1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Khảo cứu văn hoá chất lượng trong giáo dục đại học Châu Âu

6 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 657,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phương hướng chính được rút ra cho giai đoạn này là xác định phương hướng, nhận thức (có hệ thống ĐBCL cấp tổ chức, cần có thời gian và nỗ lực để phát triển VHCL, đả[r]

Trang 1

KHẢO CỨU VĂN HOÁ CHẤT LƯỢNG TRONG GIÁO DỤC

ĐẠI HỌC CHÂU ÂU

ĐỖ ĐÌNH THÁI (*) TÓM TẮT

Giáo dục đại học châu Âu đi đầu trong việc triển khai các dự án giáo dục tầm khu vực như tiến trình Bologna (từ 1999), dự án Văn hóa chất lượng (2002 – 2006) và dự án Khảo cứu văn hóa chất lượng (2009 – 2011) uá trình và kết quả thực hiện các dự án này có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng giáo dục đại học quốc tế về đảm bảo chất lượng và văn hóa chất lượng Bài viết tóm lược các nội dung chính của dự án Khảo cứu văn hóa chất lượng nhằm tổng quát quá trình triển khai dự án và góp phần định hướng hình thành văn hóa chất lượng qua việc triển khai các hoạt động đảm bảo chất lượng trong tổ chức giáo dục đại học

Từ khóa: đảm bảo chất lượng, văn hóa chất lượng, Hiệp hội các trường đại học châu Âu

ABSTRACT

European higher education takes the initiative in deploying the educational projects at the regional level such as the Bologna Process (1999), the Quality Culture Project (2002-2006) and the Examining Quality Culture Project (2009-2011) The processes and results of these projects have affected the international higher education community on the quality assurance and the quality culture This article summarizes some of the main contents of the Examining Quality Culture project in order to provide an overall picture on the implementing process of the project and contribute to the orientation of forming the quality culture by means of implementing the quality assurance activities in the higher education institutions

Keywords: quality assurance, quality culture, European University Association

1 GIỚI THI U

Đảm bảo chất lượng (ĐBCL) giáo dục

đại học (GDĐH) châu Âu nổi lên như một

hiện tượng kể từ khi châu Âu tuyên bố tiến

trình Bologna vào năm 1998 và chính thức

triển khai vào năm 1999 Tiến trình Bologna

trải rộng khắp châu Âu nhằm mục đích tìm

kiếm sự nhất quán về công cụ và cấu trúc

ĐBCL ĐBCL trong giáo dục là mục tiêu

chính của Tiến trình Bologna, triển khai hệ

thống ĐBCL trong giáo dục để xác định

phạm vi năng lực của tất cả các tổ chức liên

quan, đánh giá bên trong và bên ngoài, thực

thi hệ thống kiểm định chất lượng Ngoài ra,

tuyên bố còn khuyến khích sự hợp tác trong

ĐBCL giữa các tổ chức GDĐH (gọi tắt là

TC) trong khu vực châu Âu

Song song với Tiến trình Bologna, Hiệp hội các trường đại học châu Âu (EUA – European University Association) triển khai dự

án Văn hoá chất lượng (VHCL) trong vòng 4 năm từ năm 2002 đến năm 2006 [3] Dự án chia thành 3 vòng, với sự tham gia của 134 viện, trường đại học (ĐH) đại diện cho các nước thuộc khu vực châu Âu để thảo luận về việc làm thế nào để phổ biến và khắc sâu VHCL trong các TC của họ Dự án nhằm nâng cao nhận thức về sự cần thiết phát triển VHCL bên trong các TC và phổ biến rộng rãi, tiếp tục thúc đẩy quản lí chất lượng nội bộ để cải thiện mức độ chất lượng và giúp đỡ các TC tiếp cận các đánh giá ngoài với tính chất xây dựng Mặt khác, dự án là một giai đoạn hỗ trợ tích cực cho các hoạt động ĐBCL trong tiến trình Bologna

Trang 2

Tiếp theo dự án VHCL là dự án Khảo

cứu VHCL (EQC - Examining Quality

Culture) thực hiện 2 năm từ tháng 10/2009

đến mùa thu 10 – 11/2011

2 B I CẢNH VÀ THIẾT LẬP DỰ ÁN

Từ sự gia tăng yêu cầu ĐBCL bên

trong và bên ngoài gắn kết với cộng đồng

GDĐH, việc duy trì và nâng cao chất lượng

trong điều kiện hoàn cảnh mới là tất yếu và

quan trọng của GDĐH trong xã hội tri

thức Ngoài ra, cung cấp sản phẩm chất

lượng cao là một trong những mục đích

chính của quá trình Bologna và chiến lược

Lisbon như một công cụ để thúc đẩy sức

hấp dẫn và khả năng cạnh tranh của GDĐH

châu Âu

Trong khi khung ĐBCL châu Âu đang

được phát triển, các công việc liên quan đến

ĐBCL tiếp tục thực hiện ở cấp độ từ dưới

lên Các TC không ngừng phát triển và thực

hiện các quy trình ĐBCL cũng như khuyến

khích VHCL Kết quả của các phương

hướng 2010 chứng minh các TC đã tìm ra

các biện pháp ĐBCL đạt được những tiến

triển quan trọng nhất, định hình chiến lược

của họ trong những năm gần đây

Trong bối cảnh này, EUA bắt đầu thực

hiện dự án "Khảo cứu VHCL” trong các

TC để rà soát các quy trình và cấu trúc

ĐBCL, thông qua các TC, hỗ trợ phát triển

VHCL bên trong, qua đó nâng cao mức độ

chất lượng và đáp ứng yêu cầu giải trình

trách nhiệm Mục tiêu của dự án gồm hai

phần:

(1) Xác định các quy trình ĐBCL bên

trong hiện có của các TC, đặc biệt quan

tâm đến các TC đã áp dụng một phần bộ

tiêu chuẩn ESGs1 [2] vào ĐBCL bên trong

(2) Thảo luận về động cơ giữa sự

phát triển của các quy trình ĐBCL và

VHCL bên trong TC trong khi đang nhận

diện và xem xét các trường hợp điển hình

thực tế trong báo cáo cuối cùng để phổ

biến rộng rãi

Với sự tham gia của 222 TC (36 quốc

gia), trong đó các trường ĐH (176), các

trường ĐH khoa học ứng dụng và bách khoa (32) và các TC khác (14) (gồm các

TC giáo dục quân sự và các trường cao đẳng)

3 QUÁ TRÌNH THỰC HI N DỰ ÁN Nội dung của dự án được thể hiện qua

3 tập báo cáo Tập 1: Các quy trình ĐBCL trong các TC [4]; Tập 2: Các quy trình và công cụ - Sự tham gia, quyền sở hữu và nạn quan liêu [5] và Tập 3: Tự phản ánh để nâng cao chất lượng [6]

Dự án Khảo cứu VHCL gồm hai giai đoạn Giai đoạn thứ nhất, dự án tập trung xác định các quy trình ĐBCL hiện có thông qua phiếu khảo sát để thu thập bằng chứng định lượng nhằm đạt được mục tiêu thứ nhất Giai đoạn thứ hai của dự án tập trung vào mục tiêu thứ hai bao gồm các cuộc phỏng vấn diễn ra trong nửa đầu năm

2011 Những người được phỏng vấn bao gồm một mẫu đại diện của các TC đã tham gia khảo sát và đồng ý sẵn sàng tham gia phỏng vấn Mục đích của giai đoạn thứ hai

là góp phần lí giải các dữ liệu định lượng trong giai đoạn thứ nhất

3.1 Giai đoạn 1

Ở giai đoạn thứ nhất, một bảng hỏi điều tra bảy lĩnh vực thuộc phần 1 (ĐBCL bên trong gồm 7 nội dung: (1) Chính sách

và các thủ tục ĐBCL; (2) Phê duyệt, giám sát và định kỳ đánh giá các chương trình; (3) Đánh giá SV; (4) ĐBCL đội ngũ giảng viên; (5) Tài nguyên học tập và hỗ trợ SV; (6) Hệ thống thông tin và (7) Công khai thông tin) của bộ tiêu chuẩn và nguyên tắc ĐBCL (ESGs) [2] được thiết kế để nắm bắt

sự phát triển của quy trình ĐBCL trong các

TC theo phương pháp định lượng (xem thêm báo cáo tập 1 – trang 41 [4]) Bảng hỏi gồm hai nội dung chính: (1) các câu hỏi liên quan đến sự phát triển của hệ thống, quan niệm ĐBCL bên trong và (2) các câu hỏi về ĐBCL giảng dạy và học tập có đáp ứng bộ tiêu chuẩn ESGs không

EUA khẳng định ĐBCL như một thành phần quan trọng của VHCL thể hiện

Trang 3

trong các yếu tố của VHCL thông qua định

nghĩa VHCL:

Văn hoá chất lượng dựa trên nền tảng

văn hoá tổ chức với mục đích nâng cao

chất lượng lâu dài và gồm 2 yếu tố: thứ

nhất, yếu tố văn hoá / tâm lí của các giá

trị, niềm tin, kỳ vọng được chia sẻ và cam kết hướng tới chất lượng Thứ hai, yếu tố cấu trúc / quản lí với các quy trình đã xác định nhằm nâng cao chất lượng và nhằm mục đích trong việc phối hợp các nỗ lực cá nhân.[3]

Hình 1 Các yếu tố của VHCL (chuyển thể từ EUA 2006)

Đối với ĐBCL người ta vẫn còn tranh

luận về các hoạt động của nó như các hoạt

động ĐBCL thuộc bộ chuẩn ESGs hoặc chỉ

xác định trong phạm vi giảng dạy và học

tập… nhưng dự án khuyến khích các TC

chấp nhận phương pháp tiếp cận bao hàm tất

cả các hoạt động để phát triển các quy trình

ĐBCL bên trong: một cách tiếp cận thích

hợp cho các TC và xuất phát từ mục đích

chiến lược phù hợp với nghệ thuật khai triển

VHCL bên trong Kết quả là họ đưa vào

phiếu khảo sát một số câu hỏi liên quan đến

khung ĐBCL của các TC nói chung cũng

như các câu hỏi liên quan đến ĐBCL trong

nghiên cứu và quản lí chiến lược Tuy nhiên,

nội dung chính của khảo sát vẫn tập trung

vào ĐBCL giảng dạy và học tập theo lập

luận của bộ tiêu chuẩn ESGs

Dữ liệu thu thập thông qua cuộc khảo

sát cho thấy hầu hết các TC có cấu trúc và

quy trình ĐBCL, có tiến bộ đáng kể trong những năm gần đây, mặc dù vẫn còn một

số thách thức Các quy trình ĐBCL phổ biến nhất vẫn là hoạt động giảng dạy và học tập chiếm 98,2% 92,8% số TC có kế hoạch chiến lược cấp TC, chỉ có 3 TC không có và số còn lại có kế hoạch ở cấp đơn vị, khoa Mỗi TC có chính sách ĐBCL với quy mô cơ cấu tổ chức khác nhau nhưng không có giải pháp cụ thể làm thế nào để thỏa thuận phân bố trách nhiệm trong toàn TC Ngoài ra, dữ liệu chứng minh các tiến bộ đạt được là gần đây do trên 50% số TC đưa hệ thống ĐBCL vào từ năm 2005 (trong đó 16% đang thiết kế và lập kế hoạch)

Dữ liệu khảo sát cho thấy sự phát triển ĐBCL trong khuôn khổ hiện tại của họ gần đây là rất kì diệu và đã có tiến bộ ấn tượng trong thập kỷ qua Sự phát triển này trùng

Sự thông tin

Sự tham gia Niềm tin

Quản lý chất lượng

Yếu tố kĩ thuật

Các công cụ và cơ chế để

đo lường, đánh giá, đảm

bảo và nâng cao chất

lượng

Cam kết chất lượng Yếu tố văn hoá

Cấp độ cá nhân: cam kết phấn đấu để đạt được chất lượng Cấp độ tập thể: thái độ của mỗi cá nhân góp phần gia tăng chất lượng

Văn hóa Chất lượng

Tạo điều kiện thuận lợi

Trang 4

hợp với những phát triển chính sách châu

Âu Các phát hiện cho thấy rằng khi nói

đến các quá trình thực tiễn và cấu trúc hỗ

trợ trong ĐBCL, không có giải pháp phù

hợp, ổn định và toàn diện khi quyết định

những gì hệ thống ĐBCL của TC nên bao

gồm

Các TC cho rằng, họ đang xây dựng

các quy trình liên quan đến chất lượng và

cơ cấu Trong một số trường hợp, đôi khi

vì khuôn khổ pháp lí nên các TC chưa thể

đạt được kiểu VHCL mà họ đang phấn đấu

Rõ ràng, mục tiêu của các TC là VHCL

được hỗ trợ bởi các quá trình ĐBCL Tuy

nhiên, các TC dường như đã tìm thấy cách

thực hiện các quy trình ĐBCL Hiệu quả và

năng lực của các quy trình ĐBCL hiện tại

cần tiếp tục kiểm tra chất lượng trong khi

khảo sát không cho phép thu thập thông tin

này

Các phương hướng chính được rút ra

cho giai đoạn này là xác định phương

hướng, nhận thức (có hệ thống ĐBCL cấp

tổ chức, cần có thời gian và nỗ lực để phát

triển VHCL, đảm bảo sự tham gia của các

bên liên quan, hiểu biết thêm thông tin đầu

vào, minh bạch trong thu thập thông tin) và

tăng cường các hoạt động cần thiết để phát

triển VHCL thông qua mục tiêu chiến lược

hiệu quả và minh bạch

3.2 Giai đoạn 2

Ở giai đoạn này, dự án thực hiện 59

cuộc phỏng vấn với 10 trường ĐH của 10

quốc gia (gồm Hiệu trưởng, Phó Hiệu

trưởng, Trưởng / Phó đơn vị, khoa, SV, cán

bộ ĐBCL…) được lựa chọn từ các mẫu trả

lời câu hỏi khảo sát để xác định mức độ

các công cụ và quy trình ĐBCL đóng góp

để xây dựng VHCL trong TC Đặc biệt, tập

trung vào việc thiết lập mối quan hệ giữa

các quy trình ĐBCL và VHCL Phỏng vấn

tập trung chủ yếu vào giảng dạy và học tập,

khuyến khích người được phỏng vấn thảo

luận về những thành công, thất bại, thành

tựu đạt được và thách thức

Qua các thông tin thu được từ 59 cuộc

phỏng vấn kết hợp với dữ liệu thu thập được ở giai đoạn thứ nhất, dự án nhấn mạnh 5 điều kiện dẫn đến nền VHCL hiệu quả gồm (1) Quan tâm chi phí và lợi ích của những người tham gia gồm tài chính, yếu tố tâm lí (đừng để họ căng thẳng không cần thiết và khối lượng công việc không hợp lí) nếu họ thực sự đóng góp cho nền VHCL hiệu quả; (2) Sắp xếp hoạt động ĐBCL hiệu quả từ các quá trình và cấu trúc

ra quyết định bên trong hiệu quả Có phân cấp trách nhiệm rõ ràng ở các cấp Giảm tệ quan liêu bằng cách hạn chế thu thập dữ liệu khi thật cần thiết Tạo điều kiện thoải mái cho người học như ở nhà Sự cân bằng tối ưu giữa nhu cầu cốt lõi của TC và mức

độ trách nhiệm của giảng viên, giữa nhu cầu tiếp cận ĐBCL rộng lớn và một vài biến đổi cục bộ trong tập thể giảng viên; (3) Lãnh đạo tạo điều kiện thuận lợi để tranh luận nội bộ và chịu sự bất đồng quan điểm để đảm bảo quy trình ĐBCL không

áp đặt; (4) Đầu tư con người qua phát triển nhân viên để tránh sắp xếp nhân viên ĐBCL trong nội bộ; (5) Tự chủ và tự tin là yếu tố then chốt trong năng lực của các TC

để xác định chất lượng và mục đích của các quá trình ĐBCL bên trong Ngoài ra, dự án còn kết luận các yếu tố thúc đẩy nền VHCL hiệu quả là (1) Các TC đặt trong môi trường “mở”, không phải qua quy định khắt khe và được niềm tin của công chúng, (2) Trường ĐH tự tin là không bị giới hạn trong việc xác định tập các quy trình ĐBCL của riêng mình, (3) VHCL nhấn mạnh dân chủ, trách niệm như tiếng nói của giảng viên, nhân viên và sinh viên như nhau, (4) Xác định vai trò đội ngũ giảng viên, nhấn mạnh công tác giảng dạy nhiều hơn chứ không chỉ tinh thông học thuật và năng lực nghiên cứu và (5) Các quy trình ĐBCL dựa trên các giá trị học thuật khi đang hướng đến các quy trình hành chính cần thiết

3.3 Một số nhận xét

Trong quá trình triển khai dự án Khảo

Trang 5

cứu VHCL, kết luận dự án đưa ra 5 điều

kiện dẫn đến nền VHCL mang tính chất

hành động nhiều hơn so với nhận thức,

chúng ta thấy rằng họ chủ yếu đề cập nhiều

đến kết quả các hoạt động ĐBCL, đặc biệt

tập trung hoạt động giảng dạy và học tập

mà ít đề cập đến VHCL đã được hình thành

như thế nào Vì vậy, quá trình triển khai dự

án này chỉ phù hợp với các nước có nền

văn hóa phát triển nói chung và cộng đồng

học thuật tiên tiến nói riêng, yếu tố về ý

thức và nhận thức của họ về giáo dục cao

hơn các nước chưa phát triển và sở hữu

mức độ nhận thức chất lượng “đủ lớn”

tương ứng với các hoạt động chất lượng

đáp ứng nhu cầu cuộc sống chất lượng và

luôn được kiểm soát chặt chẽ của xã hội

Đối với các nước chưa phát triển, khi triển

khai các hoạt động ĐBCL ngoài mong đợi

các kết quả nhận được hiệu quả, họ còn

mong muốn nâng cao nhận thức chất lượng

của mỗi cá nhân, tập thể trong TC, tránh

gây nên “văn hoá hình thức”, che dấu bên

trong Lewis đã nhận định: Một nguy cơ có

thể nhận thấy ở các TC là hình thành “văn

hoá hình thức”, nghĩa là những nỗ lực của

TC đó nhằm đạt được mức điểm kiểm định

tích cực từ cơ quan ĐBCL bên ngoài thay

vì thực sự cải tiến chất lượng bên trong

TC; (2) Với hình thức này thì người ta sẽ

che giấu những điểm yếu thay vì thể hiện ra

bên ngoài để cơ quan bên ngoài đóng góp ý

kiến, thảo luận định hướng và có biện pháp

khắc phục những tồn tại và cải tiến chất

lượng [1]

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về

VHCL mang tính thời sự, lí luận, triết lí

dựa trên kiến thức, kinh nghiệm hoặc trải

nghiệm qua quá trình làm việc, ảnh hưởng

bởi bối cảnh và văn hoá hiện tại

Tóm lại, có thể nói khi mức độ nhận

thức chất lượng của một TC đủ lớn thì họ

quan tâm đến kết quả thực hiện các hoạt động và hoạt động ĐBCL trong TC Ngược lại, họ tập trung vào việc nâng cao nhận thức trách nhiệm và nhận thức chất lượng trong các mặt hoạt động

4 KẾT LUẬN Thông qua kết quả khảo sát, dự án có thể chứng minh các TC đang phát triển các quy trình ĐBCL một cách đúng đắn Mỗi

TC là mỗi trường hợp khác nhau, một số đang phát triển rất tốt trong các lĩnh vực nhất định, một số TC khác chỉ mới bắt đầu cuộc hành trình ĐBCL Bên cạnh đó còn

có một số thách thức, khó khăn hoặc cạm bẫy Dự án hy vọng có thể hỗ trợ những

TC đang thực hiện các hoạt động này hiểu

rõ hơn tình huống của mình để tìm giải pháp khắc phục

Kết quả khảo sát chứng minh các cách thức và mức độ thực hiện khác nhau Các

TC đã lựa chọn các kết hợp khác nhau của các quá trình để phù hợp với văn hoá và cấu trúc của TC Bên cạnh đó, dữ liệu cũng chỉ ra rằng vẫn còn nhiều việc phải làm để hoàn thiện phần 1 của bộ chuẩn ESGs Cuối cùng, mặc dù có nhiều việc đã đạt được trong ĐBCL và nâng cao chất lượng trong các TC nhưng họ vẫn còn phải thực hiện nhiều hơn nữa để có được VHCL đúng nghĩa Điều này đòi hỏi trách nhiệm chung của lãnh đạo, quản lí TC và cộng đồng các trường ĐH cũng như tối ưu hoá mối liên hệ giữa ĐBCL bên trong và bên ngoài

Chú thích:

1 ESGs – European Standards and Guidelines for Quality Assurance in the European Higher Educaiton Area xây dựng dựa trên

đề xuất của nhóm E4 (ENQA, ESU, EUA

và EURASHE) vào năm 2005, là một hoạt động trong tiến trình Bologna

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Richard Lewis (2012), Những xu thế quốc tế nổi bật trong lĩnh vực phát triển hệ thống ĐBCL GDĐH, Báo cáo tập huấn Xây dựng hệ thống ĐBCL và VHCL bên trong các

trường ĐH, 22-24/02/2012, Vinh

2 European Association for Quality Assurance in Higher Education (2009), Standards and Guidelines for Quality Assurance in the European Higher Education Area, ENQA

Publications

3 European University Association (2006), Quality Culture in European Universities: A Bottom-up Approach, Report on the three rounds of the quality culture project 2002 -

2006, EUA Publications

4 Tia Loukkola, Thérèse Zhang (2010), Examining Quality Culture: Part I - Quality Assurance Processes in Higher Education Institutions, EUA Publications

5 Andrée Sursock (2011), Examining Quality Culture: Part II - Processes and Tools - Participation, Ownership and Bureaucracy, EUA Publications

6 Oliver Vettori (2012), Examining Quality Culture: Part III - From self-reflection to enhancement, EUA Publications

* Ngày nhận bài: 15/1/2014 Biên tập xong:

Ngày đăng: 01/04/2021, 01:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w