THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NẾP SỐNG VĂN HÓA CỦA SINH VIÊN Ở KÍ TÚC XÁTRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NHA TRANG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
VĂN NGỌC SEN
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NẾP SỐNG VĂN HÓA CỦA SINH VIÊN Ở KÍ TÚC XÁ TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NHA TRANG
Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
Mã số : 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HOÀNG THỊ THU HÀ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2006
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn, tác giả đã được sự quan tâm giúp đỡ của các cấp lãnh đạo và quý thầy cô giáo Với tình cảm chân thành, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học
sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn các vị Giáo sư, tiến sĩ, tập thể quý thầy
cô giáo, cán bộ nhân viên Phòng Khoa học công nghệ - Sau đại học, Khoa Tâm
lý - Giáo dục trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ, chỉ dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Đặc biệt tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Hoàng Thị Thu Hà - Giảng viên Khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, người thầy trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn khoa học, đã dành thời gian rất quý báu để tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tác giả chân thành cảm ơn TS Phan Thị Tố Oanh - Giảng viên trường Cán bộ quản lý TW II, TP Hồ Chí Minh đã dành thời gian quý báu giúp đỡ tôi trong thời điểm khó khăn nhất của quá trình nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn các phòng, ban chức năng của Sở Giáo dục và Đào tạo Khánh Hòa, trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang, các đồng nghiệp, bạn bè, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp chúng tôi trong quá trình chuẩn bị tư liệu hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo của quý thầy cô
Trang 3LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU ……… 1
1 Lý do chọn đề tài ……… 1
2 Mục đích của đề tài ……… 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu ……… 3
4 Giả thuyết nghiên cứu ……… 3
5 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu ……… 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 4
7 Phương pháp nghiên cứu ……… 4
NỘI DUNG ……… 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NSVH CỦA SV Ở KTX ……… 9
1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… 9
1.2 Một số vấn đề lý luận về quản lý NSVH của SV ở KTX ……… 15
1.2.1 Quản lý ……… 15
1.2.2 NSVH của SV ……… 17
1.2.3 Quản lý NSVH của SV ở KTX ……… 26
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NSVH CỦA SV Ở KTX TRƯỜNG CĐSP NHA TRANG ……… 31
2.1 Tình hình KTX của trường CĐSP Nha Trang ……… 31
2.1.1 Cơ sở vật chất ……… 31
2.1.2 Bộ máy quản lý KTX ……… 33
2.2 Thực trạng NSVH của SV ở KTX ……… 34
2.2.1 Tình hình SV trường CĐSP Nha Trang ……… 34
2.2.2 Tình hình SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang ……… 34
2.2.3 Những biểu hiện về NSVH của SV trong giao tiếp, ứng xử ……… 36
2.2.4 Những biểu hiện về NSVH của SV trong học tập ……… 39
2.2.5 Những biểu hiện về NSVH của SV trong sinh hoạt cá nhân ……… 44
2.3 Thực trạng quản lý NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang ……… 50
2.3.1 Các chủ thể quản lý NSVH của SV ở KTX ……… 50
Trang 42.4 Nguyên nhân của thực trạng quản lý NSVH SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang… 66
Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NSVH CỦA SV Ở KTX TRƯỜNG CĐSP NHA TRANG ……….…… 70
3.1 Những căn cứ để đề xuất các nhóm biện pháp ……… 70
3.1.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về chiến lược phát triển giáo dục, phát triển con người trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước ……… 70
3.1.2 Tình hình giáo dục của tỉnh Khánh Hòa hiện nay ……… 71
3.1.3 Vai trò của hệ thống trường sư phạm trong giai đoạn hiện nay ………… 73
3.1.4 Mục tiêu đào tạo SV sư phạm của trường CĐSP Nha Trang ……… 74
3.1.5 Xuất phát từ thực trạng quản lý NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang hiện nay ……… 75
3.2 Đề xuất các nhóm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang ……… 76
3.2.1 Đối với lãnh đạo nhà trường ……… 76
3.2.2 Đối với BQL KTX trường CĐSP Nha Trang ……… 79
3.2.3 Đối với các phòng, ban, khoa, tổ, GVCN, Đoàn TN, Hội SV của trường … 85
3.3 Khảo sát sự cần thiết của các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSVH của SV ở KTX ……… 89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……… 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 98
PHỤ LỤC
Trang 5Ký hiệu viết tắt Ý nghĩa
chuyên viên, GVCN, cán bộ Đoàn TN, Hội SV
UBND Ủy ban nhân dân
VHVN Văn hóa văn nghệ
Trang 6Bảng 2.1: Đánh giá mức độ hợp lý của việc sử dụng CSVC ở KTX………32
Bảng 2.2:Mức độ cần thiết xây dựng và sử dụng CSVC ở KTX……… 33
Bảng 2.3:Phân bố SV đang ở KTX theo khoa, giới, các năm học I,II,III……….35
Bảng 2.4: Những biểu hiện NSVH của SV ở KTX trong giao tiếp, ứng xử………….… 36
Bảng 2.5: Những biểu hiện về NSVH của SV ở KTX trong học tập……….39
Bảng 2.6: Thống kê số lượng SV tham gia NCKH (từ năm 2001-2006)……… 41
Bảng 2.7: Những biểu hiện NSVH của SV ở KTX trong sinh hoạt cá nhân………… …44
Bảng 2.8: Đánh giá chung những biểu hiện NSVH của SV ở KTX trên các mặt: giao tiếp, ứng xử, học tập, sinh hoạt cá nhân……….…48
Bảng 2.9: Các chủ thể quản lý NSVH của SV ở KTX……… 50
Bảng 2.10: Các hoạt động quản lý NSVH của SV ở KTX……….54
Bảng 2.11: Hiệu quả các nội dung, biện pháp quản lý NSVH của SV ở KTX 62
Bảng 2.12: Nguyên nhân của thực trạng quản lý NSVH của SV ở KTX hiện nay …… 66
Bảng 3.1: Số lượng giáo viên tiểu học, THCS từ năm 2001 – 2006……… 72
Bảng 3.2: Một số phẩm chất năng lực, kiến thức chuyên môn cần bồi dưỡng cho Ban QL KTX……… 78
Bảng 3.3: Sự cần thiết của các nhóm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSVH của SV ở KTX (khối SV)……… … 89
Bảng 3.4: Sự cần thiết của các nhóm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSVH của SV ở KTX (khối CBGV)……… 90
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Biểu đồ 3.1:Mức độ cần thiết bồi dưỡng những phẩm chất, năng lực, kiến thức chuyên môn cho BQL KTX ……… … 79
Sơ đồ 3.1:Quan hệ giữa các nhóm biện pháp quản lý NSVH của SV ở KTX……… …88
Trang 7trong tình hình mới nhằm xây dựng cho cá nhân, gia đình và XH có nếp sống văn
hóa Sau 10 năm đổi mới, ngày 29/3/1996, trong Thông báo số 178-TB/TW của
Ban Bí thư về tăng cường nghiên cứu và chỉ đạo vấn đề gia đình có nêu: “…đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa ở tất cả các địa phương, coi đây là
công tác trọng tâm của cuộc vận động xây dựng NSVH hiện nay”. [1]
Để thực hiện những nội dung nêu trong Nghị quyết Đại hội IX, tại Hội nghị lần thứ 9 BCHTW ĐCSVN khóa IX đã nhấn mạnh: “…Tăng cường quản lý nhà
nước, hoàn thiện cơ chế, chính sách và giải pháp đẩy mạnh việc xây dựng nếp sống
văn hóa, văn minh; hình thành các giá trị con người mới, giá trị XH mới làm cơ sở
và động lực cho đất nước phát triển nhanh và bền vững” [46]; mặt khác, Nghị quyết
số 02, ngày 12.05.2005 của BCH tỉnh Đoàn Khánh Hoà về việc “ Tăng cường công
tác giáo dục của Đoàn trong giai đoạn hiện nay” đã nhấn mạnh:“ tăng cường và
nâng cao hiệu quả các hoạt động giáo dục truyền thống cho thanh thiếu niên; tăng
cường giáo dục đạo đức, nếp sống và tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ trong
thanh thiếu niên ”
Nhằm thể chế hóa quan điểm của Đảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh về TN và công tác TN, tăng cường chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện TN, bảo vệ TN trước tác động của hiện tượng tiêu cực trong XH, đồng thời phát huy tính xung kích, tiềm năng to lớn của TN, trách nhiệm của TN trong thời kỳ CNH,HĐH, trong chương II, điều 13 của Luật TN (có hiệu lực bắt đầu từ 01/7/2006) có ghi: “TN
thường xuyên rèn luyện đạo đức, tác phong, hành vi ứng xử văn hóa, thực hiện nếp
sống văn minh” [34]
Trang 8Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục đại học là nơi đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho đất nước, tiếp cận tri thức ở mức cao nhất, sản sinh ra tri thức mới, tư duy mới thúc đẩy một số lĩnh vực đi vào kinh tế tri thức, giáo dục đại học cũng là nơi đào tạo các nhà giáo cho các cấp học thấp hơn và các trường sư phạm được xem là nơi đào tạo ra những giáo viên tương lai có trọng trách chuyển giao tri thức cho thế hệ trẻ đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống hiện nay Để thực hiện nhiệm vụ rất vinh quang và cũng đầy khó khăn này, bên cạnh việc chuẩn bị đầy đủ về mặt tri thức chuyên môn, những kỹ năng nghề nghiệp, các SV sư phạm cần phải được quản lý NSVH để góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp cho SV
Trường CĐSP Nha Trang là trường đào tạo đội ngũ giáo viên cho tỉnh Khánh Hòa cấp tiểu học, THCS, chính vì vậy nhà trường rất quan tâm đến công tác quản lý NSVH của SV, đây là một vấn đề quan trọng góp phần không nhỏ vào sự thành công trong việc đào tạo những kỹ sư tâm hồn góp phần vào sự nghiệp GD&ĐT cho tỉnh Khánh Hòa
Trong quá trình đào tạo, phần lớn các SV đều ở các huyện, thị xã về thành phố Nha Trang để học nên nhu cầu được ở trong KTX của trường ngày càng tăng Được sự đầu tư của Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh Khánh Hòa, trường CĐSP Nha Trang
đã nâng cấp, xây mới các dãy nhà trong KTX để tạo điều kiện cho SV lưu trú, tuy vậy do diện tích KTX hẹp và một bộ phận SV ở tại Nha Trang nên KTX nhà trường chỉ giải quyết cho SV các huyện, thị xã có nhu cầu ở KTX Có thể nói quản lý SV ở KTX của trường trong những năm qua đã có những kết quả bước đầu đáng khích lệ, góp phần giáo dục SV có phẩm chất, năng lực sư phạm đáp ứng cho sự nghiệp GD&ĐT của tỉnh Khánh Hoà; bên cạnh những ưu điểm vẫn còn một số hạn chế nhất định về nội dung, hình thức, biện pháp quản lý NSVH của SV,…do vậy NSVH của SV trong KTX chưa thật sự đi vào nề nếp Điều này đòi hỏi nhà trường phải xem xét, đánh giá thực trạng công tác quản lý NSVH của SV ở KTX, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSVH của SV ở KTX Hơn nữa, trong những năm qua tại tỉnh Khánh Hòa và trường CĐSP Nha Trang chưa tìm thấy nhiều công trình nghiên cứu sâu về vấn đề quản lý NSVH của SV nói chung và SV ở KTX nói riêng
Trang 9Xuất phát từ các lý do trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề nghiên cứu “ Thực
trạng quản lý NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang” làm đề tài luận văn
tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục
2 Mục đích của đề tài
Làm rõ thực trạng quản lý NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang,
từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NSVH của SV ở
KTX trường CĐSP Nha Trang
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang
+ Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động quản lý NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang;
- Lãnh đạo nhà trường, cán bộ quản lý, chuyên viên các phòng, ban, khoa, tổ, GVCN các lớp, cán bộ Đoàn TN, Hội SV của trường CĐSP Nha Trang (58 người);
- SV đang nội trú trong KTX trường CĐSP Nha Trang thuộc 4 khoa: Tự Nhiên,
Xã Hội, Ngoại Ngữ, Tiểu Học (360 người)
4 Giả thuyết nghiên cứu
- Thực trạng quản lý NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang có những kết quả nhất định song vẫn còn một số hạn chế về nội dung, biện pháp,…quản lý;
- Một số biểu hiện NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang vẫn chưa đi vào
nề nếp;
- Khi đánh giá được thực trạng và tìm ra nguyên nhân của thực trạng công tác quản
lý NSVH của SV ở KTX, chúng ta đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang
5 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Do điều kiện và khả năng có hạn của tác giả, vì vậy luận văn chỉ giới hạn tập
trung nghiên cứu thực trạng quản lý NSVH của SV ở KTX (hệ chính quy), tìm ra nguyên nhân và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý
Trang 10NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang; những hoạt động ngoài phạm vi KTX của trường, tác giả chưa có điều kiện để nghiên cứu
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
6.2 Tìm hiểu những biểu hiện về NSVH của SV ở KTX, làm rõ thực trạng công
tác quản lý NSVH của SV và nguyên nhân của thực trạng công tác quản lý NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang
6.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSVH
của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Các quan điểm phương pháp luận được vận dụng trong đề tài này là:
7.1.1 Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Được vận dụng trong nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận và nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn của đề tài Yêu cầu của quan điểm này là “xem xét đối tượng một cách toàn diện nhiều mặt, nhiều mối quan hệ khác nhau, trong trạng thái vận động và phát triển.”[41] Tiếp cận quan điểm này, giúp người nghiên cứu nhìn nhận một cách sâu sắc, toàn diện, khách quan về đối tượng cần nghiên cứu, thấy được mối liên hệ nhiều mặt, chặt chẽ trong công tác quản lý NSVH của SV, từ đó tìm hiểu chính xác thực trạng công tác quản lý NSVH của SV ở KTX hiện nay và
đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSVH của SV ở KTX trong thời gian tới
7.1.2 Quan điểm khách quan
Được vận dụng trong nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, giúp người nghiên cứu “ đánh giá các sự vật, hiện tượng khách quan, không thiên về tình cảm, định kiến, mà phải dựa trên các tư liệu, số liệu và bằng chứng cụ thể, đủ độ tin cậy.”
[41] về thực trạng công tác quản lý NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang
7.1.3 Quan điểm lôgic - lịch sử
Giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh, tình hình cụ thể, trường hợp cụ thể của đối tượng nghiên cứu trong mối
Trang 11quan hệ chặt chẽ của lực lượng quản lý giáo dục trong nhà trường, của hoàn cảnh xung quanh (gia đình, nhà trường, XH) để phục vụ cho việc quan sát, phỏng vấn, điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài
7.1.4 Quan điểm thực tiễn giáo dục
Sử dụng quan điểm thực tiễn giáo dục, bởi vì nó “vừa là điểm xuất phát của
đề tài, vừa là tiêu chuẩn để đánh giá, thừa nhận kết quả nghiên cứu của đề tài.”[41]
Thực tiễn trong những năm qua và cho đến hiện nay (10/2006), tại tỉnh Khánh Hòa và trường CĐSP Nha Trang chưa tìm thấy nhiều công trình nghiên cứu sâu về vấn đề quản lý NSVH của SV ở KTX Trong khi đó, việc nghiên cứu thực trạng công tác quản lý NSVH của SV ở KTX, tìm ra nguyên nhân và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSVH của SV ở KTX là cần thiết, phục vụ trực tiếp công tác quản lý NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang trong tình hình mới
7.2 Hệ phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc tài liệu, sách, báo, các báo cáo, tổng kết hoạt động của BQL KTX, các thông tin trên internet,v.v để hệ thống hóa vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: thường xuyên tiến hành quan sát các hoạt động
của SV ở KTX, các hoạt động của BQLKTX, cán bộ lãnh đạo, quản lý, chuyên viên các phòng ban, GVCN, cán bộ Đoàn TN, Hội SV trong việc quản lý NSVH của SV Mục đích nhằm thu thập thông tin ban đầu về đối tượng, khách thể nghiên cứu bằng tri giác trực tiếp và ghi lại một số biểu hiện, những ưu điểm, những kinh nghiệm tốt, những nhược điểm, hạn chế của SV, cán bộ quản lý KTX,….Mặt khác, người nghiên cứu cũng đã sử dụng phương pháp quan sát hoạt động của SV ở KTX và cán
bộ quản lý KTX tại KTX trường ĐHSP TP.Hồ Chí Minh nhằm so sánh và rút ra những bài học, kinh nghiệm hay từ KTX có nhiều thành tích này
- Phương pháp phỏng vấn: tiến hành trao đổi trực tiếp với một bộ phận SV
ở KTX, các cán bộ quản lý và nhân viên KTX, chuyên viên các khoa, phòng, ban,
tổ, giáo viên có liên quan đến công tác quản lý NSVH của SV ở KTX Nội dung
Trang 12phỏng vấn xoay quanh những vấn đề biểu hiện của SV trong giao tiếp, ứng xử, học tập, sinh hoạt cá nhân Mục đích phỏng vấn là để thu thập những thông tin cụ thể, sinh động và biết được một số biểu hiện NSVH của SV ở KTX trên một số mặt cần nghiên cứu để có cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý NSVH của SV ở KTX Bên cạnh đó, người nghiên cứu đã phỏng vấn cán bộ quản lý KTX của các trường ĐH Nha Trang, CĐSP Nhà trẻ-Mẫu giáo TW II, đội SV tự quản của KTX trường ĐHSP TP.Hồ Chí Minh…nhằm mục đích thu thập thông tin về nếp sống SV
ở KTX các trường bạn, học hỏi những kinh nghiệm hay trong việc quản lý nếp sống
SV ở KTX, từ đó nghiên cứu đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang
- Phương pháp điều tra: Đây là phương pháp chính nhằm khảo sát biểu hiện
NSVH của SV ở KTX, thực trạng công tác quản lý NSVH của SV ở KTX và những chủ thể, hoạt động, nội dung, biện pháp quản lýNSVH của SV ở KTX Phiếu ttrưng cầu ý kiến là công cụ nghiên cứu chính của đề tài
Việc xây dựng phiếu trưng cầu được tiến hành theo các giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Dựa vào những biểu hiện nếp sống SV trong thực tiễn và cơ sở lý luận liên quan đến việc quản lý NSVH của SV, chúng tôi soạn thảo 2 phiếu trưng cầu dạng mở :
+ Phiếu thứ nhất: lấy ý kiến của 40 người gồm: cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, chuyên viên các phòng ban, khoa, tổ, GVCN một số lớp, cán bộ Đoàn TN, Hội SV của trường CĐSP Nha Trang
+ Phiếu thứ hai: lấy ý kiến của 90 SV (năm I,II,III) thuộc 4 khoa (Tự Nhiên, XãHội, Ngoại Ngữ, Tiểu Học) đang ở KTX trường CĐSP Nha Trang
- Giai đoạn 2: Từ kết quả thăm dò nói trên, kết hợp với những cơ sở lý luận liên quan đến việc quản lý NSVH của SV, đặc biệt là việc tiếp thu ý kiến của Thầy, cô trong Hội đồng bảo vệ đề cương (3/2006), người nghiên cứu xây dựng phiếu trưng cầu chính thức gồm: Mẫu 1 (dành cho khối CBGV) có 11 câu hỏi và mẫu 2 (dành cho SV đang ở KTX) có 10 câu hỏi, câu hỏi của mẫu 1 và mẫu 2 giống nhau từ câu
1 đến câu 9, riêng câu 10 của 2 mẫu có khác nhau (Xin xem phần phục lục 1,2)
Trang 13Chọn mẫu: Có một số phương pháp chọn mẫu thông dụng như: chọn mẫu
ngẫu nhiên đơn giản, chọn mẫu theo hệ thống, chọn mẫu tỉ lệ theo tầng lớp, chọn mẫu theo nhóm v.v
Đối với SV: Trước tiên, chúng tôi đã sử dụng phương pháp chọn mẫu tỉ lệ
theo tầng lớp, cụ thể như sau: Một dân số SV CĐSP Nha Trang ở KTX là 668 người (năm học 2005-2006), được chia ra theo 3 tầng lớp là: SV năm thứ I: 202 SV; năm II: 291 SV; năm III: 175 SV Dùng kí hiệu W để chỉ tỉ lệ dân số ở mỗi tầng lớp/ toàn thể dân số, cụ thểlà:
Năm I: W1 = 202/ 668= 0,302
Năm II: W2 = 291/668 = 0,435
Năm III: W3 = 175/668 = 0,2619
Chúng tôi cần chọn mẫu 360 SV, trong đó có đủ tầng lớp SV năm I,II,III với
tỉ lệ dân số như trên Do vậy, chúng tôi chọn số người ở trong mỗi tầng lớp, kí hiệu
Đối với CBGV: Do số lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý các khoa, phòng, ban,
tổ, Đoàn TN, Hội SV, chuyên viên, GVCN của trường ít (tổng cộng 68 người) nên chúng tôi gởi đầy đủ 68 phiếu, thu về 68 phiếu, kết quả số phiếu hợp lệ : 58 phiếu Ghi chú: Phiếu hợp lệ là phiếu thực hiện đầy đủ các yêu cầu của câu hỏi
Phiếu không hợp lệ là phiếu vi phạm những tiêu chí sau:
- Với câu 1:
Câu 1.1: Phiếu trả lời bỏ trống ở cả 3 mức độ hoặc đánh dấu từ 2 mức độ trở lên Câu 1.2 Phiếu trả lời bỏ trống từ 1 lựa chọn trở lên hoặc trả lời có 2 lựa chọn trong mỗi câu hỏi
Trang 14- Từ câu 2 đến câu 4: Phiếu không trả lời hoặc trả lời có 2 lựa chọn trở lên trong mỗi câu hỏi
- Với câu 5: Phiếu trả lời bỏ trống ở cả 4 mức độ hoặc đánh dấu từ 2 mức độ trở lên trong mỗi câu hỏi
- Câu 6, câu 7: Phiếu trả lời bỏ trống ở cả 3 mức độ hoặc đánh dấu từ 2 mức độ trở lên trong mỗi câu hỏi
- Với câu 8: Phiếu trả lời bỏ trống ở cả 5 mức độ hoặc đánh dấu từ 2 mức độ trở lên trong mỗi câu hỏi
- Với câu 9: Phiếu không trả lời hoặc trả lời có 2 lựa chọn cho mỗi câu hỏi
- Với câu 10 (mẫu 2): Phiếu trả lời bỏ trống ở cả 3 mức độ hay đánh dấu từ 2 mức
độ trở lên cho mỗi câu hỏi
- Với câu 10 (mẫu 1): Phiếu không trả lời hoặc trả lời có 2 lựa chọn cho mỗi câu hỏi
- Với câu 11 (mẫu 1): Phiếu trả lời bỏ trống ở cả 3 mức độ hoặc đánh dấu từ 2 mức
độ trở lên cho mỗi câu hỏi
- Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê
+ Tính tần số, tỉ lệ phần trăm, trung bình, độ lệch chuẩn
+ Xếp thứ hạng
+ Kiểm nghiệm Chi - bình phương
+ Phân tích nội dung từ các số liệu đã thống kê, tổng hợp
Tất cả các số thống kê được xử lý trên máy tính bằng phần mềm SPSS 13.0 for
Windows
Trang 15
NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NSVH CỦA SV Ở KTX
1.1 SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Vấn đề nghiên cứu nếp sống đã được đề cập từ lâu qua nhiều tác phẩm nghiên cứu công phu như :“ Bộ Thiên Nam dư hạ tập thời Lê Thánh Tông còn ghi lại nhiều quy định của nhà nước về phong tục và nếp sống trong nhân dân: từ việc
ăn uống, quần áo, nhà cửa, cho đến đám cưới, đám ma, cùng mọi sinh hoạt trong gia đình và làng xã.”[19, tr.219] Nhà vua xem việc ban hành những quy định ấy là công việc rất cần thiết nhằm củng cố quyền quốc gia và để bảo vệ sự thống trị của mình
Cụ Phan Kế Bính (1875 – 1921) là một nhà biên khảo và dịch thuật xuất sắc,
có công phu, sáng tạo và có tư tưởng tiến bộ, ông nghiên cứu công phu về các phong tục tập quán của dân tộc VN qua bao thăng trầm của lịch sử 4000 năm Trong tác phẩm “ VN phong tục” của ông, hầu hết những phong tục XH, phong tục
trong gia tộc, thói quen, nếp sống của con người VN kể từ xưa đến đầu thế kỷ XX
được tác giả phản ánh một cách khách quan, từ đó ca ngợi những phẩm chất, thói quen tốt của con người VN, đồng thời mạnh dạn phê phán các yếu tố lạc hậu, trì trệ
trong các phong tục, thói quen, nếp sống … không phù hợp với thuần phong mỹ tục
và bản sắc văn hóa dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hóa lớn của dân tộc và nhân loại cũng đã nhấn mạnh việc xây dựng “Đời sống mới” (sau này đổi thành nếp sống mới), cách làm việc mới, Người đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ lòng nhân ái, kính già, yêu trẻ, có lối sống thật thà, khiêm tốn, trung thực, yêu lao động, yêu đồng bào và yêu tổ quốc Trong lúc nước nhà chưa thống nhất, việc “xóa bỏ, cải tạo nếp sống cũ lạc hậu và xây dựng nếp sống mới là nhiệm vụ to lớn và phức tạp, đòi hỏi
phải tiến hành, như Hồ Chủ tịch nói: Một cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu
dài.” [30, tr.151]
Trang 16Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng VN, ĐCSVN luôn quan tâm đến
vấn đề văn hóa, NSVH, coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng XH mới, con người mới Vấn đề nghiên cứu
nếp sống, NSVH đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu, nhiều văn bản
chỉ đạo của Đảng, Nhà nước
Từ khi miền Nam được giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất, Đại hội
lần thứ IV và lần thứ V của Đảng đã đề ra đường lối xây dựng nếp sống mới trong từng văn kiện Trong Đại hội IV, văn kiện đã dùng khái niệm “ nếp sống mới có văn
hoá”, vận động một cách kiên trì và sâu rộng để tạo ra nếp sống mới có văn hoá
trong XH, đưa cái đẹp vào đời sống hàng ngày, vào lao động sản xuất Trong Đại hội V, Nghị quyết đã nhấn mạnh :“ kiên trì xây dựng nếp sống mới lành mạnh, khoa học, tiết kiệm và giản dị, bảo vệ và phát triển các giá trị tinh thần Kiên quyết bài trừ hủ tục, mê tín, dị đoan, …Tất cả những việc đó nhằm làm cho tư tưởng, tình cảm, lối sống mới thật sự chiếm ưu thế trong đời sống nhân dân.”[30, tr.21]
Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Đề cương văn hóa của Đảng, đồng chí Trường Chinh trình bày vấn đề lối sống và nếp sống: “Nếp sống mới gắn liền quyền lợi với trách nhiệm và nghĩa vụ.…xây dựng CNXH, bảo vệ tổ quốc, tôn trọng luật pháp, giữ gìn trật tự an ninh…không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ của mỗi người, được thực hiện với ý thức tự giác.”[30, tr.28]
Năm 1980 Ban Nếp sống mới TW được thành lập do Ban Bí thư TW ĐCS
VN trực tiếp chỉ đạo, đến năm 1989 có tên là Ban chỉ đạo NSVHTW Cả nước đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng NSVH-Gia đình văn hóa trong tình hình mới nhằm
xây dựng cho cá nhân, gia đình và XH có nếp sống văn hóa
Nghị quyết Đại hội ĐCSCN lần thứ VII nhấn mạnh: “ Xây dựng gia đình văn hoá mới có ý nghĩa quan trọng trong tình hình hiện nay, góp phần phát triển sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống, giữ gìn và phát huy những truyền thống đạo đức, văn hoá tốt đẹp của dân tộc Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi
người … hình thành nhân cách cao đẹp và nếp sống có văn hoá.”[46]
Thông báo số 178-TB/TW, ngày 29/3/1996 của Ban Bí thư về tăng cường nghiên cứu và chỉ đạo vấn đề gia đình sau 10 năm đổi mới có nêu: “ …đẩy mạnh
Trang 17cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa ở tất cả các địa phương, coi đây là công
tác trọng tâm của cuộc vận động xây dựng NSVH hiện nay.”[1] Tiếp sau đó, trong hai ngày 22, 23/8/1996 Hội nghị “ Bàn về công tác xây dựng gia đình văn hóa các tỉnh phía Bắc” đã được tổ chức, Hội nghị nhất trí đề xuất những kiến nghị với Nhà nước và Bộ Văn hóa – Thông tin như sau:“…tiếp tục coi công tác xây dựng gia đình văn hóa có tầm chiến lược quốc gia, đề nghị nhanh chóng có kế hoạch cụ thể kiện toàn Ban chỉ đạo NSVHTW để có biện pháp hữu hiệu, kịp thời củng cố và xây dựng gia đình văn hóa trong tình hình hiện nay.”[7]
Ngày 16/7/1998, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, khóa VIII của BCHTW ĐCSVN ra đời, đây là Nghị quyết định hướng chiến lược xây dựng và phát triển nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nội dung Nghị quyết bao gồm 6
vấn đề quan trọng, trong đó vấn đề giáo dục tư tưởng, đạo đức, nếp sống được đặt lên hàng đầu Nhiều thuật ngữ nếp sống được nhắc đến trong toàn văn của Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 5 như “…Xây dựng con người VN trong giai đoạn cách
mạng mới với những đức tính sau: có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần
kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước…Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa, nâng cao tính tự quản của cộng đồng
dân cư trong công cuộc xây dựng nếp sống văn minh…Coi trọng giáo dục đạo lý làm người, ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước, đạo đức, nếp
sống văn hóa, lịch sử dân tộc và bản sắc dân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai của
mỗi người và tiền đồ của đất nước…Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, mở rộng mạng lưới thông tin ở vùng dân tộc thiểu số…Xây dựng nếp sống văn
minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, đẩy lùi hủ tục, các tệ nạn cờ bạc, ma túy, mại dâm, bạo lực, gây rối trật tự công cộng…Khuyến khích nhân dân các xã, phường, thôn ấp, cụm dân cư, khu tập thể, xí nghiệp, cơ quan xây dựng các quy ước
về nếp sống văn hóa, giữ gìn trật tự vệ sinh công cộng, bảo vệ môi trường thiên
nhiên, cảnh quan sạch đẹp,…”
Hội nghị lần thứ 9 BCHTW ĐCSVN khóa IX đã nhấn mạnh: “…Tăng cường quản lý nhà nước, hoàn thiện cơ chế, chính sách và giải pháp đẩy mạnh việc xây
dựng nếp sống văn hóa, văn minh; hình thành các giá trị con người mới, giá trị XH
mới làm cơ sở và động lực cho đất nước phát triển nhanh và bền vững”; đặc biệt,
Trang 18trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) đề cập việc “…Phát huy tính năng động, chủ động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các hội văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, các hộ gia đình,
cá nhân, các trí thức tham gia hoạt động trên các lĩnh vực văn hóa Xây dựng và
triển khai chương trình giáo dục văn hóa – thẩm mỹ, nếp sống văn minh, hiện đại
trong nhân dân.”[46]
Như vậy, có thể khẳng định các nhà lãnh đạo đất nước, quản lý XH rất quan
tâm đến việc xây dựng, quản lý nếp sống, NSVH của các tầng lớp nhân dân, trong
đó có lực lượng TN, HS, SV
Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học, văn hóa, giáo
dục…đã tập trung nghiên cứu vấn đề nếp sống, NSVH của các tầng lớp nhân dân,
do vậy có nhiều sách, nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể như:
Sách: Bàn về lối sống và nếp sống XHCN của Nhà XB Văn hoá Hà Nội –
1985 Cuốn sách là công trình nghiên cứu tập thể của một số cán bộ Viện Văn hóa,
sách cung cấp một số lý luận cơ bản chung quanh vấn đề xây dựng lối sống, nếp
sống XHCN, đề cập đến những khái niệm về lối sống, nếp sống, phân tích sự khác
nhau giữa các khái niệm đó,… mạnh dạn đề xuất những khuôn mẫu và những biện
pháp để xây dựng nếp sống XHCN ở nước ta
Bài: Tác dụng của pháp chế XHCN trong việc xây dựng lối sống XHCN và
NSVH của con người mới làm chủ tập thể của tác giả Ngô Bá Thành (1985), nội
dung bài viết đề cập: Tăng cường pháp chế XHCN là một yêu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, bảo đảm quyền làm chủ tập thể của nhân dân và làm tròn chức năng của chuyên chính vô sản…Đòi hỏi phải khẩn trương xây dựng
nề nếp quản lý XH theo pháp luật, tự giác tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh pháp
luật “Xây dựng lối sống XHCN bằng cuộc vận động xây dựng NSVH thì một việc
làm không thể thiếu được chính là biến phương châm: Sống và làm việc theo Hiến
pháp và pháp luật thành nếp sống hàng ngày của nhân dân.”[30, tr.203].
Tác phẩm: Con người văn minh sống như thế nào, Nxb TN, Hà Nội, 1995, của cố GS Nguyễn Lân đã đề cập đến vấn đề nếp sống văn minh của thế hệ trẻ;
trước tình hình một bộ phận TN, thiếu niên ngang ngược, không kính già, mến trẻ,
Trang 19ăn nói xấc xược, hành động bừa bãi…làm cho gia đình, XH lo lắng, bi quan về tương lai của dân tộc; bên cạnh sự lơ là của gia đình, sự sơ suất của trường học thì
lý do chính là từ nhỏ đến lớn, thanh thiếu niên chưa có “ những ý niệm minh bạch
về nếp sống văn minh của con người, mặc dù có nhiều sách lý luận, nhiều bài giảng chính trị nhưng thanh niên, thiếu niên chưa được biết những điều cụ thể trong nếp sống hàng ngày.”[21, tr.5] Chính vì vậy, cố GS Nguyễn Lân đã nghiên cứu và chỉ
ra những nếp sống văn minh trong đời sống hàng ngày của bản thân (rèn luyện về thể chất, về tinh thần, về tập quán), nếp sống văn minh trong gia đình, quan hệ hàng xóm láng giềng, quan hệ với thầy và bạn, quan hệ với đồng nghiệp, đồng sự, nếp
sống văn minh ở ngoài đường, nơi công cộng và trong giao tiếp; có thể nói đây là
một tác phẩm hay, có giá trị ở hiện tại và tương lai sau này trong việc giáo dục, rèn
luyện thế hệ trẻ để trở thành con người có nếp sống văn minh
Trong tác phẩm: Giáo dục con người hôm nay và ngày mai, 1995, GS.VS
Phạm Minh Hạc cũng đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến thế hệ trẻ, vấn đề giáo dục con người văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa là “sự vận động của các
mối giao tiếp văn hóa, thể hiện trong ứng xử của từng người và nếp sống, trật tự kỷ
cương của XH,”[16] nói lên nghĩa vụ và quyền lợi của từng người và cộng đồng trong mọi công việc, từ sản xuất, học tập đến sinh hoạt, vui chơi
Cùng với các tỉnh, thành phố trong cả nước quan tâm đến việc xây dựng, phát triển quê hương ngày càng giàu và đẹp, Đà Nẵng được xem như là một trong những thành phố năng động của cả nước Bên cạnh công tác chỉnh trang đô thị, tôn tạo và xây dựng mới cơ sở hạ tầng tạo cho thành phố một diện mạo mới thì Đà Nẵng là một trong những thành phố đặc biệt chú trọng đến việc phát động nhiều
phong trào nhằm xây dựng NSVH, văn minh cho nhân dân, cụ thể : phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, phong trào thi đua thực hiện Nếp sống văn
minh đô thị, an toàn giao thông và vệ sinh môi trường đã được triển khai rộng khắp,
góp phần xây dựng NSVH – văn minh đô thị Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả
đạt được vẫn còn những tồn tại yếu kém; để tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng đời
sống văn hoá cho nhân dân, UBND thành phố Đà Nẵng ban hành Đề án “ Xây
dựng NSVH- văn minh đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2010”
[45] Đề án đã nêu lên được: sự cần thiết xây dựng đề án, mục tiêu, nội dung xây
Trang 20dựng nếp sống, đối tượng vận động, địa bàn triển khai, lĩnh vực xây dựng nếp sống,
…và các giải pháp cơ bản, tổ chức thực hiện, phân công trách nhiệm các Sở, ban ngành trong thành phố, quy định chế độ báo cáo, kiểm tra đánh giá; qua nghiên cứu
đề án chúng ta có thể thấy sự quyết tâm rất cao của lãnh đạo thành phố Đà Nẵng
trong việc xây dựng NSVH – văn minh đô thị cho nhân dân
Trong tác phẩm: Xây dựng và phát triển nền văn hoá VN tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc, (2001) tác giả Nguyễn Khoa Điềm cũng đã khái quát những vấn đề
trọng tâm của việc phát triển văn hoá, việc hình thành nền tảng tinh thần của XH
VN hiện đại đặt ra cho văn hoá những trọng trách, đó là mối quan tâm thường xuyên đến nhân tố con người, không ngừng cổ vũ, hướng dẫn con người hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ, phấn đấu cho hạnh phúc chính đáng của chính mình và góp ngày càng nhiều cho XH Kiên quyết lên án sự suy thoái đạo đức, lối sống; bài trừ các thói hư, tật xấu, đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, quan liêu, vô trách nhiệm, coi thường kỷ cương, phép nước Đề cao và nhân rộng những
tấm gương tốt đẹp trở thành nếp sống lành mạnh của XH. [14]
Luận văn Thạc sĩ: Một số biện pháp quản lý giáo dục nếp sống cho SV nội
trú trường Cao đẳng Giao thông Vận tải 3, (2004) của Nguyễn Văn Toàn Tác giả
đã nghiên cứu thực trạng việc quản lý giáo dục nếp sống cho SV nội trú trường Cao đẳng Giao thông Vận tải 3 và đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dục nếp sống cho SV, tập trung những biện pháp: tạo sự phong phú về nội dung giáo dục nếp sống SV trong các hoạt động ở KTX, tổ chức SV tự quản trong hoạt động, củng cố
tổ chức quản lý KTX,đảm bảo trật tự an ninh trong KTX… trong các biện pháp, tác giả chưa nhấn mạnh đến vai trò của GVCN trong việc quản lý nếp sống SV, đẩy mạnh hoạt động giao lưu với các KTX bạn để học hỏi kinh nghiệm tổ chức, quản lý
và việc thường xuyên bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho cán bộ quản lý KTX,… mặt khác tác giả chưa nhấn mạnh từng biện pháp có ảnh hưởng trực tiếp như thế nào đến hoạt động của nhà trường, BQL KTX…Đây là những vấn đề khá quan trọng góp phần không nhỏ vào việc quản lý nếp sống SV nội trú
Qua sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi nhận thấy chủ trương của Đảng, Nhà nước về vấn đề xây dựng NSVH nhân dân đã có từ lâu, có một số
Trang 21nhà quản lý, nhà giáo dục, nhà khoa học,… đã có công trình nghiên cứu về vấn đề NSVH, song ít thấy công trình nghiên cứu sâu về quản lý NSVH của SV nói chung,
SV ở KTX nói riêng Và nhiều năm qua tại tỉnh Khánh Hòa, trường CĐSP Nha Trang chưa tìm thấy nhiều công trình nghiên cứu sâu về vấn đề quản lý NSVH của
SV ở KTX Do vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề thực trạng quản lý NSVH của
SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang để nghiên cứu nhằm mục đích góp phần trực tiếp vào việc quản lý NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trangngày một hiệu quả hơn.
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NSVH CỦA SV Ở KTX 1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một hiện tượng XH có từ rất lâu đời, được nẩy sinh trong quá trình lao động chung của loài người Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, các nhà nghiên cứu đã có nhiều cách định nghĩa về khái niệm quản lý dựa trên những cách tiếp cận khác nhau
Theo từ điển Giáo dục học: Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng
có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [16]
Trong thời đại công nghiệp các nhà quản lý phương Tây rất chú ý đến khía cạnh hiệu quả và kinh tế của hoạt động quản lý, Frederick.Winslow Taylor (1856-1925)- nhà thực hành quản lý lao động và nghiên cứu quá trình lao động, cho rằng: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất [10]
Ở VN, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học quản lý và khoa học giáo dục đưa ra các định nghĩa khác nhau về quản lý như sau:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường [39]
Trang 22Các định nghĩa trên đã cho chúng ta thấy sự phong phú trong cách sử dụng thuật ngữ, trong cách diễn đạt, trong những cách tiếp cận khác nhau…Theo tác giả,
có thể hiểu khái niệm quản lý như sau: Quản lý là quá trình tác động có kế hoạch,
có tổ chức, định hướng, kiểm tra, điều chỉnh của chủ thể quản lý lên khách thể quản
lý nhằm thực hiện những mục tiêu đã dự kiến
1.2.1.2 Chức năng quản lý
Trong quản lý, chức năng quản lý là kết quả của quá trình phân công lao động và là bộ phận tạo thành hoạt động quản lý tổng thể, được tách riêng và có tính chuyên môn hóa Các chức năng cơ bản của quản lý gồm: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
+ Kế hoạch hóa: là vạch ra kế hoạch hành động theo một thời gian, phạm vi
nhất định trên cơ sở thực trạng, lộ trình, biện pháp thực hiện, dự báo tình huống có thể xảy ra của tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến
+ Tổ chức: Là hình thành nên những cơ chế phối hợp giữa các thành viên, bộ
phận trong đơn vị, đảm bảo sự chỉ huy thống nhất, xử lý công việc hàng ngày của người quản lý nhằm đạt được mục tiêu kế hoạch đề ra Nhờ việc tổ chức có hiệu quả người quản lý có thể điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực(vật lực và tài lực) một cách khoa học nhằm nâng cao hiệu quả, năng suất vận hành của đơn vị
+ Chỉ đạo: Là các phương pháp, cách thức tác động của chủ thể quản lý làm
cho tất cả các thành viên của đơn vị phối hợp, đoàn kết với nhau và thực hiện trách nhiệm của từng người, cống hiến tốt nhất trên từng cương vị công tác, từ đó làm cho toàn bộ tổ chức vận hành một cách hữu hiệu để đạt được mục tiêu của đơn vị
+ Kiểm tra: Thông qua một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức để xem xét
thực tế, theo dõi giám sát quá trình và kết quả hoạt động, tiến hành uốn nắn, điều chỉnh những hạn chế, thiếu sót, sửa chữa hoạt động sai trái của các thành viên trong
tổ chức, khuyến khích, khen thưởng những thành viên thực hiện tốt kế hoạch đem lại kết quả cao cho tổ chức; đồng thời xem lại những quyết định quản lý để có sự điều chỉnh quyết định kịp thời phù hợp với tình hình đơn vị
Trang 23Hiểu được khái niệm quản lý, chức năng quản lý giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về công tác quản lý, đồng thời đây là cơ sở quan trọng để nắm được khái niệm quản lý trên một lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn như quản lý NSVH của SV
1.2.2 Nếp sống văn hoá của SV
1.2.2.1 Văn hoá
Văn hoá do con người sáng tạo ra, đến lượt mình, con người lại trở thành một sản phẩm của văn hoá, của XH Để có một sự hài hoà giữa XH, văn hoá và con người, sự tồn tại của một cộng đồng, một dân tộc…buộc phải quy định ra những khuôn mẫu, tiêu chí văn hoá cho những con người trong cộng đồng, trong XH, trong một quốc gia Sự quy định ấy phải thể hiện bằng pháp chế, bằng dư luận, bằng cách tạo nên những thói quen, phong tục tập quán, truyền thống…
* Khái niệm văn hóa
Khái niệm văn hóa được nhiều người đề cập, vào năm 1994, trong công trình
Văn hóa VN và cách tiếp cận mới, PGS Phan Ngọc cho biết: “ Một nhà dân tộc học
Mỹ đã dẫn ngót bốn trăm định nghĩa về văn hóa khác nhau”[13]; do vậy, trên thế giới hiện nay, có rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các cơ quan nghiên cứu… đã nghiên cứu về văn hoá, bằng kinh nghiệm và sự hiểu biết sâu sắc của mình trên từng lĩnh vực, với cách tiếp cận khác nhau trên cương vị công tác của mình đã có những khái niệm về văn hoá như sau:
Ông Federico Mayor, cựu Tổng giám đốc UNESCO cho rằng: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên
hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.”[19, tr.32]
Thập niên 40 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày một quan niệm
về văn hoá: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá.”[26, t.3, tr.431]
Trang 24Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã kế thừa tư tưởng của Bác và cho rằng: “ Nói tới văn hoá là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong một quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hoá với nghĩa bao quát và đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh các cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh.”[15, tr.16]
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường thiên nhiên và XH của mình [36]
Có thể thấy sự phong phú trong cách sử dụng thuật ngữ, diễn đạt, với nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau đã dùng ở một số định nghĩa nêu trên, qua nghiên
cứu chúng tôi nghĩ khái niệm văn hóa cũng có thể hiểu như sau : Văn hoá là toàn bộ
những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành theo thời gian qua sự tác động sáng tạo của con người vào tự nhiên, XH và vào chính con người để vươn tới sự hoàn thiện góp phần thúc đẩy sự tiến bộ, phát triển không ngừng của đời sống XH loài người
Để hiểu rõ khái niệm văn hóa và phân biệt một khái niệm gần với khái niệm
văn hóa (culture) đó là khái niệm văn minh (civilization); bởi lâu nay, không ít
người vẫn sử dụng văn minh như một từ đồng nghĩa với văn hóa
“ Văn minh (văn nghĩa là vẻ đẹp, minh nghĩa là sáng) là khái niệm có nguồn gốc từ phương Tây chỉ trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất, nó đặc trưng cho một thời đại và một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại.”[36, tr.25] Hai khái niệm văn hóa và văn minh “gần gũi, có liên quan mật thiết với nhau song không đồng nhất”[36, tr.25]; trong khi văn hóa luôn luôn có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ cho biết trình độ phát triển của văn hóa; thực tế chứng minh như sau: nếu như vào thế kỷ XIX, chiếc đầu máy hơi nước đã từng là biểu tượng
Trang 25của văn minh thì sang thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI nó là biểu tượng của sự lạc hậu và nhường chỗ cho máy vi tính, máy kỹ thuật số, phi thuyền bay vào vũ trụ
“Ở VN còn có các khái niệm: văn hiến, văn vật đó là những khái niệm bộ phận của văn hóa”[36, tr.26]; hai khái niệm này khác với khái niệm văn hóa ở độ bao quát các giá trị: “văn hiến là văn hóa thiên về các giá trị tinh thần, còn văn vật
là văn hóa thiên về các giá trị vật chất.”[36, tr.26]
* Chức năng của văn hoá: Văn hoá có 4 chức năng: tổ chức XH, điều chỉnh XH,
giáo dục, giao tiếp.[36]
+ Chức năng tổ chức XH : “Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn
định của XH, cung cấp cho XH mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và XH của mình.” [36, tr.21] Thể hiện của chức năng này, đó là: tận dụng môi trường (nếu tác động của môi trường là tích cực), đối phó môi trường (nếu tác động của môi trường là tiêu cực) và chủ động cải biến, sáng tạo ra môi trường
+ Chức năng điều chỉnh XH: Văn hóa định hướng các giá trị, xem xét, phân
loại các giá trị, điều chỉnh các ứng xử của con người, “giúp cho XH duy trì trạng thái cân bằng động của mình, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường để tồn tại và phát triển.”[36, tr.23]
+ Chức năng giáo dục: Nhờ chức năng giáo dục mà truyền thống văn hóa
được tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ khác
+ Chức năng giao tiếp : Văn hóa trở thành một công cụ giao tiếp quan trọng
bởi văn hóa luôn gắn liền với con người và hoạt động của con người trong XH, thể hiện cụ thể: “giao tiếp giữa các cá nhân trong một dân tộc, giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau, giữa các nền văn hóa khác nhau trên thế giới.”[36, tr.24]
1.2.2.2 Nếp sống văn hóa
* Khái niệm nếp sống
Trong cuộc sống, những ý nghĩ, việc làm, sinh hoạt…được lặp đi, lặp lại hàng ngày, dần dần trở thành thói quen, thành một hệ thống tập quán tạo nên nếp
sống Nói cách khác, Nếp sống bao gồm những cách thức, những quy ước đã trở
thành thói quen trong các lĩnh vực của cuộc sống, ví dụ: trong sản xuất có cách thức
Trang 26trồng trọt, chăn nuôi, ; trong sinh hoạt có thói quen ăn, mặc, ở, giao tiếp ; trong
đời sống XH có phong tục, tập quán, lễ nghi, pháp luật Nhờ có nếp sống mà những
kinh nghiệm quý báu của con người và XH được giữ gìn và phát triển và cũng nhờ
có nếp sống mà con người và XH không cần phải đi đường vòng, không phải bắt
đầu lại quá trình lịch sử mà nhân loại đã trải qua
Trong từ điển Tiếng Việt [47, tr.644], nếp có hai nghĩa: theo nghĩa thứ nhất: vệt hằn trên bề mặt nơi bị gấp lại của vải, lụa, da,v.v (quần áo còn nguyên nếp, nếp nhăn trên má); theo nghĩa thứ hai: Lối, cách sống, hoạt động đã trở thành thói quen (nếp sống văn minh, thay đổi nếp suy nghĩ)
Một số tác giả đã có những khái niệm khác nhau về nếp sống như sau:
Tác giả Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: Nếp sống là lối sống đã đi vào nề nếp
được XH quy định bởi những pháp chế, tập tục hay luật lệ được dư luận đông đảo
quần chúng của XH chấp nhận [44] Theo tác giả Lê Như Hoa: Nếp sống là những
hành vi ứng xử của con người đã được lập đi, lập lại nhiều lần thành nếp, thành thói
quen, thành phong tục được XH công nhận [30] Tác giả Thanh Lê cho rằng: Nếp
sống là những quy ước được lập đi, lập lại và trở thành thói quen trong sinh hoạt,
phong tục tập quán và hành vi đạo đức.[23]
Qua tìm hiểu, nghiên cứu chúng tôi hiểu khái niệm nếp sống như sau: nếp
sống là những biểu hiện hành vi ứng xử của con người trong các lĩnh vực của cuộc sống (sản xuất, sinh hoạt, đời sống XH, gia đình, ) đã được hình thành, trải nghiệm
và ổn định theo thời gian
Trang 27Điều tất yếu và là nhân tố quan trọng quyết định trong việc xây dựng một NSVH của dân tộc VN đang trên chặng đường quá độ tiến tới một XH XHCN là: NSVH của con người VN nói chung, của TN nói riêng không chấp nhận lối sống lấy đồng tiền làm thước đo mọi giá trị con người, lấy sự cạnh tranh không lành mạnh, lừa gạt, bịp bợm làm lẽ sống, lấy sự chà đạp lên danh dự, phẩm giá người khác, mua quyền, bán chức làm phương tiện để vươn lên địa vị cao sang trong XH, lấy sự gian dối, cơ hội, thiếu trung thực để đạt được những gì mình mong muốn
Chúng tôi cho rằng: NSVH của SV là những biểu hiện hành vi ứng xử của
SV trong các hoạt động học tập, giao tiếp, hoạt động cá nhân, tập thể đã được hình thành, rèn luyện, ổn định theo thời gian, phù hợp với các quy định, văn hóa của nhà trường, phù hợp chuẩn mực đạo đức của XH và được cộng đồng chấp nhận
1.2.2.3 Một số khái niệm liên quan
Nếp sống, lối sống là những khái niệm gần gũi, liên quan đến nhau nhưng không đồng nhất với nhau
Lối sống của một dân tộc, một đất nước bao hàm một nội dung gắn liền với những hình thức sinh hoạt của tất cả mọi người trong cộng đồng trải ra nhiều lĩnh vực hoạt động, đảm bảo các chuẩn mực văn hoá và do tính chất của XH, của dân tộc, của đất nước quy định Trong từng giai đoạn lịch sử, bên cạnh lối sống chung mang dấu ấn của cả nước, cả dân tộc thì mỗi ngành, mỗi giới, mỗi thành phần giai cấp… thậm chí từng gia đình, từng cá nhân đều có lối sống riêng của mình Sự riêng biệt của những lối sống này chỉ có thể chấp nhận được một khi nó phù hợp với lối sống chung của cộng đồng, không đi ngược với lợi ích của cộng đồng
Vì vậy, tùy theo cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã có những khái niệm
về lối sống không hoàn toàn giống nhau:
Lối sống là toàn bộ những hình thức, hoạt động sinh sống tiêu biểu xuất hiện
trong những quan hệ kinh tế – XH nhất định của các dân tộc, giai cấp, các nhóm
XH, cá nhân trong sản xuất vật chất và tinh thần, trong phạm vi XH – chính trị và riêng tư thường ngày, trong những mối quan hệ qua lại của mọi người và trong đời sống cá nhân.[32]
Trang 28Lối sống là một phạm trù XH học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm XH, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế – XH nhất định, và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa [19]
Có thể nói, lối sống là thước đo về trình độ dân trí, sinh hoạt vật chất và tinh
thần của con người và của XH, lối sống được thể hiện ở lẽ sống, nếp sống, mức
sống Trên thực tế, có thể mức sống chưa cao nhưng nhờ có lẽ sống đẹp, nếp sống
lành mạnh, con người có thể trở thành con người có văn hóa và XH không ngừng tiến bộ, phát triển
Lẽ sống là sự lựa chọn chủ quan của con người về một lối sống; nó luôn túc
trực và sẵn sàng giải đáp mọi lúc mọi nơi cho con người về ý nghĩa sự tồn tại hàng ngày của họ Trong hoàn cảnh dân tộc bị áp bức, nhân dân bị nô dịch, nước nhà
chưa thống nhất thì lẽ sống của con người phải là độc lập, tự do; bên cạnh những
anh hùng liệt sĩ chúng ta đã biết như: Lý Tự Trọng, Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trỗi,…thì hình ảnh liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, liệt sĩ Bác sĩ Đặng Thùy Trâm là
những minh chứng cho lẽ sống cao quý ấy Còn trong hoàn cảnh khó khăn đang xây
dựng đất nước như hiện nay, chúng ta không thể chấp nhận sự lười nhác, xa hoa,
lãng phí, tham nhũng mà lẽ sống của con người VN có lương tâm đó là thực hiện
theo như lời Bác Hồ dạy: “ cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, biết làm giàu cho bản thân, gia đình và XH, góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh, văn minh
Mức sống là một chỉ báo về lối sống, nói lên trình độ sinh hoạt vật chất (ăn,
ở, mặc,…) của con người từ mức thu nhập cá nhân và mức hưởng thụ phúc lợi XH (đi lại, học tập, sinh hoạt văn hóa, bảo vệ sức khỏe, bảo hiểm XH,…) của cá nhân
đó Mức sống được nâng cao là điều kiện vật chất cần thiết để con người có thể
nâng cao sức khỏe, phát triển tài năng, tổ chức tốt cuộc sống gia đình nhằm đóng góp nhiều của cải vật chất, tinh thần cho XH Do vậy, nâng cao mức sống là nhu cầu chính đáng và cũng là mục tiêu phấn đấu của Đảng, Nhà nước ta và của mọi
người Tuy nhiên, mức sống không thể đồng nhất với lối sống Tức là, mức sống có
Trang 29thể ngang nhau nhưng lối sống có thể khác nhau, không phải mức sống được nâng cao thì mọi mặt của lối sống cũng đều tích cực, tốt đẹp; thực tế đã xảy ra, đó là có không ít người sống với một mức sống rất cao song họ lại làm những việc bị XH lên
án, điển hìnhnhư một số quan chức PMU18 (Ban quản lý các Dự án thuộc Bộ Giao thông vận tải): ăn chơi trác tán, tham nhũng, bòn rút của công, đánh bạc, cố ý làm
trái những quy định của pháp luật như vậy, mức sống của những người này rất cao song lối sống của họ lại tiêu cực, rất thấp về nhân phẩm Ngược lại, có những người
sống trong cảnh nghèo túng, nhưng họ lại vượt mọi khó khăn, siêng năng, chịu khó, yêu thương gia đình, hàng xóm, bạn bè, chăm lo lợi ích cho cộng đồng, thường
xuyên nâng cao trình độ học vấn và rèn luyện phẩm chất đạo đức tốt Như vậy, mức
sống của họ thấp song lối sống của họ rất đáng trân trọng
Nắm được bản chất của khái niệm lối sống, lẽ sống, mức sống sẽ giúp chúng
ta có một thái độ đúng đắn trong việc không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân, đồng thời xây dựng một lối sống tốt đẹp và lẽ sống thật phù hợp ngay trong lúc đất nước đang chuyển mình thực hiện CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, mặt khác
hiểu được khái niệm lối sống, lẽ sống, mức sống sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn khái niệm nếp sống, NSVH
1.2.2.4 Sinh viên
* Một số đặc điểm của SV VN
Thuật ngữ “ Sinh viên ” có nguồn gốc từ tiếng Latinh : Student, có nghĩa là
người làm việc, học tập nhiệt tình, người đi khai thác và tìm kiếm tri thức.[37,tr.44]
SV là những người đã tốt nghiệp bậc THPT, đã qua kỳ tuyển sinh vào đại học, cao đẳng và được tuyển chính thức vào học các trường ĐH,CĐ SV xuất thân
từ nhiều thành phần khác nhau và là lực lượng đông đảo của XH, số lượng tăng dần theo xu hướng phát triển của XH, họ đang theo học các ngành nghề khác nhau ở các trường ĐH,CĐ công lập và dân lập; họ có khả năng tiếp thu tri thức khoa học, nhạy bén, năng động và tinh tế đối với các vấn đề kinh tế, chính trị, XH, văn hóa nghệ thuật Đại bộ phận SV trong độ tuổi từ 18 đến 22 tuổi, một số ít trên 22 tuổi, đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi này khác với lứa tuổi HS THPT
Trang 30Tâm sinh lý của SV tương đối phức tạp, qua nghiên cứu tìm hiểu, có thể thấy
SV VN có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
+ Về thể chất: Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ, thể lực dẻo dai, đã qua
thời kỳ phát dục, cơ thể tương đối hoàn thiện và dồi dào sức sống Đây là thời kỳ
SV có thể đạt được đỉnh cao về lĩnh vực TDTT Tuy nhiên, cũng có không ít SV không biết giữ gìn sức khỏe, phung phí sức lực vào những hoạt động không lành mạnh làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân và nhiệm vụ trọng tâm là học tập, rèn luyện của mình
+ Về hoạt động nhận thức: SV có khả năng chú ý cao, đặc biệt là sự chú ý có
chủ định, sự quan sát mang tính mục đích rõ rệt Trí nhớ cũng phát triển tốt, ghi nhớ
có ý nghĩa ngày càng chiếm ưu thế SV có khả năng tư duy lôgic, tư duy lý luận
và có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo; tuy nhiên, SV còn chủ quan trong nhận thức hay nhận thức chưa đầy đủ, có tính hiếu kỳ, tò mò, đôi lúc cả tin do đó một
bộ phận SV dễ đánh giá các hiện tượng đời sống XH một cách nông cạn và dễ có thái độ cực đoan đối với các sự việc xảy ra trong XH, thậm chí một số SV dễ bị kích động, lôi kéo vào những việc làm sai trái, không phù hợp với chuẩn mực đạo đức
XH dẫn đến việc vi phạm quy định, pháp luật của nhà nước
+ Về mặt tình cảm: ý thức đạo đức, tình cảm hình thành mạnh mẽ trong lứa
tuổi này, thế giới nội tâm cũng trở nên đa dạng, phong phú và thường có những mâu thuẩn nội tại, SV có nhu cầu giao tiếp rộng, nhạy cảm và giàu cảm xúc, dễ rung động trong các mối quan hệ gia đình, bạn bè, các sự kiện XH, đặc biệt ở lứa tuổi này là xuất hiện tình yêu nam, nữ khác với các lứa tuổi khác; đa số là những mối tình đẹp; tuy vậy, trong nền kinh tế thị trường không ít SV đã bị ảnh hưởng mặt trái của nó cho nên xuất hiện những kiểu tình yêu buông thả, thực dụng, phóng túng, sống thử…
+ Về ý chí, tính cách: Nổi bật ở ý chí, tính cách của người SV là tính tự lập,
lòng tự trọng, có kế hoạch sống riêng của mình, độc lập trong phán đoán, tích cực nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu thể nghiệm mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, tích cực tham gia các hoạt động tập thể, công tác XH ; đặc biệt, phong cách sống, khả năng ứng xử, lựa chọn phương thức hành động hầu như ít giống với thế
Trang 31hệ đi trước, đây là thời kỳ SV có thể đạt được những đỉnh cao trên nhiều lĩnh vực khoa học, văn hóa, nghệ thuật ; bên cạnh đó vẫn còn hiện tượng: khả năng tự ý thức của SV phát triển mạnh nhưng chưa chắc chắn; khả năng tự giáo dục của SV
đã phát triển, có khả năng tự điều chỉnh hành vi, hứng thú, động cơ …song ít nhiều còn cực đoan trong việc đánh giá và tự khẳng định của bản thân
Có thể nói, lứa tuổi SV là thời kỳ phát triển tích cực nhất về thể chất, nhận thức, tình cảm, ý chí, tính cách là giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách; nhân cách của SV được hình thành và phát triển là nhờ phần lớn ở quá trình tự vận động và hoạt động tích cực của chính bản thân họ Điều đó kéo dài suốt cả cuộc đời song những năm tháng được sống, học tập, rèn luyện ở các trường ĐH,CĐ là thời
kỳ hình thành và phát triển mạnh mẽ nhất về nhân cách của SV Chính vì vậy, nắm được đặc điểm tâm sinh lý của SV giúp cho các thầy, cô giáo có phương pháp truyền đạt các tri thức cơ bản, khoa học, hiện đại, đồng thời giúp các nhà quản lý giáo dục định hướng, quản lý, rèn luyện NSVH, hình thành nhân cách SV phù hợp với chuẩn mực đạo đức của XH, góp phần thực hiện mục tiêu GD&ĐT tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
* Tình hình SV các trường đại học, cao đẳng hiện nay
Trong nhà trường, SV là nhân vật trung tâm Đa số SV có ý thức chính trị tốt, quan tâm đến các vấn đề của XH, có niềm tin vào sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo; hầu hết có lối sống lành mạnh, tích cực tham gia các hoạt động XH như phong trào TN tình nguyện tham gia hoạt động hè, giữ gìn trật tự giao thông, hướng dẫn mùa thi, xoá cầu khỉ … Trong điều kiện đất nước mở cửa, việc giao lưu, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau của thế giới, đa số SV vẫn giữ được bản lĩnh, có nếp sống lành mạnh, có nhiều ước mơ, hoài bão cống hiến thật nhiều cho quê hương, đất nước, không bị kẻ xấu lợi dụng, kích động làm mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn XH Tuy nhiên, tình trạng đáng lo ngại hiện nay là còn một bộ phận SV thiếu trung thực trong học tập và thi cử; một số vi phạm nội quy, quy chế, có biểu hiện của lối sống hưởng thụ, đua đòi Tệ nạn XH, nhất là
ma tuý, cờ bạc, mê tín, vi phạm pháp luật trong SV tuy ít nhưng chưa ngăn chặn được, gây nhiều lo lắng cho người thân, bạn bè và XH ….SV ít có điều kiện tham
Trang 32gia NCKH; năng lực tự học, tự nghiên cứu, khả năng giao tiếp và hợp tác trong công việc còn yếu; trình độ ngoại ngữ của SV tốt nghiệp ĐH,CĐ chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập và yêu cầu của cuộc sống
Phải nói rằng, có nhiều nguyên nhân dẫn SV đến những điều không tốt, không phù hợp với chuẩn mực đạo đức của XH, nhưng trong hoàn cảnh hay điều kiện nào thì họ cũng cần được giúp đỡ, giáo dục, rèn luyện để tiến bộ và có thể khẳng định mình, lấy lại được vị trí của mình trước bạn bè, trong gia đình và ngoài
XH, từ đó họ có thể tự hào với hai tiếng SV mà bạn bè, gia đình và XH luôn dành
cho những tình cảm tốt đẹp, trìu mến và đặt nhiều hy vọng
1.2.3 Quản lý NSVH của SV ở KTX
NSVH được truyền đạt lại và thay đổi có chọn lọc từ thế hệ này sang thế hệ khác và ngày càng được bổ sung phong phú thêm theo sự phát triển của XH Trong nhà trường sư phạm, các cán bộ, giáo viên của trường cũng đã kế thừa và phát huy truyền thống của các thế hệ trước, ngày một hoàn thiện NSVH để góp phần xâydựng đơn vị luôn vững mạnh về mọi mặt NSVH đã làm mọi người trong nhà trường đoàn kết với nhau, giúp đỡ nhau, kích thích sự năng động, sáng tạo của từng người, từng đơn vị phòng, ban, khoa, tổ, đoàn thể trong trường, từ đó các công việc được thực hiện có chất lượng và hiệu quả hơn
Một số biểu hiện NSVH của cán bộ, giáo viên trường CĐSP Nha Trang:
Đối xử có văn hoá trong giao tiếp: sự tôn trọng những quy tắc sống tập thể, chia sẻ những khó khăn khi hoạn nạn, chúc mừng nhau khi gặp chuyện vui, …
Quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của từng thành viên trong tập thể Mỗi người làm việc hết lòng vì SV, vì tập thể Ngược lại, cả tập thể chăm lo đời sống cho từng cá nhân, từng gia đình để mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người trong đơn vị
Trong tập thể có sự học tập lẫn nhau, sự bắt chước lẫn nhau về tác phong quản lý, tác phong lao động, về các hành động tốt đẹp…
Cán bộ, giảng viên có tinh thần tự học, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực của bản thân, nâng cao trình độ chuyên môn, tin học, ngoại ngữ, cập nhật kiến thức
để khỏi bị lạc hậu so với thời đại, thường xuyên tham gia Hội giảng, viết sáng kiến
Trang 33kinh nghiệm, tham gia NCKH; cập nhật phương pháp giảng dạy, các quan điểm mới trong kiểm tra, đánh giá SV, thường xuyên đọc sách, tra cứu thông tin, cập nhật kiến thức từ Internet, sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại,… để đáp ứng tốt yêu cầu giảng dạy, giáo dục, phục vụ ngày càng cao của nhà trường
NSVH của SV có thể xem như phần thể hiện văn hoá của một trường học; có
thể khẳng định rằng: một kết quả văn hoá, một NSVH nào đó trong XH được truyền thụ và phổ biến trong một đơn vị đều phải được thông qua các chức năng quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
Một số biểu hiện NSVH của SV ở KTX trường CĐSP Nha Trang trong một
số lĩnh vực như: giao tiếp, ứng xử, học tập, sinh hoạt cá nhân …cần được xây dựng, quản lý trong hiện tại và tương lai; cụ thể như sau:
1.2.3.1 NSVH của SV ở KTX biểu hiện trong giao tiếp, ứng xử
Thực sự tôn trọng, lễ phép khi giao tiếp với cán bộ, giáo viên, công nhân viên nhà trường, người lớn tuổi
Có cử chỉ nhã nhặn, lịch sự khi giao tiếp với bạn bè, biết “cảm ơn”, “ xin lỗi” kịp thời, đúng lúc, đúng nơi Giữ đúng lời hứa, giờ hẹn với mọi người
Chú ý đến những người xung quanh, quan tâm chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với người thân, đồng nghiệp, bạn bè, cộng đồng Sẵn sàng giúp đỡ và luôn khiêm tốn học hỏi mọi người
Có thái độ bất bình trước những hành vi thiếu văn hóa, vi phạm NSVH của tập thể, của XH
Góp ý phê bình một cách tế nhị, khéo léo, tránh gây ức chế, xúc phạm người được góp ý phê bình Tôn trọng sở thích, cá tính của người khác nếu cá tính của họ không ảnh hưởng xấu đến những người xung quanh
Tôn trọng danh dự, nhân cách, lợi ích của mọi người, tổ chức, cộng đồng
Có lòng tự trọng, nhận trách nhiệm trong công việc và cuộc sống
Có lòng nhân hậu, thái độ lạc quan, yêu đời
1.2.3.2 Quản lý NSVH của SV ở KTX trong giao tiếp, ứng xử
Quản lý NSVH của SV ở KTX trong giao tiếp, ứng xử là :
Trang 34- Quản lý hình thức, nội dung, biện pháp giáo dục SV thông qua các chức năng quản lý
- Quản lý sự phối hợp trong các hoạt độngcủa BQL KTX với các đoàn thể, các phòng chức năng, các khoa, tổ, GVCN, chính quyền địa phương, gia đình SV… nhằm nâng cao nhận thức về NSVH trong giao tiếp, ứng xử cho SV ở KTX
- Thường xuyên sử dụng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục kết hợp kiểm tra phát hiện, nhắc nhở, xử lý kịp thời những tiêu cực trong giao tiếp, ứng xử, đồng thời phát huy những điểm mạnh, nhân rộng các điển hình tiên tiến giúp SV suy ngẫm, học tập kinh nghiệm, nâng cao khả năng thích ứng, khéo léo, tế nhị trong giao tiếp, ứng xử
1.2.3.3 NSVH của SV ở KTX biểu hiện trong học tập
Tự giác, chăm chỉ học tập, rèn luyện kỹ năng xử lý, giải quyết những tình huống sư phạm
Tìm tòi, học hỏi những phương pháp học tập tích cực phù hợp với bản thân, bậc học và ngành học Có thói quen tham khảo tài liệu, sách, báo… để cập nhật, bổ sung kiến thức
Tích cực suy nghĩ để giải quyết những vấn đề đặt ra Làm bài tập lớn, niên luận, khoá luận và NCKH theo khả năng
Xây dựng kế hoạch, sắp xếp thời gian học tập một cách hợp lý; biết quý thời gian và rèn luyện thói quen đi học, làm việc đúng giờ
Không học nhồi nhét, dồn nén, đợi đến gần ngày thi mới bắt đầu học Trung thực trong kiểm tra, thi cử
Thói quen hợp tác làm việc, trao đổi, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau và giải quyết vấn đề theo nhóm
1.2.3.4 Quản lý NSVH của SV ở KTX trong học tập
Quản lý NSVH SV ở KTX trong học tập thực chất là việc :
- Nghiên cứu, tìm biện pháp để quản lý quá trình học tập của SV ở KTX, thông qua những việc như: hình thành phong cách học tập, bồi dưỡng tình cảm, lòng yêu nghề, kích thích động cơ học tập của SV, rèn luyện tính kế hoạch, khoa học, trung thực, năng động, sáng tạo trong học tập
Trang 35- Phát huy tính tự học, tự nghiên cứu, đào sâu suy nghĩ để giải quyết vấn đề, đẩy mạnh sự hợp tác, giúp đỡ nhau trong học tập, NCKH nhằm đạt được những mục đích mong muốn
1.2.3.5 NSVH của SV ở KTX biểu hiện trong sinh hoạt cá nhân
Luôn có ý thức chấp hành và thực hiện đúng các quy định, nội quy của nhà trường, KTXSV; có ý thức bảo quản, giữ gìn tài sản của cá nhân, tập thể
Tích cực nắm bắt thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua sách, báo theo chuyên đề phù hợp đặc điểm tâm lý, lứa tuổi
Sắp xếp thời gian để tham gia các hoạt động văn thể Sử dụng thời gian nhàn rỗi một cách hợp lý vào các hoạt động tích cực, hữu ích, không làm ảnh hưởng đến những người xung quanh
Rèn luyện thói quen ngăn nắp, gọn gàng, thẩm mỹ Ăn mặc sạch đẹp, giữ vệ sinh nơi học tập, cư trú và nơi công cộng
Rèn luyện nếp sống lành mạnh, giản dị, không phô trương, hình thức, đua đòi,… Nâng cao ý thức xây dựng tình bạn, tình yêu trong sáng, lành mạnh, an toàn
Thường xuyên nâng cao ý thức tự rèn luyện để ngày một hoàn thiện bản thân
về sức khỏe, năng lực hoạt động ở các lĩnh vực mình đang thực hiện và phụ trách
Nói không với ma túy, cờ bạc, tệ nạn XH, văn hóa phẩm đồi trụy, mê tín dị đoan
1.2.3.6 Quản lý NSVH của SV ở KTX biểu hiện trong sinh hoạt cá nhân
Quản lý NSVH của SV ở KTX trong sinh hoạt cá nhân thực chất là :
- Quản lý sự phối hợp các phòng, ban chức năng, các đoàn thể, các khoa, GVCN trong việc đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, động viên, khen thưởng, kỷ luật SV…
- Phát huy những mặt tích cực của SV, cổ vũ, nhân điển hình những thói quen tốt, hành động tiêu biểu, tích cực thể hiện NSVH của SV trong việc tham gia các hoạt động VHVN, TDTT, ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ tài sản của bản thân
và tập thể, biết nắm bắt, cập nhật thông tin, thời sự kịp thời
Trang 36- Hạn chế những biểu hiện lệch lạc, sai trái, không lành mạnh, tiêu cực trong
SV để xây dựng KTXSV thực sự là môi trường văn hóa lành mạnh góp phần giáo dục toàn diện SV nhà trường
Trên đây là một số biểu hiện NSVH của SV ở KTX mang tính điển hình, phù hợp với sự phát triển của một đơn vị, trường học và yêu cầu của công tác quản lý NSVH của SV ở KTX trên từng lĩnh vực cụ thể trong tình hình hiện nay
Có thể khẳng định rằng : Quản lý NSVH của SV ở KTX giữ vai trò quan
trọng trong việc hình thành những phẩm chất và nhân cách tốt cho SV, giúp SV có
đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập, tham gia các hoạt động và tự tổ chức các hoạt động, rèn luyện các kỹ năng giao tiếp, ứng xử khéo léo, linh hoạt, tế nhị với mọi người phù hợp các quy tắc, chuẩn mực của XH
Điều mang tính quyết định dẫn đến hiệu quả việc quản lý NSVH của SV sư
phạm nói chung và SV ở KTX nói riêng là biến những hành vi tốt thành thói quen tốt, biến sự giáo dục thói quen tốt thành sự tự giáo dục thói quen tốt, có như vậy,
SV mới có đủ bản lĩnh, kỹ năng, đạo đức để bổ sung vào hành trang của người thầy giáo – những kỹ sư tâm hồn với trách nhiệm nặng nề song rất cao quý đó là truyền đạt kiến thức, kỹ năng và giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ mai sau - lực lượng chủ lực xây dựng đất nước tương lai
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NSVH CỦA SV Ở KTX
TRƯỜNG CĐSP NHA TRANG 2.1 TÌNH HÌNH KTX TRƯỜNG CĐSP NHA TRANG
2.1.1 Cơ sở vật chất
Trường CĐSP Nha Trang đang khẩn trương hoàn thành đề án nâng cấp trường thành trường Đại học Sư phạm Nha Trang theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ Khánh Hòa lần thứ XV (2006-2010) để trình Bộ GD&ĐT và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Do vậy, bên cạnh việc chuẩn bị nâng cao trình độ cán
bộ, giảng viên về mọi mặt để có một nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, nhà trường luôn quan tâm xây dựng CSVC trong trường và KTXSV cho phù hợp, đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường trong hiện tại và tương lai
KTX SV trường CĐSP Nha Trang tọa lạc tại 5B Trần Hưng Đạo, phường Lộc Thọ, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
KTX SV có 1 dãy nhà 5 tầng (được gọi là khu nhà A) và 3 dãy nhà 3 tầng (được gọi là khu nhà B), diện tích sử dụng 5.763,21 mét vuông, sức chứa tối đa 720
SV Khu nhà A: 5 tầng, được xây mới từ năm 1997 với cấu trúc khép kín, thoáng mát, khá tiện nghi với các phòng độc lập cho 6 – 8 SV/phòng Khu nhà B: 3 tầng, xây từ trước năm 1975, hiện nay đã được cải tạo lại với các phòng khép kín cho 8 -
10 SV/ phòng; các phòng ở đều được trang bị 2 quạt trần, 3 bóng đèn neon đủ sáng phục vụ việc học, sinh hoạt của SV; hiện nay, KTX có: 2 phòng làm việc của BQLKTX, 1 phòng văn hóa có trang bị dàn máy hát karaoke, các sách, báo, được dùng để tổ chức các sinh hoạt VHVN, giao lưu, sinh nhật cho SV ở KTX; 1 phòng y
tế chuyên chăm sóc, chữa trị những bệnh thông thường của SV; 1 nhà ăn tập thể phục vụ cho khoảng 200 SV mỗi ngày; 1 phòng bóng bàn để SV rèn luyện hàng ngày, 1 phòng để 1 tivi 21 inch phục vụ SV giải trí theo giờ giấc quy định từ 6 giờ đến 22 giờ 30 phút trong ngày
Trước 2 khu nhà là sân KTX rộng 3000 mét vuông, được bê tông hóa, đây là nơi tổ chức chính các hoạt động giao lưu, VHVN, TDTT (thi đấu bóng đá mini, bóng chuyền, bóng rổ, cầu lông,…), giáo dục quốc phòng
Trang 38BQL KTX đã tổ chức quản lý, sử dụng CSVC để phục vụ SV ở KTX Khi được hỏi mức độ hợp lý của việc sử dụng CSVC ở KTX, khối CBGV và khối SV đã đánh giá và chúng tôi tổng hợp ở bảng 2.1, cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Đánh giá mức độ hợp lý của việc sử dụng CSVC ở KTX
SV
SV năm I
SV năm II
SV năm III
Tổng cộng khối
SV I,II,III
Khối CBGV STT Các mức độ
ba trong việc sử dụng CSVC ở KTX thì có 23,9 % SV đang ở KTX và 6,9 % CBGV đánh giá “chưa hợp lý”; hơn nữa, một điều đáng lưu ý đó là có tới 61,6% SV năm III (thời gian ở KTX nhiều hơn) lại đánh giá việc sử dụng CSVC ở mức độ “chưa hợp lý” cao hơn nhiều so với SV năm II, SV năm II đánh giá mức độ “chưa hợp lý” cao hơn năm I; điều này cho thấy, SV càng ở lâu năm trong KTX thì càng thấy việc
sử dụng CSVC ở KTX SV chưa hợp lý, như vậy, một vài năm trở lại đây Ban QLKTX chưa thật sự quan tâm nghiên cứu, điều chỉnh, tận dụng tất cả các tài sản, CSVC đã được trang ở KTX làm lãng phí ít nhiều đến tài sản của nhà trường
Từ việc sử dụng CSVC ở KTX, chúng tôi tiếp tục thăm dò mức độ cần thiết của việc xây dựng và sử dụng CSVC hiện có nhằm phục vụ SV ở KTX ngày một tốt hơn, kết quả thăm dò ở bảng 2.2
Trang 39SV năm III (SV I,II,III) CBGV
F % F % F % F % F %
Không Cần 36 33.0 55 35.3 50 52.6 141 39,7 12 20,7
1 XD sân khấu di
động để tổ chức
các hoạt động Cần thiết 73 67.0 101 64.7 45 47.4 219 60,3 46 79,3
Không cần 18 16.5 37 23.7 21 22.1 76 21,1 19 32,8
2 Đưa phòng tập
thể hình, thẩm mỹ
vào hoạt động Cần thiết 91 83.5 119 76.3 74 77.9 284 78,9 39 67,2
Không cần 27 24.8 45 28.8 43 45.3 115 32,0 23 39,7
văn hóa Cần thiết 96 88.1 133 85.3 89 93.7 318 88,3 54 93,1
Từ kết quả thống kê : tỉ lệ ý kiến của khối SV thấp nhất là 60,3 %, cao nhất
là 96,% và tỉ lệ ý kiến của khối CBGV thấp nhất 60,3%, cao nhất 93,1% đều cho rằng sự cần thiết phải xây dựng mới hoặc cải tại một số CSVC đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của SV và nhằm mục đích phục vụ đời sống văn hóa tinh thần, vật chất của SV ngày một tốt hơn
2.1.2 Bộ máy quản lý KTX
KTX là một bộ phận trực thuộc Hiệu trưởng KTX gồm có 12 cán bộ, trong
đó có 4 cán bộ quản lý KTX (1 trưởng ban, 1 phó ban, 1 thường trực, 1 kế toán), 1 phụ trách nhà ăn, 2 nhân viên y tế, 2 nhân viên vệ sinh và 3 bảo vệ
Nhận xét chung: từ tình hình thực tế và ý kiến đánh giá của hai khối CBGV
và SV, chúng tôi thấy: nhà trường đã quan tâm đầu tư CSVC ở KTX, tuy nhiên, việc sử dụng và quản lý CSVC ở KTX hiện nay còn nhiều vấn đề chưa hợp lý, chưa tận dụng CSVC đã được trang bị thật hiệu quả nhằm phục vụ một cách tốt nhất đời sống vật chất, tinh thần cho SV ở KTX, những nhược điểm này sẽ làm ảnh hưởng ít nhiều đến thực trạng NSVH của SV và công tác quản lý NSVH của SV ở KTX hiện nay
Trang 402.2 THỰC TRẠNG NẾP SỐNG VĂN HOÁ CỦA SV Ở KTX
2.2.1 Tình hình SV trường CĐSP Nha Trang
Do đặc trưng ngành sư phạm nên SV trường CĐSP Nha Trang có số lượng
nữ chiếm đa số ở tất cả các khóa đào tạo Sự phân bố về giới cũng không đồng đều
ở các khoa Nhìn chung, tỉ lệ nữ ở các khoa Xã Hội, Ngoại Ngữ, Tiểu Học thường cao hơn khoa Tự Nhiên, do vậy có nhiều thế mạnh về các hoạt động VHVN, ý thức chấp hành nội quy nề nếp nhà trường tương đối tốt; ngược lại, khoa Tự Nhiên có số lượng SV nam đông nên thường có thế mạnh về các hoạt động TDTT, quân sự, trại, giã ngoại
Hầu hết SV được học tập tại trường đều được trang bị kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, nâng cao lòng yêu nghề và được rèn luyện kỹ năng tổ chức phong trào thông qua các hoạt động VHVN, TDTT, công tác XH từ thiện,… Nhiều
SV đã thể hiện sự năng động, sáng tạo trong hoạt động, tự giác chấp hành nội quy,
nề nếp nhà trường, KTX SV; tuy vậy, bên cạnh những SV tích cực cũng còn có một
số SV chưa tự nỗ lực vươn lên, chưa nhiệt tình tham gia các hoạt động chung, cá biệt cũng có một số ít SV thiếu ý thức chấp hành nội quy nề nếp nhà trường, tham gia phong trào một cách miễn cưỡng, ăn mặc không đúng quy định, không trung thực trong thi cử, ít tế nhị trong giao tiếp, ứng xử Các tồn tại này luôn thôi thúc lãnh đạo nhà trường, cán bộ quản lý các phòng, ban, khoa, tổ, GVCN, các đoàn thể trong trường thường xuyên quan tâm tìm mọi cách để hạn chế những tiêu cực trong
SV, giáo dục SV nhằm nâng cao tính tự giác, tự rèn luyện, phấn đấu vươn lên để có thể trở thành những giáo viên tốt trong tương lai
2.2.2 Tình hình SV ở KTX (SV nội trú) trường CĐSP Nha Trang
2.2.2.1 Số lượng SV
Năm học 2005 – 2006, có 668 SV đang nội trú tại KTX trường CĐSP Nha Trang, trong đó SV năm I: 202 SV (40 nam, 162 nữ), SV năm II: 291 SV (83 nam,
208 nữ), SV năm III: 175 SV (36 nam,139 nữ) Tổng số SV nữ là 509 chiếm 76,3%
Sau khi sử dụng phương pháp chọn mẫu, chúng tôi đã chọn được 360 SV (268 nữ, 92 nam) thuộc 4 khoa Tự Nhiên, Xã Hội, Ngoại Ngữ, Tiểu Học đang ở KTX để thăm dò ý kiến, cụ thể như sau: SV năm I: 109 SV (20 nam, 89 nữ); SV