1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Sáng kiến kinh nghiệm Vị trí của văn tự sự trong môn Ngữ văn

12 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 248,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh việc động viên, khuyến khích, giáo viện cũng cần có biện pháp đối với những học sinh còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại như yêu cầu các em ở lại sau buổi học để làm bài tập, mượn [r]

Trang 1

S¸ng kiÕn kinh nghiÖm

Vị trí của văn tự sự trong môn Ngữ văn:

1.Vị trí của văn tự sự trong môn Ngữ văn:

Trong nhà trường nói chung, trong trường THCS nói riêng, Ngữ văn là môn

học trang bị cho học sinh những tri thức để đánh giá đúng các vấn đề văn học(bao

gồm: tác phẩm, tác giả, các quá trình văn học … )có nghĩa là góp phần tạo cho học

sinh khả năng khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn học trong việc tiếp nhận cũng

như khả năng biết đánh giá đúng đắn, khoa học các hiện tượng

Song song với nhiệm vụ trên là quá trình giúp học sinh hình thành và phát triển

khả năng sản sinh văn bản mới ( nói và viết)

Làm văn là phân môn hướng tới nhiệm vụ thứ hai này Nó giúp học sinh hình

thành những kĩ năng cần thiết để làm được bài văn Người học sinh từ tiểu học đến

trung học (kể cả vào đại học) đã và sẽ được làm văn theo ba dạng sau đây:

Dạng sáng tác văn học như: miêu tả, tường thuật, kể chuyện ( tự sự) … và một

số thể thơ quen thuộc như : thơ 5 chữ, thơ tứ tuyệt, thơ lục bát …

Dạng bài nghị luận với hai nội dung chủ yếu là nghị luận xã hội và nghị luận

văn học ( trong chương trình ở THCS là ở lớp 7, 8, 9)

Dạng văn hành chính công vụ như: đơn từ, biên bản, thông báo, báo cáo, hợp

đồng

Đặc trưng cơ bản của nhóm thứ nhất là kích thích trí tưởng tượng phong phú,

xây dựng óc quan sát tinh tế cho học sinh Đặc trưng của nhóm thứ hai là nhằm

hình thành và phát triển tư duy lí luận với khả năng lập luận chặt chẽ, giàu sức

thuyết phục Loại văn hành chính công vụ thì có đặc trưng là khuôn mẫu, công

thức

Trong nhà trường phổ thông, nhìn chung không đặt ra việc sáng tác văn học

Tuy nhiên để phù hợp với lứa tuổi học sinh THCS được làm quen với kiểu sáng

tác, tạo tiền đề cho các em có thể vận dụng tốt trong quá trình học sau này

Những bài văn hay loại này là những bài văn viết đúng quy cách, chân thật, có

những khám phá hồn nhiên về thiên nhiên và đời sống gia đình, xã hội …

Trong chương trình Ngữ văn THCS, ở lớp 8 học sinh được học văn tự sự từ bài

1 đến bài 10 (chiếm gần 1/3 số bài trong chương trình) Tuy học sinh đã học văn tự

sự từ lớp 6 (ở THCS) nhưng vì nhiều lí do nên các em làm loại văn này vẫn chưa

tốt

Trang 2

Quan trọng là vậy nhưng là giỏo viờn dạy Ngữ văn, cụng tỏc tại trường THCS

Bạch Đớch, tụi thấy cỏc em làm bài văn tự sự chưa tốt, cũn mắc nhiều lỗi mà nếu

giỏo viờn cú thể giỳp học sinh khắc phục được thỡ cỏc em sẽ làm tốt hơn Những

hạn chế trong bài làm văn tự sự của cỏc em một phần do cỏc em, một phần do giỏo

viờn chưa cú biện phỏp phự hợp giỳp cỏc em

2 Lớ do chọn đề tài:

Người giỏo viờn bao giờ cũng muốn học trũ của mỡnh làm được những bài văn

hay nhưng đú khụng phải là một việc dễ Bài văn hay trước hết phải là viết đỳng (

đỳng theo nghĩa tương đối, nghĩa là trong khuụn khổ nhà trường) Hay và đỳng cú

mối quan hệ mật thiết với nhau Bài văn hay trước hết phải viết theo đỳng yờu cầu

của đề bài, đỳng những kiến thức cơ bản, hỡnh thức trỡnh bày đỳng quy cỏch …

Xỏc định đỳng yờu cầu của đề bài là rất cần thiết, bước này giỳp học sinh thể

hiện đỳng chủ đề của bài văn, trỏnh lạc đề hay lệch đề Xỏc định đỳng yờu cầu của

đề cũng giỳp người viết lập được một dàn ý tốt và do đú cũng trỏnh được bệnh dài

dũng, lan man “dõy cà ra dõy muống”, “ trống đỏnh xuụi, kốn thổi ngược” tạo được

sự thống nhất, hài hoà giữa cỏc phần của bài viết Bờn cạnh đú việc viết đỳng kiến

thức cơ bản cũng vụ cựng quan trọng, kiến thức cơ bản là “bột”, “cú bột mới gột

nờn hồ”

Hỡnh thức trỡnh bày là sự thể hiện hỡnh thức bố cục của bài văn trờn trang giấy

Một bài văn đỳng quy cỏch là bài văn mà khi nhỡn vào tờ giấy, chưa cần đọc đó

thấy rừ ba phần: Mở bài, thõn bài và kết bài Muốn thế người viết khụng chỉ phải

chỳ ý đến nội dung mà hỡnh thức cũng phải rừ

Yờu cầu là vậy nhưng trong thực tế dạy – học tụi thấy bài văn của học sinh

chưa đỏp ứng được những yờu cầu đú là bao Bài làm của cỏc em vẫn cũn hiện

tượng lạc đề, lệch đề do khụng chỳ ý đến việc tỡm hiểu đề Đoạn văn trong bài

thường sai quy cỏch Bờn cạnh đú là việc giữa cỏc đoạn văn chưa cú sự liờn kết

Do đú tụi thấy cần phải tỡm tũi, nghiờn cứu để tỡm ra giải phỏp tốt giỳp học sinh

làm tốt bài văn tự sự Qua thời gian tỡm tũi và vận dụng, cho đến nay tụi đó tỡm

được cho mỡnh một cỏch làm mang lại hiệu quả cao Trong cỏch làm đú vấn đề tớch

hợp cú vai trũ rất quan trọng Đú cũng là yờu cầu của dạy học Ngữ văn hiện nay

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

1 Cơ sở lớ luận của vấn đề:

Phải nói rằng, lứa tuổi học sinh THCS đặc điểm tâm sinh lý hết sức điển

hình Đây là thời kỳ quá độ chuyển từ giai đoạn trẻ em sang người lớn Trong

giai đoạn này hứng thú của các em đã phát triển ở mức độ cao, hứng thú về

Trang 3

học tập đã phát triển và ngày càng đậm nét Đây là một đặc điểm hết sức

thuận lợi đối với việc giảng dạy bộ môn Văn Việc tò mò thích thú môn văn

không phải là khoảng cách xa đối với các em Bên cạnh đó ý thức tư lập và

khả năng đào sâu khám phá những nét đẹp trong cuộc sống là một ưu điểm

điển hình của học sinh bậc THCS Song song với những ưu điểm trên, một số

em còn rụt rè e ngại, đôi lúc còn nản chí, nản lòng khi tiếp cận với một văn

bản khó Vậy làm thế nào để khắc phục khó khăn đó? Làm thế nào để tiết

dạy học môn Ngữ Văn thật sự có hiệu quả để thu hút học sinh say mê học

tập?

Như chúng ta đã biết, văn học xuất phát từ đời sống, chính vì thế văn

học rất gần gũi với mọi người Những bài thơ hay, những văn bản hấp dẫn đã

giúp cho giờ văn không chỉ là giờ học mà còn là những giờ giải trí, khám phá

biết bao điều kỳ diệu của cuộc sống con người Để có giờ văn như thế thì yếu

tố “ tự sự trong mụn ngữ văn” là rất quan trọng đòi hỏi người thầy chủ động,

sáng tạo và linh hoạt khi thiết kế bài giảng

2 Thực trạng của vấn đề:

Về phớa người giỏo viờn, trước đõy khi dạy văn tự sự cho cỏc em, tụi mới chỉ

giỳp cỏc em nắm bắt được những nội dung cơ bản trong sỏch giỏo khoa Trong quỏ

trỡnh dạy chỉ dạy văn tự sự ở những tiết học về văn tự sự, chưa tận dụng được thời

gian ở cỏc phõn mụn khỏc để tớch hợp với phần tập làm văn Đặc biệt chưa chỳ

trọng luyện tập và ra bài tập về nhà cho cỏc em để từ đú hỡnh thành kĩ năng làm

bài

Về phớa học sinh, do đời sống cũn nhiều khú khăn, đa số cỏc em phải lao động

hàng ngày ở ngoài đồng ruộng nờn ớt cú thời gian để đọc cỏc tài liệu tham khảo,

mở rộng hiểu biết

Xa trung tõm, nhà trường lại chưa đủ cơ sở vật chất để phục vụ việc dạy học

nờn cỏc em khụng cú đủ tài liệu để tham khảo Vỡ vậy chỉ cú thể nắm bắt được

những gỡ SGK cung cấp

Học văn đũi hỏi viết nhiều (đọc nhiều)nhưng học sinh ở Bạch Đớch lại ớt cú

điều kiện cũng như thời gian để luyện tập Bờn cạnh đú học sinh là người dõn tộc

thiểu số (vốn từ khụng phong phỳ do ớt giao tiếp bằng tiếng phổ thụng) kết hợp với

những điều kiện trờn làm cho cỏc em nghốo nàn về vốn từ nờn khi viết cũng thờm

phần khú khăn

Trang 4

Thêm vào đó, nhiều học sinh chưa chú ý đến việc học, ý thức chưa cao, về nhà

không làm bài nên khi làm bài thường vụng về, lúng túng …

Với những khó khăn như vậy, mỗi giáo viên dạy Ngữ văn phải tìm biện pháp

giúp học sinh nắm và làm tốt bài văn tự sự Cũng chính từ sự băn khoăn, trăn trở:

“Làm sao giúp học sinh làm tốt bài văn tự sự ?” Qua quá trình dạy học, quá trình

tìm tòi tôi đã có được những biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tự sự trong

chương trình Ngữ văn 8

Trong những biện pháp đó, việc động viên khích lệ về tinh thần cũng như vật

chất (điểm số) là rất quan trọng

Sau đây tôi xin trình bày “ Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tự sự

trong chương trình Ngữ văn 8 (tập 1) ở trường THCS Bạch Đích”

Những biện pháp này được áp dụng ở 2 lớp do tôi dạy, lớp 8A và 8B

3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.

3.1 Tìm hiểu đề (xác định yêu cầu của đề):

Kĩ năng tìm hiểu đề là kĩ năng định hướng cho toàn bộ quá trình thực hiện một

bài tập làm văn Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi chưa kiên nhẫn, học sinh thường

không chú ý đến bước tìm hiểu đề Vì vậy trong quá trình dạy tôi luôn hướng dẫn

học sinh thực hiện thao tác này và nó được lặp đi lặp lại ở mỗi bài viết cũng như

trước các đề trong bài học

Ví dụ: Như ra đề rồi yêu cầu HS về nhà thực hiện, trước các bài viết số 1, số 2,

trong các giờ học tự chọn Ngữ văn …

Để giúp học sinh tìm hiểu đề, trước một đề bài tôi thường yêu cầu học sinh đọc

nhiều lần (thậm chí yêu cầu học sinh đọc thuộc đề), lấy bút chì gạch dưới những từ

cần chú ý, chép lại đề với những ý có gạch đầu dòng để làm cho nổi bật các yêu

cầu của đề

Kết quả của bước tìm hiểu đề phải giúp học sinh xác định được tất cả các yêu

cầu của đề bài:

- Kiểu bài: tự sự hay miêu tả, tường thuật hay giải thích, …

Lời yêu cầu về kiểu bài: theo lối trực tiếp – nói thẳng (như hãy kể … ) hay lời

yêu cầu gián tiếp – nói vòng (như Em thấy mình đã khôn lớn … )

- Đề bài và giới hạn: học sinh cần tìm hiểu rõ qua từng từ ngữ để xác định giới

hạn của đề bài Chỉ một sơ suất nhỏ trong việc xác định giới hạn của đề bài cũng

có thể dẫn các em từ tản mạn, xa đề đến lạc đề

Ví dụ1 : cho đề bài: Em hãy kể lại một kỉ niệm sâu sắc thời thơ ấu.

Trước đề này có rất nhiều học sinh kể ra hai, ba kỉ niệm, không có kỉ niệm nào

được kể một cách đầy đủ

Ví dụ 2: cho đề bài: Cô giáo của em.

Trang 5

Trước đề này một số học sinh kể về cô giáo của mình ở hiện tại chứ không phải

là kỉ niệm về một cô giáo mà mình tôn trọng nhất, yêu thương nhất hay một cô

giáo mà mình không bao giờ quên

Tìm hiểu đề là bước quan trọng, tuy nhiên trong chương trình học các em lại

chỉ được học không đến một tiết (ở lớp 6) Thêm vào đó ở chương trình Ngữ văn 8

các em học văn tự sự chỉ trong 13 tiết nên thời gian không nhiều

Để khắc phục được khó khăn đó và cho học sinh thực hiện tốt bước này tôi đã

kết hợp thời gian trên lớp, thời gian ở nhà của các em và thời gian ở tiết học tự

chọn ( môn Ngữ văn) để hướng dẫn và cho các em thực hành

Ví dụ 1: khi dạy xong tiết tự chọn thứ hai (ở tuần 2), giáo viên ra đề bài cho

học sinh về nhà làm:

Đề 1: Trong cuộc đời mỗi chúng ta ai cũng có những kỉ niệm đáng nhớ, kỉ niệm

đáng nhớ nhất của em ở thời thơ ấu là gì?

Đề 2: Em hãy kể lại một kỉ niệm sâu sắc của em trong thời thơ ấu

Yêu cầu trả lời :

- Kiểu bài của mỗi đề là gì?

- Lời yêu cầu ở mỗi đề là trực tiếp hay gián tiếp?

- Nội dung của đề bài nằm trong giới hạn nào (kể về một hay nhiều

kỉ niệm)?

- Lưu ý: đọc thật kĩ đề bài, lấy bút chì gạch dưới những từ ngữ quan

trọng

Trong tiết tự chọn Ngữ văn tuần kế tiếp, trước khi vào nội dung học giáo viên

mời một số học sinh trình bày bài của mình rồi cho những học sinh khác nhận xét

Giáo viên tổng hợp (cuối buổi thu tập của học sinh về chấm):

* Kiểu bài:

- Đề 1 và 2 đều có kiểu bài tự sự.

- Đề 1 là đề có yêu cầu gián tiếp, đề 2 có yêu cầu trực tiếp.

* Giới hạn của đề bài: kể duy nhất một kỉ niệm, đó là kỉ niệm đáng nhớ

nhất ở thời thơ ấu

Từ nội dung đó giáo viên nhắc nhở học sinh: từ bây giờ, trước khi viết một bài

văn các em nên tìm hiểu đề bài trước để viết bài văn cho tốt bằng cách thực hiện

các yêu cầu như bài tập các em vừa làm Có thể khái quát thành hai nội dung cơ

bản(ta gọi là Tìm hiểu đề):

- Xác dịnh kiểu bài.

- Xác định giới hạn của đề bài.

Trang 6

Ví dụ 2 khi dạy xong bài Xây dựng đoạn văn trong văn bản (tiết 10 – bài 3),

giáo viên yêu cầu học sinh: Ngoài việc chuẩn bị để làm bài các em thực hiện trước

bước tìm hiểu đề cho các đề có trong phần Viết bài tập làm văn số 1 – văn tự sự

Tới tiết 11 -12, trước khi viết bài giáo viên yêu cầu 1 hoặc 2 học sinh trình bày

kết quả việc tìm hiểu đề rồi mới đi vào viết bài

Học sinh trả lời :

Đề 1: Kể lại những kỉ niệm trong ngày đầu tiên đi học

- Kiểu bài: kể (tự sự), yêu cầu trực tiếp.

- Giới hạn: những kỉ niệm trong ngày đầu tiên đi học(chỉ trong ngày đầu

tiên mà thôi)

Đề 2.Người ấy (bạn, thầy, người thân, …)sống mãi trong lòng tôi

- Kiểu bài: kể (tự sự), yêu cầu gián tiếp.

- Giới hạn: chỉ kể về một người thân (có thể là một kỉ niệm khó quên

với người đó)

Ví dụ 3: tương tự như ví dụ 2,trước khi Viết bài viết số 2, giáo viên cũng yêu

cầu học sinh thực hiện bước tìm hiểu đề

Trong quá trình dạy – học( nhất là ở tiết trả bài) tôi đã cho học sinh thấy một

cách nghiêm túc rằng lạc đề là lỗi nặng nhất, nghiêm trọng nhất của một bài tập

làm văn Một bài văn lạc đề dù có những đoạn văn hay đến đâu cũng không thể đạt

được điểm số cần thiết

Đối với giáo viên, trước một đề tập làm văn việc tìm hiểu đề là đơn giản

nhưng với học sinh bước này rất quan trọng Vì vậy, trước bất cứ một đề văn nào

giáo viên luôn yêu cầu học sinh thực hiện bước này

3.2 Viết đoạn văn trong văn bản tự sự :

Đoạn văn là đơn vị cấu tạo nên văn bản Vì vậy viết tốt đoạn văn là là một

trong những điều kiện để có một bài văn hay

Trong chương trình Ngữ văn 8, học sinh được học cách viết đoạn văn ở tiết

10 – Xây dựng đoạn văn trong văn bản Trên cơ sở bài này, các em đã có kiến

thức về cách xây dựng đoạn văn Từ đó tôi thường xuyên cho học sinh luyện tập

viết đoạn văn ở trên lớp cũng như ở nhà, luyện tập nhận diện đoạn văn cũng như

viết đoạn văn

Trước hết giáo viên cho học sinh nhận diện các đoạn văn

Ví dụ: sau khi dạy xong tiết 10 - Xây dựng đoạn văn trong văn bản, ở bước

củng cố tôi nêu yêu cầu: các em xem đoạn văn b trong bài tập 1, phần luyện tập ở

trang 26 và đoạn văn giới thiệu về Nam Cao trong phần chú thích ở trang 45 rồi

xác định các đoạn văn đó được viết theo cách nào?

Trang 7

Học sinh trả lời:

- Đoạn văn ở trang 26 là đoạn văn viết theo lối diễn dịch (câu chủ đề nằm ở

đầu đoạn), chủ đề là nói về vẻ đẹp huyền ảo trong ngày của Ba Vì

- Đoạn giới thiệu về Nam Cao ở trang 45 được viết theo lối song hành (từ

ngữ chủ đề là Nam Cao, ông), đối tượng là Nam Cao

Học sinh trả lời được như vậy là đã nắm được “Thế nào là đoạn văn” Trên cơ

sở đó tôi cho học sinh đi vào thực hành kĩ năng viết đoạn văn

Trong quá trình học, học sinh được học rất nhiều văn bản tự sự Đó là điều

kiện giúp các em viết tốt đoạn văn tự sự

Ví dụ 1: khi học xong văn bản Lão Hạc của Nam Cao (tiết 13 -14, bài 4) tôi

cho học sinh bài tập về nhà: Về nhà mỗi em viết một đoạn văn nói về số phận và

tính cách của lão Hạc – người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng tám (cho

HS một câu gợi ý: Lão Hạc là con người nghèo khổ nhưng lão có nhiều phẩm chất

đáng quý.)

Tới tiết 16 – Liên kết đoạn văn trong văn bản, khi kiểm tra bài cũ xong, GV

mời một HS trình bày đoạn văn của mình cho thầy cùng cả lớp nghe rồi GV nhận

xét Cuối tiết học GV thu bài lại để về nhà chấm, nhận xét và sửa cho HS

Ví dụ 2: khi dạy xong tiết 21 – 22, văn bản Cô bé bán diêm, GV ra bài tập

cho HS về nhà làm:

Em thử tưởng tượng mình là người chứng kiến cái chết của cô bé trong truyện

Cô bé bán diêm của An – đéc – xen, bây giờ các bạn muốn nghe em kể lại cái

chết của cô bé Vậy em hãy viết một đoạn văn kể lại cho các bạn cùng nghe

Tới tiết học tiếp theo giáo viên thu bài của các em về nhà chấm, sửa và nhận

xét trong bài viết cho các em

Khi trả lại bài cho học sinh, giáo viên cho đọc một số bài viết tốt để các em

rút kinh nghiệm cho bài của mình

Ví dụ 3: bài Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội (tiết 17 – bài 5)có nội

dung tương đối ngắn, bài tập dễ nên giáo viên cho học sinh làm bài tập ở nhà Thời

gian trên lớp giáo viên cho học sinh làm bài tập: em hãy viết một đoạn văn ngắn kể

về người mẹ (hoặc cha) của mình trong đó có sử dụng từ ngữ địa phương

Khi học sinh viết xong , giáo viên mời 2 học sinh đọc bài rồi mời những học

sinh khác nhận xét Sau đó giáo viên kết luận về nội dung, chủ đề và hình thức

trình bày

Bài của những học sinh còn lại giáo viên thu để về nhà xem (học sinh chưa

viết xong thì thu lại ở tiết sau)

Trang 8

Ví dụ 4: khi dạy xong tiết 25 – 26, Đánh nhau với cối xay gió,giáo viên yêu

cầu học sinh về nhà viết đoạn văn với gợi ý: Sự tương phản giữa Đôn – ki – hô – tê

và Xan – chô Pan – xa

Đến tiết 28, bài 7 – Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và

biểu cảm, giáo viên mời 2 học sinh trình bày đoạn văn.

Trên cơ sở đó ở tiết 28 này học sinh viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả

và biểu cảm là rất dễ

Khi học sinh luyện viết đoạn văn có thể có lỗi về câu và chính tả do học sinh

tự sắp xếp vì vậy giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh sửa lỗi về câu và chính tả

Có thể nói việc luyện viết đoạn văn tự sự là rất cần thiết, học sinh viết tốt

đoạn văn tự sự có nghĩa là học sinh đã nắm được những yêu cầu của đoạn văn

Trên cơ sở đó khi học văn bản thuyết minh và văn nghị luận học sinh sẽ viết

tốt đoạn văn – đó là một trong những tiền đề để học sinh làm tốt các kiểu văn bản

khác

3.3 Liên kết đoạn văn trong văn bản:

Một bài văn được tạo thành bởi nhiều đoạn văn liên kết lại với nhau Bài văn

là một chỉnh thể hoàn chỉnh nên giữa các đoạn văn cần có sự liên kết với nhau

Liên kết đoạn văn nhằm mục đích làm cho ý của cả đoạn vừa phân biệt nhau vừa

liền mạch với nhau một cách hợp lí, tạo tính chỉnh thể cho văn bản Muốn vậy,

phải tạo mối quan hệ ngữ nghĩa chặt chẽ, hợp lí giữa các đoạn văn với nhau và sử

dụng các phương tiện liên kết phù hợp

Trong chương trình ngữ văn 8 học sinh đã được học “Liên kết các đoạn văn

trong văn bản” ở tiết 16, bài 4.

Trên cơ sơ bài học này giáo viên hướng dẫn học sinh thực hành việc liên kết

đoạn văn do các em tạo ra

Trước hết giáo viên cho học sinh làm bài tập nhận diện các phương tiện liên

kết đoạn văn

Ví dụ 1: khi dạy xong bài Liên kết các đoạn văn trong văn bản – tiết 16, bài

4, giáo viên yêu cầu: về nhà các em đọc văn bản Cô bé bán diêm (An – đéc – xen)

ở trang 64 sau đó xác định các từ ngữ và câu có tác dụng nối giữa các đoạn văn

trong văn bản đó

Tới tiết 18, bài 5 – Tóm tắt văn bản tự sự, trong phần kiểm tra bài cũ, giáo

viên mời học sinh trình bày (giáo viên kết luận) những từ ngữ, câu có tác dụng nối

như:

- Em quẹt que diêm thứ hai,…

- Em quẹt que diêm thứ ba.

- Em quẹt que diêm nữa vào tường, …

Trang 9

- Thế là …

- Sáng hôm sau,

- Trong buổi sáng lạnh lẽo ấy …

Ví dụ 2: Cũng như ở ví dụ 1, nhưng có thể cho học sinh tìm phương tiện liên

kết trong văn bản “ Đánh nhau với cối xay gió”( Xéc – van – téc), ở văn bản này

thì dễ nhận biết hơn

Học sinh có thể tìm dược các phương tiện liên kết:

Vừa bàn tán về cuộc phiêu lưu mới xảy ra, …

Đêm hôm ấy, …

Trên cơ sở bài tập này, giáo viên đã giúp học sinh khắc sâu kiến thức phần lí

thuyết, từ đây có thể cho học sinh thực hành việc liên kết đoạn văn

Việc viết các đoạn văn có sự liên kết với nhau đối với học sinh trung bình và

yếu là tương đối khó Cho nên trong quá trình dạy tôi luôn có những đoạn văn mẫu

cho các em Bên cạnh đó là bài của các em học sinh khá giỏi Đồng thời luôn khích

lệ tinh thần cho các em

Ơ dạng bài này, giáo viên vừa cho học sinh luyện tập ở trên lớp vừa cho các

em về nhà làm (giáo viên phải thu vở bài tập rồi chấm và sửa cho học sinh)

Ví dụ 1: ở bài Miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sư (tiết 24, bài 6), khi

dạy đến phần luyện tập, giáo viện cho học sinh làm bài tập 1 và đọc phần đọc thêm

ở trên lớp Còn bài tập 2 – “viết một đoạn văn kể về những giây phút đầu tiên khi

em gặp lại một người thân” thì giáo viên cho học sinh về nhà làm Giáo viên yêu

cầu học sinh viết thành 2 đoạn văn đoạn trong đó có các phương tiện liên kết

Đến tiết 28, bài 7 – Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu

cảm, giáo viên mời 2 học sinh trình bày bài của mình rồi giáo viên nhận xét Sau

đó thu bài về nhà chấm và sửa cho học sinh

Ví dụ 2: Văn bản Đánh nhau với cối xay gió (Xéc – van – téc) có hai nhâ vật

Đôn – ki – hô – tê và Xan – chô Pan – xa tương phản nhau về mọi mặt Vậy sau bài

học đó giáo viên yêu cấu học sinh viết 2 đoạn văn nói về hai nhân vật (hai đoạn có

quên hệ đối lập)

Ví dụ 3: học xong văn bản Lão Hạc của Nam Cao (tiết 13 -14, bài 4), học sinh

biết rằng chị Dậu và lão Hạc là những con người tiêu biểu cho tầng lớp nông dân

Việt Nam trước cách mạng tháng 8 Giáo viên có thể cho học sinh viết hai đoạn

văn nói về số phận và tính cách của người nông dân (thông qua Lão Hạc và chị

Dậu)

4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.

Để đánh giá kết quả đã đạt được, giáo viên dựa vào bài viết số 2 – Viết bài tập

làm văn số 2 – văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm

Trang 10

Kết quả khi chưa ỏp dụng:

Tổng

Kết quả khi ỏp dụng:

Tổng

Sau một thời gian nhận thấy thực trạng bài làm văn của học sinh lớp 8 trường

THCS Bạch Đớch tôi dã kịp thời tìm ra nguyên nhân bài làm văn của các em đạt

kết quả chưa cao tôi nhanh chóng tìm ra giải pháp của bản thân cá nhân tôi mong

rằng chất lượng bài làm của các em từng bước nâng cao dần lên so với chất lượng

thi khảo sát đầu năm thì chất lượng thi học kỳ 1 đã có bước chuyển biến đáng kể cụ

thể giảm tối đa hoc sinh yếu kém

Tuy nhiên kết quả như vậy chưa phải là cao nhưng đó cũng là một sự thay

đổi chất lượng bài làm của các em

III KẾT LUẬN.

1 Một số lưu ý.

Để trở thành người thợ giỏi ở bất cứ một ngành nghề nào người thợ cũng phải

trải qua quỏ trỡnh học tập và rốn luyện lõu dài Để viết tốt một bài văn cũng vậy,

học sinh phải trải qua quỏ trỡnh rốn luyện nghiờm tỳc cú sự hướng dẫn của giỏo

viờn.

Trong quỏ trỡnh dạy, giỏo viờn giỳp học sinh nhớ lại những kiến thức cũ đó

học vế văn tự sự đó học ở lớp 6 bắng cỏc tỡnh huống cú vấn đề trong cỏc tiết lớ

thuyết.

Để ỏp dụng cú hiệu quả những biện phỏp này, người giỏo viờn thực sự tõm

huyết, cú tinh thần trỏch nhiệm, dành thời gian nhiều Do học sinh phải thực hiện

phần bài tập ở nhà nhiều nờn giỏo viờn phải thu vở bài tập về nhà để chấm, sửa

cho cỏc em.

Giỏo viờn thường xuyờn hướng dẫn, kiểm tra, theo dừi quỏ trỡnh học sinh làm

bài Điều quan trọng là giỏo viờn biết động viờn, khuyến khớch, tuyờn dương học

Ngày đăng: 01/04/2021, 00:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w