1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật qua thực tiễn tại thành phố hải phòng

81 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm khắc phục quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật một cách có hệ thống, hiệu quả, em chọn đề tài “Pháp luật về chăm sóc sức kh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG VIỆT THẮNG

PH¸P LUËT VÒ CH¡M SãC SøC KHáE cho NG¦êI KHUYÕT TËT

qua THùC TIÔN T¹I THµNH PHè H¶I PHßNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG VIỆT THẮNG

PH¸P LUËT VÒ CH¡M SãC SøC KHáE cho NG¦êI KHUYÕT TËT

qua THùC TIÔN T¹I THµNH PHè H¶I PHßNG

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8380101.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ THỊ DUNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo

độ tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để cho tôi có thể bảo vệ luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn

NGƯỜI CAM ĐOAN

Hoàng Việt Thắng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo Đại học Quốc gia Hà Nội đã cung cấp những kiến thức quý báu và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ và nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo, tiến sĩ Đỗ Thị Dung - người

đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Em xin cảm ơn Trung tâm Giám định Y khoa thành phố Hải Phòng và Trung tâm công tác xã hội thành phố Hải Phòng đã giúp em thu thập số liệu trên địa bàn Trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp trong cơ quan nơi em công tác, gia đình, người thân và tất cả bạn bè - những người luôn động viên và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

Học viên

Hoàng Việt Thắng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục bảng, biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 7

1.1 Một số vấn đề lý luận về pháp luật chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật 7

1.1.1 Khái quát chung về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật 7

1.1.2 Sự điều chỉnh của pháp luật về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 13

1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 23

1.2.1 Quy định về chăm sóc sức khỏe ban đầu 23

1.2.2 Quy định về khám bệnh, chữa bệnh 24

1.2.3 Quy định về phục hồi chức năng 25

1.2.4 Quy định về xử lý vi phạm pháp luật về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 27

Kết luận chương 1 31

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 32

2.1 Khái quát về thành phố Hải Phòng và tình hình NKT ở thành phố Hải Phòng 32

Trang 6

2.1.1 Khái quát về thành phố Hải Phòng 32

2.1.2 Tình hình người khuyết tật ở thành phố Hải Phòng 35

2.2 Kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật CSSK NKT tại thành phố Hải Phòng 38

2.2.1 Về thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người khuyết tật 38

2.2.2 Về thực hiện khám bệnh, chữa bệnh cho người khuyết tật 44

2.2.3 Về thực hiện chỉnh hình phục hồi chức năng 44

2.2.4 Thực hiện xử lý vi phạm trong chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật 45

2.3 Một số vấn đề còn tồn tại trong thực hiện pháp luật CSSK NKT tại thành phố Hải Phòng và nguyên nhân 47

2.3.1 Một số tồn tại trong thực hiện pháp luật CSSK NKT tại thành phố Hải Phòng 47

2.3.2 Nguyên nhân của những tồn tại trong thực hiện pháp luật CSSK NKT tại thành phố Hải Phòng 48

Kết luận chương 2 51

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 52

3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 52

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật CSSK NKT 55

3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 57

Kết luận chương 3 68

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASXH An sinh xã hội BHYT Bảo hiểm y tế CSSK Chăm sóc sức khỏe HĐND Hội đồng nhân dân ILO International Labour Oganization NKT Người khuyết tật

PHCN Phục hồi chức năng UBND Ủy ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Số hiệu Tên bảng, biểu đồ Trang

Bảng 2.1 Các lĩnh vực y tế NKT cần được chăm sóc 35 Biểu đồ 2.1 Những hỗ trợ người khuyết tật nhận được khi đi

Biểu đồ 2.2 Người khuyết tật đi phục hồi chức năng ở các

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sức khỏe là vốn quý nhất của con người và toàn xã hội, bởi vậy mà vấn

đề làm thế nào để có một sức khỏe tốt, không có bệnh tật, đảm bảo sống lâu, sống khỏe, sống có ích cho xã hội là mong muốn của tất cả mọi người Vì thế

mà nhu cầu CSSK là nhu cầu quan trọng và tất yếu của con người, điều đó càng cần được quan tâm với đối NKT Do NKT là những người có những khiếm khuyết về mặt thể chất hoặc tinh thần nên những khiếm khuyết này gây

ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày khiến họ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc chăm sóc cho bản thân mình so với người bình thường Cần phải tạo điều kiện để họ vượt qua những khó khăn về tật hay bệnh mới có thể giúp họ hướng tới những cơ hội khác một cách lâu dài Chính vì vậy, việc CSSK cho NKT là vấn đề cần được quan tâm trong xã hội ngày nay

CSSK cho NKT mang một truyền thống nhân đạo to lớn NKT luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (tháng 6 năm 1991) đã khẳng định

“Chính sách xã hội bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh… Chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, tàn tật, mất sức lao động và mồ côi” Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI chỉ rõ “Từng bước xây dựng chính sách bảo trợ xã hội đối với toàn dân theo phương châm

“Nhà nước và nhân dân cùng làm”, mở rộng và phát triển sự nghiệp bảo trợ

xã hội, tạo lập nhiều hệ thống và hình thức bảo trợ xã hội cho những người gặp khó khăn Nghiên cứu bổ sung chính sách, chế độ bảo trợ xã hội phù hợp với quá trình đổi mới và cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội”

Trang 10

Luật NKT năm 2010 thể hiện bước tiến quan trọng trong việc cung cấp khung pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền của NKT Đặc biệt là quyền lợi về CSSK được quy định tại chương III của luật này Sau hơn mười năm thực hiện, những quy định của Luật NKT đã dần dần đi vào cuộc sống, giúp đỡ NKT có được sự quan tâm và CSSK bước đầu cũng như tạo cho họ những điều kiện để tiếp thu những phương pháp CSSK hiện đại, góp phần ổn định sức khỏe của NKT

Tuy nhiên, vấn đề CSSK NKT còn tồn tại không ít hạn chế do những quy định của pháp luật còn chồng chéo nhau và chưa cụ thể nên việc thực hiện đang còn gặp nhiều khó khăn Các quy định về pháp luật CSSK đối với NKT còn nằm rải rác trong nhiều văn bản luật khác, quy định mang tính chung chung, chưa có các biện pháp CSSK phù hợp với từng đối tượng khuyết tật

Hải Phòng là thành phố cảng quan trọng, trung tâm công nghiệp, cảng biển lớn nhất phía Bắc Việt Nam, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học, thương mại và công nghệ của vùng duyên hải Bắc Bộ Đây là thành phố lớn thứ 3 Việt Nam, lớn thứ 2 miền Bắc sau Hà Nội

và là một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương tại Việt Nam, là đô thị loại

I, trung tâm cấp vùng và cấp quốc gia cùng với Đà Nẵng và Cần Thơ Tổng dân số ở Hải Phòng thời điểm hiện tại là khoảng hơn 2,1 triệu dân, trong đó NKT là 38.073 người tức chiếm khoảng hơn 1,9% Tỷ lệ này dự kiến tăng lên cùng với xu hướng già hóa dân số

Nhằm khắc phục quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật một cách có hệ thống, hiệu

quả, em chọn đề tài “Pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật qua thực tiễn tại thành phố Hải Phòng” nhằm đề xuất giải pháp sửa đổi, bổ

sung một số quy định về pháp luật CSSK NKT và giải pháp nhằm nâng cao

Trang 11

hiệu quả thực hiện pháp luật CSSK NKT tại thành phố Hải Phòng theo hướng phù hợp với sự phát triển về kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh hội nhập hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

CSSK cho NKT đã được nhiều nhà khoa học, luật gia, học viên… quan tâm nghiên cứu Đã có một số công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến vấn đề này Cụ thể:

- Giáo trình Luật NKT năm 2011 của Trường đại học Luật Hà Nội do

Phó Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Hữu Chí chủ biên;

- Luận án, luận văn: Các luận án, luận văn đề cập đến nội dung pháp

luật về CSSK cho NKT Đó là Luận án tiến sỹ Luật học “Pháp luật về quyền

của NKT ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” của tác

giả Nguyễn Thị Báo 2009 Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí

Minh năm 2009; Luận văn thạc sĩ luật học đề tài “Bảo vệ quyền của NKT

trong pháp luật lao động Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Hà

Thị Lan khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014; Luận văn thạc sỹ

Luật học “Pháp luật về việc làm cho NKT” của Hồ Thị Trâm năm 2013;

Đồng thời, đến thời điểm này chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về pháp luật CSSK đối với NKT và thực tiễn thực hiện tại Thành phố Hải Phòng

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nhằm nghiên cứu một số vấn đề

lý luận về pháp luật CSSK NKT Trên cơ sở quan điểm về lý luận được nghiên cứu, luận văn tập trung phân tích thực trạng pháp luật về pháp luật CSSK NKT theo quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện pháp luật CSSK NKT tại thành phố Hải Phòng Thông qua việc đánh giá những điểm bất cập của pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về pháp

Trang 12

luật CSSK NKT tại thành phố Hải Phòng, luận văn đề xuất giải pháp sửa đổi, bổ sung một số quy định về pháp luật CSSK NKT và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật CSSK NKT tại thành phố Hải Phòng theo hướng phù hợp với sự phát triển về kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh hội nhập hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:

Một là, nghiên cứu để làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật CSSK

NKT Đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về pháp luật CSSK NKT

Hai là, nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật CSSK

NKT tại thành phố Hải Phòng Từ đó, rút ra những nhận xét về ưu điểm cũng như những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại trong quá trình thực hiện pháp luật CSSK NKT ở thành phố Hải Phòng

Ba là, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật CSSK NKT

và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật CSSK NKT tại thành phố

Hải Phòng

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về pháp luật CSSK NKT Việt Nam dựa trên các quy định của Luật NKT Việt Nam năm 2010 và các luật khác có liên quan như Luật người cao tuổi, Luật khám bệnh, chữa bệnh, Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật bảo hiểm y tế…

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để giải quyết các vấn đề pháp luật về CSSK cho NKT ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện pháp luật CSSK cho NKT tại thành phố Hải Phòng Đồng thời luận văn cũng dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách, pháp luật CSSK cho NKT ở Việt Nam hiện nay

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là: phương pháp phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh, so sánh luật học, lịch sử, tổng kết thực tiễn, đối chiếu, thống kê, hệ thống hóa, dự báo khoa học Các phương pháp này có thể được sử dụng riêng rẽ, có thể được sử dụng kết hợp tùy từng nội dung nhằm đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn làm rõ hơn một số vấn đề lý luận như: khái niệm CSSK cho NKT, ý nghĩa của CSSK cho NKT; khái niệm, nguyên tắc, nội dung điều chỉnh pháp luật về CSSK cho NKT Đồng thời luận văn phân tích, đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về CSSK cho NKT cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật CSSK cho NKT trên địa bàn thành phố Hải Phòng, chỉ ra những bất cập trong quy định và thực tiễn thực hiện pháp luật CSSK cho NKT trên địa bàn thành phố Hải Phòng Luận văn đưa ra được một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật CSSK cho NKT tại thành phố Hải Phòng

Với ý nghĩa khoa học này, tác giả hy vọng luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện và giải quyết chế độ CSSK cho NKT cũng như những người nghiên cứu, học tập về pháp luật NKT nói chung, pháp luật CSSK cho NKT nói riêng Từ đó, nhằm đảm bảo hơn quyền, lợi ích của NKT khi hưởng quyền CSSK, thực hiện mục đích Luật NKT mà Nhà nước đã đặt ra

Trang 14

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về pháp luật chăm sóc sức khỏe người

khuyết tật và quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

Chương 2 Thực tiễn thực hiện pháp luật chăm sóc sức khỏe người

khuyết tật tại thành phố Hải Phòng

Chương 3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả

thực hiện pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật từ thực tiễn tại thành phố Hải Phòng

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CHĂM SÓC

SỨC KHỎE NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ QUY ĐỊNH

CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

1.1 Một số vấn đề lý luận về pháp luật chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

1.1.1 Khái quát chung về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm người khuyết tật

Khái niệm người khuyết tật:

Có nhiều định nghĩa cũng như cách hiểu khác nhau về NKT Theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006 định nghĩa:

NKT bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác

Bên cạnh đó, Khoản 1 Điều 1 Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm của NKT năm 1983 quy định:

NKT dung để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm không phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận

Trước khi Luật NKT năm 2010 có hiệu lực, pháp luật Việt Nam nhìn nhận NKT dưới góc độ “Người tàn tật” Theo quy định của Pháp lệnh Người

tàn tật năm 1998, “người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là

người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến

Trang 16

cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn” Kế thừa các quy định

của Pháp lệnh người tàn tật năm 1998, ngày 17/06/2010, Quốc hội Việt Nam

đã thông qua Luật NKT, có hiệu lực từ 01/01/2011 chính thức sử dụng khái niệm NKT thay cho khái niệm người tàn tật, phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề khuyết tật Theo quy định tại khoản 1

điều 2 luật này, “NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ

thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” Như vậy, dựa theo định nghĩa về

NKT theo Luật NKT, ta thấy:

Thứ nhất, thuật ngữ “người tàn tật” đã được thay thế bằng thuật ngữ

“NKT” Đánh giá về mặt ngôn ngữ thì thuật ngữ “người tàn tật” nghe có vẻ mang lại cảm giác nặng nề hơn thuật ngữ “NKT”, tuy nhiên thì xét về mặt bản chất thì hai thuật ngữ này dường như đồng nhất Sự thay đổi thuật ngữ này, như đã nói ở trên, mặc dù không thay đổi bản chất nhưng có vẻ nó cũng có tác động nhất định tới nhận thức của những người xung quanh

Thứ hai, những NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận

cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật Theo cách hiểu này thì NKT bao gồm cả những người bị khuyết tật bẩm sinh, người bị khiếm khuyết di bệnh tật, tai nạn, thương binh, bệnh binh… Như vậy, luật NKT Việt Nam đã đưa ra khái niệm NKT dựa vào mô hình xã hội, tuy nhiên còn chung chung so với khái niệm trong Công ước về quyền của NKT

Thứ ba, NKT gặp khó khăn trong các hoạt động thường ngày như lao động, sinh hoạt và học tập Có thể thấy, cả trong định nghĩa “người tàn tật” và

“NKT”, các hoạt động “gặp khó khăn” của NKT dường như bị giới hạn trong các hoạt động “lao động, sinh hoạt, học tập” Như vậy, có thể thấy các hoạt động “lao động, sinh hoạt, học tập” nhìn chung đã bao quát đầy đủ các hoạt

Trang 17

động của NKT gặp khó khăn, nhưng trên thực tế, NKT gặp khó khăn trên tất

cả các lĩnh vực đời sống của xã hội chứ không chỉ riêng các hoạt động này

Khái niệm NKT trong Luật NKT đã có bước phát triển mới, tiếp cận với quan niệm thông thường và chuẩn mực quốc tế về NKT (Công ước Quốc

Tế Về Quyền Của Người Khuyết Tật 2006) mà Việt Nam đã ký kết Việc sử dụng từ ngữ “NKT” như vậy nhằm đảm bảo tính nhân văn, không gây mặc cảm, tránh sự phân biệt kỳ thị đối với NKT, đồng thời hàm chứa được đầy đủ hơn đối tượng áp dụng và phù hợp hơn với luật pháp quốc tế

Đặc điểm của người khuyết tật:

- Về sức khỏe, NKT là những người bị khiếm khuyết một hay nhiều

bộ phận cơ thể, hoặc có những rối loạn sinh lý, tâm lý hay một chức năng nào đó Sức khỏe của lao động khuyết tật kém hơn lao động bình thường, khả năng chống lại dịch bệnh thấp, là đối tượng gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp và vận động Đây là một trong những đối tượng cần được Nhà nước và người sử dụng lao động quan tâm nhiều hơn Một thực tế khác không thể phủ nhận là sự đa dạng của khuyết tật với những nguyên nhân hình thành khác nhau (do bẩm sinh, do bệnh tật, do tai nạn, do chiến tranh…), những dạng khuyết tật khác nhau (khuyết tật vận động, khuyết tật cảm giác, khuyết tật trí tuệ…) và những mức độ nặng nhẹ khác nhau Chính điểm này đòi hỏi pháp luật cũng như chính sách về NKT phải có sự chuyên biệt phù hợp với từng dạng khuyết tật

- Về tâm lý, phần lớn NKT đều có mặc cảm về tật nguyền, tự ti, sống cuộc sống bi quan, cô lập với mọi người và thế giới xung quanh Họ cho rằng mình là gánh nặng cho gia đình và xã hội nên thường có tâm lý chán nản, thái

độ bất cần vì có cố gắng nỗ lực cũng khó được ghi nhận Ở những người mà khuyết tật nhìn thấy được, chẳng hạn như khuyết chi, họ có các biểu hiện tâm

lý giống như mặc cảm ngoại hình, tức là sự chú trọng quá mức đến khiếm

Trang 18

khuyết cơ thể đến nỗi gây khổ đau lớn.Họ thường mang tâm lý trốn tránh và

sợ hãi khi thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng như giao lưu gặp gỡ

ở chỗ đông người Họ cảm thấy mình là người thừa, không còn có ích cho xã hội, thậm chí cảm thấy bị Nhà nước bỏ rơi Vì vậy một bộ phận không nhỏ NKT mang tâm lý căm ghét chế độ, căm hận cuộc sống hoặc có xu hướng sống thu mình, không quan tâm tới mọi hoạt động xung quanh Do có cuộc sống khó khăn hơn bình thường và tâm lý cùng điều kiện khác mà một số lượng không nhỏ NKT không gia đình, không có nơi để làm chỗ dựa nên rất cần Nhà nước có những chính sách hỗ trợ riêng cho họ, những con người kém phần may mắn ngoài những trợ cấp về vật chất khi cần thiết Chính những chính sách phù hợp này sẽ tạo cho NKT cơ hội để hòa nhập cộng đồng, thuận lợi trong việc tìm kiếm việc làm, có thu nhập đảm bảo cuộc sống và hơn cả là giải phóng sự ức chế về mặt tâm lý cho họ

- Về hoạt động xã hội, xuất phát từ những đặc thù về tâm lý, NKT được xếp vào đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong nhóm dễ bị tổn thương, là những người yếu thế trong xã hội, họ tham gia hoạt động xã hội rất hạn chế Khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khó khăn cho NKT trong việc tham gia các hoạt động xã hội Những khó khăn càng trở nên trầm trọng hơn

do thái độ tiêu cực của cộng đồng đối với NKT Trong cộng đồng nhiều người

có suy nghĩ coi NKT là “đáng thương”, không có cuộc sống “bình thường”, là

“gánh nặng” của xã hội…

- Về nhận thức pháp luật: NKT là đối tượng chịu sự kỳ thị, phân biệt đối xử từ xã hội Nguyên nhân do nhiều người không hề biết đến quy định của pháp luật về người khuyết tật Sự kỳ thị, phân biệt đối xử diễn ra ở nhiều lĩnh vực: Gia đình, nơi làm việc, giáo dục, hôn nhân gia đình, tham gia hoạt động

xã hội, thậm chí xuất phát từ chính bản thân NKT

Trang 19

1.1.1.2 Chăm sóc sức khỏe người khuyết tật và ý nghĩa của chính sách chăm sóc sức khỏe người khuyết tật

Chăm sóc sức khỏe người khuyết tật

Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật

Đối với NKT, do có những đặc trưng về tình trạng bênh, tật, nên với

họ, khó có thể đạt được những trạng thái thoải mái với tiêu chuẩn của người bình thường Bởi lẽ, mong muốn lớn nhất của họ có lẽ là được khôi phục, hỗ trợ khôi phúc hoặc được thực hiện những kĩ năng để ổn định sức khỏe, có thể

tự thực hiện được những hoạt động sinh hoạt, phục vụ cho chính bản thân, gia đình và xã hội, nhằm tiến đến hòa nhập cộng đồng Vì thế, sức khỏe của NKT

là tình trạng ổn định toàn diện về thể chất, tâm thần, xã hội Theo đó, việc CSSK của NKT cần quan tâm hợp lý đến cả ba mặt: Sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần và sức khỏe xã hội

Điều này đã được chứng minh trong các công ước của WHO cũng như pháp luật các nước, trong đó có Việt Nam đã đặt ra 5 quan điểm cơ bản, chủ yếu chỉ đạo công tác chăm sóc sức khỏe con người, trong đó có NKT, chẳng hạn như: Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội; đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển; thực hiện chăm sóc sức khỏe toàn diện; xã hội hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe; phát triển nhân lực y tế thực hiện chăm sóc sức khỏe Từ đó, chăm sóc sức khỏe NKT bao gồm chăm sóc y tế, chăm sóc ngoài y tế Sự chăm sóc này được hiểu trong mối liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại giữa các yếu tố môi trường bên ngoài (thức ăn, nước uống…) với yếu tố môi trường bên trong (di truyền, gen…); giữa các hoạt động đề phòng sự phát sinh ra bệnh tật, phát hiện sớm bệnh tật đến việc điều trị kịp thời, phục hồi sức khỏe cho NKT

Trang 20

Ý nghĩa của chính sách chăm sóc sức khỏe người khuyết tật

Ý nghĩa xã hội và nhân văn: Là sự chia sẻ, cảm thông của cộng đồng

xã hội với rủi ro của NKT Chế độ này còn thể hiện lòng nhân đạo sâu sắc giữa con người với con người Sự giúp đỡ về các điều kiện vật chất hay tinh thần trong quá trình CSSK ban đầu, khám bệnh, chữa bệnh, PHCN nhằm đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của mọi NKT Từ đó giúp họ khắc phục các bất lợi, khó khăn từ khuyết tật, vượt qua những mặc cảm, tự ti

về ngại hình, về khiếm khuyết để vươn lên khẳng định bản thân, hòa nhập với cộng đồng

Ý nghĩa pháp lý: Thể hiện quyền được CSSK của con người nói chung, đặc biệt là NKT và trách nhiệm của cộng đồng Quyền của NKT đã được quy định trong Tuyên ngôn chung về quyền con người của Liên hợp quốc Đồng thời, được quy định trong Hiến pháp và luật chuyên ngành, pháp luật NKT đã tạo cơ sở để NKT thực hiện quyền được CSSK Vấn đề này hiện nay được quy định cụ thể hơn trong Luật NKT năm 2010 Luật này được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho NKT được thực hiện các quyền của họ, đặc biệt là quyền được CSSK trên thực tế Bên cạnh đó, pháp luật quy định trách nhiệm của Nhà nước, các ban ngành y tế, cộng đồng xã hội trong việc CSSK NKT nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và cong bằng xã hội trong các hoạt động này

Ý nghĩa kinh tế: Tạo điều kiện cho NKT có điều kiện tham gia vào các hoạt động lao động, hoạt động việc làm để sống độc lập, đảm bảo thực hiện các quyền của công dân Khi sức khỏe được đảm bảo, NKT sẽ tìm kiếm việc làm, tham gia lao động để có thu nhập nhằm nuôi sống bản thân và gia đình NKT nếu được CSSK phù hợp, hiệu quả, đúng phương pháp thì NKT cũng là một trong những nguồn nhân lực tiềm tàng cho nhân loại và đất nước như những người bình thường khác Những NKT có lòng tận tụy, trung thành và ý

Trang 21

chí vươn lên trong cuộc sống, trong công việc Sự phấn đấu, nỗ lực của họ là động lực mạnh mẽ để giúp các thành viên khác trong xã hội cũng cố gắng vươn lên Khi có sức khỏe, NKT sẽ có cơ hội để nghiên cứu chế tạo ra nhiều

đồ dùng cần thiết, tạo công ăn việc làm cho những NKT khác Qua đó góp phần xây dựng và phát triển đất nước

1.1.2 Sự điều chỉnh của pháp luật về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật

1.1.2.1 Khái niệm pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật

Trong hệ thống các chế độ đối với NKT, chế độ CSSK là chế độ quan trọng Do vấn đề NKT được pháp luật quốc tế mới đề cập tới vào những năm cuối thế kỷ XX, nên từ đó, cũng như các chế độ khác (chế độ giáo dục, dạy nghề, việc làm, bảo trợ xã hội, văn hóa, thể thao…), chế độ về CSSK NKT cũng mới được quan tâm điều chỉnh Lần đầu tiên, năm 1989, trong Công ước

về quyền trẻ em, Tổ chức Liên hợp quốc quy định vấn đề bảo vệ quyền của trẻ em khuyết tật, trong đó có quyền được CSSK (Điều 23) Sau đó, năm

1991, Liên hợp quốc thông qua văn kiện về Các nguyên tắc bảo vệ người bị bệnh tâm thần và tăng cường CSSK tâm thần Đến năm 2006, Đại hội đồng Liên hợp quốc đánh dấu bước ngoặt quan trọng của việc khẳng định quyền NKT nói chung, quyền được bảo vệ và CSSK nói riêng bằng việc thông qua Công ước quốc tế về quyền NKT Tại Công ước này, ngoài việc đưa ra các định nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc thống nhất nhận thức về NKT, quy định các nguyên tắc chỉ đạo chung, công ước đã liệt kê các quyền con người

có ý nghĩa quan trọng với NKT, trong đó có quyền được CSSK quy định tại các Điều 25 (Y tế), Điều 26 (Hỗ trợ chức năng và PHCN)

NKT mặc dù chỉ là một nhóm thiểu số trong xã hội nhưng họ là một bộ phận dân cư cấu thành nên cộng đồng xã hội Trong suốt một thời gian dài, người ta vẫn cho rằng tình trạng bất lợi, thiệt thòi của NKT là hậu quả không tránh khỏi của sự sút kém về tinh thần, thể chất của NKT Đến nay, cùng với

Trang 22

sự thay đổi của cộng đồng quốc tế trong nhận thức và hành động về vấn đề này, hệ thống pháp luật có những quy định tương thích có hiệu lực cao để đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ của NKT dưới góc độ quyền con người Điều này thể hiện một chân lý đơn giản nhưng quan trọng rằng người nào cũng là con người và họ phải được tôn trọng, bình đẳng như nhau Tương ứng với các quyền của từng cá nhân, cần phải có trách nhiệm bảo vệ, tôn trọng và thực thi các quyền con người Do đó việc tiếp cận nội dung pháp lý liên quan đến NKT cần được giải quyết hài hòa trong mối tương quan về quyền và nghĩa vụ của họ Tuy nhiên, về phương diện lý luận và từ quan điểm tiếp cận so sánh có thể xem xét khái niệm luật NKT dưới góc độ đặc thù của đối tượng là NKT

NKT – trước hết là một con người, nhưng so với những người bình thường họ có những khiếm khuyết cơ thể riêng biệt Do đó, pháp luật về CSSK cho NKT vừa đảm bảo cái chung đồng thời chứa đựng cái riêng Đối với NKT, do có những đặc trưng về tình trạng bệnh, tật, nên với họ, khó có thể đạt được những trạng thái thoải mái với tiêu chuẩn của người bình thường Bởi lẽ, mong muốn lớn nhất của họ có lẽ là được khôi phục, hỗ trợ khôi phục hoặc được thực hiện những kĩ năng để ổn định sức khỏe, có thể tự thực hiện được những hoạt động sinh hoạt, phục vụ cho chính bản thân, gia đình và xã hội, nhằm tiến đến hòa nhập cộng đồng Vì thế, sức khỏe của NKT là tình trạng ổn định toàn diện về thể chất, tâm thần, xã hội Theo đó, việc CSSK của NKT cần quan tâm hợp lý đến cả ba mặt: Sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần và sức khỏe xã hội Theo nghĩa chung, pháp luật về CSSK cho NKT bao gồm tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm đảm bảo cho NKT được tiếp cận đầy đủ dịch vụ y tế, giúp NKT đạt được trạng thái thoải mái toàn diện nhằm bảo đảm cuộc sống bình thường của họ trong môi trường cộng đồng Như vậy, pháp luật về

Trang 23

CSSK cho NKT theo nghĩa chung là một lĩnh vực pháp luật bao gồm các quy phạm được quy định trong các văn bản pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau (Hiến pháp, hành chính, dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, an sinh xã hội, tài chính, hình sự…) điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quyền được CSSK của NKT với tư cách là các quyền con người Theo nghĩa riêng, pháp luật về CSSK cho NKT bao gồm các quy phạm nhằm điều chỉnh các quan hệ trực tiếp làm phát sinh cũng như cách thức thực thi và đảm bảo các quyền và trách nhiệm cụ thể về CSSK của NKT Cụ thể đó là các quan hệ xã hội nhằm đảm bảo sự CSSK cho NKT

Như vậy, có thể khái niệm pháp luật CSSK cho NKT như sau: “Pháp luật

CSSK cho NKT là tổng thể những quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình CSSK cho NKT, đảm bảo cho NKT được tiếp cận đầy đủ dịch vụ y tế, nhằm giúp NKT đạt được trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội”

1.1.2.2 Nguyên tắc pháp luật về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật

Đa dạng hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

Hoạt động CSSK NKT khác với việc CSSK người không khuyết tật Chính sự thiếu hụt, bất thường về bộ phận hoặc chức năng nào đó của cơ thể

đã cản trở NKT thực hiện vai trò, nhiệm vụ của mình, trong khi đó những người khác cùng tuổi, giới tính, hoàn cảnh có thể thực hiện được, cho nên việc CSSK cho NKT rất khó khăn và phức tạp Ngoài rào cản lớn nhất là sự

kỳ thị của xã hội và cộng đồng, thì tâm lý mặc cảm, tự ti, bi quan của NKT trong quá trình khám, chữa bệnh cũng làm ảnh hưởng tới quá trình chăm sóc sức khỏe Bản thân NKT luôn bị ám ảnh bởi bệnh, tật, luôn coi mình là gánh nặng của gia đình, xã hội, vì thế thường ít có sự hợp tác đầy đủ trong quá trình tư vấn hay chữa trị Vì thế, hoạt động CSSK NKT luôn được cộng đồng

xã hội quan tâm và được thực hiện bằng nhiều biện pháp, cách thức khác nhau

để mang lại hiệu quả cao nhất có thể

Trang 24

Hoạt động CSSK NKT được thực hiện ở tầm vĩ mô như: lồng ghép các yêu cầu CSSK NKT trong các chính sách về kinh tế – xã hội, các chương trình, dự án phát triển sản xuất, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo Ở tầm vi mô, CSSK NKT được thực hiện đồng bộ các hoạt động về chăm sóc y

tế và các hoạt động chăm sóc ngoài y tế Thực hiện đa dạng các loại hình, các cơ sở CSSK Khai thác các nguồn đầu tư khác để tăng cường công tác CSSK NKT như: bảo hiểm y tế tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ hoặc các sản phẩm bảo hiểm khác Đặc biệt chú trọng các hoạt động giúp đỡ NKT tham gia hội nhập xã hội như: giáo dục hòa nhập, giáo dục chuyên biệt, cải thiện nhà ở, phương tiện giao thông…

Xã hội hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

Các nguyên nhân gây ra khuyết tật vô cùng đa dạng nên dẫn đến các dạng tật và mức độ khuyết tật không giống nhau, trong khi đó NKT lại có hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế, nhu cầu CSSK… khác nhau Vì thế, để đáp ứng nhu cầu cần thiết của NKT cũng như đảm bảo mục đích CSSK toàn diện, pháp luật về CSSK NKT quy định các “kênh” khác nhau để thực hiện hoạt động này Xuất phát từ chức năng xã hội của mình, Nhà nước thống nhất quản lý nhà nước và quản lý chuyên môn về CSSK NKT Hàng năm, nhà nước bố trí ngân sách để thực hiện chế độ CSSK NKT Ngoài ra, nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư, tài trợ, trợ giúp về tài chính, kỹ thuật, vật chất để thực hiện hoạt động CSSK khuyết tật, đồng thời quy định trách nhiệm của gia đình NKT thực hiện các biện pháp giáo dục sức khỏe, ngăn ngừa và giảm thiểu khuyết tật, khuyến khích sự vươn lên của chính bản thân NKT Hiện nay, các hoạt động CSSK NKT mang tính toàn cầu, mở rộng

ra phạm vi khu vực và thế giới, được chính phủ các nước, các tổ chức liên chính phủ, tổ chức phi chính phủ đặc biệt quan tâm

Trang 25

Ưu tiên hợp lý trong hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

Ưu tiên trong CSSK NKT là nhằm giúp NKT có đủ điều kiện để tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế cơ bản, thiết yếu theo nhu cầu khuyết tật của mình Dựa vào mức độ khuyết tật cũng như đặc điểm đặc thù của NKT mà pháp luật quy định đối tượng ưu tiên trong lĩnh vực này gồm: NKT đặc biệt nặng, NKT nặng, trẻ em khuyết tật, người cao tuổi khuyết tật, phụ nữ khuyết tật có thai, người khuyết tật có công với cách mạng Chế độ ưu tiên trong CSSK được thực hiện bằng các hình thức khác nhau như: miễn phí, giảm phí,

ưu tiên về thứ tự khám bệnh, cấp thuốc… Đối với trường hợp bắt buộc phải chữa bệnh như người mắc bệnh tâm thần ở trạng thái kích động, trầm cảm, có

ý tưởng, hành vi tự sát hoặc gây nguy hiểm cho người khác thì ngoài các chế

độ trên còn được hỗ trợ sinh hoạt phí, chi phí đi lại và chi phí điều trị trong thời gian điều trị bắt buộc

Ưu tiên trong CSSK NKT còn thể hiện sự công bằng xã hội Bởi công bằng không có nghĩa là cung cấp các dịch vụ CSSK đồng đều cho mọi NKT,

mà trước hết và cần thiết phải ưu tiên cho trường hợp NKT rơi vào hoàn cảnh mà bản thân họ không tự giải quyết được hoặc thực sự khó khăn khi giải quyết nó

1.1.2.3 Nội dung pháp luật chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

- Chăm sóc sức khỏe ban đầu

Khái niệm “chăm sóc sức khỏe ban đầu” do Hội nghị sức khỏe thế giới họp tại Alma – Ata nước Cộng hòa Kajacstan năm 1978 định nghĩa:

Chăm sóc sức khỏe ban đầu là những chăm sóc thiết yếu, dựa trên những phương pháp và kỹ thuật thực hành, đưa đến tận cá nhân và từng gia đình trong cộng đồng, được mọi người chấp nhận thông qua sự tham gia đầy đủ của họ, với giá thành mà họ có thể chấp nhận được nhằm đạt được mức sức khỏe cao nhất có thể được

Trang 26

Như vậy nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu sẽ không hoàn toàn giống nhau ở mỗi nước trong cùng một thời điểm và ngay trong một nước các vùng và các thời điểm cũng khác nhau Nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu cần được thay đổi theo thời gian hoặc theo địa lý để phù hợp với tình hình sức khỏe, bệnh tật và trình độ văn hóa cũng như hoàn cảnh kinh tế của mỗi nước, mỗi địa phương trong từng thời điểm khác nhau

Đối với Việt Nam, chăm sóc sức khỏe ban đầu là một trong những lĩnh vực hoạt động của hệ thống y tế cơ sở và được coi là chìa khóa để đạt được mục tiêu sức khỏe cho mọi thành viên trong xã hội, đặc biệt là những người có nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao cho những người khuyết tật Chăm sóc sức khỏe ban đầu nhấn mạnh đến những biện pháp tăng cường sức khỏe, phòng bệnh Việc chăm sóc sức khỏe ban đầu được thực hiện ở địa phương phù hợp với nhu cầu của người khuyết tật ở địa phương do hệ thống y tế cơ sở đảm nhận

CSSK ban đầu được hiểu là những chăm sóc sức khỏe thiết yếu, dựa trên phương pháp và kỹ thuật thực hành được đưa đến cho từng cá nhân và gia đình, với giá thành hợp lý và thu hút được sự tham gia của đông đảo người dân nhằm giúp cho mỗi cá nhân, gia đình có được sức khỏe tốt nhất CSSK ban đầu là một trong các lĩnh vực trong hoạt động của hệ thống y tế ở mỗi quốc gia và được coi là chìa khóa để đạt được mục tiêu sức khỏe cho các thành viên trong xã hội, đặc biệt là người có nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao, trong đó có NKT

Chăm sóc bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho mọi công dân Việt Nam không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, mỗi người dân và cả cộng đồng Cũng như những công dân bình thường khác, NKT có quyền được chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe, được khám bệnh, chữa bệnh, PHCN, được CSSK ban đầu được tham gia và

Trang 27

hưởng bảo hiểm y tế như mọi công dân khác trong xã hội Ngoài ra, NKT còn được hưởng một số ưu tiên nhất định khi đi khám, chữa bệnh tại các cơ sở y

tế theo quy định

Theo quy định của Nhà nước, NKT có quyền được tuyên truyền và tham gia tuyên truyền, giáo dục về sức khỏe tại cộng đồng, tham gia thực hiện các hoạt động chuyên môn về y tế tại cộng đồng, được tham gia công tác CSSK bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hóa gia đình, được vận động, hướng dẫn nuôi trồng và sử dụng thuốc nam tại gia đình để phòng chữa một số chứng bệnh thông thường, được nhân viên y tế cơ sở sơ cứu ban đầu, chăm sóc bệnh thông thường và PHCN tại cộng đồng

- Khám bệnh, chữa bệnh cho người khuyết tật

Theo quy định của công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật về khám bệnh chữa bệnh cho người khuyết tật, các Quốc gia phải thừa nhận người khuyết tật có quyền thụ hưởng tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe cao nhất

có thể mà không có sự phân biệt đối xử vì lý do bị khuyết tật, cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp để đảm bảo người khuyết tật có thể tiếp cận được các dịch vụ y tế mang tính nhạy cảm giới, bao gồm phục hồi chức năng có liên quan đến vấn đề y tế Cụ thể:

- Cung cấp cho người khuyết tật các dịch vụ và chương trình chăm sóc

y tế có chất lượng đảm bảo, đủ tiêu chuẩn và miễn phí hoặc có thể chi trả được tương tự như các dịch vụ và chương trình cung cấp cho các đối tượng khác bao gồm các chương trình chăm sóc sức khoẻ sinh sản và các vấn đề sinh lý và các chương trình y tế công cộng về vấn đề dân số;

- Cung cấp các dịch vụ y tế như trên khi người khuyết tật có nhu cầu đặc biệt là vì lý do bị khuyết tật của họ kể cả các biện pháp phù hợp về xác định sớm và can thiệp sớm và cung cấp các dịch vụ được thiết kế để giảm thiểu và ngăn ngừa các dạng khuyết tật khác kể cả cho trẻ em và người già;

Trang 28

- Cung cấp các dịch vụ y tế như vậy càng gần cộng đồng dân cư càng tốt, kể cả ở các vùng nông thôn;

- Yêu cầu các cán bộ y tế chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật như chăm sóc sức khỏe cho những người khác, kể cả các dịch vụ miễn phí, chưa

kể đến các dịch vụ khác, đồng thời nâng cao nhận thức về quyền, nhân phẩm, quyền tự quyết và nhu cầu của người khuyết tật thông qua tập huấn, và ban hành các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp khi hành nghề y trong cả lĩnh vực dịch vụ y tể công và dịch vụ y tể tư;

- Nghiêm cấm cấm phân biệt đối xử đối với người khuyết tật khi cung cấp bảo hiểm y tế, và bảo hiểm nhân thọ được luật pháp của Quốc gia thành viên cho phép, và các loại hình bảo hiểm này phải được cung cấp một cách hợp lý và công bằng;

- Nghiêm cấm việc từ chối mang tính phân biệt đối xử trong công tác chăm sóc sức khỏe, cung cấp các dịch vụ y tế, thực phẩm và đồ uống vì lý do khuyết tật [8]

Có thể thấy Công ước quốc về quyền người khuyết tật có hướng tới sự bảo vệ, chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho người khuyết tật Điển hình có thể điểm qua những điểm chung nhất bao gồm quyền được khám bệnh chữa bệnh của người khuyết tật ở cấp cơ sở, đồng thời được tạo điều kiện để tiếp cận với dịch vụ y tế bằng những dụng cụ đặc biệt do sự đặc thù của khuyết tật như xe lăn, nạng, chân tay giả…; Đảm bảo không phân biệt đối xử với người khuyết tật trong quá trình khám bệnh chữa bệnh vì sự khuyết tật của họ; Được ưu tiên trong khám bệnh chữa bệnh trong những trường hợp đặc biệt như người khuyết tật nặng, đặc biệt nặng hay trong các tình huống khẩn cấp khác

Đối với Việt Nam, NKT khi ốm đau, bệnh tật được khám, chữa bệnh tại các cơ sở khám, chữa bệnh ở nơi họ cư trú, lao động hoặc học tập Mạng lưới khám chữa bệnh phát triển rộng khắp cả nước, từ trung ương đến địa

Trang 29

phương và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ bao gồm cơ sở khám, chữa bệnh của Nhà nước, tư nhân… đã tạo điều kiện thuận lợi cho NKT khám, chữa bệnh nội trú, ngoại trú, lưu trú, lưu động, tại nhà như hiện nay, đã giúp NKT có nhiều cơ hội được khám, chữa bệnh phù hợp với điều kiện hoàn cảnh về thời gian, tài chính, kinh tế của mình Những quy định này đã thể hiện rõ tính nhân văn của pháp luật NKT đồng thời thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, cộng đồng đến những NKT Khi NKT đi khám, chữa bệnh, Nhà nước sẽ đảm bảo cho họ được khám bệnh, chữa bệnh và sử dụng các dịch vụ y tế phù hợp và được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán Với những NKT mắc bệnh tâm thần ở trạng thái kích động, trầm cảm, có ý tưởng, hành

vi tự sát hoặc gây nguy hiểm cho người khác được hỗ trợ sinh hoạt phí, chi phí đi lại, chi phí điều trị trong thời gian điều trị bắt buộc tại cơ sở khám, chữa bệnh Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân hỗ trợ thực hiện khám, chữa bệnh cho NKT

- Chỉnh hình, phục hồi chức năng người khuyết tật

Trong các nội dung chăm sóc sức khỏe NKT thì nội dung chỉnh hình PHCN giữ vai trò rất quan trọng vì NKT được chỉnh hình PHCN mới giúp họ hoạt động độc lập, ít phụ thuộc vào người khác Theo quy định của Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật thì các quốc gia phải cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp và hiệu quả, kể cả hỗ trợ đồng đẳng, để hỗ trợ NKT có thể đạt được và duy trì tối đa khả năng độc lập, khả năng học nghề, khả năng

xã hội, trí lực, thể lực và sự tham gia và hoà nhập đầy đủ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Để đạt được mục tiêu này, Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết tổ chức, củng cố và mở rộng các dịch vụ và chương trình PHCN, đặc biệt trong các lĩnh vực y tế, việc làm, giáo dục, và dịch vụ xã hội, theo cách mà các dịch vụ và chương trình này:

Trang 30

(1) Bắt đầu từ giai đoạn sớm nhất và dựa trên đánh giá chặt chẽ về nhiều mặt về nhu cầu và thể lực cá nhân;

(2) Hỗ trợ sự tham gia và hoà nhập cộng đồng và mọi mặt của xã hội,

và sự hỗ trợ này phải tự nguyện, và sẵn có cho người khuyết tật và sự hỗ trợ này càng gần cộng đồng càng tốt, kể cả vùng nông thôn [8, Điều 26]

Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thúc đẩy việc xây dựng các chương trình đào tạo ban đầu và đào tạo thường xuyên cho các chuyên viên và cán bộ làm việc trong lĩnh vực phục hồi chức năng

Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thúc đẩy khả năng sẵn có, kiến thức và việc sử dụng công nghệ và thiết bị hỗ trợ được thiết kế cho người khuyết tật vì các công nghệ và thiết bị hỗ trợ này có liên quan đến phục hồi chức năng

Chính vì vậy pháp luật về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam rất coi trọng nội dung này Nội dung chỉnh hình phục hồi chức năng cho NKT là dùng các biện pháp y học, xã hội học… làm giảm tác động của giảm khả năng và tàn tật, tạo cho NKT có cơ hội để hội nhập, tái hội nhập xã hội, có cơ hội bình đẳng tham gia các hoạt động trong gia đình và xã hội, có cuộc sống bình thường tối đa so với hoàn cảnh của họ Chỉnh hình, PHCN được coi là nội dung quan trọng trong pháp luật CSSK cho NKT

Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra một khái niệm đầy đủ về PHCN như sau: PHCN bao gồm các biện pháp y học, kinh tế, xã hội, giáo dục hướng nghiệp và kỹ thuật phục hồi nhằm làm giảm tác động của giảm chức năng và khuyết tật, đảm bảo cho NKT hội nhập xã hội, có những cơ hội bình đẳng và tham gia đầy đủ các hoạt động của xã hội

PHCN là trả lại các chức năng bị giảm hoặc bị mất cho NKT hoặc là giúp họ xử trí tốt hơn với tình trạng khuyết tật của mình khi ở nhà hoặc ở

Trang 31

cộng đồng PHCN không chỉ huấn luyện NKT thích nghi với môi trường sống

mà còn tác động vào môi trường và xã hội tạo nên khối thống nhất cho quá trình hội nhập của NKT

Như vậy PHCN theo quan điểm hiện đại không chỉ đơn thuần về mặt y

tế mà cần mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác và phải được xã hội hóa cao độ Việc chỉnh hình PHCN cho NKT theo quan điểm hiện đại không chỉ có sự tham gia của các nhân viên y tế mà còn là sự tham gia của xã hội như chính quyền, đoàn thể, gia đình và bản thân NKT Với quan điểm này thì PHCN cho NKT bao gồm: PHCN thông qua các cơ sở chỉnh hình phục hồi chức năng và PHCN dựa vào cộng đồng

Hiện nay, theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới, hầu hết các nước, trong đó có Việt Nam đã triển khai hoạt động PHCN dựa vào cộng đồng, với sự phối hợp chung của chính bản thân NKT, gia đình họ và cộng đồng bằng những dịch vụ y tế, giáo dục và xã hội thích hợp

1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật

1.2.1 Quy định về chăm sóc sức khỏe ban đầu

CSSK ban đầu là một trong các lĩnh vực hoạt động của hệ thống y tế quốc gia và được coi là chìa khóa để đạt được muc tiêu sức khỏe NKT

Điều 21 Luật NKT 2010 quy định việc CSSK cho NKT như sau:

1 Trạm y tế cấp xã có trách nhiệm sau đây:

a) Triển khai các hình thức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức phổ thông về CSSK, phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật; hướng

dẫn NKT phương pháp phòng bệnh, tự CSSK và PHCN;

b) Lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe NKT;

c) Khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với phạm vi chuyên môn cho NKT

2 Kinh phí để thực hiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 1

Điều này do ngân sách nhà nước bảo đảm

Trang 32

Như vậy, theo quy định trên thì NKT có quyền được tuyên truyền và tham gia tuyên truyền, giáo dục về sức khỏe tại cộng đồng, tham gia thực hiện các hoạt động chuyên môn về y tế tại cộng đồng, được tham gia công tác CSSK bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hóa gia đình, được vận động, hướng dẫn nuôi trồng và sử dụng thuốc nam tại gia đình để phòng chữa một số chứng bệnh thông thường, được nhân viên y tế cơ sở sơ cứu ban đầu, chăm sóc bệnh thông thường và PHCN tại cộng đồng

CSSK ban đầu được thực hiện đối với mọi công dân, trong đó có NKT Theo đó, việc CSSK ban đầu đối với NKT thuộc trách nhiệm của cơ sở y tế cấp xã, thực hiện các hoạt động: Tuyên truyền, giáo dục kiến thức phổ thông

về CSSK, các biện pháp phòng ngừa khuyết tật; lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe NKT; các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện phù hợp trong phạm vi chuyên môn

1.2.2 Quy định về khám bệnh, chữa bệnh

Điều 2 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009 quy định:

Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị

phù hợp đã được công nhận Chữa bệnh được hiểu là việc sử dụng

phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức

năng cho người bệnh

NKT là đối tượng yếu thế, chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống nhưng NKT là trẻ em, phụ nữ có thai, người cao tuổi, người có công với cách mạng

và NKT nặng, đặc biệt nặng còn chịu nhiều khó khăn, thiệt thòi trong cuộc sống hơn nữa Vì vậy, bên cạnh quyền được khám chữa bệnh thì nhóm đối tượng NKT trên còn được hưởng những quyền ưu tiên trong khám chữa bệnh

Trang 33

nhằm hỗ trợ, giúp đỡ họ trong việc CSSK thông qua các hình thức như: miễn, giảm viện phí; hỗ trợ sinh hoạt phí; chi phí đi lại; chi phí điều trị… Cụ thể, một trong những nguyên tắc hành nghề khám chữa bệnh được quy định tại Điều 3.4 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009 đó là ưu tiên khám chữa bệnh đối với trường hợp cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, NKT nặng, người từ đủ 80 tuổi trở lên, người có công với cách mạng, phụ nữ có thai

Bên cạnh đó quyền ưu tiên khám chữa bệnh cũng được quy định trong một số văn bản pháp luật khác, cụ thể: Tại Điều 12 Luật người cao tuổi hay

tại Điều 41.1 Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân: Người cao tuổi, thương binh,

bệnh binh và người tàn tật được ưu tiên trong khám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội ph hợp với sức khỏe của mình Tuy nhiên, việc ưu tiên khám chữa bệnh trên thực tế cần căn cứ vào

từng trường hợp cụ thể, chẳng hạn như: Người từ đủ 80 tuổi trở lên được ưu

tiên khám trước người bệnh khác trừ bệnh nhân cấp cứu, tr em dưới 6 tuổi, NKT , như vậy, cần phải dựa vào những yếu tố khác như tình trạng nguy cấp

của bệnh nhân, mức độ khuyết tật, độ tuổi… để xác định đối tượng ưu tiên trong trường hợp phải lựa chọn giữa nhiều đối tượng đều thuộc đối tượng được ưu tiên khám, chữa bệnh

Ngoài ra, khi khám, chữa bệnh, NKT được bảo hiểm y tế thanh toán chi phí y tế theo quy định của pháp luật bảo hiểm y tế Nếu họ tham gia loại hình bảo hiểm khác thì cũng sẽ được thanh toán quyền lợi theo quy định hoặc theo thỏa thuận

1.2.3 Quy định về phục hồi chức năng

Theo quy định của pháp luật về NKT, cụ thể tại Điều 24 và Điều 25 Luật NKT 2010 quy định nội dung PHCN NKT bao gồm: PHCN thông qua các cơ sở chỉnh hình, PHCN và PHCN dựa vào cộng đồng

Trang 34

Điều 24 Cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng

1 Cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng là cơ sở cung cấp dịch vụ chỉnh hình, phục hồi chức năng cho người khuyết tật

2 Cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng bao gồm:

a) Viện chỉnh hình, phục hồi chức năng;

b) Trung tâm chỉnh hình, phục hồi chức năng;

c) Bệnh viện điều dưỡng, phục hồi chức năng;

d) Khoa phục hồi chức năng của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

đ) Bộ phận phục hồi chức năng của cơ sở bảo trợ xã hội;

Điều 25 Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

1 Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là biện pháp thực hiện tại cộng đồng nhằm chuyển giao kiến thức về vấn đề khuyết tật, kỹ năng phục hồi và thái độ tích cực đến người khuyết tật, gia đình của

họ và cộng đồng nhằm tạo sự bình đẳng về cơ hội và hòa nhập cộng đồng cho người khuyết tật

2 Người khuyết tật được tạo điều kiện, hỗ trợ phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

3 Gia đình người khuyết tật có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi

để người khuyết tật phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

4 Cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng có trách nhiệm tham gia hướng dẫn hoạt động chuyên môn phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

Trang 35

5 Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng; tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức và cá nhân tổ chức hoặc tham gia thực hiện hoạt động phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

Việc thực hiện chỉnh hình, PHCN cho NKT chủ yếu được tiến hành tại các cơ sở chỉnh hình, PHCN của nhà nước, do nhà nước thành lập, quản lý và đảm bảo từ ngân sách cho các chế độ của NKT Với việc quy định đa dạng các loại hình, phong phú các hình thức, mở rộng phạm vi hoạt động của các

cơ sở chỉnh hình, PHCN, pháp luật không chỉ đảm bảo quyền hiến định, mà thể hiện trách nhiệm sâu sắc của nhà nước, cộng đồng xã hội trong việc CSSK cho những người kém may mắn trong xã hội, đảm bảo mục đích ASXH

Ngoài việc thực hiện PHCN tại các cơ sở của nhà nước thì NKT còn được PHCN tại các cơ sở y tế cộng đồng Cộng đồng được hiểu là những người cùng sống và sinh hoạt với nhau tại một địa phương, đơn vị hành chính nhỏ nhất PHCN dựa vào cộng đồng hình thành trên cơ sở hợp nhất các dịch

vụ y tế vào các dịch vụ xã hội PHCN dựa vào cộng đồng là biện pháp thực hiện tại nơi, với những người mà NKT cùng sinh sống, nhằm chuyển giao kiến thức về vấn đề khuyết tật, kỹ năng phục hồi và thái độ tích cực đến NKT, gia đình của họ và cộng đồng, tạo sự bình đẳng về cơ hội và hòa nhập cộng đồng cho NKT

1.2.4 Quy định về xử lý vi phạm pháp luật về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật

Pháp luật Việt Nam đã xây dựng những quy định pháp lý phù hợp với Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật nhằm bảo vệ NKT trước những hành vi vi phạm pháp luật đối với NKT

Tuỳ từng đối tượng và từng trường hợp vi phạm mà có thể áp dụng một trong hoặc đồng thời một số loại trách nhiệm pháp lý sau: Trách nhiệm kỷ

Trang 36

luật, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại Từng loại trách nhiệm nhiệm pháp lý cụ thể sẽ được áp dụng căn cứ vào các văn bản pháp luật có liên quan đến từng lĩnh vực cụ thể như: Trách nhiệm kỷ luật sẽ căn cứ vào Luật Công chức, Luật Viên chức nhà nước và Bộ luật Lao động; trách nhiệm hành chính sẽ căn cứ vào các văn bản xử lý vi phạm hành chính; trách nhiệm hình sự sẽ căn cứ vào Bộ luật Hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành; trách nhiệm bồi thường thiệt hại căn cứ vào Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành

Trách nhiệm kỷ luật: Có thể được áp dụng đối với cán bộ, công chức nhà nước vi phạm pháp luật về quyền của người khuyết tật, nhất là cán bộ trực tiếp làm công tác người khuyết tật Tuỳ mức độ vi phạm và đối tượng thực hiện hành vi vi phạm mà cán bộ, công chức có thể phải chịu một trong các hình thức kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc theo quy định tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 17/5/2011 về xử lý kỷ luật đối với công chức nhà nước Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nếu xâm phạm quyền lợi của NKT với tư cách là đồng nghiệp của mình có thể bị coi là vi phạm trật tự, nền nếp trong quản lý lao động của đơn vị sử dụng lao động – vi phạm kỷ luật lao động và có thể bị áp dụng trách nhiệm kỷ luật lao động với một trong các hình thức: khiển trách, kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng, chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn trong thời hạn tối đa là 6 tháng, cách chức hoặc sa thải theo quy định tại Điều 117 đến Điều 128 Bộ luật Lao động năm 2019

Trách nhiệm hành chính: Có thể áp dụng cho các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về quyền của NKT chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính nói chung

Trang 37

và xử phạt hành chính trong lĩnh vực công tác người khuyết tật nói riêng Các hình thức xử phạt chính có thể bị áp dụng là cảnh cáo hoặc phạt tiền, kèm theo các hình thức xử phạt chính có thể có các biện pháp bổ sung tùy từng trường hợp cụ thể

Trách nhiệm hình sự: Có thể được áp dụng đối với các cá nhân vi phạm pháp luật về quyền của người khuyết tật mà vi phạm đó có dấu hiệu phạm tội, được quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 Trong

Bộ luật Hình sự cũng không có chương, điều quy định riêng về tội phạm xâm phạm quyền của người khuyết tật Tuy nhiên, các quy định về tội phạm về sức khoẻ, tính mạng, nhân phẩm, danh dự, chức vụ, quyền hạn…

có thể được áp dụng để truy tố những người vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền của người người khuyết tật thoả mãn dấu hiệu của tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm gây tổn hại về vật chất và tinh thần của người khuyết tật Việc xác định mức bồi thường, cách thức thực hiện việc bồi thường, trình

tự tố tụng yêu cầu việc bồi thường, việc thi hành bản án, quyết định của toà án

về bồi thường thiệt hại cho người khuyết tật… được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự và Luật Thi hành án dân sự

Tóm lại, có nhiều biện khác nhau mà nhà nước và cộng đồng xã hội có thể sử dụng để bảo đảm quyền của NKT Căn cứ vào nội dung của các biện pháp này có thể chia chúng thành ba nhóm: Biện pháp xã hội, biện pháp kinh

tế và biện pháp pháp lý Mỗi biện pháp khi thực hiện sẽ đạt được những mục tiêu khác nhau trong việc bảo đảm quyền của NKT Song, chúng không tồn tại một cách biệt lập, mà giữa chúng có mối quan hệ tương hỗ, tạo thành một

hệ biện pháp nhằm bảo đảm quyền của NKT một cách toàn diện trên tất cả

Trang 38

các lĩnh vực của đời sống xã hội Nhà nước – chủ thể chủ động, có nguồn lực lớn nhất và có khả năng bảo đảm quyền của NKT một cách tốt nhất cần thường xuyên rà soát, hoàn thiện và thực hiện các biện pháp thích hợp trong từng giai đoạn, đồng thời cần có cơ chế để động viên toàn xã hội tham gia công tác NKT, vì cuộc sống ngày tốt đẹp của lực lượng xã hội này

Trang 39

Nội dung cụ thể của pháp luật về CSSK NKT bao gồm CSSK ban đầu, khám bệnh chữa bệnh và chỉnh hình PHCN Mỗi quốc gia lại có những quy định riêng nhưng tựu chung lại, đều nhằm đảm bảo sức khỏe tốt nhất cho NKT, hỗ trợ NKT phục hồi sức khỏe để tham gia vào các hoạt động xã hội một cách tốt nhất, giúp họ có khả năng tự chăm sóc một cách độc lập đồng thời xóa bỏ đi những rào cản mà khuyết tật mang lại

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1 Khái quát về thành phố Hải Phòng và tình hình NKT ở thành phố Hải Phòng

2.1.1 Khái quát về thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình thuộc đồng bằng sông Hồng có vị trí nằm trong khoảng từ 20035’ đến 21001’ vĩ độ Bắc, và từ 106029’ đến 107005’ kinh độ Đông; phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Đông là biển Đông với đường bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và sông Thái Bình

Diện tích tự nhiên là 1.507,57 km2, Tính đến tháng 12/2011, dân số Hải Phòng là 1.907.705 người, trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%, là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam, sau Hà Nội

và Thành phố Hồ Chí Minh

Hải Phòng ngày nay là thành phố trực thuộc Trung ương - là đô thị loại

1 cấp quốc gia gồm 7 quận (Ngô Quyền, Hồng Bàng, Lê Chân, Dương Kinh,

Đồ Sơn, Kiến An và Hải An), 6 huyện ngoại thành (Thuỷ Nguyên, Hải An,

An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo) và 2 huyện đảo (Cát Hải, Bạch Long Vĩ) với 223 xã, phường và thị trấn

Hải Phòng từ lâu đã nổi tiếng là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, một đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt, hàng không trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc; là đầu mối giao thông quan trọng của Vùng Kinh

tế trọng điểm Bắc Bộ, trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt

Ngày đăng: 01/04/2021, 06:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động thương binh xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Thông tư liên tịch số 37/2012/TTLT-BLĐTBXH- BYT-BTC-BGDĐT quy định về việc xác định mức độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 37/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT quy định về việc xác định mức độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện
Tác giả: Bộ Lao động thương binh xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2012
3. Chính phủ (2012), Nghị định số 28/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NKT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 28/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NKT
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
4. Chính phủ (2012), Nghị định số 28/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 28/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
5. Chính phủ (2013), Nghị định số 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
6. Chính phủ (2013), Nghị định số 144/2013/NĐ-CP năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc tr em, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 144/2013/NĐ-CP năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc tr em
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
9. Trần Trọng Hải (chủ biên) (2010), Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Tác giả: Trần Trọng Hải (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
7. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1990), Luật Bảo vệ NKT 1990 sửa đổi bổ sung năm 2008 Khác
8. Đại hội đồng Liên hợp quốc (2007), Công ước quyền của người khuyết tật Khác
13. Trung tâm giám định Y khoa thành phố Hải Phòng thuộc bệnh viện đa khoa quốc tế Hải Phòng (2019), Thống kê Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w