1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan của người nhiễm hiv đang điều trị arv ở phòng khám ngoại trú bệnh viện đa khoa tỉnh bình dương

108 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước tình trạng trên chúng tôi muốn thựchiện nghiên cứu này nhằm xác định được điểm chất lượng cuộc sống trung bìnhcũng như các yếu tố khác có liên quan đến người nhiễm HIV tại bệnh việ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BÌNH DƯƠNG

Ngành: Y Tế Công Cộng

Mã số: 8720701 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS ĐỖ VĂN DŨNG

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu,kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trongbất kì công trình nào khác

Đề cương đã được chấp thuận về mặt y đức từ Hội đồng Đạo đức trongnghiên cứu y sinh học số 123/HĐĐĐ kí ngày 26/02/2020

Tác giả

Nguyễn Thị Mỹ Diệu

Trang 3

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Mục tiêu tổng quát 3

Mục tiêu cụ thể 4

DÀN Ý NGHIÊN CỨU 5

TỔNG QUAN Y VĂN 6

Chương 1. 1.1 Giới thiệu về HIV 6

1.1.1 Khái niệm cơ bản về HIV 6

1.1.2 Tế bào CD4 6

1.1.3 Tải lượng virus HIV 7

1.1.4 Các giai đoạn của HIV 8

1.1.5 Các đường lây truyền HIV 9

1.1.6 Chẩn đoán và điều trị HIV 10

1.2 Dịch tễ học nhiễm HIV/AIDS 11

1.2.1 Dịch tễ học HIV/AIDS trên thế giới 11

1.2.2 Dịch tễ học HIV/AIDS tại Việt Nam 12

1.3 Chất lượng cuộc sống 14

1.3.1 Định nghĩa về chất lượng cuộc sống 14

1.3.2 Các thang đo chất lượng cuộc sống 15

1.3.3.Thang đo WHOQoL-HIV BREF 16

1.3.4 Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống ở người nhiễm HIV 19

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

Chương 2.

Trang 4

2.1 Thiết kế nghiên cứu 25

2.2 Đối tượng nghiên cứu: 25

2.2.1 Dân số mục tiêu: 25

2.2.2 Dân số chọn mẫu: 25

2.3 Cỡ mẫu 25

2.4 Phương pháp chọn mẫu: 26

2.5 Tiêu chí chọn mẫu: 26

2.5.1 Tiêu chí chọn vào: 26

2.5.2 Tiêu chí loại ra: 26

2.6 Thu thập dữ kiện 26

2.6.1 Phương pháp thu thập dữ kiện 26

2.6.2 Công cụ thu thập dữ kiện 27

2.7 Phương pháp kiểm soát sai lệch 27

2.8 Các biến số cần thu thập 28

2.8.1 Biến số phụ thuộc 28

2.8.2 Biến số độc lập: 31

2.9 Xử lý và phân tích số liệu 36

2.9.1 Nhập liệu và làm sạch số liệu 36

2.9.2 Phân tích số liệu 36

2.10 Vấn đề y đức 37

KẾT QUẢ 39

Chương 3. 3.1 Các đặc điểm về dân số xã hội và quá trình điều trị 39

3.2 Điểm số chất lượng cuộc sống 45

3.2.1 Điểm số chất lượng cuộc sống của từng nội dung 45

3.2.2 Điểm số chất lượng cuộc sống theo từng lĩnh vực 47

Trang 5

3.2 Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống 48

3.2.1 Các mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố đặc điểm dân số và quá trình điều trị 48

3.2.2 Các mối liên quan khi phân tích hồi quy tuyến tính đa biến 55

3.2.3 Tóm tắt các yếu tố liên quan đến các lĩnh vực của điểm trung bình chất lượng cuộc sống 67

BÀN LUẬN 70

Chương 4. 4.1 Điểm số chất lượng cuộc sống 70

4.2 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu và các yếu tố liên quan đến điểm số chất lượng cuộc sống 71

4.2.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 71

4.2.2 Các yếu tố liên quan đến điểm số chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu 76

4.3 Những điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 83

4.3.1 Điểm mạnh 83

4.3.2 Điểm hạn chế 84

4.4 Khả năng khái quát hóa và tính ứng dụng của nghiên cứu 85

KẾT LUẬN 86

ĐỀ XUẤT 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

OPC: Outpatient Clinic (Phòng khám ngoại trú)

TDF: Tenofovir disoproxil fumarate

WHO: World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)

WHOQoL HIV BREF: WHO Quality of Life HIV abbreviated

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 39

Bảng 3.2 Các đặc điểm về tuân thủ điều trị 42

Bảng 3.3 Đặc điểm lâm sàng nhiễm HIV 42

Bảng 3.4 Điểm số chất lượng cuộc sống của từng nội dung 45

Bảng 3.5 Điểm số chất lượng cuộc sống theo từng lĩnh vực 47

Bảng 3.6 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với các đặc điểm nền 48

Bảng 3.7 Mối liên quan giữa các lĩnh vực chất lượng cuộc sống với tuân thủ điều trị 51

Bảng 3.8.Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với các đặc điểm lâm sàng nhiễm HIV 52

Bảng 3.9 Mô hình hồi quy tuyến tính giữa lĩnh vực sức khỏe thể chất với các yếu tố liên quan 55

Bảng 3.10 Mô hình hồi quy đa biến lĩnh vực sức khỏe tinh thần 57

Bảng 3.11 Mô hình hồi quy tuyến tính giữa lĩnh vực mức độ độc lập với các yếu tố liên quan 59

Bảng 3.12 Mô hình hồi quy tuyến tính giữa lĩnh vực quan hệ xã hội với các yếu tố liên quan 61

Bảng 3.13 Mô hình hồi quy tuyến tính giữa lĩnh vực môi trường với các yếu tố liên quan 63

Bảng 3.14 Mô hình hồi quy tuyến tính giữa lĩnh vực niềm tin cá nhân với các yếu tố liên quan 65

Bảng 3.15 Mô hình hồi quy tuyến tính giữa điểm trung bình chất lượng cuộc sống chung với các yếu tố liên quan 65

Bảng 3.16 Tóm tắt các yếu tố liên quan đến điểm chất lượng cuộc sống 67

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) và đại dịch liên quanđến Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) đã gây gánh nặng cho toàncầu với những thách thức nghiêm trọng về sức khỏe cộng đồng và kinh tế xã hội[10]

Tính đến cuối năm 2017, trên thế giới đã có hơn 35 triệu người chết vìAIDS Có khoảng 36,9 triệu người đang phải sống chung với HIV và 1,8 triệungười bị nhiễm mới trên toàn cầu trong năm 2017 [52] Trong khi đó tại ViệtNam, theo báo cáo của Bộ Y Tế cho thấy trong 9 tháng đầu năm 2017 cả nướcphát hiện 6883 trường hợp mới nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển qua giai đoạnAIDS là 3484 người, có 1260 trường hợp tử vong So sánh với số liệu được báocáo năm 2016, cho thấy số trường hợp nhiễm mới giảm khoảng 1,1%, số người

tử vong do AIDS giảm 15% [11] Tuy nhiên số người hiện mắc HIV thì vẫnđang gia tăng hàng năm, để lại một gánh nặng y tế rất lớn cho cộng đồng và xãhội

Sự ra đời của điều trị bằng thuốc kháng virus (ARV) đã thay đổi mạnh mẽ

từ một căn bệnh thế kỉ tiến triển nhanh chóng thành một bệnh mãn tính với việcgiảm tỷ lệ tử vong, nhiễm trùng cơ hội và thời gian nằm viện Với phương phápđiều trị thích hợp, người nhiễm HIV giờ đây có thể có tuổi thọ gần như bìnhthường Tuy nhiên, những người nhiễm HIV lại có chất lượng cuộc sống nhữnglĩnh vực liên quan đến sức khỏe thấp hơn đáng kể so với dân số nói chung, ngay

cả khi phần lớn những người nhiễm HIV có lượng virus dưới ngưỡng phát hiện

và ổn định miễn dịch

Chất lượng cuộc sống là một yếu tố liên quan đến tác động của sức khỏeđối với nhận thức của một cá nhân về sức khỏe và mức độ hoạt động của họ

Trang 9

trong các lĩnh vực quan trọng của cuộc sống Tổ chức Y tế Thế giới tuyên bốSức khỏe là một trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội[50], [51] Phản ánh điều này, chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏethường được khái niệm là có các lĩnh vực thể chất, tinh thần và xã hội Các kháiniệm như độc lập, tâm linh và các yếu tố môi trường cũng được coi là có liênquan Tối ưu hóa chăm sóc cho người nhiễm HIV đòi hỏi sự hiểu biết về các yếu

tố đóng góp cho sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm lý, các mối quan hệ xã hội vàchất lượng cuộc sống Với những đặc điểm này, việc điều tra chất lượng cuộcsống của người nhiễm HIV trở nên cần thiết, đặc biệt là do sự phát triển của cácbệnh nhiễm trùng cơ hội, nhu cầu điều trị bằng thuốc, tăng tuổi thọ và chungsống với căn bệnh kỳ thị Tất cả các khía cạnh này phải được quan sát với cácđặc điểm và thói quen kinh tế xã hội của cuộc sống, để xác định các yếu tố tiêucực góp phần vào chất lượng cuộc sống của người nhiễm

Đánh giá các phương pháp điều trị và can thiệp mới để cải thiện sức khỏeđòi hỏi phải đo được điểm số chất lượng cuộc sống Cải thiện chất lượng cuộcsống là trọng tâm trong việc chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV Cho đến nay

đã có một số đánh giá được thực hiện để xác định và đánh giá các biện pháp đolường chất lượng cuộc sống ở người nhiễm HIV, nhưng chưa có nghiên cứu nàođại diện ở Bình Dương Bình Dương là tỉnh công nghiệp, với 80% dân số là dânnhập cư, là cửa ngõ tiếp giáp với nhiều tỉnh, thành phố có tội phạm ma túy diễnbiến phức tạp Tính đến cuối năm 2018 tại tỉnh Bình Dương có 6947 người phảisống chung với HIV/AIDS trong đó người nhiễm HIV được khẳng định thườngtrú tại Bình Dương 4257 người Và con số này không ngừng tăng lên hàng năm.Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương là nơi có phòng khám đầu tiên điều trị ngoạitrú cho người nhiễm HIV toàn tỉnh Bình Dương kể từ trước năm 2015 với

Trang 10

khoảng hơn 2000 người Kể từ sau năm 2015 với thực trạng quá tải của bệnhviện này cộng với nhu cầu được điều trị gần nhà của người nhiễm HIV, BìnhDương đã dần mở rộng được các cơ sở phòng khám ngoại trú (OPC) ở cáchuyện/thị và chuyển bệnh nhân về các cơ sở điều trị tại địa phương dần san sẻgánh nặng cho OPC tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương Tuy nhiên cho đếnnay số bệnh nhân điều trị tại cơ sở này vẫn chiếm tỉ lệ nhiều nhất trong tổng số

10 cơ sở ngoại trú tại Bình Dương Trước tình trạng trên chúng tôi muốn thựchiện nghiên cứu này nhằm xác định được điểm chất lượng cuộc sống trung bìnhcũng như các yếu tố khác có liên quan đến người nhiễm HIV tại bệnh viện đakhoa tỉnh Bình Dương Để qua đó có thể đưa ra được những chính sách cải thiệnchất lượng cuộc sống phù hợp cho đặc thù những người sống chung vớiHIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú này và đại diện được cho các phòng khámngoại trú khác trên toàn tỉnh Bình Dương

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Điểm chất lượng cuộc sống trung bình của những người nhiễm HIV đangđiều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương năm 2020 là bao nhiêu?Các yếu tố về dân số xã hội, quá trình điều trị có ảnh hưởng đến điểm chất lượngcuộc sống của những người này hay không?

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu tổng quát

Xác định điểm chất lượng cuộc sống trung bình của người nhiễm HIV và

các yếu tố liên quan đến điểm chất lượng sống trung bình của người nhiễm HIVđang điều trị ngoại trú bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương

Trang 11

Mục tiêu cụ thể

1 Xác định điểm chất lượng cuộc sống trung bình theo từng lĩnh vực củathang đo WHOQol – HIV BREF gồm sức khỏe thể chất, sức khỏe tinhthần, mức độ độc lập, quan hệ xã hội, môi trường, niềm tin cá nhân vàđiểm chất lượng cuộc sống chung của người nhiễm HIV đang điều trịngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương

2 Xác định các yếu tố dân số xã hội như tuổi, giới tính, nơi cư trú, hôn nhân,học vấn, nghề nghiệp, tình trạng chung sống liên quan đến điểm số CLCS

ở từng lĩnh vực

3 Xác định mối liên quan giữa điểm CLCS theo từng lĩnh vực với đặc điểmcủa quá trình nhiễm HIV như: đường lây truyền, thời gian nhiễm HIV,thời gian điều trị, tình trạng tuân thủ điều trị

4 Xác định mối liên quan giữa điểm CLCS theo từng lĩnh vực với đặc điểmcủa quá trình điều trị ARV như số lượng CD4, tải lượng vius, bệnh lý kèmtheo

Trang 12

Đặc điểm nhiễm HIV

- Đường lây

- Thời gian nhiễm

- Thời gian điều trị

- Tuân thủ điều trị

Trang 13

TỔNG QUAN Y VĂN

Chương 1

1.1 Giới thiệu về HIV

1.1.1 Khái niệm cơ bản về HIV

HIV là viết tắt của cụm từ tiếng Anh (Human Immunodeficiency Virus)chỉ loại virus gây suy giảm miễn dịch ở người Khi virus này xâm nhập vào cơthể người, chúng sẽ phá hủy dần các tế bào CD4, làm suy yếu chức năng của hệthống miễn dịch làm cho cơ thể mất khả năng chống lại bệnh tật Không giốngnhư các trường hợp nhiễm một số loại virus khác, cơ thể con người không thểloại bỏ hoàn toàn HIV khi HIV đã xâm nhập vào nhân của tế bào, ngay cả khiđiều trị Vì vậy, một khi nhiễm HIV, virus sẽ tồn tại trong cơ thể con người suốtđời [10], [24]

AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh (Acquered Immuno DeficiencySyndrome) nghĩa là Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải Viết tắt theo tiếngPháp là SIDA (Syndrome de Immuno Deficiency Acquise), dùng để chỉ giaiđoạn cuối của quá trình nhiễm HIV Ở giai đoạn này hệ thống miễn dịch của cơthể đã suy yếu nên người nhiễm HIV dễ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội nhưviêm phổi, lao, viêm da, lở loét toàn thân hoặc ung thư, suy kiệt Những bệnhnày nặng dần lên và có thể gây tử vong cho bệnh nhân [10], [20]

1.1.2 Tế bào CD4

Tế bào CD4 là tế bào bạch cầu lympho có chức năng trợ giúp đáp ứngmiễn dịch của cơ thể với vài tác nhân như vi khuẩn, nấm và virus Xét nghiệm tếbào CD4 là xét nghiệm đếm số lượng tế bào CD4 trong một mm3 máu, được viết

là CD4 tế bào/ mm3 Số lượng tế bào CD4 thường thay đổi theo từng cơ địa khácbiệt, tuy nhiên ở người khỏe mạnh, bình thường không bị nhiễm HIV, số lượng

tế bào CD4 có thể dao động từ 500-1200 tế bào CD4/ mm3 máu [10]

Trang 14

Trong khi tế bào CD4 đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại virus,thì HIV có khả năng gây nhiễm cho tế bào CD4 và sử dụng chúng để sản sinh ranhiều bản sao HIV Thậm chí khi người nhiễm HIV cảm thấy rất khỏe mạnh vàkhông có bất kì biểu hiện gì của bệnh tật, thì hàng triệu tế bào CD4 đã bị HIVgây nhiễm và phá hủy từng ngày, và trong khi đó thì hàng triệu tế bào CD4 cũng

đã được sinh ra để thay thế những tế bào bị phá hủy Nếu không được điều trị,HIV dần dần làm giảm số lượng tế bào CD4 trong cơ thể, khiến người bệnh dễ bịnhiễm trùng hoặc ung thư liên quan đến nhiễm trùng khác [12]

1.1.3 Tải lƣợng virus HIV

Tải lượng virus là số lượng HIV trong một đơn vị thể tích (ml) huyếttương của người nhiễm HIV Khi số lượng CD4 là một chỉ số về tình trạng miễndịch và hiệu quả điều trị lên cơ thể, tải lượng virus được cho là biện pháp quantrọng hơn khi bắt đầu điều trị kháng virus để đánh giá hiệu quả điều trị lên virusHIV Tải lượng virus đo nồng độ virus trong máu, thường xét nghiệm này sẽ tínhnhững phần chứa vật chất di truyền của virus [9]

Tải lượng virus HIV có thể dao động từ không thể phát hiện (dưới mứcphát hiện các xét nghiệm hiện hành) đến hàng chục triệu Mục đích của điều trịthuốc kháng virus là làm giảm tải lượng virus, lý tưởng nhất là đến mức khôngthể phát hiện ra trong máu Nói chung, tải lượng virus sẽ được kết luận là “khôngthể phát hiện” nếu nó dưới 200 bản sao trong một mẫu máu của người nhiễmHIV [9]

Vì sự gia tăng tải lượng virus thường là một dấu hiệu của thất bại điều trị,tuân thủ thuốc kém, hoặc cả hai Điều quan trọng cần lưu ý là tuân thủ thuốc ítnhất 95% là cần thiết để đảm bảo ức chế virus đến mức không phát hiện Tuânthủ không đồng đều làm tăng khả năng thất bại điều trị bằng cách cho phép virus

Trang 15

HIV phát triển và tạo ra những chủng virus kháng thuốc mới Mối quan hệ nhânquả này là lý do tuân thủ luôn luôn được kiểm tra trước khi điều trị được thayđổi Kiểm tra thường xuyên số lượng tế bào CD4 và tải lượng virus mỗi 3 - 6tháng, sau đó các tế bào CD4 có thể được kiểm tra mỗi 6 hoặc 12 tháng nếu giữa

350 và 500 tế bào/mm3 máu Bệnh nhân được duy trì số lượng CD4 trên 500 tếbào/mm3 máu được kiểm tra theo chỉ dẫn [9]

1.1.4 Các giai đoạn của HIV

Khi bị nhiễm HIV và không được điều trị, người bệnh sẽ tiến triển qua bagiai đoạn bệnh Thuốc điều trị HIV, được gọi là liệu pháp kháng virus (ARV) ởtất cả các giai đoạn của bệnh nếu dùng theo quy định Điều trị có thể làm chậmhoặc ngăn chặn sự tiến triển từ giai đoạn này sang giai đoạn tiếp theo Ngoài ra,những người nhiễm HIV sử dụng thuốc điều trị HIV theo quy định và kiểm soátđược tải lượng virus dưới ngưỡng phát hiện thực sự không có nguy cơ truyềnHIV quan hệ tình dục cho bạn tình âm tính [3], [20]

Giai đoạn 1: Là giai đoạn sơ nhiễm, còn gọi là giai đoạn nhiễm cấp tính.Trong vòng 2 đến 4 tuần sau khi nhiễm HIV, bệnh nhân có thể bị bệnh giốngcúm, có thể kéo dài trong vài tuần Đây là phản ứng tự nhiên của cơ thể đối vớinhiễm trùng Khi người nhiễm HIV cấp tính, họ có một lượng lớn virus trongmáu và rất dễ lây lan Nhưng những người bị nhiễm trùng cấp tính thường khôngbiết rằng họ bị nhiễm bệnh vì họ có thể không cảm thấy bị bệnh ngay lập tức Đểbiết liệu ai đó có bị nhiễm trùng cấp tính hay không, chẩn đoán sớm nhiễm HIVbằng phương pháp PCR (Polymerase Chain Reaction-phản ứng tổng hợp chuỗidây chuyền) là cần thiết [20]

Giai đoạn 2: Là giai đoạn không triệu chứng còn gọi là giai đoạn mạn tính.Trong giai đoạn này, HIV vẫn hoạt động nhưng sinh sản ở mức thấp và mức độ

Trang 16

phá hủy tế bào CD4 không vượt quá khả năng sản xuất tế bào CD4 của cơ thể.Mọi người có thể không có bất kỳ triệu chứng gì trong thời gian này Đối vớinhững người không dùng thuốc để điều trị HIV, giai đoạn này có thể kéo dài mộtthập kỷ hoặc lâu hơn, nhưng một số có thể tiến triển qua giai đoạn này nhanhhơn Ở những người đang dùng thuốc để điều trị HIV (ARV) tuân thủ điều trị,giai đoạn này có thể kéo dài trong vài thập kỷ Điều quan trọng cần biết là ngườinhiễm HIV vẫn có thể truyền HIV cho người khác trong giai đoạn này Tuynhiên, những người tuân thủ điều trị HIV theo quy định và kiểm soát được tảilượng virus dưới ngưỡng phát hiện thực sự không có nguy cơ lây truyền HIVsang bạn tình âm tính với HIV [3].

Giai đoạn 3: Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) AIDS làgiai đoạn nhiễm HIV nặng nhất Những người bị AIDS có hệ thống miễn dịch bịtổn hại nặng nề đến mức họ mắc phải một số bệnh ngày càng nghiêm trọng,được gọi là bệnh cơ hội Nếu không điều trị, những người bị AIDS thường sốngsót khoảng 3 năm Các triệu chứng phổ biến của AIDS bao gồm ớn lạnh, sốt, đổ

mồ hôi, sưng hạch bạch huyết, yếu và giảm cân Mọi người được chẩn đoán bịAIDS khi số lượng tế bào CD4 của họ giảm xuống dưới 200 tế bào/mm3 hoặcnếu họ phát triển một số bệnh cơ hội nhất định Những người bị AIDS có thể cótải lượng virus cao và rất dễ lây nhiễm [3]

1.1.5 Các đường lây truyền HIV

Lây truyền HIV qua đường tình dục: đây là phương thức lây truyền HIVquan trọng và phổ biến nhất trên thế giới Sự lây truyền HIV qua quan hệ tìnhdục xảy ra khi có sự tiếp xúc trực tiếp với dịch sinh dục và máu của người nhiễmHIV trong quá trình giao hợp Những vết trầy xước nhỏ không thể nhìn thấy

Trang 17

bằng mắt thường trên bề mặt niêm mạc âm đạo, hậu môn, dương vật hay miệng

sẽ là đường vào của HIV trong lúc giao hợp từ đó vào máu [12]

Lây truyền qua máu và chế phẩm của máu: HIV có mặt trong máu toànphần và các chế phẩm của máu như khối hồng cầu, tiểu cầu, huyết tương, cácyếu tố đông máu Do đó HIV có thể lây qua đường máu, khi có tiếp xúc trực tiếpvới máu hay các sản phẩm của máu của người nhiễm HIV Nguy cơ lây truyềnHIV qua truyền máu có tỉ lệ rất cao, trên 90% [13]

Lây truyền HIV từ mẹ sang con: Nếu không can thiệp tỉ lệ lây nhiễm HIV

từ mẹ sang con có thể từ 25-40% tùy theo các nghiên cứu khác nhau Nồng độHIV trong huyết tương mẹ, những tai biến, biến chứng lúc sinh là những yếu tốchính làm tăng nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con [2]

1.1.6 Chẩn đoán và điều trị HIV

Mục đích của điều trị HIV/AIDS là ức chế sự sinh sôi của virus HIV trong

cơ thể và kiểm soát tải lượng vius trong máu bệnh nhân dưới ngưỡng phát hiện.Thuốc ARV ngăn ngừa HIV nhân lên, làm giảm lượng HIV trong cơ thể (còn gọi

là tải lượng virus) Mục tiêu chính của ARV là giảm tải lượng virus của mộtngười xuống mức không thể phát hiện Một tải lượng virus không thể phát hiện

có nghĩa là mức độ HIV trong máu quá thấp để được phát hiện bởi một xétnghiệm tải lượng virus Những người nhiễm HIV duy trì tải lượng virus khôngphát hiện được thực sự không có nguy cơ truyền HIV sang bạn tình âm tính vớiHIV thông qua quan hệ tình dục [2]

Người nhiễm HIV được đề nghị tham gia vào chương trình điều trị kể từkhi có kết quả xét nghiệm khẳng định HIV dương tính, không phụ thuộc vào giaiđoạn lâm sàng và số lượng tế bào CD4 Người bệnh cần tuân thủ điều trị tốt để

ức chế sự nhân lên của HIV, giảm nguy cơ xuất hiện HIV kháng thuốc ARV và

Trang 18

thất bại điều trị cải thiện tình trạng lâm sàng và miễn dịch, giảm nguy cơ lâytruyền HIV sang người khác Phát hiện tình trạng nhiễm HIV và điều trị ngay đểtải lượng virus dưới ngưỡng phát hiện thôi là chưa đủ mà còn cần duy trì kết quảdưới ngưỡng phát hiện đó trong toàn bộ quá trình điều trị HIV bằng cách tuânthủ các quy tắc trong điều trị Tuân thủ điều trị thuốc ARV là việc người bệnhuống đúng thuốc, đúng liều, đúng giờ, đúng cách theo chỉ định của thầy thuốc,đến khám và làm xét nghiệm theo lịch hẹn [13], [20].

Việc tuân thủ điều trị làm cho lượng bản sao virus HIV trong máu sẽ được

ức chế dưới ngưỡng phát hiện, từ đó phòng ngừa được các bệnh nhiễm trùng cơhội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nhiễm HIV Hạn chế được việcxuất hiện các chủng HIV kháng thuốc và thất bại điều trị Tiết kiệm được ngânsách cho chính bản thân gia đình người nhiễm, và xã hội [12]

1.2 Dịch tễ học nhiễm HIV/AIDS

1.2.1 Dịch tễ học HIV/AIDS trên thế giới

Tính đến cuối năm 2017, có khoảng 36,9 triệu người sống chung với HIVtrong đó bao gồm 1,8 triệu trẻ em, với tỷ lệ nhiễm HIV toàn cầu là 0,8% ở ngườitrưởng thành Kể từ khi dịch bệnh bắt đầu, trải qua hơn 30 năm đối phó với HIVđến nay ước tính có khoảng 77,3 triệu người đã bị nhiễm HIV và 35,4 triệungười đã chết vì các bệnh liên quan đến AIDS Năm 2017 có 940 ngàn ngườichết vì các bệnh liên quan đến AIDS Con số này đã giảm hơn 51% (khoảng 1,9triệu) kể từ mức đỉnh năm 2004 [47]

Đa số những người nhiễm HIV tập trung chủ yếu tại các quốc gia có thunhập thấp và trung bình là vùng Hạ Sahara, Nam Á và Đông Nam Á, với khoảng66% sống ở châu Phi cận Sahara Trong số này, 19,6 triệu người đang sống ởĐông và Nam Phi [47]

Trang 19

Đã có nhiều lo ngại rằng số lượng người nhiễm mới hàng năm ở nhữngngười trưởng thành vẫn còn duy trì trong những năm gần đây Năm 2017, cókhoảng 1,8 triệu ca nhiễm HIV mới trên toàn thế giới, và số liệu này không hềgiảm và gần như tương đương so với năm 2016 Các trường hợp nhiễm HIV mới

ở trẻ em trên toàn cầu cũng đã giảm, từ 270.000 trong năm 2010 xuống còn180.000 vào năm 2017 (35%) Nhìn chung về bức tranh tổng thể của dịch AIDStoàn cầu trong 30 năm qua có vẻ như đã ổn định Số người nhiễm mới HIV hàngnăm giảm xuống một cách hằng định kể từ cuối những năm 1990 Mặc dù sốnhiễm mới đang giảm, nhưng mức độ nhiễm mới nhìn chung vẫn cao [47]

Trong năm 2017 có 21,7 triệu người nhiễm HIV đã được điều trị bằngthuốc kháng virus, chiếm 59% tất cả những người nhiễm HIV Trong số đó, 47%được ức chế về mặt virus Tuy nhiên, mức độ điều trị tăng lên vẫn chưa đủ để thếgiới đáp ứng mục tiêu toàn cầu của 30 triệu người đang điều trị vào năm 2020[48]

Ở châu Á có 5,2 triệu người đang sống chung HIV vào năm 2017, dịchHIV ở châu Á cũng tương đối ổn định, số này cũng tương tự như cách đây 5 năm

về trước Thái Lan là quốc gia duy nhất trong khu vực có tỉ lệ hiện mắc trên 1%của dân số Tại Việt Nam tỷ lệ này là 0,40% [52] Không có quốc gia nào trongkhu vực có dịch HIV lan rộng Tại hầu hết các quốc gia châu Á, dịch HIV vẫncòn tập trung chủ yếu ở những người tiêm chích ma túy, mại dâm và khách hàngcủa họ, và người quan hệ tình dục đồng giới nam

1.2.2 Dịch tễ học HIV/AIDS tại Việt Nam

Qua gần 30 năm kể từ ca nhiễm đầu tiên được phát hiện vào năm 1990, cóthể thấy công tác phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam đang dần đạt được mụctiêu chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn

Trang 20

2030 [15] Tại Việt Nam, tính đến cuối năm 2017, theo báo cáo của Bộ Y Tế,toàn quốc có khoảng 250.000 người đang sống với HIV Điều trị ARV đượctriển khai tất cả 63 tỉnh/thành phố, với 401 phòng khám điều trị ngoại trú ARV[11].

Tỉ lệ nhiễm HIV ở người tiêm chích ma túy là 14%, ở phụ nữ bán dâm là3,7% và ở nam quan hệ tình dục đồng giới 12,2% [11] Dịch HIV ở Việt Nambao gồm nhiều hình thái dịch khác nhau ở các địa phương trong cả nước Mặc dù

tỷ lệ hiện mắc trong cả nước là thấp, tỷ lệ hiện mắc trong các quần thể nguy cơcao nhất định bao gồm người tiêm chích ma túy, mại dâm và đồng tính nam caohơn nhiều Dịch HIV/AIDS vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong cộng đồng, nhữngnơi được đầu tư mạnh của các tổ chức quốc tế vẫn còn có thể phát hiện thêmnhiều người nhiễm HIV

Số người nhiễm HIV mới trong năm 2017 là 6883 trường hợp, số bệnhnhân chuyển sang giai đoạn AIDS là 3484 trường hợp, số bệnh nhân tử vong doAIDS là 1260 trường hợp [11] Mặc dù số nhiễm mới có giảm, nhưng số ngườihiện nhiễm HIV ngày càng gia tăng, và người nhiễm HIV còn sống ở Việt Namtập trung chủ yếu là nhóm nam thanh niên dưới 39 tuổi

Tính đến cuối năm 2017, 100% số tỉnh, thành phố đã có người nhiễmHIV/AIDS Những vùng tập trung là những vùng có nhiều lây truyền HIV xảy rabao gồm Hà Nội, Điện Biên, Hải Phòng, Khánh Hòa, thành phố Hồ Chí Minh vàcác tỉnh lân cận Lây truyền qua quan hệ tình dục khác giới thường liên quan đếnmại dâm và người mua dâm, phổ biến hơn ở các tỉnh giáp biên giới vớiCampuchia

Trang 21

1.3 Chất lƣợng cuộc sống

1.3.1 Định nghĩa về chất lƣợng cuộc sống

Hiến chương của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa sức khỏe là

"Trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội không chỉ đơnthuần là không có bệnh tật " Định nghĩa này khẳng định được tầm quan trọngcủa việc đo lường sức khỏe và ảnh hưởng của chăm sóc sức khỏe không chỉ baogồm sự thay đổi về tần suất và mức độ nghiêm trọng của bệnh mà còn được đánhgiá bằng cách đo lường sự cải thiện chất lượng cuộc sống liên quan, các yếu tố

họ với các đặc điểm nổi bật của môi trường Chất lượng cuộc sống có thể bị thayđổi khi các yếu tố dân số xã hội thay đổi như tuổi, giới, bệnh tật và quá trìnhchăm sóc điều trị bệnh tật [20]

Trong xã hội ngày nay, chất lượng cuộc sống còn được gắn liền với môitrường và sự an toàn của môi trường Một cuộc sống sung túc là cuộc sống đượcđảm bảo bởi những nguồn lực cần thiết, như cơ sở hạ tầng hiện đại, các điều kiệnvật chất và tinh thần đầy đủ Đồng thời, con người phải được sống trong một môitrường tự nhiên trong lành, bền vững, không bị ô nhiễm; một môi trường lànhmạnh và bình đẳng, không bị ảnh hưởng bởi các tệ nạn xã hội Từ sự phân tích

Trang 22

trên chúng ta có thể đi đến một khái niệm tổng quát: Chất lượng cuộc sống thểhiện ở mức sung túc về kinh tế, con người có giáo dục, sống khỏe mạnh vàtrường thọ, được sống trong môi trường tự nhiên, xã hội, an toàn, bình đẳng vàđược tôn trọng.

Đối với ngành y tế, chất lượng cuộc sống là một chỉ số đầu ra quan trọngtrong đánh giá hiệu quả của các can thiệp và chương trình y tế Đo lường sự thayđổi về chất lượng cuộc sống của người bệnh là những bằng chứng cần thiết trongquá trình đánh giá hiệu quả can thiệp, và đóng góp đáng kể vào quy trình quản lýbệnh nhân và phân bổ nguồn lực

Trong nghiên cứu HIV, đo lường chất lượng cuộc sống đang được sử dụngngày càng nhiều trong những năm gần đây, đặc biệt khi HIV/AIDS đang dầnđược nhìn nhận như một căn bệnh mãn tính cần được điều trị lâu dài [6] Đánhgiá của chất lượng cuộc sống giúp bổ sung thêm cho các đo lường truyền thống

về bệnh tật và tử vong liên quan đến HIV Chất lượng cuộc sống được chứngminh là có liên quan tới các đặc điểm lâm sàng và miễn dịch của bệnh nhânHIV/AIDS, bao gồm nhiễm trùng cơ hội, tình trạng miễn dịch và tải lượng vi rút[40], [41] Hơn nữa, chất lượng cuộc sống còn bao gồm các khía cạnh rộng lớnhơn của bệnh nhân sống chung với HIV/AIDS, như tâm lý, quan hệ giữa các cánhân, xã hội, và môi trường [9], [10] Do đó, đo lường chất lượng cuộc sống cóthể phản ánh tốt hơn sự thay đổi và hiệu quả điều trị ở bệnh nhân HIV/AIDS

1.3.2 Các thang đo chất lƣợng cuộc sống

Thang đo chất lượng cuộc sống được chia làm 2 nhóm chính: Gồm thang

đo chất lượng cuộc sống tổng quát là thang đo được sử dụng chung cho cộngđồng để đo lường tình trạng sức khỏe không phân biệt là có bệnh hay khôngbệnh hoặc sử dụng trên dân số có bệnh nhưng không phân biệt loại bệnh như:

Trang 23

WHOQoL-BREF [49] The quality of life abbreviated Questionnaire

đo chất lượng cuộc sống ở người nhiễm HIV:

HAT-QoL [53] HIV/AIDS – Targeted Quality of LifeMqoL-HIV [38] Multidimensional Quality of Life HIVWHOQoL-HIV [18] WHO Quality of Life HIV/AIDSWHOQoL-BREF [49] WHO Quality of Life abbreviatedWHOQoL-HIV BREF [19] WHO Quality of Life HIV abbreviated

Có nhiều thang đo để đánh giá chất lượng cuộc sống của người nhiễmHIV, tuy nhiên đa số các thang đo đều phải tốn chi phí Với mục đích đánh giáchất lượng cuộc sống của người nhiễm HIV, không đi sâu vào can thiệp nênchúng tôi quyết định chọn thang đo WHOQoL-HIV BREF được phát triển miễnphí và được WHO khuyến cáo sử dụng rộng rãi trên thế giới

1.3.3.Thang đo WHOQoL-HIV BREF

1.3.3.1 Đặc điểm của thang đo WHOQoL-HIV BREF

Thang đo WHOQoL-HIV BREF là bộ công cụ được phát triển năm 2002,được chuẩn hóa và sử dụng rộng rãi trên thế giới Gồm 31 câu hỏi chia thành 6lĩnh vực:

Trang 24

Sức khỏe thể chất: mô tả 4 phía cạnh, đau và khó chịu, giấc ngủ và nghỉ ngơi,

năng lượng hoạt động, suy giảm về sức khỏe liên quan đến HIV

Sức khỏe tinh thần: mô tả 5 khía cạnh, cảm giác tích cực, sự tập trung suy nghĩ,

hài lòng về ngoại hình, hài lòng về bản thân và cảm xúc tiêu cực

Mức độ độc lập: được mô tả dưới 4 khía cạnh, hỗ trợ y tế về thuốc và điều trị,

khả năng đi lại, hoạt động trong cuộc sống, khả năng làm việc nhóm

Quan hệ xã hội: được mô tả ở 4 khía cạnh, mối quan hệ cá nhân, hoạt động tình

dục, hòa nhập xã hội, hỗ trợ xã hội

Môi trường: mô tả về 8 khía cạnh, cảm giác an toàn, môi trường sống xung

quanh, nguồn tài chính, tiếp cận dịch vụ sức khỏe, tiếp cận các nguồn thông tin,tham gia hoạt động xã hội, điều kiện tại nơi sinh sống, phương tiện đi lại

Niềm tin cá nhân: được mô tả dưới 4 khía cạnh, niềm tin cá nhân, sợ hãi về

tương lai, cảm thấy bị đổ lỗi, lo lắng về cái chết

Mỗi câu hỏi sử dụng thang đo Likert gồm 5 mức độ, tăng dần từ 1 đến 5 điểmvới điểm số cao hơn đại diện cho chất lượng sống tốt hơn

1.3.3.2 Độ tin cậy và tính giá trị của thang đo WHOQoL-HIV BREF

Độ tin cậy và tính giá trị của thang đo WHOQoL-HIV BREF đã đượcđánh giá qua nhiều nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam Dưới đây là một sốnghiên cứu đã đánh giá độ tin cậy và tính giá trị của bộ công cụ WHOQoL-HIVBREF:

Một nghiên cứu nhằm xác định tính hợp lệ và độ tin cậy của HIV BREF ở Malaysia đã thực hiện trên 157 bệnh nhân nhiễm HIV Kết quả chothấy hệ số Cronbach’s alpha dao động từ 0,70 đến 0,83 trong năm lĩnh vực: sứckhỏe thể chất, tâm linh, mối quan hệ xã hội, tâm lý và môi trường Mối tươngquan đáng kể đã được tìm thấy giữa mỗi các đặc điểm nền và các câu hỏi về sức

Trang 25

WHOQoL-khỏe nói chung Hệ số tương quan nội bộ (ICC) dao động từ 0,60 đến 0,87 trêntất cả các lĩnh vực Nghiên cứu này đã đưa ra kết luận rằng, phiên bản chuyểnngữ Malaysia của WHOQoL-HIV BREF là một công cụ hợp lệ và đáng tin cậy

để đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân nhiễm HIV [42]

Một nghiên cứu khác thực hiện trên 1196 bệnh nhân dương tính với HIVnhằm đánh giá độ tin cậy của bộ công cụ WHOQoL-HIV BREF tại Bồ Đào Nha

đã cho thấy cho thấy tính nhất quán bên trong của bộ câu hỏi Cronbach’s alphadao động 0,6 - 0,80 trên các lĩnh vực Nghiên cứu cũng kết luận rằng công cụnày cho thấy là một thước đo đa dạng về chất lượng cuộc sống, đặc biệt hữu íchkhi đánh giá được tác động của HIV không chỉ đối với sức khỏe thể chất và tâm

lý mà còn đối với một số lĩnh vực ngoài sức khỏe [22]

Tại Trung Quốc, một nghiên cứu cắt ngang trên 1100 người nhiễm HIV đãđược thực hiện nhằm đánh giá độ tin cậy của WHOQoL-HIV BREF phiên bảntiếng Trung Nghiên cứu đã cho thấy rằng hệ số Cronbach’s alpha cho thang đotổng thể là 0,93 Ngoại trừ lĩnh vực niềm tin (0,66), các lĩnh vực còn lại đều chothấy sự thống nhất đầy đủ Độ tin cậy cho thấy hệ số tương quan có ý nghĩathống kê là 0,72-0,82 (p <0,001) Các hệ số tương quan luôn lớn hơn 0,40 (r =0,40-0,67) Nghiên cứu cũng kết luận rằng WHOQoL-HIV BREF phiên bảntiếng Trung phù hợp với các đặc điểm tâm sinh lý của người Trung Quốc Nhữngphát hiện này cung cấp hỗ trợ đầy hứa hẹn cho việc sử dụng WHOQoL-HIVBREF như một thước đo chất lượng cuộc sống cho người nhiễm HIV tại TrungQuốc và trong các nghiên cứu so sánh đa văn hóa về chất lượng cuộc sống [56]

Trong một nghiên cứu nhằm kiểm tra độ tin cậy và giá trị của thang đoWHOQoL-HIV BREF tại Đài Loan Đã thực hiện thu thập dữ liệu 680 người ởĐài Loan bị nhiễm HIV; những người tham gia nghiên cứu này được phát hiện

Trang 26

có tuổi trung bình là 36,3 ± 10,1 tuổi Dựa trên kết quả của nghiên cứu về cácđặc tính tâm lý (độ tin cậy và tính hợp lệ) của WHOQoL-HIV BREF, kết quảcho thấy rằng tính nhất quán bên trong (Cronbach's alpha) dao động trongkhoảng 0,67 đến 0,80 trên các lĩnh vực của sức khỏe thể chất, mức độ độc lập,sức khỏe tâm lý, niềm tin, quan hệ xã hội và sức khỏe môi trường Nghiên cứucũng kết luận rằng công cụ thể hiện nội dung tốt, phù hợp với người nhiễm HIVtại Đài Loan Những phát hiện của nghiên cứu này cung cấp bằng chứng mạnh

mẽ về cả độ tin cậy và hiệu lực của WHOQoL-HIV BREF để sử dụng rộng rãitrong đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nhiễm HIV ở Đài Loan [32]

Tại Việt Nam, một nghiên cứu được thực hiện trên 1196 người nhiễm tại 3vùng dịch tễ lớn là Hà Nội, Hải Phòng và Thành Phố Hồ Chí Minh đã cho thấy

hệ số Cronbach’s alpha dao động từ 0,61-0,8 cho tất cả các lĩnh vực của bộ câuhỏi WHOQoL-HIV BREF phiên bản tiếng Việt Điều đó đã thể hiện được tínhgiá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi, và bộ câu hỏi có thể được sử dụng rộng rãi

để đánh giá chất lượng cuộc sống của người nhiễm HIV tại Việt Nam [21]

1.3.4 Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống ở người nhiễm HIV

1.3.4.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của Yvonne và cộng sự được thựchiện tại bệnh viện Kramat, Jakarta, Indonesia tiến hành nghiên cứu cắt ngangtrên 128 bệnh nhân đang điều trị kháng virus Sử dụng bộ thang đo WHOQoL-BREF bằng cách phỏng vấn trực tiếp Kết quả cho thấy điểm trung bình trongbốn lĩnh vực của chất lượng cuộc sống theo thứ tự giảm dần là tâm lý (72,27),sức khỏe thể chất (70,10), môi trường (65,59) và các mối quan hệ xã hội (64,44)

Có sự khác biệt đáng kể về chất lượng cuộc sống tổng thể và sức khỏe chunggiữa mức CD4 thấp hơn và cao hơn Bệnh nhân có tải lượng virus không phát

Trang 27

hiện được có sức khỏe tốt hơn và những bệnh nhân điều trị ARV trên 1 năm cóchất lượng sống tổng thể tốt hơn Nghiên cứu khuyến nghị rằng mức CD4 caohơn, tải lượng virus không phát hiện được và điều trị ARV dài hơn sẽ tăng chấtlượng cuộc sống của bệnh nhân, chất lượng cuộc sống cao hơn sẽ khiến bệnhnhân có khả năng đối phó với bệnh tật Vì vậy, chất lượng cuộc sống tốt có thểđược coi là mục tiêu điều trị HIV để có được thành công của ARV trị liệu [30].

Một nghiên cứu cắt ngang trên 158 người sống chung với HIV/AIDS ởGhana của James và cộng sự thực hiện năm 2017 đã sử dụng bộ công cụWHOQoL-HIV BREF để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Có 88người (55,70%) từ Bệnh viện khu vực Volta và 70 (44,30%) từ Bệnh viện thànhphố Ho Có 42 nam (26,58%) và nữ 116 (73,42%) Kết quả cho thấy chất lượngcuộc sống thấp nhất ở lĩnh vực sức khỏe tâm thần, và cao nhất là lĩnh vực mốiquan hệ xã hội Nam giới có chất lượng cuộc sống tinh thần kém hơn so với cácđối tác nữ của họ Bệnh nhân HIV/AIDS không hoạt động tình dục có chất lượngcuộc sống kém hơn đáng kể so với bệnh nhân hoạt động tình dục Nói chung, làmột người đàn ông nhiễm HIV, có triệu chứng, không hoạt động tình dục hoặckhông được điều trị ARV có chất lượng cuộc sống kém hơn trong một số lĩnhvực Nghiên cứu đã đưa ra các biện pháp về tình trạng sức khỏe có thể giúp cungcấp một phương pháp khả thi, đáng tin cậy và hợp lệ để đánh giá tác động củaHIV/AIDS và các can thiệp quản lý trong tương lai để cải thiện kết quả của bệnhnhân Tác giả cho rằng cần có những nghiên cứu sâu hơn để thiết lập mối quan

hệ nhân quả [40]

Nghiên cứu cắt ngang của tác giả Shriharsha và cộng sự được thực hiệnvào năm 2017 trên 450 mẫu thuận tiện được thu thập tại phòng khám ngoại trúARV tại bệnh viện huyện Bagalkot, Karnataka, Ấn Độ Nghiên cứu nhằm tìm

Trang 28

hiểu mối tương quan giữa chất lượng cuộc sống và trầm cảm Bộ công cụ đánhgiá chất lượng cuộc sống WHOQoL-HIV BREF được chuyển ngữ sang tiếngKanada và sau đó được dịch lại sang tiếng Anh Trầm cảm được đánh giá bằngthang đo CES-D Kết quả cho thấy nam có chất lượng cuộc sống tốt hơn nữ Mặtkhác, trình độ học vấn thấp (tiểu học), có vợ nhiễm HIV, có con nhiễm HIV,nhiễm HIV thông qua các mối quan hệ đồng tính, có tiền sử tự tử và uống rượucũng có chất lượng cuộc sống thấp hơn Nghiên cứu cũng tìm thấy được mốitương quan giữa trầm cảm và chất lượng cuộc sống của người nhiễm Một mốitương quan tiêu cực đáng kể đã được tìm thấy giữa trầm cảm và chất lượng cuộcsống chung Nghiên cứu kết luận rằng trầm cảm là yếu tố chính làm cho chấtlượng cuộc sống thấp ở những người nhiễm HIV Vì vậy cần nỗ lực để điều trịtrầm cảm hoàn toàn để tăng cường chất lượng cuộc sống của họ [43].

1.3.4.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Nghiên cứu của tác giả Trần Xuân Bách và cộng sự năm 2012 thực hiệntrên 1016 bệnh nhân HIV/AIDS tại 3 thành phố lớn của Việt Nam là Hà Nội, HảiPhòng và Thành phố Hồ Chí Minh với mục tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống

và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân HIV/AIDS đang điều trị bằng thuốc khángvirus Thiết kế nghiên cứu cắt ngang phỏng vấn trực tiếp bằng bộ công cụ đolường chất lượng cuộc sống WHO-HIV BREF Kết quả cho thấy chất lượngcuộc sống của những người nhiễm HIV không cao, cao nhất là lĩnh vực môitrường sống (13,8 ± 2,8) và quan hệ xã hội có điểm số thấp nhất (11,2 ± 3,3).Những người sống ở xa trung tâm thì có chất lượng cuộc sống thấp hơn, và ítđược hỗ trợ về y tế hơn Các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến chất lượng cuộcsống của bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS, bao gồm tình trạng kinh tế xã hội (giớitính, giáo dục, việc làm và thu nhập), giai đoạn HIV/AIDS, số lượng tế bào CD4

Trang 29

và thời gian điều trị ARV Ưu điểm của nghiên cứu là thực hiện được trên 3thành phố lớn đại diện cho 3 vùng miền của Việt Nam, nghiên cứu cũng đã đánhgiá được độ tin cậy và tính giá trị của thang đo WHO-HIV BREF phiên bản tiếngviệt [21].

Năm 2013 Huỳnh Ngọc Vân Anh và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứutheo dõi dọc nhằm đánh giá sự thay đổi chất lượng sống và những yếu tố ảnhhưởng đến chất lượng sống theo thời gian ở những người nhiễm HIV đang điềutrị ARV tại An Hòa, Quận 6, Hồ Chí Minh Đối tượng tham gia nghiên cứu đượctheo dõi và đánh giá tình trạng sức khỏe ba lần: lần đầu, lần thứ hai cách lần thứnhất 1 tháng và lần thứ ba cách lần thứ hai 2 tháng Chọn mẫu thuận tiện trên

250 người bằng bộ câu hỏi tự điền theo thang đo WHOQoL-HIV BREF Kết quảcho thấy điểm chất lượng cuộc sống chung ở các thời điểm không khác nhaunhiều (T0 là 12,9 ± 2,2, và T3 là 12,9 ± 2,3), và nhìn chung điểm trung bình vềchất lượng cuộc sống không cao Điểm trung bình ở mức độ độc lập là thấp nhất,trong khi về sức khỏe thể chất hay niềm tin cá nhân có điểm trung bình cao nhất.Điểm trung bình có giảm ở lĩnh vực sức khỏe thể chất, mức độ độc lập, môitrường sống sau một tháng Trong khi lĩnh vực sức khỏe thể chất, môi trườngsống và chất lượng sống chung lại tăng ở thời điểm 3 tháng so với thời điểm 1tháng Tuy nhiên chưa tìm thấy sự thay đổi có ý nghĩa thống kê về điểm trungbình ở tất cả các lĩnh vực trong thang đo chất lượng sống Thu nhập đều đặn liênquan đến mức độ độc lập và chất lượng sống chung, những người có thu nhậpđều đặn thì có điểm trung bình cao hơn những người không có thu nhập đều.Những người thuộc kinh tế gia đình không khó khăn có điểm trung bình cao hơnnhững người có kinh tế gia đình khó khăn Bệnh gan đi kèm có liên quan đến tất

cả các lĩnh vực trong thang đo chất lượng sống Những người không mắc bệnh đi

Trang 30

kèm có điểm trung bình cao hơn Nghiên cứu cho rằng cần giúp người nhiễmHIV có cuộc sống độc lập, cụ thể là tạo công ăn việc làm cho người nhiễm, đây

là một trong những giải pháp làm giảm nhẹ gánh nặng cho xã hội, gia đình vàbản thân người nhiễm Tuy nhiên nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế đáng chú ýnhư kĩ thuật lấy mẫu thuận tiện, thời gian theo dõi ngắn chưa đủ để thấy đượcnhững thay đổi về chất lượng sống của người nhiễm HIV [1]

Nghiên cứu cắt ngang của Lê Văn Học và cộng sự thực hiện năm 2014 tạiBệnh viện Nhân Ái với 131 người từ 18 tuổi trở lên cũng cho thấy chất lượngcuộc sống chung của người nhiễm HIV đang điều trị ARV thấp Điểm số trungbình chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng thang đo WHOQoL-BREF quahai lần điều tra cách nhau 1 tháng Tuy nhiên ở nghiên cứu này cho thấy một sựkhác biệt so với nghiên cứu của tác giả Vân Anh Kết quả nghiên cứu cho thấymức độ độc lập có điểm trung bình là cao nhất 13,16 ± 2,69 Kế đến là niềm tin

cá nhân 12,59 ± 2,73 và thấp nhất là sức khỏe thể chất 11,66 ± 2,91 Nghiên cứucũng kết luận rằng sự thay đổi về điểm chất lượng cuộc sống qua hai lần điều tracách nhau 1 tháng có ý nghĩa thống kê với p< 0,001; KTC 95% 0,03 – 0,12, nhưvậy chất lượng cuộc sống càng về sau càng được cải thiện Nghiên cứu cũng kiếnnghị rằng bệnh viện phải thường xuyên tiến hành điều tra điểm chất lượng sốngcho bệnh nhân HIV/AIDS và xem như là một trong những kiểm nghiệm cuốicùng về chất lượng chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tạibệnh viện [6]

Năm 2015, tác giả Quách Thị Minh Phượng [8] đã sử dụng thiết kế nghiêncứu cắt ngang mô tả trên 203 bệnh nhân của bệnh viện Nhiệt đới, với tiêu chíđưa vào là bệnh nhân đủ 18 tuổi và đồng ý tham gia nghiên cứu Nghiên cứu sửdụng thang đo WHOQoL- HIV BREF Kết quả cho thấy phần lớn đối tượng

Trang 31

tham gia nghiên cứu là nam giới chiếm hơn 60% Độ tuổi trung bình của dân sốtrong nghiên cứu này 35,5 ± 8,1 Thời gian nhiễm HIV chủ yếu từ 3 năm trở lên,

và phần lớn có số lượng tế bào CD4 >200 tế bào/mm3 Nghiên cứu cho thấyđiểm chất lượng cuộc sống trung bình của đối tượng nghiên cứu cũng không cao,cao nhất ở lĩnh vực sức khỏe thể chất, và thấp nhất ở lĩnh vực quan hệ xã hội.Nghiên cứu kết luận rằng nhóm nữ giới, kinh tế gia đình khó khăn, sử dụng chấtgây nghiện, số lượng CD4 thấp và chịu tác dụng phụ của ARV liên quan tới chấtlượng cuộc sống và có chất lượng cuộc sống kém hơn Điểm mạnh của nghiêncứu là sử dụng mô hình hồi quy đa biến đề loại trừ được các yếu tố gây nhiễutiềm tàng Tuy nhiên cũng như các nghiên cứu khác, cắt ngang là một hạn chếcủa đề tài, hạn chế khả năng suy diễn nhân quả

Trang 32

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2

2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu Cắt ngangĐịa điểm nghiên cứu: Phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh BìnhDương

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2020 đến tháng 7/2020

2.2 Đối tượng nghiên cứu:

2.2.1 Dân số mục tiêu:

Người nhiễm HIV đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện

Đa khoa tỉnh Bình Dương

2.2.2 Dân số chọn mẫu:

Người nhiễm HIV đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện

Đa khoa tỉnh Bình Dương trong thời gian nghiên cứu được thực hiện

Z1-α/2 : trị số từ phân phối chuẩnDựa theo nghiên cứu của Quách Thị Minh Phượng sử dụng bộ câu hỏiWHOQoL HIV BREF đo lường chất lượng cuộc sống trên người nhiễm HIV

Trang 33

đang điều trị ARV cho thấy điểm số chất lượng cuộc sống trung bình của cáclĩnh vực sức khỏe thể chất là 14,8 ±2,9.

Chọn 2,9 Z1-α/2 = 1,96 d = 0,4Vậy cỡ mẫu tối thiểu cần là 202 người Dự trù mất mẫu 10% ta tính được

cỡ mẫu cần thiết là 222 người

2.4 Phương pháp chọn mẫu:

Chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện Những đối tượng đến khám vàđiều trị tại khu khám bệnh của phòng khám ngoại trú bệnh viện Đa khoa tỉnhBình Dương đủ tiêu chí được chọn vào nghiên cứu cho đến khi đủ số mẫu cầnthiết

2.5 Tiêu chí chọn mẫu:

2.5.1 Tiêu chí chọn vào:

Bệnh nhân là người nhiễm HIV được điều trị ARV từ 3 tháng trở lên Cókhả năng nghe nói

2.5.2 Tiêu chí loại ra:

Những đối tượng là người nhiễm HIV không có khả năng trả lời câu hỏi

do tình trạng sức khỏe Chưa hoàn thành được 60% (28 câu) bộ câu hỏi

2.6 Thu thập dữ kiện

2.6.1 Phương pháp thu thập dữ kiện

Các điều tra viên được tập huấn rõ ràng, cụ thể để nắm vững mục tiêunghiên cứu, bộ câu hỏi và quy trình thu thập dữ kiện trước khi tham gia vàonghiên cứu

Phương thức tiến hành: Thông qua các nhân viên y tế tại phòng khámngoại trú người lớn, bệnh nhân sau khi được khám, tư vấn và lấy thuốc tại phòngkhám sẽ được giới thiệu qua gặp điều tra viên ở một phòng riêng Tại đây điều

Trang 34

tra viên sẽ giới thiệu về nghiên cứu, nếu bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứuthì điều tra viên sẽ phỏng vấn bệnh nhân bằng bộ câu hỏi soạn sẵn Dựa vào mã

số bệnh án trên sổ khám bệnh của bệnh nhân Điều tra viên sẽ đối chiếu để thuthập những thông tin về lâm sàng của bệnh nhân Việc thu thập số liệu trong hồ

sơ bệnh án của bệnh nhân sẽ được thực hiện vào chiều ngày hôm đó

2.6.2 Công cụ thu thập dữ kiện

Bộ câu hỏi soạn sẵn bao gồm đặc điểm dân số xã hội, các bệnh đi kèm,tình trạng tuân thủ điều trị, quá trình điều trị và những câu hỏi liên quan về chấtlượng cuộc sống theo thang đo WHOQoL-HIV BREF dành cho người nhiễmHIV bao gồm 6 lĩnh vực: sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, mức độ độc lập,mối quan hệ xã hội, môi trường, niềm tin cá nhân

Mẫu thu thập thông tin soạn sẵn sẽ thu thập các thông tin về quá trình điềutrị dựa vào việc tra cứu hồ sơ bệnh án như: thời gian bệnh, thời gian điều trịARV, số lượng tế bào CD4, giai đoạn lâm sàng, tải lượng virus

2.7 Phương pháp kiểm soát sai lệch

 Kiểm soát sai lệch thông tin:

Thiết kế bộ câu hỏi phù hợp, rõ ràng, có một khung câu hỏi nhất định chotất cả các đối tượng được phỏng vấn Đồng thời sử dụng bộ công cụ WHOQoL-HIV BREF đã được chuẩn hóa và có độ tin cậy cao

Tập huấn người thu thập dữ kiện để thống nhất phương pháp phỏng vấn vàhướng dẫn rõ ràng cách trả lời các câu hỏi phỏng vấn

Giải thích trực tiếp, rõ ràng mục đích nghiên cứu cho đối tượng tham gianghiên cứu, và đảm bảo giữ kín thông tin của người tham gia nghiên cứu

 Kiểm soát sai lệch chọn lựa:

Trang 35

Đặc biệt tuân thủ tiêu chí đưa vào và tiêu chí loại ra Không để xảy ra tìnhtrạng chọn nhầm người đi lấy thuốc thay cho bệnh nhân.

Đối chiếu mã số bệnh nhân của đối tượng với hồ sơ bệnh án được lưu giữtại phòng khám

Theo dõi lịch khám bệnh nhân của phòng khám ngoại trú và chọn lựa ngàyphỏng vấn để không xảy ra tình trạng 1 bệnh nhân phỏng vấn 2 lần

2.8 Các biến số cần thu thập

2.8.1 Biến số phụ thuộc

Sử dụng thang đo WHOQoL-HIV BREF (World Health OrganizationQuality of Life HIV BREF) gồm 31 câu nhằm đo lường 6 lĩnh vực trong cuộcsống gồm sức khỏe thể chất (4 câu), sức khỏe tinh thần (5 câu), mức độ độc lập(4 câu), các mối quan hệ xã hội (4 câu), môi trường sống (8 câu) và niềm tin cánhân (4 câu), ngoài ra còn có 1 câu tự đánh giá về cuộc sống chung và 1 câu tựđánh giá về sức khỏe bản thân

- Lĩnh vực về sức khỏe thể chất:

 Đau và không thoải mái (C3)

 Năng lượng hoạt động (C14)

Trang 36

- Lĩnh vực về mức độ độc lập:

 Khả năng đi lại (C20)

 Hoạt động trong cuộc sống (C22)

 Hỗ trợ y tế về thuốc và điều trị (C5)

 Khả năng làm việc (C23)

- Lĩnh vực về các mối quan hệ xã hội:

 Các mối quan hệ cá nhân (C17)

 Tiếp nhận các nguồn thông tin (C18)

 Tham gia hoạt động xã hội (C19)

 Điều kiện tại nơi sinh sống (C28)

 Phương tiện đi lại (C30)

- Lĩnh vực về niềm tin cá nhân:

 Niềm tin cá nhân (C7)

 Cảm thấy bị đổ lỗi (C8)

 Sợ hãi về tương lai (C9)

 Lo lắng về cái chết (C10)

Trang 37

Mỗi nội dung đều được đo lường bởi thang đo Likert gồm 5 mức độ tăngdần từ 1 điểm đến 5 điểm, trong đó 1 điểm là thấp nhất và hàm ý tiêu cực ngượclại 5 điểm là cao nhất với hàm ý tích cực Đối với các nội dung ở C3, C4, C5,C8, C9, C10 và C31 sau khi thu thập số liệu xong sẽ được mã hóa lại theo sốđiểm đảo ngược từ 5 đến 1.

Các điểm của từng nội dung sẽ được cộng lại và tính trung bình cho tổngđiểm ở mỗi lĩnh vực, sau đó lấy điểm trung bình của từng lĩnh vực nhân cho 4 để

có thể so sánh với điểm được sử dụng trong WHOQoL-100, tổng điểm sẽ nằmtrong khoảng từ 4 đến 20 điểm Cách tính điểm chất lượng sống được tóm tắtnhư sau:

Chuyển điểm đối với các mục tiêu cực

C3, C4, C5, C8, C9, C10 và C31(1=5) (2=4) (3=3) (4=2) (5=1)

Cách tính điểm cho từng lĩnh vực

- Sức khỏe thể chất(C3+C4+C14+C21)/4*4

- Sức khỏe tinh thần(C6+C11+C15+C24+C31)/5*4

- Mức độ độc lập(C5+C22+C23+C20)/4*4

- Các mối quan hệ xã hội(C27+C26+C25+C17)/4*4

- Môi trường(C12+C13+C16+C18+C19+C28+C29+C30)/8*4

- Niềm tin cá nhân(C7+C8+C9+C10)/4*4

Trang 38

2.8.2 Biến số độc lập:

Đặc điểm về dân số xã hội:

- Tuổi: biến số định lượng, tính theo tuổi tròn bằng cách lấy năm hiện tại trừnăm sinh, tính theo dương lịch Trong quá trình phân tích được mã hóathành 2 nhóm [7]:

 ≤ 35 tuổi

 > 35 tuổi

- Nơi ở hiện tại: biến số danh định gồm 2 giá trị là thường trú và tạm trú

 Thường trú: là những người có hộ khẩu tại Bình Dương

 Tạm trú: Là những người có địa chỉ thường trú ở một tỉnh khácngoài Bình Dương nhưng hiện tại đang sinh sống và làm việc tạiBình Dương

- Giới tính: biến số nhị giá, là giới tính được ghi trong giấy khai sinh củangười tham gia nghiên cứu Biến số giới tính có 2 giá trị là nam hoặc nữ[1]

- Tình trạng hôn nhân: là biến số danh định, gồm 4 giá trị sau:

 Độc thân: là những người chưa từng lập gia đình

Trang 39

 Đã kết hôn: là những người đã lấy vợ hoặc lấy chồng và có đăng kíkết hôn theo quy định của pháp luật.

 Ly thân/ly dị: là những người đã lập gia đình nhưng đã không cònsống chung với vợ hoặc chồng do đã ly thân hoặc ly dị

 Góa: là những người đã lập gia đình, nhưng vợ hoặc chồng đã mất

- Tình trạng sống chung: là biến số danh định, gồm 3 giá trị sau:

 Sống chung với người thân: là những người sống chung với gia đìnhnhư cha mẹ, ông bà, họ hàng, hoặc vợ chồng, con cái

 Sống chung với bạn bè: là những người sống chung với bạn bè hoặcđồng nghiệp, những người không có mối quan hệ ruột thịt hay huyếtthống với mình

 Sống một mình: Là những người đang sống một mình

- Kinh tế gia đình: là biến số danh định gồm 3 giá trị

 Có dư: là những người tự đánh giá gia đình mình ngoài những chiphí sinh hoạt hàng tháng vẫn có dư lại một khoản nào đó

 Đủ sống: là những người tự đánh giá gia đình mình sau những chiphí sinh hoạt hàng tháng thì không dư lại một khoản nào

 Khó khăn: Là những người tự đánh giá các nguồn thu nhập gia đìnhmình không đủ để chi trả các chi phí sinh hoạt tối thiểu hàng tháng

- Nguồn thu nhập: là biến số danh định gồm 3 giá trị [1]

 Thu nhập đều: là những người đang có thu nhập đều đặn hàng ngày,hàng tháng, hàng quý hoặc hàng năm

 Không thu nhập đều: là những người hiện tại vẫn đang làm việcnhưng không phải toàn thời gian, công việc mang tính chất khôngthường xuyên, thu nhập lúc có lúc không

Trang 40

 Không có thu nhập: là những người không có thu nhập và sống phụthuộc vào người khác.

- Nghề nghiệp: là biến số danh định gồm 6 giá trị

 Lao động tự do: là những người có công việc chính là làm việc linhđộng, không bị phụ thuộc thời gian, không có hợp đồng lao động,lúc làm việc này lúc làm việc khác như xe ôm, ba gác, chở hàng

 Buôn bán: là những người có công việc chính trong lĩnh vực kinhdoanh buôn bán như bán hàng online, bán tạp hóa, shop quần áo,quán ăn

 Cán bộ viên chức/nhân viên văn phòng: là những người có côngviệc chính là làm việc trong các cơ quan nhà nước hoặc làm việctheo giờ hành chính ở các lĩnh vực khác như ngân hàng, kế toán,giáo viên, luật sư

 Công nhân: những người làm công nhân trong nhà máy sản xuất,khu công nghiệp

 Làm nông/làm vườn: là những người có công việc chủ yếu là làmnông nghiệp như trồng cam, trồng cao su, trồng mít hoặc chăn nuôigia súc gia cầm

 Không đi làm: là những người hiện tại không có việc làm, chỉ ở nhàkhông đi làm

Các biến số về quá trình điều trị ARV

- Nguyên nhân nhiễm HIV: biến số danh định, là nguyên nhân mà bệnhnhân nhiễm HIV gồm các giá trị như:

 Tiêm chích ma túy

 Quan hệ tình dục

Ngày đăng: 31/03/2021, 23:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Huỳnh Ngọc Vân Anh (2013) Chất Lượng Sống Của Những Người Nhiễm HIV Đang Điều Trị ARV: Một Nghiên Cứu Theo Dõi, Luận Văn Thạc Sĩ Y Học, Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất Lượng Sống Của Những Người Nhiễm HIV Đang"Điều Trị ARV: Một Nghiên Cứu Theo Dõi
3. Nguyễn Hữu Chí (2012) Chẩn đoán và điều trị nhiễm HIV/AIDS, Nhà xuất bản Y học, 15-117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán và điều trị nhiễm HIV/AIDS
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
4. Đào Đức Giang (2019) Thực trạng tuân thủ điều trị ARV, một số yếu tố liên quan và hiệu quả can thiệp tại một số phòng khám ngoại trú tại Hà Nội, Viện vệ sinh dịch tễ Trung Ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tuân thủ điều trị ARV, một số yếu tố liên quan và"hiệu quả can thiệp tại một số phòng khám ngoại trú tại Hà Nội
5. Mai Thị Huệ (2017) "Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam". Tạp chí Nghiên cứu và Thực hành Nhi khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhânnhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam
6. Lê Văn Học, Long NT (2015) "Đánh giá chất lượng sống của bệnh nhân HIV/AIDS điều trị ARV tại bệnh viện Nhân Ái". Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXV (10), 170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chất lượng sống của bệnh nhân HIV/AIDSđiều trị ARV tại bệnh viện Nhân Ái
7. Nguyễn Minh Lộc (2017) Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan của bệnh nhân nhiễm HIV đang điều trị ARV tại Trung tâm Y tế Thuận An, tỉnh Bình Dương, Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan của bệnh nhân"nhiễm HIV đang điều trị ARV tại Trung tâm Y tế Thuận An, tỉnh Bình Dương
8. Quách Thị Minh Phượng (2015) Chất Lượng Cuộc Sống Của Bệnh Nhân HIV Đang Khám Và Điều Trị Tại Bệnh Viện Bệnh Nhiệt Đới Năm 2015, Khóa Luận Tốt Nghiệp Bác Sĩ Y Học Dự Phòng, Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất Lượng Cuộc Sống Của Bệnh Nhân HIV Đang"Khám Và Điều Trị Tại Bệnh Viện Bệnh Nhiệt Đới Năm 2015
10. Bộ Y Tế (2014) Phòng, Chống HIV/AIDS, Nhà Xuất Bản Y Học, Hà Nội, tr. 17-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng, Chống HIV/AIDS
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Y Học
11. Bộ Y Tế (2017) Báo cáo công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2017 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2018, Số 1299/BC-BYT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2017 và nhiệm vụ"trọng tâm năm 2018
13. Bộ Y Tế (2017) Quyết định về việc ban hành Hướng dẫn Điều trị và chăm sóc HIV/AIDS, Số 5418/QĐ-BYT, Hà Nội, ngày 01/12/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc ban hành Hướng dẫn Điều trị và chăm sóc"HIV/AIDS
14. Nguyễn Thị Kim Tuyến (2015) Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan của người nhiễm HIV đang điều trị ARV ở Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Bình Phước, Đại học Y dược Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan của"người nhiễm HIV đang điều trị ARV ở Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Bình"Phước
15. Ủy Ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy mại dâm (2012) Chiến lược quốc gia Phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quốc gia Phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030
16. Văn Đình Hòa, Lê Minh Giang, et al. (2013) "Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV của người nhiễm HIV/AIDS tại một số phòng khám ngoại trú ở Hà Nội năm 2013.". Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXV (6), 166 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quanđến tuân thủ điều trị ARV của người nhiễm HIV/AIDS tại một số phòng khámngoại trú ở Hà Nội năm 2013
9. Bộ Y Tế (2013) Quyết định về việc ban hành hướng dẫn thực hiện xét nghiệm tải lượng hiv1 trong theo dõi điều trị HIV/AIDS. Quyết định số 1921/QĐ-BYT ngày 05/6/2013 của Bộ Y tế Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w