2.2.2 Một số giải pháp chính để phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh qua chương điện học: Như ta đã biết ý thức và các phẩm chất tâm lí, năng lực của con người biểu hiện v[r]
Trang 1Phần thứ nhất : mở đầu
lí do chọn đề tài Trong nghị quyết tw II- khoá VIII đã nêu: Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục
là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí khiên cường xây dựng và bảo
vệ tổ quôc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu văn hoá nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người việt nam Có ý thức cộng đồng và phát huy tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức, khoa học và cồng nghệ, hiện đại, có tư duy sáng tạo kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kĩ thuật, có sức khoẻ, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên như lời Bác Hồ dạy
Muốn làm tốt được nhiệm vụ trên, để đóng góp có hiệu quả vào việc năng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, tạo nguồn lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chuẩn bị tiền đề bước vào thế kỉ XXI Để đạt được mục tiêu cơ bản của giáo dục, thì việc giảng dạy các tri thức thông qua các môn học ở nhà trường là hết sức quan trọng và môn vật lí là môn học chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống các môn học ở nhà trường phổ thông Nó có nhiệm vụ :
- Cung cấp kiến thức vật lí phổ thông cơ bản, có hệ thống và tương đối toàn diện Những kiến thức này phải phù hợp với trình độ hiểu biết hiện đại theo tinh thần kĩ thuật tổng hợp, tạo điều kiện cho hướng nghiệp, gắn với cuộc sống, nhằm chuẩn bị tốt cho học sinh tham gia lao động sản xuất hoặc tiếp tục học lên
- Góp phần phát triển tư duy khoa học
- Rèn luyện những kĩ năng cơ bản có tính chất kĩ thuật tổng hợp
- Góp phần xây dựng thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và tinh thần quốc tế vô sản.Góp phần rèn luyện những phẩm chất của người lao
động mới
ở chương trình vật lí 7, lần đầu tiên học sinh được tiếp xúc với các hiện tượng vật lí một cách có hệ thống về các lĩnh vực quen thuộc, thường gặp hàng ngày (quang hoc,
âm hoc,điện hoc) Trình độ tư duy còn thấp, vốn kiến thức toán học còn hạn chế, kinh nghiệm hoạt động nhận thức còn thiếu, vốn sống thực tế còn nghèo Với mục tiêu yêu cầu học sinh phải lĩnh hội các khái niệm vật lí cơ sở để có thể mô tả đúng các hiện tượng và quá trình vật vật lí cần nghiên cứu giải thích một số hiện tượng và quá trình vật
lí đơn giản ở lớp 7, để mô tả và giải thích nhiều hiện tượng về quang học , âm học điện học cần phải xây dựng nhiều khái niệm mới.Tuy chưa thể định nghĩa chính xác các khái niệm đó nhưng cần phải giúp cho học sinh nhận biết được những dấu hiệu cơ bản có thể quan sát, cảm nhận được của các khái niệm đó Sau đó học sinh vận dụng vận dụng cho quen trong ngôn ngữ khoa học thay cho ngôn ngữ thông thường ban đầu Ngoài ra ở lớp
7, học sinh cần thực hiện một số phương pháp suy luận như phương pháp tương tự, phương pháp tìm nguyên nhân của hiện tượng Biết xử lí thông tin dữ liệu thu được để rút ra những kết luận chung hay từ những từ những tính chất, quy luật chung suy ra những biểu hiện trong thực tiễn.Từ những yêu cầu chính trên, bản thân tôi thấy cần phải
Trang 2đi sâu nghiên cứu về vấn đề phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh qua môn học vật lí ở chương trình lớp 7
1.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong đề tài này tôi nêu và giải quyết một số vấn đề sau :
1.2.1- Một số cơ sở lí luận có liên quan tới đề tài
1.2.2-Thực trạng của vấn đề phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh
1.2.3-Các giải pháp phát triển tư duy và năng lực của học sinh qua chương 3 : điện học
ở SGK vật lí 7 và kết quả đạt được
1.2.4- Một số bài học kinh nghiệm
1.2.5- Một số ý kiến đề xuất và kiến nghị
1.3 -Đối tượng nghiên cưú và phạm vi nghiên cứu
1.3.1- Đối tượng nghiên cứu
Phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh qua việc giảng dạy vật lí 7
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Các giải pháp phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh qua chương 3-
Điện học ở SGK vật lí 7
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết
- Thực tế giảng dạy
1.5 - Thơi gian nghiên cứu
Từ 15/1/2011 đến 10/3/2011
Phần thứ 2 : nội dung
Chương 1: cơ sở lí luận
2.1.1 cơ sở của vật lí điện đại cương về điện trường và dòng
điện trong kim loại 2.1.1.1 Điện trường
2.1.1.1.1 Khái niệm điện trường – Vectơ cường độ điện trường
*Khái niệm về điện trường
Bằng quan sát hiện tượng hai vật tích điện không tiếp xúc vào nhau mà giữa chúng
có sự tương tác ( tương tác culông).Vấn đề đặt ra là tại sao chúng có thể tác dụng lẫn nhau ma không tiếp xúc trực tiếp? Lực đó được truyền đi như thế nào ? Có sự tham gia
Trang 3của môi trường xung quanh không? khi chỉ có một điện tích thì không gian bao quanh
điện tích đó có gì thay đổi không
Vật lí học hiện đại đã cho thấy rằng xung quanh điện tích có một môi trường vật chất gọi là điện trường Một tính chất cơ bản của điện trường là khi là khi có một điện tích
đặt trong điện trường thì điện tích đó chiụ tác dụng của lực điện Nhờ có điện trường
mà hai lực điện tích tác dụng vào nhau.Tác dụng ấy xảy ra như sau : mỗi điện tích có xung quanh nó một điện trường và điện trường của điện tích này tác dụng vào điện tích kia một lực.Chính là dựa vào tính chất cơ bản này của điện trường mà ta biết được sự có mặt của nó và nghiên cứu được những đặc trưng của nó
Điện trường là dạng vật chất tồn tại xung quanh điện tích và tác dụng lực điện lên
điện tích khác đặt trong nó
*Cường độ điện trường
Ta xét những tính chất và đặc trưng của điện trường của một điện tích khi điện tích đó
đứng yên Điện trường như thế gọi là điện trường tĩnh Để nghiên cứu điện trường ta dựa vào tác dụng của nó lên các điện tích thử
Cường độ điện trường tại một điểm là đại lượng vật lí đặc trưng cho điện trường về phương diện tác dụng lực, được đo bằng thương số của lực điện trường tác dụng lên một diện tích thử đặt tại điểm đó và độ lớn của điện tích thử đó
* Lực tác dụng lên điện tích đặt trong điện trường
Theo định nghĩa nếu biết cường độ điện trường E ta có thể xác định được lực điện F tác dụng lên một điện tích q đặt tại một điểm trong từ trường đó.Ta có:
F=q E
Nếu q>0 thì F cùng chiều với E; một điện tích dương lúc đầu dứng yên sẽ di chuyển theo chiều vectơ cường độ điện trường Còn lực điện tác dụng lên điện tích âm có chiều ngược lại với vectơ cường độ điện trường
*Cường độ điện trường gây ra bởi một điện tích điểm Q
Dựa vào định nghĩa nói trên ta hãy tìm cường độ điện trường gây bởi một điện tích
điểm Q đặt trong một môi trường có hằng số điện môi є
tại điểm đang xét cách điện tích khoảng r ta đặt một điên tích thử dương q Theo định
luật culông lực tác dụng lên q là
F = 9.109 | Q q | / є r2
Do đó cường độ điện trường E gây bởi điện tích Q tại điểm cách nó một khoảng r có độ lớn :
E = F/q = 9.109 | Q |/ єr2
Như vậy cường độ điện trường E gây ra bởi một điện tích điểm Q tại một điểm cách nó một khoảng r là một vectơ đặt tại điểm đó có độ lớn :
E = 9.109 | Q | / єr2
Có phương là phương của đường thẳng nối điện tích và điểm đó, chiều hướng ra xa Q nếu Q>0 ; hướng về Q nếu Q< 0
* Cường độ điện trường do nhiều điện tích điểm gây ra
Trong trường hợp nhiều điện tích điểm Q1,,Q2…thì tại các điểm ta đang xét chúng gây ra các điện trường có cường độ tương ứng là E1,E2…cờng độ điện trường tổng hợp
Trang 4tại điểm đó bằng tổng các vectơ cường độ điện trường do từng điện tích riêng biệt gây ra:
E = E1+ E2+…
đó là nguyên lí chồng chất điện trường
* Đường sức của điện trường :
Để mô tả điện trường một cách trực quan người ta có nhiều cách Nhưng thuận tiện nhất là quy ước biểu diễn điện trường bằng các đường sức
Đường sức của điện trường là đường mà tiếp tuyến với nó tại mỗi điểm trùng với phương của vectơ cường độ điện trường tại điểm đó, chiều của đường sức là chiều của vectơ cường độ điện trường tại điểm đó
*Tính chất đường sức:
-Vì điện trường có tất cả ở mọi điểm trong không gian bao quanh điện tích, nên qua bất kì điểm nào cũng có thể vẽ được một đường sức
- Vì tại mỗi điểm cường độ điện trường có hướng và độ lớn xác định, nên qua mỗi điểm chỉ có thể vẽ được một đường sức hay nói khác đi các đường sức không cắt nhau
- Vì chiều của đường sức trùng với chiều của vectơ cường độ điện trường, nên các
đường sức bắt từ các điện tích dương kết thúc ở các điện tích âm Trong trường hợp chỉ
có các điện tích âm hoặc các điện tích dương thì các đường sức bắt đầu và kết thúc ở vô cực Như vậy đường sức của điện trường tĩnh không khép kín
- Để cho các đường sức có thể biểu diễn cả độ lớn của cường độ điện trường người ta quy ước vẽ các đường sức mau ở nơi cường độ điện trường lớn, đường sức thưa ở nơi cường độ điện trường nhỏ
* Điện trường đều: dạng điện trường đơn giản nhất, thường gặp trong thực tế là điện trường đều Đó là điện trường mà cường độ cùng một độ lớn và hướng ở mọi điểm
Đường sức của điện trường đều là những đường thẳng song song cách đều nhau
2.1.2: phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh
2.1.2.1 Phát triển tư duy:
Tư duy là một quá trình nhận thức khái quát và gián tiếp những sự vật và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính, bản chất của chúng, những mối quan hệ khách quan giữa chúng, đồng thời cũng là sự vận dụng sáng tạo những kết luận khái quát đã thu được vào những dấu hiệu cụ thể, dự đoán thuộc tính, hiện tượng quan
hệ mới
Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ, ngôn ngữ là phương tiện, là hình thức biểu đạt của tư duy Ngôn ngữ cố định lại các kết quả của tư duy, nhờ đó làm khách quan hoá chung cho người khác và cho cả bản thân chủ thể tư duy Không có ngôn ngữ thì bản thân quá trình tư duy không thể diễn ra được, đồng thời các sản phẩm của tư duy không diễn ra được, không thể sử dụng được Hoạt động tư duy chỉ bắt đầu khi con người đứng trước một câu hỏi về một vấn đề mà mình quan tâm nhưng chưa giải đáp được bằng hiểu biết vốn có của mình, nghĩa là gặp tình huống có vấn đề Tư duy có nhiều loại dựa theo những dấu hiệu khác nhau.Trong dạy học vật lí người ta quan tâm đến những tư duy chủ yếu sau :
+ Tư duy kinh nghiệm : là một tư duy chủ yếu trên kinh nghiệm, cảm tính, và sử dụng phương pháp thử và sai Chủ thể phải thực hiện một nhiệm vụ nào đó, thử mò
Trang 5mẫm thực hiện một số thao tác, hành động nào đó ngẫu nhiên gặp một trường hợp thành công.Sau đó lặp lại đúng như thế mà không biết nguyên nhân vì sao, kiểu tư duy này
đơn giản không cần rèn luyện nhiều, có ích trong hoạt động hàng ngày để giải quyết một số vấn đề trong phạm vi hẹp
+ Tư duy lí luận: là loại tư duy giải quyết nhiệm vụ được đề ra dựa trên sử dụng những khái niệm trừu tượng, những tri thức lí luận, đặc trưng của nó là :
- Không dừng lại ở kinh nghiệm rời rạc mà luôn hướng tới xây dựng các quy tắc, quy luật chung ngày một sâu rộng hơn
- tự định hướng hành động, suy nghĩ về cách thức hành động trước khi hành động
- Luôn sử dụng những tri thức khái quát đã có để lí giải, dự đoán những sự vật hiện tượng cụ
- Luôn lật đi, lật lại vấn đề để đạt đến sự nhất quán về mặt lí luận, xác định được phạm
vi ứng dụng của mỗi lí thuyết
Tư duy lí luận rất cần thiết cho hoạt động nhận thức và phải rèn luyện lâu dài mới có dược Nhờ có tư duy lí luận con người mới có thể đi sâu vào bản chất cảu sự vật, hiện tượng, phát hiện được quy luật vận động của chúng và sử dụng những tri thức khái quát
đó để cải tạo bản thân và làm biến đổi thế giới tự nhiên, phục vụ lợi ích của mình
Tư duy logic: là tư duy tuân theo các quy tắc, quy luật của logic học một cách chặt chẽ, chính xác, không phạm phải sai lầm trong các lập luận, biết phát hiện ra các mâu thuẫn, nhờ đó mà nhận thức được đúng đắn chân lí khách quan Logic học là một khoa học nghiên cứu những tư tưởng của con người về mặt hình thức logic của chúng ta là
điều kiện cần để đạt tới chân lí trong quá trình suy luận.Con người bằng kinh nghiệm của mình đã suy nghĩ theo những quy luật nhất định rất lâu trước khi được khoa học khám phá ra Những quy luật của logic học mà mỗi người sử dụng trong quá trình hoạt
động tư duy không phải là con người tự ý tái tạo ra mà là sự phản ánh những mối quan
hệ và liên hệ khách quan của các sự vật và hiện tượng quanh ta.Bởi thế dù chưa biết logic hoc nhưng con người bằng kinh nghiệm sống của mình đã có thể trao đổi tư tưởng với nhau, thông hiểu nhau và thống nhất được với nhau trong một số lập luận, phán
đoán Tuy nhiên điều đó chỉ xảy ra trong một số trường hợp đơn giản, còn khi gặp những trường hợp phức tạp thì khó có thể thông hiểu lẫn nhau và thống nhất với nhau trong một số lập luận phấn đoán, khó phân biệt đúng hay sai, nếu không nắm vững và vận dụng đúng đắn những quy tắc, quy luật logic học
Ví dụ : Học sinh có thể dễ dàng tin rằng lập luận sau đây là đúng nhưng không hiểu lí
do vì sao
Tất cả các kim loại đều dẫn điện
Vật này là kim loại
Vậy vật này là là dẫn điện
Nhưng họ khó có thể biết rằng lập luận dưới đây là đúng hay sai:
Tất cả các kim loại đều dẫn điện
Vật này dẫn điện
Vậy vật này là kim loại
đối với hoc sinh phổ thông, không thể dạy cho họ logic học để sau đó họ mới vận dụng các quy tắc và quy luật logic để suy nghĩ, lập luận, mà ta có thể thông qua việc
Trang 6giải quyết những nhiệm vụ cụ thể mà tích luỹ dần kinh nghiệm và đến một lúc nào đó
sẽ tự tổng kết thành những quy tắc đơn giản thường dùng Tư duy logic được sử dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động nhận thức cho nên phải thường xuyên rèn luyện cho học sinh cách tư duy logic
+ Tư duy vật lí : là sự quan sát các hiện tượng vật lí phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng những mối quan hệ và sự phụ thuộc xác định , tìm ra mối liên hệ giữa mặt định tính và mặt định lượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lí dự đoán các hệ quả mới từ các lí thuyết và áp dụng những kiến thức khái quát thu đươc vào từ thực tiễn
Các hiện tượng vật lí trong tự nhiên rất phức tạp nhưng những định luật chi phối chúng thường lai rất đơn giản vì mỗi hiện tượng bị nhiều yếu tố tác động chồng chéo lên nhau hoặc nối tiếp nhau mà ta chỉ quan sát được kết quả tổng hợp cuối cùng Bởi vậy muốn nhận biết được thuộc tính bản chất và quy luật của tự nhiên thì phải phân tích
được hiện tượng phức tạp thành những bộ phận, những giai đoạn bị chi phối bởi một số
ít nguyên nhân, bị tác động bởi một số ít yếu tố, tốt nhất là một nguyên nhân một yếu
tố Có như thế ta mới xác lập những mối quan hệ bản chất trực tiếp, những sự phụ thuộc
định lượng giữa các đại lượng vật lí dùng để đo lường những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng
Muốn biết những kết luận khái quát thu được có phản ánh đúng thực tế, khách quan không ta phải kiểm tra lại thực tiễn Để làm việc đó phải xuất phat từ những kết luận khái quát,suy ra từ những hệ quả, dự đoán những hiện tượng mới có thể quan sát
được trong thực tiễn Nếu thí nghiệm xác nhận hiện tượng mời đúng như dự đoán thì kết luận khái quát ban đầu mới được xác nhận là chân lí Mặt khác việc vận dụng những kiến thức vật lí khái quát vào thực tiễn tạo điều kiện cho con người cải tạo thực tiễn, làm cho các hiện tượng vật lí xảy ra theo hướng có lợi cho con người
Trong quá trình nhận thức vật lí, con người sử dụng, tổng hợp xen kẽ nhiều hình thức tư duy, trong đó có hình thức tư duy chung như tư duy lí luận tư duy logic và những hình thức đặc thù của vật lí như thực nghiệm, mô hình hoá
Để phát triển tư duy của học sinh có thể theo các phương pháp sau :
+ Tạo nhu cầu hứng thú, kích thích tính tò mò ham hiểu biết của học sinh
Tư duy là quá trình tâm lí diễn ra trong đầu học sinh Tư duy chỉ thực sự có hiệu quả khi học sinh tự giác mang hết sức mình để thực hiện Tư duy chỉ thực sụ bắt đầu khi trong đầu học sinh xuất hiện câu hỏi mà chưa có lời giải đáp ngay, khi họ gặp phải mâu thuẫn giữa một bên là nhu cầu nhiệm vụ nhận thức mới phải giải quyết và một bên là trình độ kiến thức không đủ để giải quyết nhiệm vụ đó, cần phải xây dựng kiến thức mới Lúc đó học sinh vừa ở trạng thái tâm lí hơi căng thẳng, vừa hưng phấn khát khao vuợt qua được khó khăn, giải quyết được mâu thuẫn, đạt được một trình độ cao hơn trên con đường nhận thức ta nói học sinh được đặt vào tình huống có vấn đề
+ Xây dựng một logic học phù hợp với đối tượng học sinh:
Vật lí học dựa vào dạy học ở trường phổ thông không phải là vật lí học được trình bày dưới dạng hiện đại nhất của khoa học, bởi nếu như vậy thì nhiều khi học sinh không thể hiểu được Hơn nữa lai yêu cầu học sinh phải tự lực hoạt động, để xây dung, chiếm
Trang 7lĩnh kiến thức Bởi vậy giáo viên phải tìm một con đường phù hợp với trình độ học sinh
để họ có thể làm được việc ấy
+ Rèn luyện cho học sinh kĩ năng thực hiện các thao tác tư duy, những hành động nhận thức phổ biến trong học vật lí
Để cho học sinh có thể tự lực hoạt động nhận thức có kết quả và hoạt động với tốc độ càng nhanh, giáo viên phải có kế hoạch rèn luyện cho học sinh Tư duy diễn ra trong
đầu học sinh, giáo viên không thể quan sát được Mặt khác học sinh cũng không thể quan sát hành động trí tuệ của giáo viên mà bắt chước được Do đó cần sử dụng những cơ sở định hướng để giúp học sinh có thể tự thực hiện những thao tác tư duy
+ Tập dượt để học sinh giải quyết vấn đề nhận thức theo phương pháp nhận thức vật lí Để rèn luyện tư duy vật lí cho học sinh thì tốt nhất là tập dượt cho họ giải quyết các nhiệm vụ nhận thức bằng chính các phương pháp của các nhà vật lí Đó là phương pháp thực nghiệm và phương pháp mô hình
+ Rèn luyện ngôn ngữ vật lí cho học sinh:
Ngôn ngữ là hình thức biểu hiện của tư duy Mỗi khái niệm vật lí được biểu đạt bằng một từ, mỗi định nghĩa, định luật vật lí được phát biểu bằng một mệnh đề, mỗi suy luận bao gồm nhiều phán đoán liên tiếp Để mô tả một loại hiện tượng cần những thuật ngữ diễn tả những dấu hiệu đặc trưng của loại hiện tượng đặc trưng đó Đặc biệt trong vật lí nhiều khi vẫn dùng những từ ngữ thường dùng trong hàng ngày nhưng có một nội dung phong phú và chính xác hơn Mỗi khi gặp một thuật ngữ mới, diễn tả một khái niệm mới cần giải thích rõ cho học sinh và yêu cầu học sinh tập sử dụng nó một cách chính xác, thành thạo thay cho ngôn ngữ hàng ngày
2.1.2.2 Phát triển năng lực sáng tạo của học sinh :
Năng lực là những thuộc tính tâm lí riêng của cá nhân nhờ những thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt đẹp mọi loại hoạt động nào đó, mặc dù đã phải bỏ ra ít sức lao
động mà vẫn đạt kết quả cao
Người có năng lực về một mặt nào đó thì không phải nỗ lực nhiều trong quá trình công tác mà vẫn khắc phục khó khăn một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn những người khác hoặc có thể vượt qua được những khó khăn mới mà nhiều người khác không vượt qua được Năng lực gắn với kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực hoạt động tương ứng.Song kĩ năng , kĩ xảo liên quan đến việc thực hiện một hành động hẹp, chuyên biệt, đến mức thành thạo, tự động hoá, máy móc Còn năng lực chứa đựng yếu tố mới mẻ, linh hoạt trong hành động, có thể giải quyết nhiệm vụ thành công trong nhiều tình huống khác nhau, trong một lĩnh vực hoạt động rộng hơn
Năng lực sáng tạo có thể hiểu là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới
Để hình thành và phát triển năng lực sự sáng tạo cho học sinh có thể dựa vào các biện pháp sau :
+ Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới
Kiến thức vật lí trong trường phổ thông là những kiến thức đã được loài người khẳng định.Tuy vây nó luôn luôn là mới mẻ với học sinh Việc nghiên cứu những kiến
Trang 8thức mới sẽ tạo ra những tình huống đòi hỏi học sinh phải đưa ra những ý kiến mới, giải pháp mới đối với chính bản thân họ
Tổ chức quá trình nhận thức vật lí theo chu trình sáng tạo sẽ giúp cho học sinh trên con đường hoạt động sáng tạo dễ nhận biêt được: chỗ nào có thể suy nghĩ dựa trên những hiểu biết đã có, chỗ nào phải đưa ra kiến thức mới, giải pháp mới.Việc tập trung sức lực vào chỗ mới đó sẽ giúp cho hoạt động sáng tạo của học sinh có hiệu quả, rèn luyện cho tư duy trực giác nhạy bén, phong phú Trong nhiều trường hợp giáo viên có thể giới thiệu cho học sinh kinh nghiệm sáng tạo của các nhà bác học
+ Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết:
Dự đoán có vai trò rất quan trọng trên con đường sáng tạo khoa học.Dự đoán dựa chủ yếu vào trực giác, kết hợp với kinh nghiệm phong phú và kiến thức sâu sắc về mỗi lĩnh vực
Trong giai đoạn đầu của hoạt động nhận thức vật lí của học sinh, dự đoán có thể dựa vào sự liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có, dựa trên sự tương tự, dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán giữa chúng có quan hệ nhân quả
+ Luyện tập đề xuất phương án kiểm tra dự đoán Trong nghiên cứu vật lí, một dự đoán, một giả thuyết thường là một khái quát các sự kiện thực nghiệm nên nó có tính chất trừu tượng, tính chất chung, không thể kiểm tra trực tiếp được Muốn kiểm tra xem điều dự
đoán đó, giả thuyết có phù hợp với thực tế không, ta phả xem điều dự doán đó biểu hiện trong thực tế như thế nào, có những dấu hiệu nào có thể quan sát được Điều đó có nghĩa từ một dự đoán, giả thuyết ta phải suy ra được một hệ quả có thể quan sát được trong thực tế, sau đó tiến hành làm thí nghiệm để xem hệ quả rút ra bằng suy luận đó có phù hợp với kết quả thí nghiệm không Hệ quả suy ra được phải khác với những sự kiện ban đầu dùng làm cơ sở cho dự đoán thì mới có nghĩa
Quá trình rút ra hệ quả thường áp dụng suy luận logic hay suy luận toán học.Sự suy luận này phải đảm bảo là đúng quy tắc, quy luật, không phạm sai lầm
+ giải các bài tập sáng tạo:
Loại bài tập này khi giải ngoài việc phải vận dụng một số kiến thức đã học, học sinh bắt buộc phải có những ý kiến độc lập, mới mẻ, không thể suy ra một cách logic từ những kiến thức đã học
2.1.3 - Thực trạng vấn đề phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh ở trường trung học cơ sở :
2.1.3.1 - Ưu điểm :
Trong những năm gần đây thực hiện nghị quyết của các Đại hội Đảng các cấp, đặc biệt là nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc khoá VIII, khoá IX chất lượng giáo dục đã
được đổi mới Đội ngũ giáo viên nhiều người có tâm huyết với nghề có lòng yêu nghề mến trẻ, tinh thần trách nhiệm với nghề đã được nhà nước phong tặng các danh hiệu nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân
Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học đã dần được đồng bộ đặc biệt là trong mấy năm gần đây, thực hiện thay sách lớp 6 và 7.Vì thế trong những năm gần đây chất lượng học sinh đã được nâng cao lên một bước Nhiều học sinh đạt giải cao trong các kì thi học sinh giỏi trong nước cũng như trên đấu trường quốc tế
2.1.3.2 Tồn tại :
Trang 9Tuy chất lượng giáo dục đã được nâng lên, đặc biệt là ở các thành phố, thành thị song ở các vùng nông thôn, miền núi vùng hải đảo thì chất lượng giáo dục vẫn còn nhiều băn khoăn Khả năng tư duy và sáng tạo của học sinh còn nhiều hạn chế
2.1.3.3 Nguyên nhân :
- đội ngũ giáo viên ở nông thôn, miền núi còn nhiều đồng chí chưa đạt chuẩn
- học sinh sợ môn vật lí vì các em tâm niệm khó như lí vì môn học thực nghiệm mà việc sử dụng dụng cụ thí nghiệm rất hạn chế
- Cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy chưa đáp ứng so với yêu cầu Các trường ở nông thôn miền núi thiếu giáo viên phụ tá, phòng thực hành, thiết bị …
Chương II : thực trạng vấn đề phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh ở trường THCS Thiệu dương
Những giảI pháp và kết quả đạt được qua chương điện học ở
vật lí 7
2 2.1 Thực trạng vấn đề phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh
2.2.1.1 Khái quát về tình hình học sinh:
Thiệu dương là một xã của huyện thiêu hoá, một trong những xã xa trung tâm huyện, người dân sống chủ yếu bằng nghề buôn bán và nghề phụ như đan cót do đó đời sống
và mức độ thu nhập chưa đồng đều trong các hộ gia đình ảnh hưởng tới chất lượng học tập của học sinh
Bên cạnh đó cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học còn thiếu, trường có số lượng lớp
đông nhất nhì huyện với 18 lớp và gần 500 học sinh.Song trường lại chưa có GV phụ tá
TN, phòng học bộ môn không có Mặc dù vậy trong những năm gần đây đội ngũ giáo viên có nhiều chuyển biến, học sinh nhiều em chăm chỉ học vì thế đã có học sinh đạt giải ở các kì thi chọn học sinh giỏi cấp huyện
2.2.1.2.Thực trạng vấn đề phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh ở trường THCS Thiệu Dương
Từ điều kiện thực tế giảng dạy ở địa phương là vùng nông thôn việc phát triển tư duy
và năng lực sáng tạo của học sinh lớp 7 học chương trình SGK mới còn nhiều khó khăn Song bản thân tôi cũng đưa ra một số giải pháp để các đồng chí tham khảo khi giảng dạy môn điện học
2.2.2 Một số giải pháp chính để phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh qua chương điện học:
Như ta đã biết ý thức và các phẩm chất tâm lí, năng lực của con người biểu hiện và
được hình thành trong hoạt động của con người.Việc dạy học sẽ làm cho HS phát triển khác nhau tuỳ thuộc ở nội dung và phương pháp dạy học.Vì vậy việc dạy học không phải là chỉ quan tâm đến nhiệm vụ làm cho học sinh tiếp thu được một số kiến thức nào
đó mà còn phải quan tâm đến nhiệm vụ phát triển trí tuệ, vừa là điều kiện đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến thức, vừa tạo điều kiện cho học sinh tự mình học tập, nghiên cứu tiến xa hơn nữa và có khả năng độc lập công tác
Trang 10Có nhiều giải pháp phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh Song ở đây tôi chỉ nêu một số giải pháp cụ thể mà bản thân tôi đã thực hiện trong quá trình giảng dạy
2.2.2.1 Phát triển óc quan sát và năng lực nhận ra cái bản chất trong các hiện tượng vật lí.
Quá trình nhận thức của học sinh các lớp trong tiến trình dạy vật lí nói chung, đặc biệt là với học sinh lớp 7 khi thực hiện chương trình thay sách, bắt đầu từ chỗ học sinh cảm thụ các đối tượng vật lí trong một tình huống xác định Không có sự nhận thức này cảm tính nàythì không có tư duy của học sinh.Từ đây rút ra nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học vật lí trong việc phát triển tư duy, phát triển những năng lực trí lực chung
là kích thích sự quan sát các hiện tượng, các quá trình và các đối tượng một cách chăm chú và có định hướng Muốn sự quan sát này góp phần phát triển tư duy thì cần phải đặt
ra trước học sinh mục đích quan sát, ở đây không giới hạn sự quan sát ở giai đoạn tri giác thụ động
Một trong những dấu hiệu cơ bản của sự phát triển trí tuệ của học sinh là khả năng so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá, tách ra được cái bản chất trong các hiện tượng, trong mỗi tình huống vật lí
Ví dụ : Khi học bài sự nhiễm điện do cọ xát
Đây là bài đầu tiên của phần điện học nên việc định hướng cho học sinh quan sát các hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hàng ngày là rất cần thiết
để đặt vấn đề cho bài học GV có thể đưa ra câu hỏi : các em nghe thấy gì? Thấy hiện tượng gì? Khi ta cởi áo ngoài bằng len, dạ hay đồ tổng hợp trong những ngày thời tiết khô ráo đặc biệt là khi hanh khô?
Từ câu hỏi định hướng trên, GV cho HS thảo luận rồi đưa ra nhận xét
( có tiếng nổ lách tách)
Hỏi : nếu các em cởi áo vào ban đêm ở chỗ tối còn quan sát được gì ( chớp sáng nhỏ
li ti)
Để phát hiện vật bị cọ xát có tính chất gì mới GV định hướng cho HS làm TN với các dụng cụ: thước nhựa, mảnh vải khô, giấy vụn quả cầu xốp nhẹ có dây treo Khi chưa
cọ xát thước vào mảnh vải khô cho HS đưa thước lại gần các mảnh vải và quả cầu xốp Các em thấy hiện tượng gì ?( không có hiện tượng gì xảy ra)các mẩu giấy và quả cầu
đứng yên
Cho học sinh cọ xát thước nhựa vào mảnh vải khô nhiều lần.Sau đó đưa thước đã
được cọ xát lại gần các mẩu giấy vụn hoặc quả cầu các em quan sát thấy hiện tượng gì xảy ra ( thước hút quả cầu và mẩu giấy vụn)
Vậy trong TN em rút ra nhận xét gì về các vật sau cọ xát (sau cọ xát các vật có khả năng hút các vật nhẹ xốp )
Trong trường hợp này ta có thể vận dụng kiến thức về điện đại cương để giải thích : Khi ta đưa thước nhựa đã được cọ xát chúng trở thành vật nhiễm điện, lại gần các vật nhẹ thì dưới tác dụng của điện trường do điện tích trên thước gây nên, các vật này bị nhiễm điện, trở thành các lưỡng cực điện, chúng chịu tác dụng của điện trường không
đều do thước gây ra chúng bị hút về phía thước là nơi có điện trường mạnh hơn