1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Nâng cao chất lượng công tác rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh

7 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 361,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của công tác này là làm sao để học sinh trở thành những con người năng động, sáng tạo, tự tin, tự lập, có thể tự bước vững chắc trên đôi chân của mình để vào đời, trở[r]

Trang 1

NÂNG CAO CHẤT LƯ NG CÔNG TÁC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG MỀM CHO HỌC SINH

MAI ĐỨC THẮNG (*)

T M TẮT

Mặ dù s k ề ấ qu ớ s ư e ẫ ò

ều ạ ề ấ ề y K k ảo s 150 s ừ ớ 8 ớ 12 68%

e o ằ k ề ấ ầ Đ ều y o ấy e ều ó uy

ượ b k s o bả â ớ ì uy ề y ủ ề ừ tháng

Vì ậy ú ô ề uấ ộ s ả o ấ ề y ể s vào cá ì u ấ ề ây d k u b o ồ ộ du – ì –

è uy k ợ ấ ả k ớ u

T ây ý k ó ó ể â o ấ ượ ô è uy k

ề o s ây ũ ều ở ủ ườ ô quả ý o

d ư ú ô

óa: o d è uy k ề

ABSTRACT

Although life experience and soft skills are very important for high-school students, they

do not have enough training courses Asking about 150 high-school students from grade 8 and 12, 68% said it is essential to equip high-school students with these skills This shows us

a reality that high-school students want to attend not only special subjects but also monthly topic about the affairs As a result, we suggest some solutions to this matter They are to

o e e s e f s u o s bu d e f e” ud o e - form- real experience, combineall the skills together

To sum up, these suggestions are some ideas devoting to enhancing the quality of training soft skills for high-school students, which has always been our concern

Keywords: education, practise, soft skill

(*)Là người gắn bó nhiều năm với học

sinh, đặc biệt là học sinh nội trú từ lứa tuổi

12 đến 1 , chúng tôi nhận thấy rằng: Trong

tin nhanh, hiểu biết nhiều, kỹ năng sử dụng máy tính thành thạo… Những điều này song song với một nghịch lý: Vốn sống và

Trang 2

1 VÌ SAO CẦN PHẢI NÂNG CAO

CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC RÈN LUYỆN

KỸ NĂNG MỀM CHO HỌC SINH?

Học sinh Trung học phổ thông đều từ

lứa tuổi 1 đến 1 nên vốn sống của các em

còn rất hạn chế Ở độ tuổi vị thành niên này,

các em còn rất non nớt trong nhận thức và

giao tiếp, hành xử cũng như chưa thể phân

biệt được những “trắng” - “đen”, “thật” –

“giả”… trong cuộc đời Sự khiếm khuyết kỹ

năng sống của học sinh trong nhà trường

phổ thông xuất phát từ nhiều nguyên nhân

Nguyên nhân chủ quan (do điều kiện sống

của từng học sinh, từng hoàn cảnh gia đình,

sự giáo dục của cha mẹ…), nguyên nhân

khách quan (ảnh hưởng của xã hội, môi

trường giáo dục, sự phát triển của công

nghệ thông tin và những hệ lụy của nó….)

vô hình trung đã khiến cho học sinh hoàn

thiện ở một vài lĩnh vực này nhưng lại hạn

chế ở những mặt khác Do vậy, việc nâng

cao chất lượng công tác rèn luyện kỹ năng

mềm cho học sinh là điều quan trọng và cần

thiết Không chỉ giúp các em học sinh hiểu

rõ mục đích, tầm quan trọng của công tác

này, việc nâng chất giáo dục, rèn luyện kỹ

năng mềm còn giúp các em tự tin, năng

động, sáng tạo trong bất cứ một môi trường

nào

Thực tế xã hội được phản ánh thông

qua các phương tiện thông tin đại chúng

gần đây phần nào đã gióng lên một hồi

chuông cảnh báo: Các vấn nạn xã hội xảy ra đều có nạn nhân là học sinh Những tệ nạn như bạo lực học đường, bạo hành gia đình, xâm hại tình dục trẻ vị thành niên, tội phạm đường phố đều để lại những dư chấn nặng nề về thể chất và tinh thần của trẻ Đôi khi những va chạm, xích mích nhỏ của các

em cũng để lại hậu quả lớn Các em thiếu sự trang bị về những kỹ năng sống Các em cũng chưa hình thành được lối sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội Từ

đó, những kỹ năng hòa nhập cuộc sống, hòa nhập cộng đồng của các em cũng bị ảnh hưởng, hạn chế rất nhiều

Lắng nghe và chia sẻ những tâm tư, nguyện vọng của học sinh về những vấn đề của tuổi vị thành niên, sau khi bắt đầu năm học mới được 2 tháng – vào trung tuần tháng 10 hàng năm, trường Trương Vĩnh

Ký đều tổ chức thăm dò, khảo sát và điều tra cơ bản học sinh thông qua phương pháp quan sát, phương pháp dùng phiếu hỏi, phương pháp chuyên gia và phương pháp thống kê toán học… Kết hợp với thầy cô trong Ban Giám hiệu nhà trường, với giáo viên phụ trách tư vấn tâm lý học đường, giáo viên quản nhiệm nội trú và giáo viên giảng dạy bộ môn, khảo sát thực tế từ 1 0

em học sinh khối lớp đến lớp 12 về sự cần thiết phải trang bị vốn kiến thức kỹ năng sống, chúng tôi tổng hợp được kết quả sau:

Trang 3

ả 1 Đ ộ ầ ô è k ề o s

Học sinh

khối lớp lượng Số

Rất cần thiết

Cấn thiết

Ít cần thiết

Không cần thiết

Theo chủ

đề tháng

Theo chuyên đề

Như vậy, từ bảng khảo sát thực tế trên,

chúng tôi nhận thấy việc trang bị kiến thức

kỹ năng mềm cho các em học sinh là rất

cần thiết Dựa trên 2/3 số phiếu hợp lệ của

học sinh ở nội trú và 1/3 học sinh bán trú,

tổng số phiếu phát ra và thu vào đều cho

thấy con số thống kê mức độ “rất cần thiết”

này chiếm tỉ lệ khá cao Điều này cho thấy,

đa phần các em đều có nguyện vọng được

trang bị kỹ năng sống cho bản thân dù dưới

hình thức thực hiện chuyên đề hay chủ đề

của từng tháng

Những kỹ năng mềm nói trên bao gồm:

Kỹ năng giao tiếp, thuyết trình; kỹ năng

hùng biện; kỹ năng làm việc nhóm; kỹ

năng tư duy sáng tạo; giải quyết vấn đề; kỹ

năng ứng phó với tình huống xấu v.v…

2 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC

các em học sinh phải sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội

Tùy theo đặc điểm tâm lý, lứa tuổi, học sinh có sự lãnh hội và trải nghiệm thực tế khác nhau Lồng ghép mục đích giáo dục với việc rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh, đặc biệt qua những chuyến đi tham quan, dã ngoại, các buổi lễ, hội… giúp cho các em vận dụng lý thuyết vào thực hành,

lý luận gắn liền với thực tiễn Điều này cũng phù hợp với mục đích học tập của học

sinh do UNESCO đề xướng H ể b

ể ể u s ể

k ì ” và quan điểm giáo dục

tiên tiến, hiện đại “lấy học sinh làm trung tâm”

Để nâng cao chất lượng công tác rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh, cần xây

Trang 4

2.1 Đặt đ i tượng được rèn luyện

tr ng “tìn u ng có vấn đề”

Cuộc sống và những mối quan hệ của

nó thật muôn màu muôn vẻ Đối với lứa

tuổi học sinh, bầu trời ngoài kia luôn rộng

mở và có sức cuốn hút nhưng cũng đầy bất

trắc Những “thắc mắc biết hỏi ai” của học

sinh, “những tình huống có vấn đề” hay nói

như tác giả Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu:

“tháo gỡ chuyện khó đỡ” là những điều

cần phải giáo dục, chuyển tải và rèn luyện

cho học sinh Thầy cô, người quản lý,

người tư vấn khi rèn luyện kỹ năng cho các

em phải luôn đặt các em trong “tình huống

có vấn đề”, để các em vừa là người tham

gia rèn luyện cũng vừa là đối tượng được

rèn luyện Có như thế, học sinh mới được

đặt trong một hoàn cảnh thực tế cần thiết

và việc giáo dục, rèn luyện mới đạt hiệu

quả cụ thể hơn

Tham khảo tư liệu từ trang facebook

của Tiến sĩ tâm lý Huỳnh Văn Sơn hay

những bài viết, những video clip trên mạng

xã hội của chuyên viên tâm lý – Thạc sĩ

Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu, chúng ta thấy

các chuyên viên đều đưa ra những vấn đề

xác thực với nhiều tình huống mà các em

học sinh sẽ gặp phải trong cuộc sống

Dựa vào hoàn cảnh thực tế một số bạn

trẻ bị cướp giật, xâm hại tình dục hay trăn

trở về con đường tương lai sau khi học hết bậc phổ thông, Thạc sĩ Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu đã gửi đến mọi người những

video clip với nội dung S ử ượ 3

ấ 6” Đ ó ớ y u âu ” Đ

ó ớ ướ ậ ” T ượ ạ - Đờ

ò ều ườ ” Tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn

lại chia sẻ những thông điệp mang đầy tính nhân văn, hướng các bạn trẻ đến với những

chân giá trị của cuộc sống: Hãy ể uộ

s ẹ ” H s ô ư”

N uộ s bắ ầu” S ó í ”…

Như vậy, khi đặt học sinh – đối tượng được rèn luyện vào tình huống có vấn đề, công tác rèn luyện kỹ năng mềm cho các

em sẽ được cập nhật một cách thực tế, sống động

2.2 Xây dựng “ ung tam gi c”: Nội dung – Hìn t ức – ực tiễn rèn luyện

Rèn luyện các kỹ năng mềm cho học sinh phải có sự liên đới giữa nội dung, hình thức gắn với thực tế Ba yếu tố này cấu thành một “khung tam giác” liên kết nhau, quan hệ biện chứng chặt chẽ và logic với nhau Tùy theo chủ đề - chủ điểm sinh hoạt từng tháng, từng học kỳ… trong nhà trường mà xây dựng “khung tam giác” cho phù hợp Kết cấu “khung tam giác” gồm:

Trang 5

S ồ 1: K u ”: Nộ du – Hì – T è uy

Khi xây dựng “khung tam giác”: Nội

dung – Hình thức – Thực tiễn rèn luyện,

chúng tôi nhận thấy đây là công tác có sự

phối kết, quan hệ biện chứng với nhau

Chúng ta không thể chỉ chuyển tải nội

dung rèn luyện cho học sinh thông qua

những bài học, những tên gọi mang tính

chất trừu tượng, chung chung mà nội dung

đó phải được chuyển tải đến học sinh qua

hình thức rèn luyện sinh động, thiết thực

Hai mặt nội dung và hình thức rèn luyện

này sẽ không đạt kết quả mong muốn nếu

như không đặt học sinh vào thực tiễn rèn

luyện hợp lý, giúp các em cọ sát với thực

hành”, “Lý luận gắn liền với thực tế” Giáo dục, rèn luyện cho học sinh các kỹ năng phải chọn lựa nội dung gần gũi, sâu sát với đời sống tâm sinh lý của các em Những nội dung này được chuyển tải, truyền dẫn qua hình thức rèn luyện, kênh thông tin hợp lý, trực quan sẽ tạo được hiệu ứng cao Điều quan trọng là cả nội dung và hình thức rèn luyện này phải được các em học sinh trải nghiệm, cọ sát với thực tế trong hoàn cảnh “Tình huống có vấn đề”, các em học sinh sẽ tiếp thu cho mình những bài học bổ ích, lý thú

Vận dụng “Khung tam giác” nói trên

Nội dung rèn luyện (Phong phú, sát hợp)

Hình thức rèn luyện (Kênh thông tin, chuyển tải)

Thực tiễn rèn luyện (Ứng dụng, cọ sát thực tế)

Trang 6

ả 2: M ậ d K u ” è uy k ề o s

Nội dung rèn luyện

(phong phú, sát hợp)

Hình thức rèn luyện (kênh thông tin – chuyển tải)

Thực tiễn rèn luyện (ứng dụng, cọ sát thực tế)

Kỹ năng ứng phó với

những tình huống

xấu (bị cướp giật, bị

xâm hại .)

Mời chuyên viên tâm lý tư vấn trực tiếp -> trao đổi đối thoại

Qua các tiểu phẩm, kịch ngắn

Xem video clip -> Nghe, nhìn

Sinh hoạt chuyên đề

Các phong trào văn nghệ theo chủ đề

Kỹ năng tư duy sáng

tạo

Kỹ năng giải quyết

vấn đề

Kỹ năng làm việc

nhóm

Tạo sân chơi lành mạnh cho học sinh

Học sinh chúc mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 tại lớp, tại trường

Cho học sinh tham gia các buổi sinh hoạt, câu lạc bộ

Ngày hội pháp luật Ngày An toàn giao thông

2.3 P i ết ợp c c ỹ năng rèn luyện

Rèn luyện các kỹ năng mềm cho học

sinh không chỉ mang tính chất đơn lẻ, đối

phó Mục đích của công tác này là làm sao

để học sinh trở thành những con người

năng động, sáng tạo, tự tin, tự lập, có thể tự

bước vững chắc trên đôi chân của mình để

vào đời, trở thành những công dân tốt, hữu

ích cho đình và xã hội Học sinh không chỉ

biết vận dụng những kiến thức đã được

học, được hiểu vào cuộc sống mà còn biến

những kiến thức ấy làm vốn sống của bản

thân, là hành trang để các em vào đời Khi vận dụng được kỹ năng giải quyết vấn đề đồng thời các em học sinh cũng trang bị được cho mình kỹ năng làm việc nhóm (liên kết với kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng hùng biện .) Tất cả những kỹ năng này cũng nhằm mục đích để các em học sinh sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội Có thể hình dung sự phối kết hợp các kỹ năng rèn luyện theo sơ đồ sau:

Trang 7

S ồ 2: P k ợ k è uy o s

Qua sơ đồ trên, ta thấy việc rèn luyện

các kỹ năng mềm cho học sinh đều có mức

độ tương tác và phối kết với nhau Dù giáo

dục – rèn luyện cho học sinh kỹ năng tư

duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ

năng làm việc nhóm hay kỹ năng ứng phó

với những tình huống xấu v.v… thì mục

đích rèn luyện sau cùng cũng đều nhằm

hướng các em trở thành những người sống

luyện kỹ năng mềm cho học sinh – trước tiên, các em cũng phải được trang bị những

kỹ năng mềm cơ bản nhất Khi rèn luyện cho các em, thầy cô, người tư vấn vô hình trung đã trở thành “người bạn đường” giúp các em thêm tự tin, năng động, sáng tạo trong cuộc sống Các em học sinh đứng vững được trên đôi chân của mình, tự hoàn thiện bản thân thì các em mới có thể hỗ trợ

Kỹ năng tư duy sáng

tạo

Kỹ năng giải quyết vấn

đề

Kỹ năng làm việc nhóm

Kỹ năng ứng phó với những tình huống xấu

Kỹ năng giao tiếp ứng

xử

Kỹ năng thuyết trình

Kỹ năng hùng biện

Sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội

Ngày đăng: 01/04/2021, 01:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w