Khẳng định hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp có nghĩa là hợp tác xã trong quá trình hoạt động cũng phải quan tâm đến lỗ lãi, thị trường, cạnh tranh, đó[r]
Trang 1CHUƠNG V
PHÁP LUẬT VỂ HỢP TÁC XÃ
I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP TÁC XÃ
1 Khái niệm hợp tác xã
Hợp tác xã là hình thức kinh tế tập thể của những người lao động tự nguyện lập lên trên cơ sở góp vốn, góp sức lao động để cùng tham gia hoạt động, sản xuất kinh doanh Hình thức này đã phát huv mọi tiềm năng về vật chất cũng như sức lao động của người lao động trong quá trình sản xuất Hợp tác xã đầu tiên xuất hiện ở Vương quốc Anh cách đây đã gần
2 thế kỉ, cho đến nav hợp tác xã vẫn tiếp tục phát triển và khang định được vai trò, ưu thế đặc biệt của mình
Ở Việt Nam, với nền kinh tế nông nghiệp là phổ biến và vần còn ở trình độ thấp, sức lao động dồi dào trong khi nguồn vốn còn nhiều hạn hẹp thì hình thức hợp tác xã thực
sự trở thành một trong các phương pháp tối ưu Những tư tưởng cơ bản về hợp tác xã đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận từ rất sớm trong tác phẩm “Đường cách mệnh” Ngay sau khi nước Viêt Nam dân chủ cộng hoà thành lập, hợp tác xã đã bắt đầu được xây dựng và phát triển Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường dịnh hướn? XHCN tồn tại nhiều
Trang 2hình thức tổ chức sàn xuất khác nhau nhưng hợp tác xã vẫn thực sự đóng vai trò to lớn khổng thể thiếu Theo số liệu báo cáo tổng kết tình hình hợp tác xã tính đến 31/6/2002, tổng sô' hợp tác xã là 10311, chiếm gần 10% GDP Như vậy, hợp tác
xã không những khẳng định được vai trò của mình trong đòi sống kinh tế - xã hội mà còn khảng định được xu thế phát triển trong tiến trình phát triển kinh tế nói chung
Nhận thức được vai trò to lớn của hợp tác xã cho nên ngay từ khi ra đòi nước Việt Nam đân chủ cộng hoà, Nhà nước ta đã ghi nhận trong các văn bản pháp lí khác nhau về hình thức kinh tế này
Hiện nay, để thực hịện chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Đảng, việc phát triển kinh
tế tập thể nói chung và kinh tế hợp tác đã trở thành đòi hỏi bức xúc và là quá trình phát triển tất yếu khách quan Đại hội
Dí của Đảng đã khẳng định nền kinh tế nước ta hiện nay có
6 thành phần kinh tế, trong đó kinh tế tập thể có vai trò quan trọng và cùng với kinh tế nhà nước “ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dần” Hội nghị trung ương V khoá IX cũng đã thông qua Nghị quyết về “tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiộu quả kinh tế tập thể”
Trong đó, khẳng định “phát triển kinh tế tập thể là con
đường giải quyết mâu thuẫn giữa sán xuất nhỏ, manh mún và sàn xuất hàng hoá lớn trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước" Nghị quyết cũng khẳng định: “Kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã" đồng thời nhấn mạnh tính tất yếu khách quan
của việc tồn tại và phát triển kinh tế hợp tác xã “kinh tế hợp
Trang 3lác là sản phẩm tất yếu của sản xuất hàng hoả".
Trong những nãm qua, công cuộc đổi mới đã thực sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến kinh tế hợp tác và phong trào hợp tác hoá, một mặt cho thấy tuyệt đại đa số các hợp tác xã kiểu cũ đã bộc lộ tính không phù hợp với yêu cầu đổi mới, một bộ phận không nhỏ các hợp tác xã đã tan rã hoặc tồn tại
trên danh nghĩa và trở thành lực cản đối với sự phát triển của
họp tác xã, một số hợp tác xã còn lại gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng trong việc chuyển đổi sang hợp tác xã kiểu mới và trong hoạt động hiện nay
Để tạo khuôn khổ pháp lí cho các hợp tác xã hoạt động, tháng 3 năm 1996 Quốc hội đã thông qua Luật hợp tác xã và
có hiệu lực từ ngày 01/01/1997; các văn bản dưới luật như Nghị định số 02/CP ngày 02/01/1997 quy định về quản lí nhà nước đối với hợp tác xã; Nghị định số 15/CP ngày 21/02/1997 về chuyển đổi đãng kí hợp tác xã và tổ chức hoạt động của liên hiệp hợp tác xã và các nghị định về điều lệ mẫu các loại hình hợp tác xã lần lượt được ban hành
Hiện nay, các hợp tác xã kiểu cũ đang đòi hỏi phải giải quyết cấp bách các vấn đề đặt ra để chuyển đổi thành hợp tác
xã kiểu mới theo Luật hợp tác xã hay giải thể, chuyển sang các tổ chức kinh tế hợp tác của nông dân theo Bộ luật dân sự, còn nhũng tổ chức kinh tê hợp tác của nông dân đã hình thành và đang phát triển tốt lại muốn phát triển thành hợp tác
xã kiểu mới, đa dạng thích hợp với điều kiện của mình Để đáp ứng nguyện vọng của nông dân và phần lớn nhân dân lao động hoạt động trong một sô ngành kinh tế khác đòi hỏi phải
có sự hạp tác thì dịa vị pháp lí của đơn vị hợp tác xã cần phải
Trang 4khẳng định Do đó, Luật hợp tác xã năm 2003 ra đời thay thế cho Luật hợp tác xã năm 1996 đã tạo được hành lang pháp lí cụ thể, bao quát hơn cho hợp tác xã phát triển, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước, tạo động lực thúc đẩy hợp tác xã phát triển đồng thời một số nghị định của Chính phủ về hợp tác xã cũng đã được ban hành như Nghị định của Chính phủ số 177/2004/NĐ-CP ngày 12 tháng 10 năm 2004 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hợp tác xã năm 2003 và Nghị định của Chính phủ số 87/2005/ NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005 về đăng
kí kinh doanh hợp tác xã
Điều 1 Luật hợp tác xã năm 2003 quy định: “Hợp tác xã
là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên), có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham,- gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhản, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác cùa hợp tác xã theo quy định của pháp luật”.
Về bản chất của hợp tác xã theo quy định tại Điều 1 Luật hợp tác xã nãm 2003 hiện còn có những ý kiến khác nhau: (1) Có một sô' ít ý kiến cho rằng, không thể nói hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp mà đã là hợp tác
xã thì không thể là doanh nghiệp và cũng không có doanh
Trang 5nghiệp nào là doanh nghiệp tập thể; (2) Đại đa số ý kiến còn lại thì cho rằng việc Điều 1 Luật hợp tác xã nãm 2003 khẳng định hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp là phù hợp Khẳng định hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp có nghĩa là hợp tác xã trong quá trình hoạt động cũng phải quan tâm đến lỗ lãi, thị trường, cạnh tranh, đóng thuế như mọi doanh nghiệp khác, nếu không thì hợp tác xã sẽ không thể chủ động trong công việc của mình được Hợp tác
xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, vì đó là một loại hình kinh tế tự chủ, hoạt động trong cơ chế thị trường như các doanh nghiệp khác, chứ hợp tác xã không phải là một tổ chức kinh tế được Nhà nước bao cấp, nhưng do tính chất của ngành nghề và lĩnh vực hoạt động cũng như xã viên tham gia nên hợp tác xã có những đặc thù, vì thế cần phải có những nghị quyết, chính sách và luật riêng của hợp tác xã
Như vậy, từ định nghĩa trên đã khảng định hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tập thể có tư cách pháp nhân như một doanh nghiệp, được thành lập do các xã viên tự nguyện liên kết lại nhằm giải quyết, đáp ứng nhu cầu và lợi ích về kinh
tế, văn hoá và xã hội thông qua việc thành lập một tổ chức kinh tế sở hữu tập thể, có góp vốn và quản lí dân chủ Hợp tác xã được xây dựng trên cơ sở các giá trị về sự tự giúp đỡ,
lự chịu trách nhiệm, dân chủ, công bằng và đoàn kết
Họp tác xã hoạt động giống như một doanh nghiệp và điểm giống cơ bản là hợp tác xã sừ dụng các chức năng của doanh nghiệp là kinh doanh để phục vụ lợi ích xã viên Bên cạnh những điểm giống nhau, giữa doanh nghiệp với hợp tác
xã cũng có những điểm khác nhau Mục đích của doanh nghiệp là lợi nhuận và các quan hộ về kinh tế, phân phối và
Trang 6quản lí doanh nghiệp dựa trên cơ sờ đối vốn là chủ yếu còn mục đích của hợp tác xã cũng là lợi nhuận nhưng bên cạnh
đó là sự phát huy sức mạnh tập thể, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của xã viên Như vậy, hợp tác xã chú trọng nhiều vào yếu tố xã hội còn doanh nghiệp chú trọng nhiều vào yếu tố kinh tế
Việc ban hành Luật hợp tác xã năm 2003 song song với Luật doanh nghiệp năm 1999 là yêu cầu tất yếu và chỉ có như vậy mới khẳng định được bản chất, vị thế của hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường
Khái niệm hợp tác xã được ghi nhận trong văn bản pháp luật có giá trị hiệu lực cao (Luật hợp tác xã) đã là cơ sở quan trọng để xác định và có sụ phân biệt giữa hợp tác xã với các loại hình doanh nghiệp khác
Như vậy ở Việt Nam, quan niệm về hợp tác xã tương đối thống nhất, phù hợp với quan niệm chung của các nước trên thế giới Theo Luật hợp tác xã năm 2003, hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các xã viên có nhu cầu, lợi ích chung,
tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước
2 Đặc điểm của hợp tác xã
Từ quan niệm trên đây về hợp tác xã, có thể rút ra hợp tác
xã có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, xét vé góc độ kinh tế, hợp tác xã là một tổ chức
ệ
Trang 7kinh tế cơ bản và quan trọng nhất của thành phần kinh tê tập thể, “kinh lê' tập thể dựa trên sở hữu của các xã viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những ngưòi lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, thuộc các thành phần kinh tế, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn” Như vậy, đặc trưng của hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể và dựa trên sở hữu của các xã viên hợp tác xã, từ đó
mà phát sinh các quan hệ tổ chức quản lí và quan hệ phân phối tương ứng
Hợp tác xã là một hình thức của quan hệ kinh tế hợp tác
tự nguyện, phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt hơn những vấn đề của sản xuất kinh doanh cũng như đời sống kinh tế và mục tiêu xa hơn là nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích của mỗi xã viên
Thứ hai, xét về góc độ xã hội, hợp tác xã mang tính chất
xã hội sâu sắc Tính xã hội của hợp tác xã thể hiện trong toàn
bộ nguyên tắc tổ chức, hoạt động của mình Với việc tạo điều kiện cho những người lao động, nhữrg người sản xuất nhỏ chẳng những có thể trụ vững trong thị trường cạnh tranh mà còn đẩy mạnh sự phát triển, xoá bớt một số gánh nặng về thất nghiệp, chất lượng cuộc sống cho xã hội Ngoài ra, từ hoạt động của mình, hợp tác xã đã giáo dục, nâng cao tinh thần họp tác cho các xã viên hợp tác xã Tuy nhiên, những hoạt động có ý nghĩa xã hội như trên sẽ chỉ đạt được hiệu quả khi
nó được đặt trên nền tảng của hoạt động kinh tế
Thứ ba, xét về góc độ pháp lí, họp tác xã là một tổ chức
kinh tế có tư cách pháp nhân Về tổ chức, hợp tác xã bao
Trang 8gồm cả thể nhân và pháp nhân, cả người nhiều vốn và người
ít vốn (thực hiện nguyên tắc đối nhân, khác với nguyên tấc đối vốn trong công ti cổ phần), cùng góp vốn và góp sức trên
cơ sờ tôn trọng nguyên tắc tự nguyộn, bình đẳng, cùng có lợi
và quản lí dân chủ Hợp tác xã là tổ chức kinh tế được thành lập theo thủ tục pháp lí nhất định, có đăng kí kinh doanh tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ,
có tài sản tách biệt so với tài sản của các xã viên, có thẩm quyền nhân danh mình tham gia các quan hộ pháp luật Tuy vậy, hợp tác xã có một số đặc trưng khác với các loại hình doanh nghiệp khác như sau: Loại hình hợp tác xã được quyết định không phải bởi số vốn góp mà là yếu tố xã viên hợp tác
xã Trong mỗi loại hình hợp tác xã ở từng lĩnh vực cụ thể luôn đòi hỏi sô' lượng xã viên nhất định Ngoài ra, nguyên
tắc “xã viên hợp tác có quyền ngang nhau trong biểu quyết"
(khoản 2 Điều 7 Luật hợp tác xã năm 2003) là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất kinh doanh, không thuần tuý để thu lợi nhuận trên số vốn góp Về hình thức sở hữu tài sản trong hợp tác xã gồm hai phần: Sở hữu tập thể và sở hữu mang tính chất cổ phần, tức là trong hợp tác xã có bộ phận tài sản chung như các công trình phục vụ sản xuất, công trình phúc lợi vãn hoá,
xã hội, kết cấu hạ tầng phục vụ cho cộng đồng dân cư được hình thành từ quỹ phát triển sản xuất, quỹ phúc lợi của hợp tác xã, các nguồn vốn được tài trợ bời Nhà nước hay quà biếu, tặng của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và có bộ phận tài sản được hình thành từ vốn góp cùa các xã viên
Thứ tư, về tổ chức quản lí, các hợp tác xã hoạt động theo
nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm Hợp tác xã hoạt động
Trang 9lấy lợi ích kinh tê là chính bao gồm lợi ích của các xã viên
và lợi ích của tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các xã viên Đánh giá hiệu quả kinh tế tập thể dựa trên cơ sở quan điểm toàn diện cả kinh tế - chính trị - xã hội Mối quan
hệ giữa các xã viên hợp tác xã với hợp tác xã dựa trên vị trí tương đối độc lập nhưng lại gắn bó với nhau sâu sắc Hợp tác
xã luôn tôn trọng quyền độc lập, tự chủ kinh tế của xã viên
Sự hình thành và phát triển của hợp tác xã không phá vỡ tính độc lập, tự chủ về kinh tế của mỗi xã viên Khi xã viên là một hộ gia đình hay thậm chí là một tổ chức, pháp nhân thì
khi trở thành xã viên hợp tác xã sẽ thực hiện những quy định trong điều lệ hợp tác xã và hợp tác xã không có bất cứ sự can thiệp nào ngoài những quy định trong điều lệ của mình
Thứ năm, về phân phối, kinh tế hợp tác xã thực hiện phân
phối theo lao động, theo vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ Theo Luật họp tác xã năm 2003 và Nghị định sô' 177/2004/NĐ-CP ngày 12 tháng 10 năm 2004 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hợp tác xã năm 2003, hợp tác xã được coi là tổ chức kinh tế hoạt động như doanh nghiệp Hợp tác xã được quyết định không phải bởi số vốn góp mà là yếu
tố xã viên họp tác xã Vì vậy, việc phân phối trong hợp tác xã không chỉ dựa theo nguyên tắc vốn góp mà còn theo lao động
và tuỳ thuộc mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã
Từ những đặc điểm trên cho thấy hợp tác xã có nhiều điểm khác biệt so với các loại hình doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp năm 1999 Sự khác biệt đó không chỉ nói-lên bản chất của hợp tác xã mà còn khẳng định ưu thế, vị trí, vai trò của hợp tác xã trong nền kinh tế nói chung Đó chính là một hình thức tổ chức kinh tế giúp
Trang 10phát huy mọi khả năng kinh tế chưa được khai thác hết, đặc biệt trong nền kinh tế đa thành phần như hiộn nay
II NGUYÊN TẮC, TỔ CHÚC, HOẠT ĐỘNG CỦA HỢP TÁC XÃ
Hoạt động của hợp tác xã tuy dựa trên sự tự quản lí hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng để nó thực sự có hiệu quả đòi hỏi phải tuân theo những nguyên tắc tổ chức, hoạt động nhất định Những nguyên tắc này giúp cho hợp tác xã định hướng được đường lối phát triển, vừa phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, vừa phù hợp với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
Điều 5 Luật hợp tác xã năm 2003 đã ghi nhận cụ thể 4 nguyên tắc về tổ chức, hoạt động của hợp tác xã, cụ thể gổm:
1 Nguyên tắc tự nguyên
Nguyên tắc “tự nguyện gia nhập và ra hợp tác xã” được ghi nhận tại khoản 1 Điều 5 Luật hợp tác xã năm 2003 Theo
nguyên tấc này: “Mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có đủ
điều kiện theo quy định của Luật này, tán thành điều lệ hợp tác xã đều có quyền gia nhập hợp tác xã; xã viên có quyền
ra hợp tác xã theo quy định cùa điều lệ hợp tác xã” Khoản 1
Điéu 2 Nghị định của Chính phủ số 177/2004/NĐ-CP ngày
12 tháng 10 năm 2004 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hợp tác xã nãm 2003 cũng đã quy định cụ thể nguyên tắc này như sau: “Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân,
cán bộ, công chức nhà nước có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 10 nghị định này, tán thành điều lệ hợp tác xã và có đơn xin gia nhập hoặc xin ra hợp tác xã Đối với xã viên của