1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả của du khách cho việc thành lập quỹ môi trường tại khu du lịch Hồ Núi Cốc - Thái Nguyên - Trường Đại Học Quốc Tế Hồng Bàng

6 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 147,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thus, according to the number of visitors to NuiCoc Lake resort in 2009, the total willingness to pay of visitors for the establishment of the Environmental Fund in NuiCoc Lake resort [r]

Trang 1

65

NGHIÊN CỨU MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ CỦA DU KHÁCH

CHO VIỆC THÀNH LẬP QUỸ MÔI TRƯỜNG TẠI

KHU DU LỊCH HỒ NÚI CỐC - THÁI NGUYÊN

Hoàng Thị Hoài Linh * , Đào Duy Minh

Khoa Địa lý, Trường ĐH Sư phạm - ĐH Thái Nguyên TÓM TẮT

Nghiên cứu này nhằm tìm ra mức sẵn lòng chi trả của du khách cho việc thành lập Quỹ môi trường tại khu du lịch (KDL) Hồ Núi Cốc Thái Nguyên bằng bảng hỏi phỏng vấn Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết du khách đều rất quan tâm tới vấn đề môi trường cảnh quan tại KDL Hồ Núi Cốc Trung bình một khách nội địa sẵn lòng chi trả 9.572,98 đồng/người; khách quốc tế là 0,9469 USD/người Như vậy, theo số liệu về lượng khách tới KDL Hồ Núi Cốc năm 2009 thì tổng mức sẵn lòng chi trả của du khách cho việc thành lập quỹ môi trường tại KDL Hồ Núi Cốc gần 3 tỷ đồng

Từ khóa: KDL Hồ Núi Cốc – Thái Nguyên, Quỹ môi trường, Thái Nguyên, Môi trường, Sẵn lòng

chi trả

Nằm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên KDL Hồ

Núi Cốc với cảnh quan thiên nhiên độc đáo

được đánh giá là KDL trọng điểm của tỉnh thu

hút được nhiều du khách trong và ngoài tỉnh,

khách quốc tế Hồ Núi Cốc đang được quản

lý, khai thác các lợi thế của mình, đầu tư xây

dựng cơ sở hạ tầng, các khu nghỉ cuối tuần,

rừng, mặt nước, các điểm du lịch sinh thái

đang được hình thành, những dự án đầu tư

phát triển rừng phòng hộ kết hợp du lịch sinh

thái Tuy nhiên, trong quá trình khai thác các

lợi thế, tài nguyên du lịch của Hồ Núi Cốc đã

nảy sinh những vấn đề về môi trường, tình

trạng ô nhiễm nước hồ, diện tích bị thu hẹp,

hiện tượng khai thác cát… đã ảnh hưởng

không nhỏ tới cảnh quan nơi đây Điều cần

thiết lúc này là phải tạo ra được sự cân bằng

trong phát triển du lịch với vấn đề môi

trường Ngồn vốn dành cho các dự án môi

trường cần được xây dựng và đi vào hoạt

động có hiệu quả, những nguồn vốn này có

thể từ nhiều nguồn khác nhau Trong đó, mức

sẵn lòng chi trả của du khách cho môi trường

khi đến KDL Hồ Núi Cốc cũng là một nguồn

thu đáng kể Trên cơ sở đó tác giả tiến hành

nghiên cứu, thu tập thông tin từ khách du lịch

về vấn đề môi trường tại KDL Hồ Núi Cốc và

*

mức sẵn lòng chi trả của du khách để thành lập một quỹ môi trường Kết quả nghiên cứu

sẽ là cơ sở thực tiễn để định hướng phát triển

du lịch bền vững của KDL Hồ Núi Cốc nói riêng, tỉnh Thái Nguyên nói chung

TỔNG QUAN VỀ KDL HỒ NÚI CỐC

Hồ Núi Cốc - công trình Đại thủy nông được khởi công xây dựng vào năm 1973, hoàn thành cơ bản năm 1974 và đưa vào khai thác năm 1978 Tổng diện tích mặt hồ là 2.500 ha, dung tích nước chứa khoảng 175 triệu m3, có một đập chính dài 480m và 7 đập phụ, sâu trung bình 23m với 89 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau Khi mới được xây dựng Hồ Núi Cốc được xác định là cơ sở hạ tầng có giá trị lớn trong phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên Đến nay khu vực Hồ Núi Cốc đã được quy hoạch thành KDL theo quyết định số: 5076/QĐ-UB ngày 26 tháng 12 năm 2001 của UBND tỉnh Thái Nguyên KDL

Hồ Núi Cốc cách trung tâm TP Thái Nguyên

15 km về phía Tây, trên tọa độ 21034’B và

105046’Đ KDL Hồ Núi Cốc gồm 08 xã cụ thể như sau: Toàn bộ diện tích tự nhiên của 06 xã: Phúc Xuân, Phúc Trìu, Tân Cương (Thành phố Thái Nguyên); Tân Thái, Vạn Thọ (huyện Đại Từ); Phúc Tân (huyện Phổ Yên) Một phần diện tích 02 xã Bình Thuận, Lục Ba (huyện Đại Từ) Với tổng diện tích đất tự

Trang 2

nhiên theo quy hoạch: 12.226,69 ha và dân số

trên 35.000 người

MÔ HÌNH GIẢ ĐỊNH VÀ THIẾT KẾ

BẢNG HỎI

Mô hình đánh giá: Giả sử mỗi du khách đến

với Hồ Núi Cốc đều hiểu được giá trị của

KDL mang lại cho mình và cho thế hệ mai

sau Nếu cá nhân i sẵn sàng chi trả một mức

wi cho việc bảo tồn giá trị của Hồ Núi Cốc

(như: bảo tồn nguồn nước hồ, bảo vệ tính đa

dạng sinh học, bảo vệ rừng…) thì tổng mức

sẵn lòng chi trả phản ánh giá trị phi sử dụng

của môi trường Đến lượt mình, mức sẵn lòng

chi trả lại phụ thuộc vào một loạt biến số của

đối tượng được phỏng vấn như: thu nhập, độ

tuổi, giới tính, trình độ học vấn, và những

hiểu biết về sự nhận thức của mức độ cần

thiết phải bảo vệ môi trường

Thiết lập thị trường giả tưởng: Xác định

mức sẵn lòng chi trả của du khách, tác giả

tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi đối với

khách tham quan Những thông tin về cảm

nhận của du khách đối với cảnh quan môi

trường KDL Hồ Núi Cốc; Những điểm du

khách hài lòng và không hài lòng tại KDL Hồ

Núi Cốc;… Thông tin về sự sẵn lòng chi trả

của du khách cho vấn đề bảo vệ và cải tạo

môi trường KDL Hồ Núi Cốc Nghiên cứu đặt

giả định “Ông (Bà) có sẵn lòng đóng góp

thêm một khoản kinh phí (ngoài mức phí tham

qua đã trả) để bảo vệ và cải thiện chất lượng

môi trường của KDL không?”

Thiết kế bảng hỏi phỏng vấn: bảng hỏi được

chia ra làm 3 phần Phần 1: Các thông tin

chung về chuyến đi của du khách nhằm tìm

được các thông tin và cách thức mà du khách

biết đến KDL Hồ Núi Cốc; điểm xuất phát; số

lần đã đến KDL Hồ Núi Cốc; số người trong

nhóm; mục đích chuyến đi; thời gian lưu trú;

công việc thay thế nếu du khách không tới

KDL Hồ Núi Cốc Phần 2 : Mức độ hài lòng

và sẵn lòng chi trả của du khách đối với KDL

Hồ Núi Cốc Những câu hỏi được thiết kế

trong phần này mục đích để du khách bộc lộ

những hoạt động mà du khách ưa thích tại

KDL Hồ Núi Cốc; chất lượng dịch vụ; mức

độ hài lòng Trong phần này quan trọng là điều tra được mức sẵn lòng chi trả (WTP) của khách du lịch cho hoạt động bảo vệ và cải

thiện chất lượng môi trường của KDL Phần 3: Thông tin về đặc điểm kinh tế - xã hội của du khách: Phần này thiết kế gồm các thông tin về

địa chỉ hiện nay; giới tính; tình trạng hôn nhân; tuổi (đối với khách quốc tế bảng hỏi thiết kế phân chia theo các mức tuổi khác nhau); nghề nghiệp; trình độ học vấn và thu nhập

Tổ chức điều tra: Dựa vào mục tiêu nghiên

cứu để xác định các thông tin và số liệu cần thu thập từ du khách Tác giả tiến hành thiết

kế bảng hỏi với đầy đủ nội dung cần thiết Tiến hành thu thập số liệu điều tra từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2010 là thời điểm thường có nhiều khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng hàng năm Tác giả đã phỏng vấn ngẫu nhiên hơn 300 khách du lịch Kết quả thu nhận được 217 phiếu có thể sử dụng được (32 phiếu của khách quốc tế; 185 phiếu của khách nội địa).Số lượng phiếu điều tra có chất lượng được sử dụng để phân tích là không lớn do giới hạn về thời gian và nguồn lực Song các mẫu có thể tin cậy được bởi hình thức phỏng vấn trực tiếp là cách tốt nhất để thu thập được thông tin đầy đủ từ du khách

MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ CỦA DU KHÁCH CHO VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG

Số lượng du khách sẵn lòng đóng góp:

Trong số 185 khách nội địa được hỏi về mức

độ sẵn lòng chi trả cho vấn đề bảo vệ môi trường tại KDL Hồ Núi Cốc có 140 khách đồng ý đóng góp (chiếm 75,7%); không đồng

ý 45 khách (24,3%) Có 30/32 khách quốc tế chiếm 93,7%

Tác giả cũng đã thiết kế câu hỏi để tìm câu trả lời cho lí do du khách chưa sẵn lòng chi trả

Du khách có thể lựa chọn nhiều lý do trong bảng hỏi đã thiết kế (Tỷ lệ được tính trên tổng

số lựa chọn) Cụ thể được thể hiện trên bảng 1 Qua phỏng vấn trực tiếp du khách lí do chưa sẵn lòng chi trả cho việc bảo vệ Hồ Núi Cốc thì có đến 71,1 % số câu trả lời là chi phí của chuyến đi quá cao rồi, trong đó giá vé và chi phí du lịch tại Hồ Núi Cốc quá đắt nên du khách không sẵn lòng đóng góp thêm Đối

Trang 3

67

với du khách quốc tế có 2 ý kiến: không quan

tâm tới việc đóng góp và việc đóng góp

không giải quyết được vấn đề

Bảng 1 Lí do không đóng góp của du khách nội địa

(%)

Tôi không quan tâm

Chi phí của chuyến đi

Việc đóng góp không

giải quyết được vấn đề 12 26.7

Công ty du lịch Hồ Núi

Cốc phải tự trang trải chi

phí này

Việc đóng góp phải từ

ngân sách nhà nước hoặc

tổ chức khác

Tổng số khách

Nguồn: Tác giả tính toán từ kết quả điều tra

Tuy số lượng du khách chưa sẵn lòng đóng

góp cho vấn đề môi trường chưa phải là cao,

nhưng cũng rất đáng để quan tâm bởi lí do du

khách đưa ra không phải vì không quan tâm

đến vấn đề môi trường mà do chi phí chuyến

đi quá cao Một số khách cũng bày tỏ nếu giá

vé và vé vào các cửa vui chơi giảm xuống thì

du khách sẵn sàng đóng góp cho môi trường

Các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng

chi trả của du khách

Giới tính: Theo kết quả điều tra với khách DL

nội địa bình quân nam giới sẵn lòng chi trả

12.736,30 đồng/người, nữ giới là 12.573,40

đồng/người Khách quốc tế, nam giới sẵn

lòng chi trả 0,8735 USD/người, nữ giới

1,1643 USD/người

Độ tuổi của du khách: Theo kết quả điều tra

độ tuổi của du khách cũng ảnh hưởng đến

mức độ sẵn lòng chi trả Những du khách ở

độ tuổi từ 25 - 45 thì mức sẵn lòng chi trả cao

hơn ở các độ tuổi khác Những du khách ở độ

tuổi này thường có thu nhập ổn định và họ

quan tâm nhiều tới vấn đề môi trường Mức sẵn lòng chi trả cao nhất là độ tuổi từ 41 - 50 tuổi, trung bình 15.424,57 đồng/người đối với khách nội địa; khách quốc tế 1,2363 USD/người

* Trình độ học vấn:

Bảng 2 Trình độ học vấn và mức sẵn lòng chi trả

của khách du lịch

Trình độ học vấn

Số khách (người)

WTP (VND/

người)

Số khách (người)

WTP (USD/ người)

Trung học

Trung học phổ thông 31 10668,12 8 0,9131 Cao đẳng/

Đại học 69 14356,31 17 1,0241 Thạc sỹ/

Tiến sỹ 21 14387,74 5 1,1123

Tổng số khách

điều tra

Nguồn: Tác giả xử lí từ kết quả điều tra

Theo kết quả điều tra, sự sẵn lòng chi trả trung bình của khách DL nội địa cao nhất là nhóm du khách có trình độ thạc sỹ/tiến sỹ: 14.387,74 đồng/người; Nhóm học sinh tiểu học thì mức sẵn lòng thấp nhất 4.778,45 đồng/người Đối với khách DL quốc tế cũng không có sự khác biệt lớn cao nhất là những

du khách có trình độ Thạc sỹ/Tiến Sỹ 1,1123 USD/người

Mức độ sẵn lòng chi trả trung bình của du khách: Sau khi tiến hành xử lí số liệu về mức

sẵn lòng chi trả của du khách, tác giả lập bảng phân chia WTP (mức sẵn lòng chi trả) theo các mức khác nhau cho khách nội địa và khách quốc tế Số khách không sẵn lòng chi trả thì WTP bằng 0

Công thức tính mức sẵn lòng chi trả trung bình của khách du lịch:

WTPtrung bình của du khách = ΣWTPcủa du khách được điều tra

Tổng số du khách được điều tra Kết quả mức WTP được thể hiện qua bảng 3

Trang 4

Kết quả phân tích mẫu điều tra cho thấy, mức

chi trả thường thấy ở du khách nội địa là từ

10.000 - 18.000 (đồng/ người) Khách du lịch

quốc tế mức sẵn lòng chi trả được lựa chọn

nhiều là 0,5 USD/người

Như vậy, mức sẵn lòng chi trả của khách du

lịch nội địa là 9.572,98 đồng/người, khách du

lịch quốc tế là 0,9469 USD/người

Bảng 3 Mức sẵn lòng chi trả của khách nội địa

(người)

Thành tiền (đồng)

Nguồn: Tác giả xử lí từ kết quả điều tra

Bảng 4 Mức sẵn lòng chi trả của khách quốc tế

(người)

Thành tiền (USD)

Nguồn: Tác giả xử lí từ kết quả điều tra

Xác định mức sẵn lòng chi trả của tổng

lượng khách du lịch

Công thức xác định mức sẵn lòng chi trả của

tổng lượng khách du lịch:

∑WTPcủa tổng lượt khách du lịch = WTPtrung bình của khách

du lịch × tổng lượng khách du lịch

Theo thống kê của Sở Văn hóa – Thể thao và

Du lịch tỉnh Thái Nguyên Tổng lượt khách

đến KDL Hồ Núi Cốc trong năm 2009 thì

khách nội địa 252.000 người và khách quốc tế

34.000 người

Khi đó, sự sẵn lòng chi trả của tổng lượt khách du lịch nội địa là:

9.572,98 x 252.000 = 2.412.390.960 (đồng)

Với tỷ giá USD trung bình tại thời điểm tháng

5 năm 2009 là 1 USD = 16.941 đồng, vậy sự sẵn lòng chi trả của tổng lượt khách du lịch quốc tế là:

0,9469 x 16.941 x 34.000 ≈ 545.408.718 (đồng)

Như vậy, có thể ước tính số tiền mà tổng lượt khách du lịch sẵn lòng chi trả hàng năm cho

KDL Hồ Núi Cốc là: 2.957.799.678 (đồng)

(Hai tỷ chín trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn sáu trăm bảy mươi tám đồng)

Như vậy, nếu so sánh tổng mức sẵn lòng đóng góp của du khách với tổng doanh thu của KDL Hồ Núi Cốc là 15,1 tỷ đồng năm 2009 thì nguồn vốn dành cho môi trường được huy động từ mức sẵn lòng chi trả của du khách gần bằng 1/5 tổng số doanh thu

Kết quả điều tra và con số gần 3 tỷ đồng/năm được tiến hành trên môi trường giả định Tức

là du khách không chịu sự chi phối của hoàn cảnh thật nên mức sẵn lòng chi trả có thể sẽ thấp hơn khi mà du khách thực tế phải bỏ tiền

ra để ủng hộ Tuy nhiên, dù là thị trường giả định nhưng kết quả điều tra cũng đã cho thấy khách du lịch rất qua tâm đến vấn đề môi trường tại KDL Hồ Núi Cốc và sẵn lòng bỏ ra một khoản tiền ngoài khoản chi phí cho chuyến đi để xây dựng Quỹ Môi trường cho KDL Hồ Núi Cốc

ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG THÀNH LẬP VÀ

SỬ DỤNG QUỸ MÔI TRƯỜNG CHO KDL

HỒ NÚI CỐC Thông qua thực tế ở KDL Hồ Núi Cốc và kết quả điều tra cụ thể, kết hợp với việc tham khảo từ những nghiên cứu tương tự trước đó tác giả đi đến đề xuất: Có cơ sở và khả năng thành lập một Quỹ môi trường cho KDL Hồ Núi Cốc

Mục đích sử dụng Quỹ: Mục đích chủ yếu

của Quỹ là sử dụng cho việc bảo vệ môi trường tại KDL Hồ Núi Cốc, có thể thông qua việc hỗ trợ cộng đồng dân cư tạo thêm việc

Trang 5

69

làm để giảm bớt sự phụ thuộc của họ vào việc

khai thác tài nguyên của KDL Cần đảm bảo

rằng các khoản thu từ sự đóng góp này được

sử dụng có hiệu quả và đúng mục tiêu Sẽ là

lý tưởng nếu đưa ra những kết quả nhìn thấy

được, cho thấy rõ số tiền du khách đóng góp

được sử dụng vào công việc phục vụ cho bảo

vệ môi trường

Thành lập Ban quản lý Quỹ: Quỹ này nên

được đặt dưới sự quản lý của Ban quản lý

Quỹ bao gồm đại diện của các bên: Ban quản

lý KDL Hồ Núi Cốc, UBND tỉnh, ủy ban nhân

dân của 08 xã nằm trong quy hoạch KDL và

đại diện cộng đồng dân cư địa phương

Ban quản lý Quỹ gồm có Giám đốc, Phó giám

đốc, kế toàn và các bộ phận chuyên môn

nghiệp vụ Ban quản lý Quỹ là cơ quan điều

hành Quỹ, có trách nhiệm thẩm định các dự

án/các hoạt động đề nghị hỗ trợ tài chính đã

được đệ trình và đánh giá xem dự án đó có

thể được nhận hỗ trợ tài chính từ Quỹ theo

đúng như quy chế của Quỹ không, xét duyệt

kỹ thuật và tài chính của dự án trình lên Quỹ

từ đó làm cơ sở ra quyết định chấp thuận hỗ

trợ dự án Ban quản lý Quỹ có trách nhiệm

giám sát quá trình thực hiện dự án và đảm bảo

khoản hỗ trợ tài chính do Quỹ cung cấp được

sử dụng đúng đắn, hợp lý

Cơ chế huy động nguồn thu cho Quỹ: Để đạt

được hiệu quả trong việc huy động nguồn thu

cho Quỹ môi trường, trước hết nên áp dụng

phụ phí vé vào cổng đối với khách DL dựa

trên sự sẵn lòng chi trả của họ Đây là phương

án khả thi mặc dù không dễ dàng áp thực hiện

trong giai đoạn đầu Việc áp dụng phụ phí vé

vào cổng, với tư cách là một công cụ kinh tế,

chắc chắn sẽ không tránh khỏi những phản

ứng ban đầu từ nhiều phía Trước hết, là phản

ứng từ phía ngành du lịch, họ lo việc áp dụng

phụ phí này có thể làm giảm bớt lượng khách

du lịch Sự phản ứng này cũng có thể từ phía

khách du lịch, kể cả khách nội địa và quốc tế

Kinh nghiệm quốc tế trong việc áp dụng các

công cụ kinh tế cho bảo vệ môi trường đã chỉ

ra rằng, có thể giảm bớt sự tiêu cực này bằng

nhiều cách và thậm chí có thể biến những

phản ứng ban đầu đó thành sự ủng hộ tích

cực Bên cạnh sự sẵn lòng đóng góp của du khách, để tăng nguồn thu cho Quỹ và nâng cao khả năng hỗ trợ, cần phải có một số cơ chế để tăng nguồn thu tiềm năng cho Quỹ như

từ sự đóng góp tự nguyện của các tổ chức trong nước và quốc tế, tiền lãi và các khoản lợi khác thu được từ hoạt động của Quỹ…

Cơ chế giải ngân của Quỹ môi trường: Quỹ

môi trường hoạt động nhằm phát triển bền vững KDL Hồ Núi Núi Cốc có thể cung cấp

các khoản hỗ trợ không hoàn lại và cho vay

Các dự án có thể như: hỗ trợ nâng cao ý thức

về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững cho du khách và cộng đồng dân cư quanh hồ thông qua các hoạt động truyền thông, giáo dục và đào tạo; Cải tạo chất lượng môi trường KDL; cung cấp vốn cho người dân quanh Hồ tham gia vào công tác trồng rừng và bảo vệ nguồn nước… Thông qua các hoạt động này

để tạo ra cảnh quan môi trường sạch đẹp tại KDL Hồ Núi Cốc, hệ sinh thái khu vực hồ

được đảm bảo

KẾT KUẬN KDL Hồ Núi Cốc là một địa điểm giải trí nổi tiếng ngày càng thu hút được nhiều du khách trong nước và quốc tế Hàng năm số lượng có hàng trăm nghìn du khách tới đây tham quan, nghỉ dưỡng, ngắm cảnh và tìm hiểu các giá trị văn hóa Việt Bắc Tuy nhiên, trong quá trình phát triển du lịch đã tạo ra những tác động

tiêu cực đến cảnh quan môi trường Qua điều

tra cũng cho thấy du khách rất quan tâm đến vấn đề môi trường và sẵn sàng bỏ ra một khoản chi phí ngoài những khoản chi trả Tổng mức sẵn lòng chi trả của du khách cho vấn đề môi trường là gần 3 tỷ đồng/năm Đây là nguồn tiền đáng kể và là cơ sở cho việc thành lập một Quỹ môi trường ở KDL Hồ Núi Cốc

TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Nguyễn Thế Chinh (chủ biên) (2003) Giáo

trình kinh tế và quản lý môi trường, Nxb Thống kê [2] Trần Văn Đính (chủ biên) (2004), Giáo trình Kinh tế và Quản lý Du lịch, Nxb LĐ - XH [3] Phạm Khánh Nam (chủ biên) (2005) Kinh tế tài nguyên và môi trường, Đại học Kinh tế thành

phố Hồ Chí Minh, [4] Báo cáo kết quả hoạt động của KDL Hồ Núi Cốc các năm từ 2005 – 2010

Trang 6

SUMMARY

STUDY WANLOP WILLINGNESS TO PAY OF VISITORS FOR THE ESTABLISHMENT OF THE ENVIRONMENT FUND

FOR NUICOC LAKE RESORT - THAI NGUYEN

Hoang Thi Hoai Linh * , Dao Duy Minh

Geography Department - College of Education - TNU

This study aimed to find out the willingness to pay of visitors for the establishment of the Environmental Fund in NuiCoc Lake resort by tests Results showed that most visitors were very interested in environmental issues at NuiCoc Lake resort The average domestic tourists willing to pay 9572.98 VND per person; international visitors is 0.9469 USD per person Thus, according to the number of visitors to NuiCoc Lake resort in 2009, the total willingness to pay of visitors for the establishment of the Environmental Fund in NuiCoc Lake resort 3 billion USD

Keywords: NuiCoc Lake resort, environmental fundm, Thainguyen, Environment, Willingness to pay

*

Ngày đăng: 01/04/2021, 01:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w