Nghiên cứu biến đổi hàm lượng độc tố sinh học trên đối tượng vẹm xanh nuôi tại đầm nhà.
Trang 1Lại? Chí Khoa học Công nghệ Thủy sản
THÔNG BÁO KHOA HỌC
Số Đặc biê 2009
NGHIÊN CỨU B IÊN ĐỐI HÀM LƯỢNG ĐỘC TỐ SINH HỌC
TREN DOI TUGNG VEM XANH (Perna viridis)
NUOI TAI DAM NHA PHU - KHANH HOA
STUDY ON THE CHANGE OF TOXIN CONTENT IN BLUE MUSSEI,
(Perna viridis) LIVE WHICH IS HARVESTED IN NHA PHU
LAGOON IN KHANH HOA PROVINCE
ThS Trần Thị Mỹ Hạnh!, TS Vũ Ngọc Bội, ThŸ Nguyễn Văn Ninh? TOM TAT
Tring Dai hoc Nha Trang
Tường Dại học Công nghiệp TP IICM
Vem xanh (Perna viridis) la mét trong những loài nhuyễn thể hai mãnh vỏ, chitng sử đụng thức ăn chủ vếu là tẳo và Hate
tật phà du Trong môi trường tự nhiên, tần số bắt gặp tảo có khả năng šinh độc tổ rÃ1 lớn Gần đây, sự bìng nổ của các loài
tỉo độc lại đang trở thành vấn đề toàn cầu ở cả môi trường nước biển và nước ugot MặI khác, nó pây nên liện non 0 ngộ độc c6 thé gay nt voug cho con người và các động vật biển khác Các hiện tượng ngộ độc này gây ra bởi các độc tố PSP, DSP ASP NSP và CFP được sẵn sinh từ các loài vi tac độc nut AleVaulriun, Dinophysis, Prrodinium, Prorocentrum, Th v (huộc vào bảu chất hóa lọc, mỗi loại độc tổ tâo có các tơ chế tác động uà liệu ứng cỉnh học khác nhan Để fang hiéu qui phòng ngữa liện tượng ngộ độc thực phầm, cầu tiến hành tighiên cứa biến đổi hàm lượng độc tố theo thời gian sinh trưởng Nết quả nghiên cứu
chy tity, Vea xanlt san kh nuôi 78 ngày, tích lũy hàm lượng độc tố ASP, PSP cao nhất Khi đó, làm lượng DSP cú giá trị co
nhất ở thời gian 90 ngày Phuơng thức nuôi có ảnh hướng đếu sự biển đổi hầm lượng độc tế Vì vậy, cầu khuyến cáo không nên thu toạch Vạm xanh nuôi tại đâm Nha Phụ vào thời điểm có hàm lượng độc tế cao nhất
Từ khán: Vem xanh xanh, độc tố, táo độc
ABSTRACT
Blue mntssel (Perna viridis) is one uf the bivalve mollusk, they use mainly food fran ataae and Pivtoplankton la natiral environmen, frequency meeting toxtferous algae is very fugh Recently, the boam of toxiferous algae becomes « global problein
i Seawater and fresh water Morever, it canses potsoued phenomenon that killed man aid other marine animal, These poisoned phenomenons are caused by toxins such as: PSP, DSP, ASP, NSP and CFF that generated from toxiferous micro algae such as: Alexandriwn, Dinophysis, Pyrodinium, Prorocentriat, Depend opon chemical properties, each type of algae toxin has different mechanisus and biological effects To enhance preventive effect phenomenon food poisoning, the research change of foxin content in growth, Results proved that: Blue mussel accunudates te highest taxin content; ASP, PSP tifter 75-day culture, withe DSP is after 90-dav culture Concurrently, method of culture effects to the change of toxin content, Therefore, need te warn: Blue mussel reared in Nha Phu lagoon do not harverst in period they accwmulated the highest toxin content,
I MỞ ĐẦU
Vem xanh (Perna viridis, 1932) la mét trong
những loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ, thường phân
bố ở môi trường có nước thủy triểu{1)
Bac tinh cla Vem xanh là loài ăn lọc, không
có khả năng chủ động kiếm mồi mà chỉ lọc thức ăn
có trong môi trường sinh sống Thức ăn của Vẹm
xanh chủ yếu là vi tảo, các sinh vật phù du và các
chất hữu cơ lơ lửng trong môi trường nước Khi các
sinh vật nhiễm độc tố được con người tiêu thụ sẽ
gây bệnh hoặc tử vong tùy thuộc vào hàm lượng
132 « KỶ NIỆM 50 NĂM THÀNH LẬP TRƯỜNG
độc tố đã được tích lũy trong thức ăn (Steidinger,
1993) Các hiện lượng ngộ độc từ Vẹm xanh thường liên quan đến độc tố vi tảo như: ASE, PSP,
DSP kim loai n&ng [4]J8|
Theo Shumway và cộng sự (1990), tốc độ tích lũy độc tố của các sinh vật ăn lọc có liên quan chãt chẽ đến số lượng tế bào vi tảo thích hợp với chúng Nhưng sự đào thải của các độc tố đã tích
lũy lại phụ thuộc vào vị trí hay bộ phận mà chúng
lập trung tích lũy trong cơ thể sinh vậ! Vem xanh giống Mylilus có độc tố tập trung trong hệ tiêu hoá
sẽ đảo thái nhanh hơn là độc tố tích lũy trong co (vi
Trang 2Tạp chí Khoa hoc Công nghệ Thủy sản
dụ như ở giỗng Saxidomus, Placopecten, Spisula)
Do vậy, Vẹm xanh được xem như là loài có khả
năng tích lũy độc tố nhanh nhất và đào thải độc tố
trong thời gian ngắn nhất Ngược lại, sò và điệp có
thể lưu giữ độc tố trong khoảng thời gian khá dài
(2 năm) (Shumway & Cembella, 1990) Tuy nhiên,
mối tương quan giữa sự xuất hiện của các loài vi
tảo độc và hàm lượng độc tố trong các loài sinh vật
có vỏ còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố môi
trưởng như dòng chảy, chất lượng nước, mùa và
yếu tố địa hình
Ngoài ra, khi môi trường nước có hiện tượng
nở hoa của tảo thì sự xuất hiện của độc tố xảy ra
không đồng thời Nhìn chung, hàm lượng độc tố
phát hiện trong sinh vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ
tại thời điểm khoảng 1-2 tuần sau khi có xuất hiện
sự nở hoa của tảo độc (Premazzi & Voltera, 1893)
VÌ vậy, nghiên cứu dao động hàm lượng độc
tố theo thởi gian sinh trưởng sẽ biết được thời
gian phát sinh độc tố trong năm Từ đó, có những
khuyến cảo cho người dân không nên ăn Vẹm
xanh vào những tháng phát sinh độc tố
ll ĐỐI TƯỜNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là Vẹm vanh thu mẫu tại
đầm Nha Phu - Khanh Hoa
Nơi Thực hiện Trường Đại học Nha Trang va
Viện Vaccine Nha Trang
Hình ]: Vẹm xanh thu tại đầm Nha Phụ
Vem xanh sau khi thu tiến hành xử lý và bảo
quản lạnh trong thùng xốp, mẫu được dùng nghiên
cứu ngay trong ngày
Sở Đặc biệt 2009
2,2 Bố trí thí nghiệm
Thi nghiệm 1: Vẹm xanh giống nuôi theo hình
thức dây treo và thu mẫu theo thời gian sinh trưởng Tần suất thu mẫu 2 tuầnđần, thu 6 lần trong thời gian nuôi (khoảng 90 ngày) Sau khi thu mẫu, tách phần nội tạng của Vẹm xanh, phần này dùng để
phân tich độc tố ASP, PSP, DSP
Thi nghiệm 2: Tiến hành tương tự như thí nghiệm 1 chỉ khác là lấy mẫu Vẹm xanh được nuôi
theo hình thức bám cọc để từ đó so sánh khả năng ảnh hưởng của phương thức nuôi đến sự tích tụ
độc lố
2.3 Phương pháp chuẩn bị mẫu Thu mẫu từ đầm nuôi, tiến hành rửa sạch bên ngoài bằng nước ngọt, tách loại bỏ vả, phần mô Vẹm xanh được để ráo trên sàn trong 5 phút và tách riêng phần nội quan dùng cho các phân tích
độc td,
Sau khi được làm đồng nhất bằng máy xay,
cân chính xác một lượng mẫu nhất định (20g)
và chiết rút trong HCI 0.1N (đổi với độc tế PSP):
Acetone, sau đó Methanol (đối với đôc tố DSP)
va Methanol 50% (ASP) Cac bước chiết rút được
mô tả chỉ tiết trong Manual on harmful Marine Microalgae — 1995, UNESCO
2.4, Phuong pháp phân tích độc tế và hóa chất
sử dụng Sau khi chiết độc tế ra khỏi nội tạng, sử dụng
phương pháp HPLC (Kotaki, 2002 Lee va ctv,
1989; Oshima, 1995) dé xdc định hàm lượng độc
tô có trong mẫu
Hóa chất dùng trong quá trình nghiên cứu của
hãng Meck ~ Đức
Hi, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả nghiên cứu độc tố ASP (Amnesis shellfish poisoning) theo thời gian sinh trưởng
của Vẹm xanh
ASP là độc tỗ gây ra sự mất trí nhớ ở
người Độc tố này có phần tử chính là domoic
acid được sản sinh từ các loài tảo s¡ líc thuộc chỉ
Pseudo-nizchia Domoic acid là chất bần nhiệt thuộc nhóm tan trong nước Nó là chấi cạnh
tranh của glutamate trong cơ quan cảm nhận kainite của hệ thần kinh trung ương Độc tế ASP
gây ảnh hưởng đến cả hệ tiêu hoả và thần kinh
KỶ NIỆM 50 NĂM THÀNH LÁP TRƯỜNG « 133
Trang 3fap cht Khed hoc Công nghệ Thủy sẵn
của con người (Quiliam & Wrighi, 1998) Kết quả
nghiên cứu độc tố ASP theo thời gian nuôi Vem
sanh được trình bày ở hình 1
„zz
2 ~
no
b ›
lầu MO
Hình 1: Biến đổi hàm lượng độc tố ASP theo thời gian
Từ kết quả nghiên cứu độc tố ASP theo thời
gian sinh trưởng chọ thấy hàm lượng độc tố tích lũy
trong Vẹm xanh tăng và đạt giá trị cao nhất sau
75 ngày nuỗi nhưng dưới mức cho phép (2ug/g,
EU), sau đó giảm dần và giảm mạnh sau 90 ngày
nuôi Kết quả này phù hợp với Shumway và cộng
sự (1995) Đối với mẫu Vẹm xanh nuôi theo dây
(VND) luôn có hàm lượng độc tố cao hơn mẫu Vẹm
xanh nuôi theo cọc (VNC) Như Vậy, phương thức
nuôi có ảnh hưởng tới quá trình tích lũy độc tố
Điểu này phù hợp với sự nở hoa của tảo
độc Khi có xuất hiện tảo nở hoa, hàm lượng độc:
lố lan rộng trên bể mặt nước Lúc đó, Vẹm xanh
nuôi Iheo phương thức dây cách mặt nước 70 100
cm tiếp xúc trước với hàm lượng độc tế lẫn trong
thức ăn phù du Vẹm xanh nuôi theo phương thức
cọc nằm sâu bên dưới, cách mặt nước khoảng
150cm - 200cm, Đây là tầng nước có hàm lượng phù
du thấp nên sự hấp thụ các độc tố sẽ chậm hơn Te
đó cho thẩy Vem xanh nuôi theo dây tích lũy độc tế
ASP nhiều hơn và có hàm lượng độc tế ASP cao
hơn Vẹm xanh nuôi theo phương thức cọc,
Thời điểm có hàm lượng độc tố cao nhất sau
75 ngày nuôi, tức vào khoảng tháng 3 trong năm,
đây là thời điểm khí hậu có lượng mưa rất thấp,
nhiệt độ và các điều kiện khí hậu của môi trường
nước nuôi thích hợp đễ xảy ra hiện tượng tảo độc
phát sinh độc tổ
3.2 Kế! quả nghiên cứu độc tổ DSP (Diarrhetic
shellfish poisoning) theo thời gian sinh trưởng
của Vẹm xanh
Độc tổ DSP gây ảnh hưởng đến hệ tiêu hoả
Độc tố này sản sinh dơ các loài tảo giáp sống trôi
nổi hoặc sống đáy, hầu hế! thuộc chi Dinophysis
hoặc Prorocentrum (Yasumoto va cộng sự, 1989;
Lee và cộng sự, 1989),
Độc tố DSP là một chuỗi polyether thuộc
nhóm chất tan trong các chất béo (Quiliam
134 + KY NIỆM §0 NĂM THÀNH LẬP TRƯỜNG
506 Đức bide 2009
& Wright 1995), bao gồm okadaic acid (OA),
dinophysistoxih (DTX 1, 2, 3), peclentoxins (Yasumoto và cộng sự, 1885) và nhóm yessotoxins
(Murata và cộng sự, 1 987) Okadaic acid là chất
kìm häm rất mạnh của enzyme serine/Ahreonine phosphatase, do dé, chting kich thích trực liếp đối
với quá trình co thắt các cơ trơn của hệ tiêu hóa
(Bialojan & Takai 1988, Haystead và cộng sự,
1989), Nhóm peclentoxins gây ra hoại tử gan còn nhom yessotoxins gay ảnh hưởng tới cơ dạ dày
Kết quả nghiên cứu độc tố DSP theo thời gian nuôi
Vẹm xanh được trình bày trên hình 2 dưới đây,
‡°) - [EM
3.0,
TT pel an on ante ~
comer? ty
m 0,3 wee
Đà a 7 3 Lore
B 9,2 we
Fo
+ + T rt < ? 1
The! giun audi Von xanh: tngày)
Hình 2: Biến đổi hàm lượng độc tô DSP theo thời gian sính
trưởng của Vẹm xanh
Từ hinh 3.2 cho thấy, hầm lượng độc tố DSP trong Vẹm xanh ở 2 dạng nuôi VND và VNC đều tăng theo thời gian sinh trưởng nhưng dưới hàm lượng cho phép (20ug/100g) Hàm lượng DSP tăng dần và đạt
giá trị cao sau 60 ngày nuôi, sau đó giảm dén 75
ngay nudi va ang manh sau 90 ngày nuôi Như vay, độc tố DSP biến đổi khác với các loại độc tố ASP Do độc tố DSP không tan trong nước nên luôn nổi trên
bể mặt và thường bị dinh bám vào sinh vật phù du,
Vẹm xanh ăn vào và tích tụ Mẫu VND luôn có hàm
lượng độc tố DSP cao hơn mẫu VNC trong suốt quá trình nuôi Điều này cho thấy, phương thức nuôi theo
dây có diện tích bề mặt nước lớn nên Vẹm xanh có
khả năng tích tụ độc tố cao,
3.3 Kết quả nghiên cứu độc tố PSP (Paralytic
Shellfish Poisoning) theo thời gian PSP là hiện tượng ngộ độc ở người do
liêu thụ các sinh vật có vỏ đã nhiễm độc t6 của
các loài lào giáp (Alexanarium, Pyrodinium va Gymnodinium) {Hashimoto & Noguchi, 1989) Doc
16 PSP bao gém saxitoxin (STX) và hơn 20 dẫn
Xuất của nó, các hợp chất này tan tốt trong nước và
hau hất đều bền nhiệt (Baden và cộng sự, 1893), Saxitoxin nói riêng và độc tố PSP nói chung làm tắc nghẽn kênh trao đối ion Na trên màng tế bào thần kinh, gây ra sự ức chế quá trình truyền xung thần kính
Trang 4Fap chí Khoa học _ Công nghệ Thủy sản
Do đó, chúng có tác động đến cả hệ thần kinh
;à các hoạt động của hệ thống cơ của con người
(Baden và cộng sự, 4983), Kết quả nghiên cửu
hàm lượng độc tố PSP theo thời gian nuôi Vẹm
xanh được trình bày trên hình 3
„1
z4
aa fy teers
“«
1Àlkcrecant
if #ù "i oe
Thời gian audi Vom xanh: (ngày)
trưởng của Vẹm xanh
Tử kết quả nghiên cứu thể hiện trên hình 3 cho
thay, ham lượng độc tố PSP biến đối tương tự như
độc tố ASP Độc tố PSP là một trong những độc tế
chỉ thị về an toàn vệ sinh thủy sản nhuyễn thể hai
mảnh vỏ Các sản phẩm chế biến từ nguyên liệu
nhuyễn thể hai mảnh vỏ xuất khẩu vào thị trường
EU đều phải bắt buộc kiểm tra chỉ tiêu này Theo
thời gian sình trưởng, nàm lượng độc tố tích tụ tăng
dần nhưng dưới mức cho phép (80ug/1009, EU)
Hàm lượng độc tố PSP trong Vẹm xanh có
giá trị cao nhất ở 75 ngày nuôi nhưng tiếp tục nuôi,
hàm lượng độc tố này giảm Điều này có thể do
khả năng tự đào thải của Vẹm xanh hình thành sau
90 ngày sinh trưởng
Trong đó, mẫu VND có hàm lượng độc tố PSP
cao hơn mẫu VNC Điều này, khẳng định phương
thức nuôi là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng vệ
sinh an toàn thực phẩm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
L Baden, D.G & V.L Trainer (1993), Maude of action of toxins of seafood poisoning Pp 49-74
V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN
1 Kết luận
Từ các kết quả nghiên cứu và phân tích số liệu ở trên, qua đó rút ra kết luận như sau:
Đối với độc tố ASP, hàm lượng độc tổ tăng dân
theo thời gian sinh trưởng, đạt giá trị cao nhất sau
75 ngày nuôi Sau thời gian nuôi 90 ngày hàm lượng
độc tố giảm dần Tuy nhiên hàm lượng độc tô dat giá trị cao nhất vẫn dưới mức cho phép (2 Hgíg, EU)
- Đã xác định được hàm lượng độc tế DSP theo thời gian sinh trưởng, giá trị tăng dần đến 60 ngày sau đó giảm xuống sau 75 ngày nuôi và đại
giá trị cao sau 90 ngày nuôi Tuy nhiên hàm lượng
độc tố đại giá Irị cao nhất vẫn ở dưới mức cho phép
(20ug/100g, EU)
Đã xác định hàm lượng độc tố PSP cao nhất sau khi nuôi Vem xanh 75 ngày và giảm mạnh sau 80 ngày nuôi Theo thời gian sinh trưởng, hàm
lượng PSP khí đạt giá trị cao nhất vẫn dưới mức
cho phép (80g/1009 EU)
xanh và sự phát sinh độc tố phụ thuộc vào phương thúc nuôi, Phương thức nuôi theo dây có hàm lượng độc tố cao hơn nuôi theo cọc
2 Đề xuất ý kiến Cần nghiên cứu thêm thời gian ginh trưởng
của Vẹm xanh
Cần tiếp tục nghiên cứu tần số bat gap tảo
độc theo thời gian sinh trưởng của Vẹm xanh Đổi với Vẹm xanh nguyên liệu trong vùng nuôi có tảo độc sinh độc tố cần phải nghiên cứu phương pháp xử lý trước khi đưa vào chế biển
Ln I.R PFalvOnieT
(Ed.), Algal toxins in scafood and drinking water Academic Press
F3 Quilliam, M.A & JL.C, Wright (1995a), Methods for Diarrhetic shellfish poisoning, Pp 95-111
In G.M
Hallegraeff, D.M Anderson, & A.D Cembella (Eds.), Manual on | lannful
Marine Microalgae: JOC Manuals and
Guides No 33 UNESCO,
S2
61: 7-18
4 Yasumolo, T., M Murata, Y Oshima & M Sano (1985), Niarthetic
shellfish: toxins
5, Yasumoto, T & M Satake (1998), New toxins and their toxicological evaluations
Pp 461-404
Hashimoto, K & T Noguchi (1989), Recent studics on Paralytic Shellfish
Poisoning in Japan, Pure applL.Chem
Tetrahedron 41: 1019-1 025
tu Proceeding of the XIII International Conference ou Hannful algae Vigo L997 UNESCO
6 Nguyễn Thị Nga và cộng tác viên (2006), Khảo sát biến động môi ing
ving nuôi ở Khánh Ílòa và nâng cao
chất lượng Vẹm xanh nuôi ở Khánh Hòa nhằm da dang héa nguyên liệu để chế biến xuất khẩu, để tài nghiên cứn khoa học và phát triển công nghệ tỉnh Khánh Hada, Tr 112 117,tr130 136
7 Nguyễn Thị Thủ Vân (2004) Phân tich dinh tượng, Nhà xnấi bản đại học
quốc gia Tp Ha Chi Minh
KY NIEM 50 NAM THANH LAP TRƯỜNG + 135