đề tài với những nội dung chính như tổng quan về dạy học trải nghiệm: đưa ra các quan điểm khác nhau về khái niệm hoạt động ; dạy học PTNL; thực trạng tổ chức HĐTN trong dạy học cho HS tại huyện Kim Sơn, Ninh Bình
Qua đó tác giả nhận thấy, dạy học định hướng phát triển NLTH và dạy học trải nghiệm chưa được quan tâm và tổ chức một cách có hiệu quả Đứng trước thực trạng trên thì việc nghiên cứu, lựa chọn các chủ đề trải nghiệm để phát triển NLTH cho HS là cần thiết Từ đó, tác giả tiếp tục triển khai nghiên cứu nội dung chính của
đề tài trong chương 2
Trang 36CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM NHẰM PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH
2.1 Ph n tích mục tiêu, nội dung và đ c điểm dạy học chương kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm Hoá học 12 trung học phổ thông
2.1.1 Mục tiêu
Mục tiêu dạy học các môn khoa học tự nhiên nói chung và môn Hoá học nói riêng là giúp HS dần hình thành được thế giới quan khoa học , qua phương pháp quan sát và thực nghiệm dần phát triển một số năng lực như năng lực quan sát
tự nhiên, giải quyết vấn đề, NLTH và năng lực chuyên biệt như năng lực hoá học, góp phần giúp HS hứng thú hơn trong học tập, rèn luyện tính trung thực, thái độ tôn trọng và ứng xử với thiên nhiên phù hợp với nhu cầu phát triển bền vững của xã hội; dần hình thành năng lực và khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với hoàn cảnh, gia đình và sở thích
Trong học phần hóa vô cơ lớp 12, chương kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm là chương thứ 2 sau chương đại cương về kim loại, đây là chương học đi sâu phân loại, phân tích để chỉ ra những TCVL và hóa học đặc chưng của từng nhóm kim loại Cụ thể, trong chương này HS cần tìm hiểu về một số đặc điểm của TCVL như vị trí trong bảng tuần hoàn, số electron lớp ngoài cùng, độ dẫn điện, độ nóng chảy… và TCHH đặc trưng cho từng nhóm kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm
2.1.2 Cấu trúc nội dung kiến thức và phân phối chương trình
a Nội dung kiến thức
- Bài 25: Kim loại kiềm và hợp chất quan trọng của kim loại kiềm Ở bài này
kiến thức chủ yếu tập trung vào vị trí, cấu hình electron lớp ngoài cùng của kim loại kiềm để từ đó suy ra TCHH đặc chưng của kim loại kiềm là tính khử Tính chất này được chứng minh thông qua các phản ứng hóa học với nước, axit và phi kim Từ TCVL, TCHH, bài học đưa ra phương pháp điều chế và ứng dụng của một số kim loại kiềm cũng như hợp chất của chúng Trong đó trọng tâm là đặc điểm cấu tạo
Trang 37nguyên tử kim loại kiềm và các phản ứng đặc trưng của kim loại kiềm, phương pháp điều chế kim loại kiềm và TCHH của một số hợp chất quan trọng của kim loại kiềm như NaOH (kiềm mạnh) ; NaHCO3
- Bài 26: Kim loại kiềm thổ và hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ Nội
dung kiến thức bài này tập trung vào vị trí, cấu hình electron lớp ngoài cùng và TCVL của kim loại kiềm thổ; TCHH ( tính khử mạnh) , ứng dụng của Ca(OH)2, CaCO3, CaSO4.2H2O, các khái niệm, tính chất, tác hại và biện pháp xứ lý với nước cứng
- Bài 27: nhôm và hợp chất của nhôm Bài này giới thiệu về vị trí , cấu hình lớp
electron ngoài cùng, TCVL , trạng thái tự nhiên, ứng dụng của nhôm từ đó liên hệ đến TCHH của nhôm Bên cạnh đó, bài học còn cung cấp nội dung kiến thức về TCVL, hóa học và ứng dụng một số hợp chất của nhôm như Al2O3, Al(OH)3 , muối nhôm, tính chất lưỡng tính của Al2O3, Al(OH)3
- Bài 28, 29 là các bài luyện tập nhằm giúp HS ôn lại kiến thức đã được học ở bài
trước đó và cung cấp thêm một số kiến thức nâng cao về TCHH cũng như năng lượng oxi hóa, số oxi hóa, thế điện cực chuẩn của kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm và hợp chất của chúng
- Bài 30: Thực hành tính chất của natri, magie, nhôm và hợp chất của chúng Ở
bài này HS sẽ biết được mục đích, cách tiến hành, kĩ thuật thực hiện một số thí nghiệm như: phản ứng của Na, Mg và Al với nước; nhôm với dung dịch kiềm, với dung dịch axit loãng; MgO với nước;tính tan của muối CaSO4 và BaSO4
b phân phối chương trình các bài
Bảng 2.1 Phân phối chương trình các bài thuộc chương kim loại kiềm, kim loại
kiềm thổ, nhôm hoá học 12 THPT
Bài 25: Kim loại kiềm và
Trang 38c Mối liên hệ kiến thức với hoạt động trải nghiệm
Chương kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm là chương có nội dung kiến thức rất phù hợp để xây dựng các HĐTN nhất là các HĐTN tại địa phương như:
- Các sản phẩm của Ca, Mg, vôi… giúp điều chỉnh độ pH thích hợp, soda lạnh giúp nâng độ kiềm
- Các muối KCl, CaCl2, MgCl2… nâng khoáng K, Ca, Mg trong nước xử dụng khi tôm lột xác giúp tôm nhanh lột và nhanh hình thành vỏ mới
- PAC (Poly Aluminium Chloride), một loại muối biến tướng của nhôm clorua giúp lắng tụ chất hữu cơ hòa tan trong nước
- KMnO4 giúp khử các kim loại nặng, thải độc nước, oxi hóa và bào mòn vỏ vi khuẩn có trong môi trường nước của các khu nuôi thủy sản…
2.2 Mục tiêu tổ chức hoạt động trải nghiệm
HĐTN chương kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm hoá học 12 THPT nhằm thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển NLTH cho HS hai trường THPT
là trường THPT Bình Minh và THPT Kim Sơn C thông qua các hình thức tổ chức hoạt động dạy học trải nghiệm tại lớp học, trải nghiệm tại phòng thí nghiệm và trải nghiệm thực tế tại cơ sở sản xuất, nuôi thuỷ sản trên địa bàn huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
2.3 X y dựng và tổ chức hoạt động trải nghiệm
Bảng 2.2 Kế hoạch tổ chức
1 Tìm hiểu các kiến thức về TCVL và TCHH của kim loại kiềm
Phân chia nhiệm vụ cho các nhóm chuẩn bị
Trang 39Bài 25: Kim loại kiềm và
hợp chất quan trọng của
kim loại kiềm
cho nội dung tiết 2
2 Thực hiện các HĐTN theo nhóm: nhóm thực hành chứng minh TCHH, nhóm tìm hiểu ứng dụng và phương pháp sản xuất, nhóm tìm hiểu biện pháp làm giảm tác hại của kim loại kiềm tới môi trường
Bài 26: Kim loại kiềm thổ
và hợp chất quan trọng
của kim loại kiềm thổ
1 Tìm hiểu vị trí, cấu hình eclectron cũng như TCVL và TCHH của kim loại kiềm thổ
2 Thực hành kiểm chứng TCHH của kim loại kiềm thổ đã dự đoán ở tiết 1 và tìm hiểu về ứng dụng của kim loại kiềm và hợp chất của chúng
3 Ứng dụng TCVL, TCHH giải thích một số tình huống trong thực tế và đưa ra một số biện pháp bảo vệ môi trường giảm thải ô nhiễm từ các sản phẩm có chứa kim loại kiềm thổ và hợp chất của chúng
Bài 28: nhôm và hợp chất
của nhôm
1 Tìm hiểu vị trí, cấu hình electron của nhôm Tìm hiểu TCVL, TCHH của nhôm và làm một số thí nghiệm kiểm chứng
2 Tìm hiểu ứng dụng của nhôm và hợp chất của nhôm với thực tiễn cũng như cách làm giảm tác động tiêu cực của chúng tới môi trường
2.3.1 Mục đích
- Đề xuất qui trình tổ chức HĐTN cho HS tại các nhà máy và cơ sở nuôi thủy hải sản gắn với nội dung kiến thức chương kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm nhằm phát triển NLTH cho HS ở trường phổ thông
- Trải nghiệm thực tế giúp HS hiểu hơn về các cơ sở nuôi tôm công nghiệp và
Trang 40những thế mạnh cũng như hạn chế về kinh tế của địa phương
- Tăng khả năng sáng tạo đồng thời nâng cao tinh thần yêu địa phương, quê hương
và ý thức bảo vệ môi trường của HS
- Có thể làm tài liệu thao khảo cho GV và HS ở các trường phổ thông khi tổ chức các HĐTN gắn với học tập cho HS