Tiểu học nói riêng không chỉ dạy tri thức và kỹ năng Toán học mà cần hình thành và phát triển cho HS năng lực giải quyết vấn đề phù hợp với đặc điểm tâm lý, sự phát triển năng lực tr[r]
Trang 1CHUYÊN ĐỀ:
DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC: DẠY HỌC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Trang 2Đổi mới PPDH là nội dung hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới PPDH đựoc hiểu là đổi mới cách thực hiện PPDH Đổi mới PPDH toán ở Tiểu học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HS là vấn đề cần đựoc GV quan tâm Vậy dạy học phát huy tính tích cực của HS được hiểu như thế nào?
- Ch úng ta đều biết rằng quá trình dạy học gồm 2
hoạt động có quan hệ hữu cơ:
+ Hoạt động dạy của GV
+ Hoạt động học của HS
A/ Lý do chọn đề tài:
Trang 3Cả hai hoạt động này đều đựoc tiến hành nhằm thực hiện mục đích giáo dục
Hoạt động học tập của HS chính là hoạt động nhận thức Hoạt động này chỉ có hiệu quả khi HS học tập một
cách tích cực, chủ động, tự giác, với một động cơ nhận thức đúng đắn.
- Kết quả học tập của HS là thước đo kết quả hoạt động của
GV và HS Trong quá trình dạy học, điểm tập trung là bản
thân người học chứ không phải người dạy, tức là hoạt động dạy học cần dựa trên nhu cầu, hứng thú, thói quen và năng lực của người học ở các lứa tuổi khác nhau.
Mục đích của dạy học ở đây là trẻ em phát triển trên nhiều mặt chứ không chỉ nhằm lĩnh hội tri thức.
Cần thật sự coi trọng quá trình học của HS, tức là coi trọng việc hình thành, phát triển những kỹ năng tự học và có
Trang 4- Trong khi dạy học, cần tạo điều kiện cho HS chủ
động tiếp thu các kiến thức kỹ năng Biết biến
những cái đó thành kiến thức kỹ năng của mình Nói cách khác là biến điều cần học thành cái
“vốn”, cái “tài sản” của bản thân.
Học tập như vậy khiến sự hiểu biết của các em
đựoc vững chắc hơn, hứng thú học tập của các em đựoc tăng cường hơn
- Khi dạy học ,hoạt động tư duy của HS được
khơi dậy, phát triển và coi trọng Đó chính là
dạy học phát huy tính tích cực của HS, trái
Trang 5- Đàm thoại khi giảng bài
- Đặt ra những câu hỏi gợi mở, gợi ý nhằm khuyến khích HS suy nghĩ, tích cực học tập.
- Thực hành theo mẫu
- Thảo luận(Cặp, nhóm, lớp)
- Tổ chức hoạt động để HS tìm tòi, khám phá, tự phản ánh việc học và tự
đánh giá kết quả học tập của mình.
Những hoạt động dạy học phát huy tính tích cực của HS thường được GV sử dụng là:
Trang 6 Việc hướng dẫn HS tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiễn thức mới(hay phát hiện và giải quyết vấn đề) có vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển tư duy toán học của
HS Việc đó cần phải được tiến hành, bởi vì:
+ Quá trình tự tìm tòi, khám phá sẽ giúp HS rèn luyện tính chủ động, sáng tạo trong học toán.
+ HS sẽ hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức nếu như chính mình tìm ra kiến thức đó, hoặc có góp phần cùng với các bạn tìm tòi, khám phá, xây
Trang 7+ Trong quá trình tìm tòi, khám phá, HS tự đánh giá được kiến thức của mình Khi gặp khó khăn, chưa giải quyết được vấn đề
HS tự đo được thiếu sót của mình về mặt kiến thức, về mặt tư duy và tự rút kinh nghiệm Khi tranh luận với các bạn, HS cũng
tự đánh giá được trình độ của mình so với các bạn để tự rèn luyện, điều chỉnh.
+ Trong quá trình HS tự tìm tòi, khám phá, GV biết được tình hình của HS về mức độ nắm kiến thức từ bài học cũ, vốn hiểu biết trình độ tư duy, khả năng khai thác mối liên hê giữa những yếu tố đã biết với những yếu tố phải tìm.
+ HS tự tìm tòi, khám phá sẽ rèn luyện được tính kiên trì, vượt khó khăn và một số phẩm chất tốt của người học toán như tự tin, suy luận có cơ sở, coi trọng tính chính xác, tính hệ thống
Đó là lý do để tôi chọn đề tài: Đổi mới PPDH môn Toán ở Tiểu
Trang 8B/ NỘI DUNG: Dạy học phát hiện và giải
Ví dụ: Dạy bài diện tích HCN ở lớp 3
Trang 10Cách 2: GV đưa ra các hình chữ nhật khác nhau(kích thước 2 cmx 3 cm; 3 cm x 5 cm;
4 cm x 5 cm) Yêu cầu HS tìm cách tính diện tích các hình chữ nhật này.
- HS được phân nhóm, sử dụng tấm nhựa trong có kẻ lưới ô vuông cạnh 1 cm, áp vào các hình chữ nhật và tìm các cách khác nhau
để cho biết diện tích của từng hình chữ nhật
Trang 111 cm
1 cm
Trang 12S1= 3 x 2= 6( cm 2 )
S2= 5 x 3= 15( cm 2 )
S3= 5 x 4= 20(cm 2 )
Các nhóm sẽ có các cách khác nhau: chẳng hạn đếm các HCN, đếm từng nhóm hàng,
Trang 13• GV cho HS nêu công thức tính diện tích
HCN có chiều dài a và chiều rộng b: S= a xb
• Trong cách dạy thứ nhất, GV đưa luôn một công
thức tính diện tích, sau đó HS kiểm tra cách tính đúng đắn của công thức qua một ví dụ cụ thể Cách này cho phép rút gọn thời gian dạy, GV dành nhiều thời gian cho việc rèn kỹ năng và thuộc công thức Tuy nhiên cách này làm HS thụ dộng, các hoạt động mang tính máy móc và không phát triển tư duy HS.
Trang 14 Trong cách dạy thứ hai, HS phải suy nghĩ tìm cách
vận dụng kiến thức đã học ở tiết trước để tìm diện tích từng HCN Cách này tưởng như mất thời gian nhưng
có giá trị không đổi được: thầy đã tổ chức tình huống
h ấp dẫn cho HS hoạt động và HS mong muốn giải
quyết nó, HS tích cực sử dụng kiến thức đã biết, phải thử nghiệm, đếm và tìm cách xác định số hình vuông cạnh 1 cm tạo nên HCN đã cho và đi đến cách tối ưu: Lấy chiều dài nhân chiều rộng
Đó là cách phát hiện và giải quyết vấn đề.
đề, thầy đã tổ chức tình huống sư phạm, HS hoạt động phát hiện ra vấn đề.
Trang 15 Vấn đề được chứa trong tình huống mà chủ thể
HS cần giải quyết nhưng không thể giải quyết ngay được Để giải quyết được vấn đề HS phải vượt khó khăn hàm chứa trong vấn đề bằng sự
cố gắng trí lực.Khi giải quyết vấn đề, HS đạt
được những tri thức và kỹ năng mới.
Có loại bài tập, khi HS gặp nó lần đầu tiên thì sẽ
là vấn đề, nhưng sau đó việc giải quyết các bài tập dạng này sẽ “ không còn là vấn đề nữa”
Trang 161/ GV tạo ra tình huống gợi vấn đề, điều khiển HS phát
hiện vấn đề.
2/ GV tổ chức cho HS hoạt động tự giác, tích cực chủ động
và sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó mà kiến
tạo tri thức.
3/ GV tổ chức cho HS hoạt động vận dụng kiến thức vào các tình huống cụ thể nhằm đạt được những mục đích học tập khác
II/ Định hướng “ Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề:
Định hướng “ Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề”trong môn toán ở tiểu học, gồm các nội dung sau:
Trang 17Trong quá trình dạy học hình thành một đơn vị kiến thức,
kỹ năng nào đó, chúng ta quan tâm đến 3 giai đoạn:
III/ Quá trình dạy học phát hiện- giải quyết vấn đề :
Quá trình dạy học phát hiện- giải quyết vấn đề: gồm các bước:
Bước 1: Tạo tình huống có vấn đề.
Bước 2: Tổ chức cho HS phát hiện vấn đề và tìm hiểu vấn đề.
Bước 3: Tổ chức cho HS hoạt động giải quyết vấn đề.
Bước 4: Tổ chức cho HS phân tích vấn đề và mở rộng vấn đề.
Trước khi dạy, trong khi dạy và sau khi dạy.
Trang 18- Trước khi dạy:
+ Chuẩn bị các kiến thức gần gũi, cần thiết cho HS.
+ Chuẩn bị của GV: xây dựng tình huống, xác định đối tượng HS và cách thức tổ chức dạy học.
+ Chuẩn bị các phương tiện Đ DDH
Trang 19- Trong khi dạy:
+ Tổ chức triển khai kế hoạch dạy học xử lý các tình huống nảy sinh.
+ Tổ chức triển khai tình huống có vấn đề.
+ Tổ chức hoạt động học tập của HS nhằm phát hiện vấn đề gợi động cơ giải quyết vấn đề cho HS + Tổ chức các hình thức học tập: cá nhân,
nhóm, đồng loạt để giải quyết vấn đề Hoạt
động phân hoá của GV trong tổ chức HS giải
quyết vấn đề Can thiệp thích hợp của GV vào
hoạt động của các đối tượng HS.
+ Tổ chức thảo luận về giải pháp giải quyết vấn đề + Thể chế hoá thành tri thức mới.
Trang 20Ví dụ: Dạy học “ Diện tích HTG”
-Trước khi dạy: Để chuẩn bị cho học tập bài mới, GV có thể tiến hành kiểm tra, ôn tập, bổ sung những kiến thức và
kỹ năng đã có của HS như:
+ Nêu công thức tính diện tích HCN.
+ Vẽ một tam giác và xác định các đường cao có thể có của TG
+ Hộp Đ D để học toán hay cắt 2 HTG bằng nhau bằng
Trang 21 Bước 1: Tạo tình huống
- Trong khi dạy:
Hoạt động 1: Hình thành công thức tính diện tích HTG
4 cm
3 cm
Trang 22HS phát hiện: tính diện
tích của HTG
Bước 3: Tổ chức HS hoạt
động giải quyết vấn đề:
Trang 23Sử dụng 2 HTG bằng nhau ghép thành HCN
Trang 24
+ Hoặc đếm số ô vuông nằm gọn trong HTG.Các nhóm trình bày cách giải quyết vấn
đề của nhóm mình và trao đổi
ý kiến để tìm ra cách làm thuận lợi nhất.
- GV theo dõi, giúp HS
tự rút ra kết luận.
-HS quan sát, cắt ghép hình
- Sử dụng 2 hình TG bằng nhau cắt ghép thành HCN là thuận lợi hơn.
Trang 25Bước 4: Tổ chức cho HS phân tích vấn đề và khái quát hoá vấn đề -GV mô tả hoạt động cắt, ghép trên hình vẽ.
Chiều cao
2 1
2 1
Trang 26Chiều dài của HCN= đáy của HTG
Diện tích HTG= ½ diện tích HCN
(Chiều cao x đáy ): 2
Trang 27 Hướng dẫn HS khái
quát hoá:
S= diện tích h=chiều cao a=đáy
- Ghi công thức tính diện
tích hình tam giác - HS ghi bảng con: S=(a x h):2
a
h
Trang 28- Em hãy nhận xét đơn vị đo?
- HS khác nhận xét cách tính và nêu kết quả
- Đáy và chiều cao đều có đơn
vị đo là cm, diện tích là cm2
Trang 29 Bài 2: HS đọc đề toán, nêu nhận
xét độ dài đáy và chiều cao không có cùng đơn vị đo
HS tự làm và nêu kết quả:a/ 5m= 50 dm
S= 50 x 24 : 2= 600 (dm2)b/ S= 42,5 x 5,2 :2=110,5(m2)
Trang 30chiều cao về cùng đơn vị đo
Trang 31IV/ Dạy học giải quyết vấn đề trong các giai đoạn khác
nhau của quá trình hình thành kiến thức kỹ năng
1/ Dạy học giải quyết vấn đề khi hình thành kiến thức mới:
Ví dụ: Hình thành cách so sánh độ dài ở lớp 1:
GV đặt vấn đề: so sánh độ dài các đồ vật như: bút, thước, que tính Làm thế nào để biết cái nào dài hơn?
- HS phát hiện PP: so sánh một cách trực tiếp đó là PP so đũa Xuất hiện trường hợp so sánh độ dài của 2 vật cố định
xa nhau không chuyển dời được, HS phải suy nghĩ và đề xuất PP mới- PP gián tiếp- thông qua so sánh với độ dài
của một đối tượng thứ 3 sử dụng đơn vị đo.
Trang 32Ví dụ: luyện kỹ năng tính.
Các dạng bài tập dưới đây có tính vấn đề( Toán 3)
Hình thành biểu tượng về đơn vị đo độ dài:
đơn vị đo không chuẩn như gang tay, bước
chân, sải tay và đơn vị đo chuẩn( cm)
2/ Dạy học giải quyết vấn đề khi thực hành,
củng cố kiến thức:
Trang 33Viết các chữ số thích hợp vào dấu chấm:
Trang 343/ Dạy học giải quyết vấn đề khi vận dụng
kiến thức vào thực tiễn
Bài toán hợp, toán trồng cây, bài toán rút về đơn vị, bài toán tìm 2 số biết tổng và hiệu của chúng, bài toán tìm 2 số khi biết tổng( hiệu)
và tỉ số của chúng, bài toán về chuyển động đều
Trang 35Nhưng không phải bài toán có lời văn nào
cũng chứa đựng các vấn đề Bài toán có lời văn chỉ
chứa đựng vấn đề trong trường hợp nó xuất hiện lần đầu tiên khi giới thiệu dạng toán mới.
V/ Các mức độ tổ chức dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.
Khi dạy học không thể lúc nào cũng bắt buộc phải tổ chức tất cả các bước: từ phát
hiện vấn đề đến giải quyết vấn đề, mà có thể
áp dụng các mức độ khác nhau.
Có thể đưa các mức độ tham gia phát hiện và giải quyết vấn đề của HS như sau
Trang 36- GV tạo tình huống chứa đựng vấn đề, HS hoạt động phát hiện vấn đề, tự giải quyết vấn đề
- GV đưa ra tình huống và trực tiếp nêu vấn đề,
HS tìm cách giải quyết vấn đề GV hướng dẫn
HS hình thành tri thức mới.
Trang 37Kết luận: Việc tổ chức các hoạt động dạy học như trên đã thể hiện rõ:
- GV là người tạo ra môi trường học tập, tổ
chức, điều khiển, khuyến khích HS thảo luận, tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề chứ
không phải là người giải thích, minh họa,
truyền đạt kiến thức sẵn có.
- HS là chủ thể tích cực trong công việc xây
dựng kiến thức mới cho bản thân dựa trên kiến thức, kinh nghiệm đã có và được phát huy hết khả năng của mình.
Trang 38- Mục đích của dạy học không chỉ là truyền thụ kiến thức mà làm thay đổi quan niệm của HS
HS học được cách khám phá, cách phát
hiện, giải quyết vấn đề một cách khoa học.
- Dạy học Toán nói chung, dạy học Toán ở
Tiểu học nói riêng không chỉ dạy tri thức và
kỹ năng Toán học mà cần hình thành và phát triển cho HS năng lực giải quyết vấn đề phù hợp với đặc điểm tâm lý, sự phát triển năng lực trí tuệ của HS trong từng giai đoạn học
tập.