Tuy nhiên giá trị gia tăng trong các sản phẩm dệt may của chúng ta còn thấp nguyên nhân là do việc tham gia vào chuỗi giá trị của các doanh nghiệp dệt may nước ta chủ[r]
Trang 1Một số giải pháp giúp dệt may Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu
Some solutions to boost intense involvement of Vietnam’s Textile - Clothing
industry into the global value-chain
ThS Nguyễn Văn Luân, Trường Đại học Luật Hà Nội Nguyen Van Luan, M.A., Hanoi Law University ThS Lương Thị Thoa, Trường Đại học Luật Hà Nội Luong Thi Thoa, M.A., Hanoi Law University
Tóm tắt
Ngành dệt may luôn là một trong những ngành đi đầu, có vai trò quan trọng trong chiến lược xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra thị trường thế giới Với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu khá cao, ngành dệt may
đã có những đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung ở Việt Nam Những thành tựu này là nhờ doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm, gây dựng và củng cố quan hệ bạn hàng với nhiều nhà nhập khẩu lớn trên thế giới, đồng thời tận dụng hiệu quả nguồn lao động dồi dào, khéo tay, có chi phí thấp Triển vọng của ngành dệt may đang sáng dần, nhất là khi nền kinh tế thế giới đang có dấu hiệu khởi sắc sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu Tuy nhiên giá trị gia tăng của các sản phẩm dệt may nước ta còn thấp, nguyên nhân là do ngành dệt may nước ta mới chỉ dừng công đoạn may gia công là chủ yếu chứ chưa tham gia sâu được vào chuỗi giá trị toàn cầu Bài viết góp phần làm rõ chuỗi giá trị dệt may toàn cầu đồng thời đánh giá việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may nước ta, trên cơ sở đó tác giả đưa ra một số giải pháp giúp ngành dệt may nước ta tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu từ đó nâng cao được giá trị gia tăng của ngành
Từ khóa: dệt may, chuỗi giá trị
Abstract
The textile and garment industry is one of the leading industries, playing an important role in the export strategy of Vietnam's goods to the world market With a high export growth rate, the textile and garment industry has contributed significantly to the growth of merchandise exports in particular and economic growth in general in Vietnam These achievements are due to the fact that the enterprise actively seeks, builds and strengthens its relations with many big importers in the world and at the same time makes full use of abundant, skillful and low cost labor resources The outlook for the textile and garment industry is getting brighter, especially as the world economy is showing signs of recovery after the global financial crisis and economic recession However, the added value of Vietnam's textile and garment products is low, due to the fact that our textile and garment industry has just stopped processing the garment, mainly but not deeply involved in the global value chain This article contributes to the global apparel value chain and assesses the global value chain participation of our textile and garment industry, on which the author provides some solutions to help our textile and garment industry Engage more deeply in the global value chain thereby enhancing the added value of the industry
Trang 2NGUYỄN VĂN LUÂN - LƯƠNG THỊ THOA
1 Đặt vấn đề
Trong những năm qua ngành dệt may
là ngành tiên phong trong chiến lược xuất
khẩu hàng hóa của Việt Nam ra thị trường
thế giới, thu về cho đất nước một lượng
ngoại tệ khổng lồ Khoảng 10 năm trở lại
đây tốc độ tăng trưởng bình quân của
ngành khoảng 30%/năm, trong đó lĩnh vực
xuất khẩu tốc độ tăng trưởng bình quân
24,8%/năm đưa Việt Nam trở thành một
trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng
xuất khẩu dệt may nhanh nhất thế giới.Tuy
nhiên hiệu quả của việc tăng trưởng còn
thấp, giá trị gia tăng của các sản phẩm dệt
may chỉ chiếm khoảng 20% trong tổng kim
ngạch xuất khẩu của ngành, trong khi đó
các chi phí đầu vào liên tục tăng trong thời
gian qua cộng với việc các doanh nghiệp
dệt may nước ta đang bị cạnh tranh quyết
liệt khi một số quốc gia trong khu vực đã
có hàng loạt thay đổi về chính sách hỗ trợ
cho dệt may phát triển đã gây ảnh hưởng
lớn đến khả năng cạnh trạnh của các sản
phẩm dệt may Việt Nam Bên cạnh đó việc
đã và đang gia nhập một loạt hiệp định thương mai tự do - FTA thế hệ mới trong
đó có Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TTP, Hiệp định FTA Việt Nam –
EU (EVFTA) sẽ tạo ra những sức ép cạnh tranh không hề nhỏ cho các doanh nghiệp trong ngành Do vậy để nâng cao giá trị gia tăng trong các sản phẩm và khả năng cạnh tranh khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới đòi hỏi ngành dệt may Việt Nam phải thâm nhập sâu hơn nữa vào chuỗi giá trị chứ không chỉ dừng lại ở khâu gia công - khâu có giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị
2 Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
Theo Kaplinsky & Morri thì chuỗi giá trị bao gồm chuỗi giá trị giản đơn và chuỗi giá trị mở rộng Chuỗi giá trị đơn giản bao gồm bốn hoạt động cơ bản trong một vòng đời sản phẩm là thiết kế và phát triển sản phẩm, sản xuất, marketing và cuối cùng là tiêu thụ và sử dụng
Nguồn: Hand book for vaule chain
Các mối quan hệ trong một chuỗi giá trị đơn giản
Thiết kế
và phát
triển sản
phẩm
Sản xuất:
Đề cập đến quá trình chuyển đổi từ đầu vào thành đầu ra cuối cùng
Marketing
Tiêu thụ và tái sử dụng
Trang 3Chuỗi giá trị mở rộng đưa ra một mô
hình phức tạp hơn mô hình giản đơn rất
nhiều bởi vì nó tính đến cả liên kết thượng
nguồn và liên kết hạ nguồn của doanh
nghiệp, nghĩa là nó tính đến liên kết ngành
dọc trong quá trình từ khi các yếu tố đầu
vào vừa được tạo thành cho đến khi sản
phẩm đến tay người tiêu dùng
Do vậy có thể hiểu chuỗi giá trị toàn
cầu là một chuỗi các hoạt động trong đó
công nghệ được kết hợp với các nguồn
nguyên liệu và lao động Các nguồn đầu
vào này được lắp ráp tạo thành sản phẩm
sau đó được marketing và phân phối ra thị trường Một doanh nghiệp đơn lẻ có thể chỉ là một mắt xích trong dây chuyền này, hoặc cũng có thể được hợp nhất trên phạm
vi rộng Cùng với quá trình toàn cầu hóa, rất ít doanh nghiệp có thể thống lĩnh toàn
bộ chuỗi giá trị nhất là chuỗi giá trị mở rộng Hiện nay các doanh nghiệp dựa vào thế mạnh của mình để tham gia vào chuỗi giá trị bằng cách chuyên môn hóa từng giai đoạn
Đối với ngành dệt may, chuỗi giá trị toàn cầu có đặc điểm do người mua chi phối:
Nguồn: Gereffi và Memodovic, 2003
Mạng lưới ti thị Mạng lưới xuất khẩu
ạng lưới sản xuất Mạng lưới nguyên phụ liệu
Mạng lưới ng n liệ th
Các nhà máy may mặc (thiết kế, cắt, may, đơm nút, ủi
Tất cả các nhà bán lẻ
Các nhà bán lẻ
Châu Á
Các nhà sản xuất h ng ma mặ
Bắc M
Các công ty dệt
Sợi
tổng hợp
Dệt len, dệt kim
Hoá dầu
Sợi (dệt đan, hoàn thiện
Sợi tổng hợp
Các nhà thầu phụ trong nước, exico và v ng vịnh aribe
Các nhà thầu phụ may mặc châu Á
Các nhà thầu phụ nội địa và nước ngoài
Các công ty may mặc có thương hiệu
ác văn phòng mua hàng hải ngoại
Các công ty thương mại
ác đại lý
Các cửa hàng chuyên môn
Hệ thống đại lý tổng hợp
Các chuỗi chiết khấu
…
Bông, len,
lụa v.v
Dầu, khí,
thiên
nhiên
Sợi
thiên
nhiên
Trang 4NGUYỄN VĂN LUÂN - LƯƠNG THỊ THOA
Theo cách tiếp cận này chuỗi giá trị
toàn cầu của doanh nghiệp dệt may được
chia thành 5 khâu cơ bản:
- Khâu cung cấp sản phẩm thô:cung
cấp các nguyên liệu tự nhiên như bông,
len, tơ sợi, Khâu này thường là lợi thế
của các nước có điều kiện tự nhiên thích
hợp với sự phát triển của cây bông, đay
và những ngành trồng dâu nuôi tằm
- Khâu sản xuất sản phẩm đầu vào:
đây là khâu cung cấp các sản phẩm đầu vào
cho quá trình tạo ra các sản phẩm dệt may
Các sản phẩm này bao gồm: nguyên phụ
liệu, máy móc chuyên dụng, công nghệ,…
- Khâu nghiên cứu và phát triển sản
phẩm: đây là khâu nghiên cứu thị hiếu
của khách hàng, xu hướng thời trang của
người tiêu dùng trong từng thời kỳ để từ
đó tạo ra hình dáng cho sản phẩm
- Khâu sản xuất sản phẩm: đây là khâu hoàn tất sản phẩm và do các công ty may đảm nhiệm Công việc chủ yếu của khâu bao gồm cắt may và hoàn thiện sản phẩm do vậy rào cản gia nhập khâu này rất thấp
- Khâu marketing và phân phối: đây
là khâu tìm kiếm thị trường, quảng bá sản phẩm đến với khách hàng Khâu này giúp doanh nghiệp xây dựng được các thương hiệu, định vị hình ảnh của doanh nghiệp trong tâm trí người tiêu d ng và đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng
Ứng dụng lý thuyết đường cong nụ cười, các nhà nghiên cứu đã biểu diễn chuỗi giá trị dệt may thế giới hiện nay gồm 5 khâu chính:
Đồ thị biể diễn giá trị gia tăng ủa h ỗi giá trị dệt ma
Nguồn: Nguyễn Thị Hường (2009), Tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
Giá trị gia tăng
đóng góp vào
sản phẩm
Nguyên liệu thô Nguyên phụ liệu May uất khẩu phân phối S Marketing & huổi giá trị
Trang 53 Thực trạng tham gia vào chuỗi
giá trị toàn cầu của dệt may Việt Nam
Hiện ngành dệt may Việt Nam là một
trong những ngành kinh tế lớn nhất với hơn
6000 doanh nghiệp chủ yếu là doanh
nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI với
trên khoảng 2,5 triệu lạo động1 Cùng với
điện thoại và linh kiện, dệt may là ngành xuất khẩu chủ lực của nước ta trong những năm qua Năm 2016 sản phẩm dệt may của Việt Nam đã xuất khẩu đến hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu đạt 28,05 tỷ đô la chiếm 15,9% kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Nguồn: Tổng cục thống kê
Tuy nhiên giá trị gia tăng trong các sản
phẩm dệt may của chúng ta còn thấp nguyên
nhân là do việc tham gia vào chuỗi giá trị
của các doanh nghiệp dệt may nước ta chủ
yếu mới chỉ dừng lại ở khâu sản xuất - khâu
có giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi
Khâu cung cấp sản phẩm thô:
Ngành trồng bông và kéo sợi là những
ngành quan trọng nhất trong khâu cung cấp
sản phẩm thô và giữ vai trò quyết định đến
khâu sản xuất các sản phẩm đầu vào cho
ngành Thứ nh t về ngành trồng bông, hiện
nay diện tích gieo trồng bông của nước ta khoảng 2,7 nghìn héc ta với sản lượng bông khoảng 1,36 nghìn tấn chỉ đáp ứng được khoảng 2% nhu cầu sản xuất của toàn ngành Nguyên nhân là do Việt Nam không
có lợi thế cạnh tranh tự nhiên và không chú trọng việc trồng bông và sản xuất sơ sợi dẫn đến năng suất bông thấp không thể cạnh tranh về giá cả với các nước có điều kiện tự nhiên thuận lợi
Trang 6NGUYỄN VĂN LUÂN - LƯƠNG THỊ THOA
Sản lượng b ng Việt Nam (từ ni n vụ 2013/2014 đ n ni n vụ 2014/2015)
% tha đổi
ni n vụ 2014/2015 so với ni n vụ 2013/2014
Diện tích gieo trồng (nghìn héc ta 2,5 2,7 8%
Sản lượng hạt bông (nghìn tấn 3,47 3,74 7,7%
Sản lượng bông sợi (nghìn tấn 1,27 1,36 7,7%
Sản lượng (nghìn kiện, 218kg/kiện 5,82 6,25 7,7%
Nguồ : ộ Nô g g iệp v P riể ô g ô , ổ g ụ ố g kê Việ Nam v guồ k
ứ ai về g kéo sợi, trong
khoảng 15 năm trở lại đây Việt Nam là một
trong rất ít các nước đã mở rộng hoạt động
sản xuất ngành kéo sợi, với chỉ 2 triệu cọc
kéo sợi năm 2000 đã tăng lên khoảng 6,1
triệu cọc năm 2014 Năm 2012 cả nước có
khoảng 100 nhà máy kéo sợi với công suất
khoảng 5,1 triệu cọc sợi, tuy nhiên đa phần lại không đảm bảo chất lượng nên chủ yếu
d ng để xuất khẩu hoặc d ng để sản xuất các sản phẩm phụ còn ngành dệt may vẫn phải chủ yếu phụ thuộc vào nguồn liệu nhập khẩu để sản xuất
Tổng q an ng nh dệt ma / ng nh kéo sợi ủa Việt Nam
Sản xuất sợi từ bông và
Lượng vải nhập khẩu (tỷ m2
Nguồ : Hiệp ội sợi Việ Nam (VCOSA)
Khâu sản xuất sản phẩm đầu
vào: Là khâu thứ hai trong chuỗi bao gồm
các công đoạn: sản xuất vải, dệt nhuộm,
sản xuất nguyên phụ liệu và cung cấp máy móc phục vụ cho khâu sản xuất
Thứ nh t về ngành s n xu t v i: năm
Trang 72015 ngành may Việt Nam tiêu thụ 8,7 tỉ
mét vuông vải, thì chỉ có 3 tỉ mét vuông vải
được sản xuất tại Việt Nam2, tương ứng
sản xuất chỉ đáp ứng được khoảng gần
35% nhu cầu tiêu thụ của ngành may mặc
Chính vì vậy, số lượng và kim ngạch nhập khẩu vải của Việt Nam liên tục tăng nhanh trong thời gian qua Nhập khẩu vải bao gồm cả vải thô, vải nhuộm – vải sau công đoạn nhuộm, trong đó, vải màu là chủ yếu
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Kim ngạ h nhậ khẩ vải ủa Việt Nam (đơn vị: triệ USD)
Thứ hai về ngành dệt nhuộm: các công
ty dệt và nhuộm trong nước chỉ đáp ứng
được 11,8% tổng số vải nhuộm, còn lại 6
tỷ mét vải nhuộm phải nhập khẩu Trong
đó, 50% vải nhuộm được nhập khẩu từ
Trung Quốc, phần còn lại từ các quốc gia
Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan,
Ấn Độ, …Thực tế hiện nay dệt may Việt
Nam lại không có nhiều nhà máy nhuộm
đáp ứng được những tiêu chuẩn cần thiết,
năng lực sản xuất lại quá nhỏ nên không
thế đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sản
xuất trong nước Thêm vào đó, đặc thù
ngành may Việt Nam là gia công xuất
khẩu, việc chọn nguyên liệu may phải theo
sự chỉ định của khách hàng, theo những tiêu chuẩn mà đối tác đặt ra và thông thường đối tác chỉ định nguồn nhập khẩu nguyên liệu may hàng Do đó, phân khúc dệt/nhuộm của doanh nghiệp trong nước cũng khó có thể chen chân được để cung cấp các sản phẩm vải nhuộm cho hàng may xuất khẩu
Thứ ba về ngành s n xu t nguyên phụ liệu: Hiện nay, khả năng đáp ứng nhu cầu
phụ liệu may của các cơ sở trong nước còn rất hạn chế Hiện đã có các cơ sở sản xuất một số chủng loại phụ liệu chính cho ngành dệt may như: chỉ may, bông tấm, mếch dính, cúc nhựa, khóa kéo, băng chun,