1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CHỦ ĐỀ LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ LUẬT CÔNG NGHỆ CAO

77 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 574 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của Nghị quyết đối với vấn đề bảo tồn đa dạng sinhhọc là “Tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường, khôi phục và phát triển tàinguyên rừng, bảo vệ vốn gien tự nhiên, khôi phục

Trang 1

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ

ĐẶC SAN TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT

Số 05

CHỦ ĐỀ LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ LUẬT CÔNG NGHỆ CAO

HÀ NỘI - NĂM 2009

Trang 2

Phần thứ nhất GIỚI THIỆU LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC

A MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

I ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÁC HỆ SINH THÁI ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CỦA CON NGƯỜI

1 Khái niệm đa dạng sinh học

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về đa dạng sinh học, song định nghĩa chungnhất và phổ biến nhất được quy định trong Công ước quốc tế về đa dạng sinhhọc Theo đó, "Đa dạng sinh học" có nghĩa là tính (đa dạng) biến thiên giữa cácsinh vật sống của tất cả các nguồn bao gồm các hệ sinh thái tiếp giáp, trên cạn,biển, các hệ sinh thái thuỷ vực khác và các hệ sinh thái phức hợp khác mà chúng

là một phần Tính đa dạng này thể hiện ở trong mỗi bộ loài, giữa các loài và các

hệ sinh thái (Điều 2 của Công ước)

Có thể coi đa dạng sinh học là khái niệm bao hàm đa dạng hệ sinh thái (số lượng các loài trong quần xã), đa dạng loài và đa dạng di truyền (tức là sự

phong phú về gen)

- Đa dạng hệ sinh thái: là tất cả mọi sinh cảnh, mọi quần xã sinh vật và mọiquá trình sinh thái khác nhau, cũng như sự biến đổi trong từng hệ sinh thái Hiệnnay không có định nghĩa và phân loại thống nhất về đa dạng hệ sinh thái ở mứctoàn cầu, việc đánh giá định lượng về tính đa dạng ở mức quần xã, nơi cư trúhoặc hệ sinh thái còn gặp nhiều khó khăn do ở mỗi khu vực, mỗi vùng thì độphong phú của các loài và các kiểu dạng loài là khác nhau

- Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài trong một khu vực,một vùng hoặc một nơi cư trú nhất định Đa dạng hệ sinh thái thường được đánhgiá qua tính đa dạng các loài thành viên, ví dụ, một loài cây của rừng mưa nhiệtđới là nơi cư trú của một hệ động vật không xương sống bản địa với một trămloài, thì sự đa dạng sinh học lớn hơn so với một thực vật núi cao châu Âu không

có một loài sinh vật nào phụ thuộc vào

Trang 3

- Đa dạng di truyền là sự đa dạng, khác biệt về thành phần gen giữa các cáthể trong một loài, một quần xã hoặc giữa các loài, các quần xã Một biến dị genxuất hiện ở một cá thể do đột biến gen hoặc nhiễm sắc thể, ở các sinh vật sinhsản hữu tính có thể được nhân rộng trong quần thể nhờ tái tổ hợp

Trong Luật đa dạng sinh học của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 13tháng 11 năm 2008, định nghĩa: Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loàisinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên Gen là một đơn vị di truyền, một đoạn củavật chất di truyền quy định các đặc tính cụ thể của sinh vật Hệ sinh thái là quần

xã sinh vật và các yếu tố phi sinh vật của một khu vực địa lý nhất định, có tácđộng qua lại và trao đổi vật chất với nhau Hệ sinh thái tự nhiên là hệ sinh tháihình thành, phát triển theo quy luật tự nhiên, vẫn còn giữ được các nét hoang sơ

Hệ sinh thái tự nhiên mới là hệ sinh thái mới hình thành và phát triển trên vùngbãi bồi tại cửa sông ven biển, vùng có phù sa bồi đắp và các vùng đất khác (Điều

3, Luật đa dạng sinh học năm 2008)

Ngoài ra đa dạng sinh học còn được định nghĩa trong Luật bảo vệ môi trườngnăm 2005 như sau: “Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, loài sinh

vật và hệ sinh thái” (Khoản 16, Điều 3)

2 Vị trí, vai trò của đa dạng sinh học

Cuộc sống của con người hoàn toàn phụ thuộc vào các hệ sinh thái để tồn tại

và phát triển Các hệ sinh thái trực tiếp hoặc gián tiếp cung cấp cho con ngườikhông khí, thức ăn, nước, năng lượng, nơi cư trú, dược phẩm (thuốc chữa bệnh),nguyên liệu để con người chế tạo ra các vật dụng phục vụ cuộc sống và bảo vệcon người trước những tai hoạ Các hệ sinh thái lọc sạch không khí và nước, duytrì đa dạng sinh học, phân huỷ và tái quay vòng các chất dinh dưỡng, cũng nhưđảm bảo các chức năng quan trọng khác làm cho Trái đất có sự sống

Các thành phần trong sinh quyển vận động và liên kết lại với nhau tạo ranhững sản phẩm cung cấp cho con người Các mối liên hệ qua lại này cho thấy

sẽ không thể quản lý loài nếu thiếu sự quản lý đặc điểm di truyền và nơi sốngcủa chúng, cũng không thể có được những biện pháp bảo tồn tối ưu nếu không

có sự hiểu biết về các mối quan hệ giữa đa dạng sinh học và nhu cầu của con

Trang 4

người Tính đa dạng loài và gen di truyền, nơi cư trú và hệ sinh thái trong mộtquốc gia là những nguồn tài nguyên quan trọng cần được sử dụng bền vữngtrong quá trình phát triển của mỗi quốc gia Cho dù một quốc gia có tính đa dạngsinh học cao hay không, thì việc quản lý sử dụng tài nguyên sinh vật của quốcgia đó nên là một ưu tiên quốc gia để đảm bảo đáp ứng các nhu cầu của conngười và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ toàn cầu của quốc gia.

Đa dạng sinh học là yếu tố đặc biệt quan trọng, sống còn đối với phát triểnbền vững, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người trong quá khứ, hiệntại và tương lai

- Về mặt môi trường, đa dạng sinh học có khả năng điều hoà khí hậu, điềutiết mọi biến động của môi trường do thiên nhiên tạo ra và bảo vệ môi trườngtrước những biến động đó Chu kỳ quang hợp hay đồng hoá chất diệp lục và việcchuyển hoá các chất vô cơ thành hữu cơ của thực vật trong thiên nhiên đã tạonên sự sống cho tất cả sinh vật trên Trái đất, trong đó có con người Những khurừng được mệnh danh “lá phổi thế giới” là bộ máy tự nhiên khổng lồ lọc khícacbonic và tạo ôxy để có môi trường trong lành cho con người hô hấp Các hệthực vật có chức năng bảo vệ vùng đầu nguồn, vùng ven biển, bảo vệ đất trongviệc chắn sóng, bão, lũ, điều chỉnh và ổn định đất trên các vùng đất dốc làmgiảm tác hại của lũ lụt và xói mòn đất

- Về kinh tế, đa dạng sinh học là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm,thuốc chữa bệnh, nguyên liệu chế biến thuốc, nước và nguyên liệu trong sản xuấtcho con người Giá trị trực tiếp và quan trọng nhất của các loài đối với con người

là dùng làm thức ăn, rất nhiều loài động, thực vật có thể ăn được và một số loài

đã được đưa vào nuôi trồng để cung cấp thức ăn cho con người Các loại dượcphẩm có nguồn gốc tự nhiên có vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ sứckhoẻ trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt ở các nước kém phát triển việc chăm sócsức khoẻ, thuốc chữa bệnh chủ yếu bằng dược phẩm truyền thống (nước ta gọi làđông y, thuốc nam)

- Ngoài ra, đa dạng sinh học còn mang lại những giá trị vật chất khác từ các

hệ sinh thái tự nhiên hoặc bán tự nhiên, như là nơi giải trí, du lịch, giáo dục,

Trang 5

nghiên cứu,… Đa dạng sinh học cũng phản ánh sự phong phú cùng những nétđẹp của thiên nhiên dành cho một quốc gia.

Tuy nhiên, sự đa dạng sinh học tỷ lệ nghịch với sự phát triển và tiến hoá củaloài người Cùng với tiến trình phát triển kinh tế, xã hội và để đáp ứng nhu cầucủa mình, con người đã áp dụng khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại vào khaithác các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích của con người, để cải tiếncuộc sống, thậm chí con người còn điều khiển tự nhiên, làm thay đổi tự nhiên

Do vậy, các hệ sinh thái đều chịu tác động của loài người, bị thay đổi, và tiến tới

bị huỷ diệt Khi đa dạng sinh học bị xâm phạm thì sự tồn tại của con người trênTrái đất sẽ bị đe doạ Con người sẽ bị cạn dần nguồn thức ăn, thuốc chữa bệnh, ônhiễm môi trường, thiên tai, dịch bệnh …

Hàng năm, trên thế giới hàng triệu hecta rừng nhiệt đới, rừng mưa ôn đới, cáckhu rừng lâu năm dần bị thu nhỏ hoặc bị tàn phá, sự phong phú về loài giảm sútnghiêm trọng Đa dạng sinh học của các hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh tháibiển cũng đối mặt với sự suy giảm và thoái hoá nghiêm trọng, đặc biệt các hệsinh thái nước ngọt đang phải đối phó với các loài sinh vật ngoại lai xâm hại.Các hệ sinh thái biển cũng đứng trước sự suy giảm của nhiều quần thể loài đơnnhất và những biến đổi sinh thái quan trọng Một trong những biến đổi toàn cầu

rõ ràng nhất là sự xáo trộn chu trình cacbon, dẫn đến sự tăng đều đặn mứccacbonic trong khí quyển do quá trình sản xuất công nghiệp, do phá rừng, đốtrừng hoặc bị cháy rừng, gây ra hiệu ứng nhà kính, thủng tầng ôzôn và sẽ biến đổimạnh mẽ khí hậu toàn cầu, hiện tượng này sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho sứckhoẻ con người

Đa dạng sinh học đang bị suy giảm với tốc độ nhanh, thể hiện sự suy giảm vàtuyệt chủng của một số loài Do vậy, năm 1948 tại Fontainebleau (Pháp), Liênhợp quốc đã thành lập Tổ chức bảo vệ thiên nhiên quốc tế, viết tắt là IUPN(International Union for the Protection of Nature) nhằm bảo vệ và phát triển bềnvững các nguồn tài nguyên thiên nhiên Đến năm 1956 tổ chức này đổi tên thành

Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế, viết tắt là IUCN (International Union forConservation of Nature) Đến nay, rất nhiều tổ chức quốc tế về bảo tồn đa dạngsinh học đã được thành lập, như Quỹ bảo tồn thiên nhiên quốc tế - WWF (World

Trang 6

Wide Fund for Nature), Hội bảo tồn sinh học (Society for ConservationBiology), Trung tâm Giám sát bảo tồn toàn cầu - WCMC (World ConservationMonitoring Centre), Cơ quan Bảo tồn quốc tế - CI (Conservation International)

3 Các nguyên nhân của sự suy giảm đa dạng sinh học

Sự suy giảm đa dạng sinh học và sự tuyệt chủng các loài đã và đang là mối lochung của toàn nhân loại, nhiều loài động thực vật đang đứng trước nguy cơ bịtuyệt chủng, diện tích đất rừng ngày càng bị thu hẹp do nạn phá rừng hoặc cháyrừng làm mất nơi cư trú, mất nguồn thức ăn của chúng, việc săn bắt bừa bãi, thayđổi khí hậu và con người lấn chiếm đất đai cũng làm thu hẹp không gian sốngcủa các loài động vật

Các nguyên nhân dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học:

- Gia tăng dân số loài người đã khiến con người mở rộng nơi cư trú sinh tháicủa mình và sử dụng ngày càng nhiều tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cuộcsống Các chính sách giãn dân, khuyến khích việc chuyển các lao động thấtnghiệp lên vùng đất hoang để khai thác, xây dựng vùng kinh tế mới là nguyênnhân chính dẫn đến sự suy giảm loài, quần thể và hệ sinh thái

- Việc săn bắt các động vật hoang dã, khai thác gỗ, sợi, nông sản quá mức củacon người đã làm giảm đa dạng sinh học

- Các hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp của con người đã gây ônhiễm môi trường, xâm lấn nơi cư trú của các loài động thực vật Việc sử dụngbừa bãi thuốc trừ sâu, dẫn và tiêu nước ở các vùng đất ngập nước, các hoạt độngđánh cá huỷ diệt, chuyển các vùng đất hoang thành đất nông nghiệp, đất đô thị…làm suy giảm nghiêm trọng tài nguyên thiên nhiên

- Suy giảm theo quy luật tự nhiên: Theo thời kỳ địa chất, tất cả các loài đều cómột khoảng thời gian tồn tại nhất định, do vậy, sự suy giảm và đi đến tuyệtchủng của loài là một quá trình tự nhiên mà không có sự can thiệp của conngười

Trang 7

- Suy giảm do sự xâm phạm của các loài sinh vật ngoại lai: Sinh vật ngoại laixâm hại là những loài không có nguồn gốc bản địa Chúng xâm nhập vào môitrường mới bằng nhiều cách: theo gió, theo dòng nguồn nước, theo các dòng di

cư hoặc do con người mang đến, khi đã thích nghi với môi trường sống mới, cácloài sinh vật ngoại lai sinh trưởng và phát triển rất nhanh, chúng phá vỡ cân bằngsinh thái bản địa, lây truyền dịch bệnh, cạnh tranh hoặc giao phối với các loàibản địa, sử dụng sinh vật bản địa làm thức ăn và tiêu diệt chúng Ví dụ, ốc bươuvàng được nhập khẩu vào nước ta từ 10 năm trước đây, loài ốc này đã sinh nở rấtnhanh, đã lan tràn từ Đồng bằng Sông Cửu Long ra các tỉnh miền Trung và miềnBắc, phá hại nghiêm trọng lúa và hoa màu của các địa phương trên cả nước

- Sự ô nhiễm và biến đổi khí hậu toàn cầu làm thay đổi môi trường sống củacác loài, nếu chúng không thể thích nghi được với môi trường mới hoặc sự di cưthì khả năng bị suy giảm, thậm chí bị tuyệt chủng là điều khó tránh khỏi

- Sự thay đổi trong thành phần hệ sinh thái, chẳng hạn như mất hoặc suy giảmcủa một loài có thể dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học Ví dụ, việc loại trừchó sói châu Mỹ ở miền nam California đã dẫn đến giảm sút các quần thể chimhót trong vùng Bởi vì, khi quần thể chó sói châu Mỹ giảm sút, quần thể con mồicủa chúng là gấu trúc Mỹ sẽ tăng lên Do gấu trúc Mỹ ăn trứng chim, nên khi sốlượng chó sói ít hơn thì số lượng gấu trúc ăn trứng chim lại nhiều lên, kết quả là

số lượng chim sẽ ít đi

Sự suy giảm đa dạng sinh học chủ yếu do các tác động và ảnh hưởng của conngười vào môi trường tự nhiên và hầu như bất kỳ dạng hoạt động nào của conngười cũng gây biến đổi môi trường tự nhiên Để ngăn ngừa sự suy giảm đa dạngsinh học do con người gây nên, trước mắt cần ngăn chặn việc xâm lấn, khai thác,săn bắt và ban hành chính sách, luật, công bố các khu bảo tồn…

II HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC TRƯỚC KHI BAN HÀNH LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC

Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của đa dạng sinh học, Đảng và Nhànước ta luôn quan tâm công tác bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh họcbằng nhiều biện pháp như công bố các khu vườn quốc gia, ban hành các chính

Trang 8

sách, văn bản pháp luật, ban hành Sách đỏ Việt Nam và tham gia các công ướcquốc tế trong lĩnh vực đa dạng sinh học.

Tuy nhiên, trước khi ban hành Luật đa dạng sinh học, Việt Nam chưa có hệthống pháp luật về đa dạng sinh học thống nhất Các quy phạm pháp luật về đadạng sinh học đang nằm rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật có giá trịpháp lý khác nhau và mỗi văn bản chỉ đề cập đến một hoặc vài khía cạnh của đadạng sinh học, điều này đã làm hạn chế hiệu lực và hiệu quả của việc áp dụngpháp luật trên thực tế

- Hiến pháp năm 1980, tại Điều 36 quy định “Các cơ quan Nhà nước, xínghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thựchiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo

vệ và cải thiện môi trường sống”

- Hiến pháp năm 1992, tại Điều 29 cũng quy định “Cơ quan Nhà nước, đơn vị

vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quyđịnh của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môitrường Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môitrường”

- Từ những năm 1970 nước ta đã tiến hành những hoạt động đầu tiên nhằmbảo tồn thiên nhiên, đó là việc Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dânchủ cộng hoà thông qua Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng ngày 06 tháng 9năm 1972 Theo Pháp lệnh, “Rừng là một bộ phận của môi trường sống, là tàisản quý báu của nước ta, có giá trị lớn đối với nền kinh tế quốc dân và văn hoácông cộng Việc bảo vệ rừng phải do Nhà nước và toàn dân cùng làm…” Pháplệnh quy định: Cấm phá rừng Những rừng tự nhiên và rừng trồng đều phải đượcbảo vệ nghiêm ngặt (Điều 3); Cấm mọi hành động chặt cây rừng trái với các điềuquy định của Nhà nước (Điều 4); Cấm phát rừng, đốt rừng để làm nương rẫy;Cấm đốt lửa trong rừng và ven rừng để dọn đường, hạ cây, lấy củi, săn bắt thúrừng Chính phủ quy định những khu rừng cấm nhằm bảo vệ thiên nhiên… ởnhững khu rừng này, cấm chặt cây, cấm săn bắn chim muông, thú rừng Hộiđồng Chính phủ quy định những loại thực vật, động vật quý và hiếm trong rừng

Trang 9

cần phải đặc biệt bảo vệ và chế độ bảo vệ các loại đó Đặc biệt, pháp lệnh đã quyđịnh thành lập lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng gọi là Kiểm lâm nhân dân.

- Đến năm 1991, trên cơ sở của Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng năm

1972 và để đáp ứng tình hình thay đổi của đất nước, Quốc hội nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật bảo vệ và phát triển rừng, theo Luậtnày, rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo, là bộ phậnquan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốcdân, gắn liền với đời sống của nhân dân và sự sống còn của dân tộc, nghiêm cấmmọi hành vi huỷ hoại tài nguyên rừng Việc khai thác các loại thực vật rừng, sănbắt động vật rừng phải tuân theo quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ thựcvật rừng, động vật rừng; những loài thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm phảiđược quản lý, bảo vệ theo chế độ đặc biệt (Điều 19) Danh mục và chế độ quảnlý, bảo vệ những loài thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm do Hội đồng bộtrưởng quy định Nghiêm cấm mọi hành vi phá rừng, đốt rừng; lấn, chiếm rừng,đất trồng rừng; khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản, săn bắt động vật rừng,chăn thả gia súc vào rừng trái quy định của pháp luật Việc nhập nội giống thựcvật rừng, động vật rừng phải bảo đảm những nguyên tắc sinh học và những quyđịnh về kiểm dịch quốc gia, không gây hại đến hệ sinh thái và phải được Bộ Lâmnghiệp cho phép Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 là một trong nhữngluật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý, bảo vệ, xây dựng, pháttriển, khai thác và sử dụng rừng; bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên; bảotồn thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm; góp phần vào việc phòng chốngthiên tai

Qua hơn mười năm thực hiện Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, tìnhtrạng tàn phá rừng đã giảm, nhiều vùng đất trống, đồi núi trọc đã được phủ xanh,nhiều khu rừng được phục hồi Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đổi mới đấtnước, tình hình phát triển về kinh tế - xã hội của đất nước có nhiều thay đổi,nhiều quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 không còn phùhợp, không đáp ứng được yêu cầu đổi mới của đất nước và công tác quản lý, bảo

vệ, phát triển rừng ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn, do đó việc sửa đổi, bổ sungLuật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 là cần thiết Ngày 03 tháng 12 năm

Trang 10

2004 Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ và phát triển rừng mới thay thế Luậtbảo vệ và phát triển rừng năm 1991 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 rađời đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề quan trọng như giao rừng cho cộngđồng thôn, bản quản lý; vấn đề cho thuê rừng và đất lâm nghiệp; vấn đề xác địnhchủ rừng và quyền lợi, trách nhiệm của các chủ rừng; vấn đề triển khai thực hiệnchủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ và phát triển rừng, trấn áp các hành vi pháhoại tài nguyên rừng và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tàinguyên nước, bảo tồn thiên nhiên, phát triển bền vững trong lâm nghiệp, nôngnghiệp…

Việc sử dụng tài nguyên không hợp lý cùng với hậu quả nghiêm trọng củachiến tranh đã làm mất đi một nửa diện tích rừng, làm cho 40% diện tích lãnhthổ trở thành đất trống, đồi núi trọc, trơ sỏi đá; thế giới động vật, thực vật vànguồn lợi thuỷ sản bị suy giảm; chất lượng của môi trường có xu hướng giảmsút Đó là nguy cơ lớn đối với quốc gia và dân tộc Để khắc phục tình trạng này,ngày 20 tháng 9 năm 1985 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị quyết số 246/HĐBT về việc đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, sử dụng hợp lý tài nguyên vàbảo vệ môi trường Mục đích của Nghị quyết đối với vấn đề bảo tồn đa dạng sinhhọc là “Tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường, khôi phục và phát triển tàinguyên rừng, bảo vệ vốn gien tự nhiên, khôi phục và phát triển tài nguyên sinhvật, sử dụng hợp lý và tổng hợp các tài nguyên khoáng sản, đất, nước, rừng,biển, khí hậu, du lịch, từng bước khắc phục hậu quả về nhiều mặt của chiếntranh, bảo vệ có hiệu quả các hệ sinh thái trong điều kiện nhiệt đới của nước ta,chủ động đề phòng, ngăn chặn các tác động có hại đối với môi trường và tàinguyên” Kể từ đây công tác bảo vệ môi trường đã thực sự trở thành sự nghiệpcủa Nhà nước, của toàn dân

- Các vấn đề môi trường luôn được kết hợp xem xét trong việc xây dựngchiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Luật Bảo vệ môi trường đượcQuốc hội thông qua ngày 27 tháng 12 năm 1993 đã đặt nền móng cho việc hìnhthành hệ thống pháp luật về môi trường ở Việt Nam và tạo những chuyển biếntích cực trong công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học Mức độgia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng bước được hạn chế

Trang 11

- Ngày 25 tháng 6 năm 1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW

về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước nhằm mục tiêu ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cảithiện môi trường của những nơi, những vùng đã bị suy thoái, bảo tồn đa dạngsinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đôthị và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao chấtlượng cuộc sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước

Tuy nhiên, trước những áp lực của tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, sự diễn biến sôi động và toàn diện của toàn cầu hoá và hộinhập kinh tế quốc tế, Luật bảo vệ môi trường năm 1993 đã dần bộc lộ những hạnchế, bất cập Do vậy, ngày 29 tháng 11 năm 2005 Quốc hội nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua Luật bảo vệ môi trường

mới thay thế Luật bảo vệ môi trường năm 1993 Theo Luật này “Hoạt động bảo

vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng

ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắcphục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụnghợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học Đặc biệt,Điều 7 của Luật quy định những hành vi nghiêm cấm: Phá hoại, khai thác tráiphép rừng, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác; khai thác, đánh bắt các nguồntài nguyên sinh vật bằng phương tiện, công cụ, phương pháp huỷ diệt, khôngđúng thời vụ và sản lượng theo quy định của pháp luật; khai thác, kinh doanh,tiêu thụ, sử dụng các loài thực vật, động vật hoang dã quý hiếm thuộc danh mụccấm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; nhập khẩu, quá cảnh độngvật, thực vật chưa qua kiểm dịch; vi sinh vật ngoài danh mục cho phép; xâm hại

di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên

Trong lĩnh vực bảo vệ đa dạng sinh học, Luật bảo vệ môi trường năm 2005quy định: Nhà nước thành lập các ngân hàng gen để bảo vệ và phát triển cácnguồn gen bản địa quý hiếm; khuyến khích việc nhập nội các nguồn gen có giátrị cao Các loài động vật, thực vật quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng phải được:Lập danh sách và phân nhóm để quản lý theo mức độ quý hiếm, bị đe doạ tuyệt

Trang 12

chủng; phải xây dựng kế hoạch bảo vệ và áp dụng các biện pháp ngăn chặn việcsăn bắt, khai thác, kinh doanh, sử dụng; thực hiện chương trình chăm sóc, nuôidưỡng, bảo vệ theo chế độ đặc biệt phù hợp với từng loài; phát triển các trungtâm cứu hộ động vật hoang dã.

- Luật Thuỷ sản được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 quyđịnh việc khai thác, nuôi trồng, bảo vệ và phát triển nguồn thuỷ sản Nguyên tắchoạt động thuỷ sản phải bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ, tái tạo và pháttriển nguồn lợi thuỷ sản, tính đa dạng sinh học; bảo vệ môi trường và cảnh quanthiên nhiên Luật thuỷ sản năm 2003 quy định 18 hành vi bị cấm, trong đónghiêm cấm nhiều hành vi làm tổn hại đến giống, loài và môi trường, như: Khaithác, huỷ hoại trái phép các rạn đá ngầm, rạn san hô, các bãi thực vật ngầm, rừngngập mặn và hệ sinh cảnh khác; phá huỷ, cản trở trái phép đường di chuyển tựnhiên của các loài thuỷ sản ở sông, hồ, đầm, phá, eo, vịnh; khai thác các loàithuỷ sản thuộc danh mục cấm kể cả cấm có thời hạn, trừ trường hợp vì mục đíchnghiên cứu khoa học được Chính phủ cho phép; khai thác thuỷ sản nhỏ hơn kích

cỡ quy định, trừ trường hợp được phép khai thác để nuôi trồng; lấn, chiếm, xâmhại các khu bảo tồn vùng nước nội địa, khu bảo tồn biển đã được quy hoạch vàcông bố; vi phạm các quy định trong quy chế quản lý khu bảo tồn; khai thác thuỷsản ở khu vực cấm, khu vực đang trong thời gian cấm; khai thác quá sản lượngcho phép; sử dụng thuốc, phụ gia, hoá chất thuộc danh mục cấm sử dụng để nuôitrồng thủy sản, sản xuất thức ăn nuôi trồng thủy sản, chế biến, bảo quản thuỷsản; đưa tạp chất vào nguyên liệu, sản phẩm thuỷ sản; thả thuỷ sản nuôi trồng bịnhiễm bệnh vào nơi nuôi trồng hoặc vào các vùng nước tự nhiên…Việc khaithác thuỷ sản ở vùng biển, sông, hồ, đầm và các vùng nước tự nhiên phải bảođảm không làm cạn kiệt nguồn lợi thuỷ sản, phải tuân theo các quy định về mùa

vụ khai thác, thời hạn khai thác, vùng khai thác, chủng loại, kích cỡ và sản lượngđược phép khai thác Để bảo tồn, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, Nhànước ban hành các chính sách bảo tồn, đặc biệt là các loài thuỷ sản đang có nguy

cơ tuyệt chủng, các loài quý, hiếm, các loài có giá trị kinh tế cao và các loài có ýnghĩa khoa học Mọi tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống

Trang 13

của các loài thuỷ sản, thực hiện các nghĩa vụ về bảo tồn, bảo vệ, tái tạo và pháttriển nguồn lợi thuỷ sản.

- Bên cạnh những văn bản pháp luật nói trên, Nhà nước ta cũng đã ban hànhcác chế tài xử lý vi phạm pháp luật về đa dạng sinh học nhằm ngăn ngừa, giáodục và răn đe, trừng phạt đối tượng có hành vi vi phạm, đồng thời cũng để tăngcường các biện pháp bảo vệ an toàn đa dạng sinh học Bộ luật hình sự dành mộtchương (Chương XVII) quy định các tội phạm về môi trường Điều 175 quy địnhtội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, Điều 176 quy định tội viphạm các quy định về quản lý rừng, Điều 182 Tội gây ô nhiễm không khí, Điều

183 Tội gây ô nhiễm nguồn nước, Điều 184 Tội gây ô nhiễm đất, Điều 185 Tộinhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế thải hoặc các chất không bảo đảmtiêu chuẩn bảo vệ môi trường, Điều 187 Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểmcho động vật, thực vật, Điều 188 Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản, Điều 189 Tộihuỷ hoại rừng, Điều 190 Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dãquý hiếm, Điều 191 Tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu bảo tồnthiên nhiên) Người có hành vi phạm tội, tuỳ theo mức độ vi phạm nghiêm trọng

và tính chất nguy hiểm có thể bị phạt tiền đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt

tù đến mười lăm năm

- Quyết định số 845/TTg ngày 22 tháng 12 năm 1995 của Thủ tướng Chính

phủ phê duyệt Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học của Việt Nam nhận

định: Việc gia tăng quá nhanh dân số nước ta, việc diện tích rừng bị thu hẹp, việckhai thác quá mức tài nguyên sinh vật biển, việc áp dụng quá rộng rãi các giốngmới trong sản xuất nông nghiệp đã dẫn tới sự thu hẹp hoặc mất đi các hệ sinhthái, dẫn tới nguy cơ tiêu diệt 28% loài thú, 10% loài chim, 21% loài bò sát vàlưỡng cư Sự mất đi của một số loài là mất vĩnh viễn, đồng thời mất luôn cảnguồn tài nguyên di truyền Trên thực tế, tốc độ suy giảm đa dạng sinh học của

ta nhanh hơn rất nhiều so với các quốc gia khác trong khu vực

Mục tiêu lâu dài của Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học của ViệtNam năm 1995 là bảo vệ đa dạng sinh học phong phú và đặc sắc của Việt Namtrong khuôn khổ phát triển bền vững Kế hoạch cũng nêu ra mục tiêu trước mắtcần triển khai ngay là phải bảo vệ các sinh thái đặc thù của Việt Nam, các hệ

Trang 14

sinh thái nhạy cảm đang bị đe doạ thu hẹp hay huỷ hoại do hoạt động kinh tế củacon người Bảo vệ các bộ phận đa dạng sinh học đang bị đe doạ do khai thác quámức hay bị lãng quên Phát huy và phát hiện các giá trị sử dụng của các bộ phận

đa dạng sinh học trên cơ sở phát triển bền vững các giá trị tài nguyên, phục vụcác mục tiêu kinh tế của đất nước

- Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học lần thứ hai được Thủtướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31 tháng 5năm 2007 về phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về Đa dạng sinh học đếnnăm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước Đa dạng sinh học và

Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học” Kế hoạch đề ra 16 mục tiêu cụ thể đến năm 2010 là:

+ Củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống rừng đặc dụng (góp phần đạt tỷ

lệ che phủ rừng 42 - 43%);

+ Phục hồi 50% diện tích rừng đầu nguồn đã bị suy thoái;

+ Bảo vệ có hiệu quả các loài động, thực vật quý, hiếm, nguy cấp có nguy cơ

Trang 15

+ Kiểm soát, phòng ngừa, ngăn chặn và loại trừ việc khai thác, kinh doanh,tiêu thụ các động thực vật hoang dã quý, hiếm, nguy cấp;

+ Kiểm soát, đánh giá và ngăn chặn các loại sinh vật lạ xâm lấn;

+ Kiểm định 100% các giống, loài, nguồn gen sinh vật nhập khẩu;

+ Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách và văn bản quy phạmpháp luật về quản lý đa dạng sinh học và an toàn sinh học;

+ Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, chú trọng đào tạo và xây dựng đội ngũcán bộ đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ về bảo tồn, phát triển đa dạngsinh học và quản lý an toàn sinh học;

+ Tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn,phát triển và sử dụng bền vững đa dạng sinh học; phấn đấu có trên 50% dân sốthường xuyên được tiếp cận thông tin về đa dạng sinh học, an toàn sinh học vàtham gia ý kiến trong việc ra quyết định cấp Giấy chứng nhận an toàn sinh học;+ Bảo đảm 100% sinh vật biến đổi gen và sản phẩm, hàng hóa có nguồn gốc

từ sinh vật biến đổi gen được phép lưu hành trên thị trường đã qua đánh giá rủi

ro tại Việt Nam, được dán nhãn và bị theo dõi, giám sát theo quy định của phápluật.

Định hướng đến năm 2020: Bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững đa

dạng sinh học về các nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái phong phú của ViệtNam; quản lý an toàn sinh học một cách có hiệu quả để bảo vệ sức khỏe nhândân, môi trường và đa dạng sinh học; có những đóng góp thiết thực vào công tácbảo tồn và phát triển đa dạng sinh học trong khu vực và toàn cầu; thực hiện đầy

đủ các cam kết quốc tế về đa dạng sinh học và an toàn sinh học mà Việt Nam làthành viên; Hoàn thiện hệ thống tổ chức, cơ chế, chính sách và văn bản quyphạm pháp luật quản lý đa dạng sinh học và an toàn sinh học ở nước ta; Hoànchỉnh hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên (trên cạn, đất ngập nước và biển);phục hồi được 50% hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, nhạy cảm đã bị phá huỷ

- Ngày 26 tháng 8 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số212/2005/QĐ-TTg ban hành quy chế quản lý an toàn sinh học đối với các sinh

Trang 16

vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen Quychế này quy định việc quản lý nhà nước về an toàn sinh học trong các hoạt động:nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và khảo nghiệm; sản xuất, kinh doanh

và sử dụng; nhập khẩu, xuất khẩu, lưu giữ và vận chuyển; đánh giá, quản lý rủi

ro và cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sảnphẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen nhằm bảo vệ sức khoẻ conngười, môi trường và đa dạng sinh học

- Ban hành Sách đỏ Việt Nam Sách đỏ Việt Nam là danh sách các loài động,thực vật ở Việt Nam thuộc loại quý, hiếm, đang bị đe doạ giảm sút về số lượnghoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm khôiphục số lượng cá thể của các loài đang bị suy giảm Sách đỏ Việt Nam do ViệnKhoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp với Tổ chức bảo tồn thiên nhiênquốc tế (IUCN) thực hiện Các tiêu chuẩn sử dụng trong Sách đỏ Việt Nam đượcxây dựng dựa trên các tiêu chuẩn của Sách đỏ IUCN Sách đỏ Việt Nam gópphần vào việc đánh giá tình hình đa dạng sinh học ở Việt Nam, thể hiện mộtphần tình trạng sinh vật hoang dã trong thiên nhiên và dự đoán xu thế phát triểntrong thời gian tới Sách đỏ Việt Nam lần đầu tiên được xuất bản năm 1992 phầnđộng vật và phần thực vật được xuất bản năm 1996 Sách đỏ Việt Nam đã nhanhchóng đi vào cuộc sống, được sử dụng rộng rãi ở các ngành, địa phương, làm căn

cứ xem xét, đánh giá, xử lý các trường hợp vi phạm quy định của Nhà nước vềcấm săn bắt, khai thác, vận chuyển, buôn bán các loài động, thực vật hoang dã cónguy cơ bị đe dọa

Kể từ khi ban hành Sách Đỏ Việt Nam 1992 - 1996, thực trạng thiên nhiênnước ta nói chung và đa dạng sinh học nói riêng đã có sự thay đổi Nhiều loàiđộng vật, thực vật hoang dã trong thiên nhiên đã được bảo vệ, tình trạng săn bắt,chặt phá rừng đã hạn chế, không còn công nhiên như trước Tuy nhiên, tình hìnhkinh tế, xã hội và môi trường, khí hậu có những thay đổi đáng kể ảnh hướng tới

đa dạng sinh học, do đó, việc cập nhật những thông tin mới là rất cần thiết Sách

đỏ Việt Nam năm 2004 đã được công bố nhằm đặt ra những nhiệm vụ cấp bách

về bảo tồn tài nguyên sinh vật đang đứng trước sự suy giảm So với số liệu công

bố trong Sách đỏ Việt Nam 1992 - 1996 thì sự thay đổi các thành phần động vật,

Trang 17

thực vật trong Sách đỏ Việt Nam năm 2004 đã ở mức báo động, cụ thể mức độ

đe doạ của các loài trong Sách đỏ Việt Nam năm 1992 ở hạng nguy cấp thì năm

2004 đã thuộc diện rất nguy cấp hoặc bị coi là tuyệt chủng Ngày 26 tháng 6 năm

2008, Sách đỏ Việt Nam năm 2007 được công bố, theo số liệu trong tài liệu nàythì Việt Nam có 882 loài ngoài tự nhiên (418 loài động vật, 464 loài thực vật)đang bị đe doạ Trong đó có 116 loài động vật và 45 loài thực vật được coi là rấtnguy cấp, đặc biệt có 9 loài động vật trước kia ở trong tình trạng đe doạ nhưngnay đã bị tuyệt chủng Tuy nhiên, lại có một số loài bị coi là tuyệt chủng trong tựnhiên hoặc bị tuyệt chủng ở Việt Nam thì được tìm thấy ở một số nước lân cận,đặc biệt có những loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao thì nay lại có dấuhiệu khôi phục số lượng cá thể và thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng cao nhờ nhữngchính sách bảo tồn

- Công bố các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên Vườn quốc gia CúcPhương là khu bảo tồn thiên nhiên đầu tiên của Việt Nam được thành lập ngày

07 tháng 7 năm 1962 theo Quyết định số 72-TTg của Thủ tướng Chính phủ vềthành lập Vườn Quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình) nhằm bảo tồn thiên nhiên,giữ gìn đa dạng sinh thái và các giá trị văn hoá, lịch sử Để bảo tồn và phát triểnbền vững đa dạng sinh học của Việt Nam, Chính phủ đã công bố rất nhiều vườnquốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, như: Vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn (khuvực núi Phan-xi-păng, Lào Cai), Vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai), Vườnquốc gia Ba Vì (Hà Tây trước đây, nay thuộc Hà Nội), Vườn quốc gia Ba Bể(Bắc Kạn), Vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Vườn quốc gia Vũ Quang (HàTĩnh), Vườn quốc gia Phú Quốc (Kiên Giang), Vườn quốc gia Phong Nha - KẻBàng (Quảng Bình), Vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế), Vườn quốcgia Tràm Chim (Đồng Tháp), Vườn quốc gia Côn Đảo (đảo Côn Sơn, Bà Rịa -Vũng Tàu), Vườn quốc gia Pù Mát (Nghệ An), Vườn quốc gia Núi Chúa (NinhThuận), Vườn quốc gia Kon Ka Kinh (Gia Lai), Vườn quốc gia Chư Mon Ray(Kon Tum), Vườn quốc gia Chư Yang Sin (Đắk Lắk), Vườn quốc gia Bái TửLong (Quảng Ninh), Vườn quốc gia Cát Bà (Hải Phòng), Vườn quốc gia U Minh

Hạ (Cà Mau), Vườn quốc gia U Minh Thượng (Kiên Giang), Vườn quốc gia BùGia Mập (Bình Phước) …

Trang 18

- Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và trước những biến động về môitrường, thiên nhiên, nhận thức vai trò to lớn của đa dạng sinh học đối với sự pháttriển hiện tại và tương lai của cả loài người, Việt Nam đã tham gia rất nhiều cáccông ước quốc tế liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học nhằm bảo tồn và pháttriển bền vững đa dạng sinh học của Việt Nam và toàn trái đất Có thể kể đếnmột số thoả thuận và công ước quốc tế về đa dạng sinh học mà Việt Nam đãtham gia như:

+ Công ước về đa dạng sinh học, 1992;

+ Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học, 2000;

+ Công ước của Liên hợp quốc về sự biến đổi môi trường;

+ Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệtnhư là nơi cư trú của các loài chim nước (còn gọi là Công ước Ramsar), 1971; + Nghị định thư bổ sung công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quantrọng, đặc biệt như là nơi cư trú của loài chim nước, Pari, 1982;

+ Cam kết quốc tế về phổ biến và sử dụng thuốc diệt côn trùng (còn gọi làCông ước FAO), 1985;

+ Công ước về buôn bán quốc tế những loài động vật, thực vật có nguy cơ bị

đe dọa (còn gọi là Công ước CITES), 1973;

+ Công ước của Liên hợp quốc về sự biến đổi môi trường;

+ Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, 1992;

+ Công ước Viên 1985 về bảo vệ tầng ô zôn, 1985;

+ Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô zôn, 1987

B NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC

I SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC

1 Việt Nam là một trong những quốc gia có hệ sinh thái tự nhiên phong phú

và đa dạng vào bậc nhất thế giới Các hệ sinh thái rừng, núi đá vôi, biển, venbiển, đất ngập nước, v.v…là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loài hoang dã

Trang 19

thế giới Việt Nam cũng là nơi được biết đến với nhiều nguồn gen hoang dã cógiá trị, đặc biệt là các cây thuốc, các loài hoa, cây cảnh nhiệt đới, v.v… Tuynhiên, đa dạng sinh học ở nước ta đang bị suy thoái nhanh Diện tích các khu vực

có các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng bị thu hẹp dần Số loài và số lượng cá thểcủa các loài hoang dã bị suy giảm mạnh Nhiều loài hoang dã có giá trị bị suygiảm hoàn toàn về số lượng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng ở mức cao Các nguồngen hoang dã cũng đang trên đà suy thoái nhanh và thất thoát nhiều Suy thoái đadạng sinh học dẫn đến mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến môitrường sống của con người, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước

2 Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường vì mụctiêu phát triển bền vững đất nước Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học làmột trong ba nhiệm vụ trọng tâm của công tác bảo vệ môi trường (bên cạnh cácnhiệm vụ phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, cải thiện và nâng cao chất lượngmôi trường) được đề cập đến trong Văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc

và được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004của Bộ Chính trị về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, các chủ trương trên của Đảng và Nhà nướcchưa được luật hóa kịp thời, đầy đủ và thống nhất trong các văn bản quy phạmpháp luật hiện hành

3 Việt Nam là thành viên của nhiều điều ước quốc tế về đa dạng sinh họcnhư: Công ước Liên hợp quốc về đa dạng sinh học (CBD), Công ước về cácvùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của cácloài chim nước (RAMSAR), Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thựcvật bị đe dọa tuyệt chủng (CITES), Nghị định thư về an toàn sinh học(CARTAGENA), v.v… với nhiều cam kết quốc tế chưa được nội luật hóa

4 Việt Nam chưa có hệ thống pháp luật về đa dạng sinh học với tư cách làmột lĩnh vực pháp lý cụ thể, độc lập tương đối Luật Bảo vệ môi trường cónhững quy định mang tính nguyên tắc, bao trùm và khái quát về bảo tồn thiênnhiên và đa dạng sinh học Nhưng các quy phạm pháp luật về đa dạng sinh họcđang nằm rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý khácnhau và mỗi văn bản lại chỉ đề cập đến một hoặc vài khía cạnh của đa dạng sinh

Trang 20

học Điều này đã làm hạn chế hiệu lực và hiệu quả của việc áp dụng pháp luậttrên thực tế Bên cạnh đó, còn nhiều nội dung quan trọng của đa dạng sinh họcvẫn chưa được pháp luật điều chỉnh hoặc chỉ được quy định tại các văn bản dướiluật như: bảo tồn và phát triển các hệ sinh thái đất ngập nước, các hệ sinh thái tựnhiên trên vùng núi đá vôi, gò, đồi thuộc vùng đất chưa sử dụng; tiếp cận nguồngen và chia sẻ lợi ích; quản lý an toàn sinh vật biến đổi gen; kiểm soát sinh vậtngoại lai xâm hại môi trường, v.v Các nội dung này cần phải được luật hoá.

5 Từ thực trạng trên, cần thiết phải có một văn bản quy phạm pháp luật cógiá trị pháp lý cao, đề cập toàn diện đến các khía cạnh của đa dạng sinh học, luậthóa có hệ thống và thống nhất các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước, nội luật hóa các điều ước quốc tế về đa dạng sinh học mà Việt Nam làthành viên nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước

II QUAN ĐIỂM VÀ NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC

Luật Đa dạng sinh học được soạn thảo trên cơ sở quán triệt các quan điểmchỉ đạo cơ bản sau đây:

1 Cụ thể hoá Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và luậthoá đường lối, chủ trương của Đảng về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạngsinh học được thể hiện trong các Nghị quyết qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc

và Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị vềBảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước

2 Thống nhất và phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành, có tính đến địnhhướng cải cách hệ thống pháp luật về môi trường trong tương lai Luật Đa dạngsinh học có phạm vi điều chỉnh hợp lý trên cơ sở phân định rõ ràng với Luật Bảo

vệ môi trường, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thuỷ sản và các văn bảnquy phạm pháp luật khác có liên quan

3 Các điều, khoản của Luật Đa dạng sinh học được hình thành trên cơ sở cácquy phạm pháp luật hiện hành về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinhhọc nằm rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, theo hướng kế thừa

Trang 21

các quy phạm phù hợp, đã được kiểm nghiệm trên thực tế, điều chỉnh, sửa đổicác quy phạm không phù hợp và bổ sung các quy phạm còn thiếu.

4 Bảo đảm thống nhất quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển bền vững đadạng sinh học trên cơ sở phân công, phân cấp rõ ràng, hợp lý giữa các cơ quanTrung ương, giữa Trung ương và địa phương

5 Quan tâm đến lợi ích của các bên liên quan trong bảo tồn và phát triển bềnvững đa dạng sinh học trên cơ sở công bằng và bình đẳng trước pháp luật Bảotồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học theo hướng thúc đẩy và hỗ trợ xoáđói, giảm nghèo

6 Tham khảo và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước; cụ thể hoámột số quy định trong các Điều ước quốc tế về đa dạng sinh học mà Việt Namtham gia, đồng thời phù hợp với các điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam làthành viên

7 Đáp ứng yêu cầu cải cách công tác lập pháp, chi tiết đúng mức và có tínhkhả thi

III BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC

1 Bố cục của Luật Đa dạng sinh học

Luật Đa dạng sinh học gồm có 8 chương và 78 điều, cụ thể như sau:

Chương I Những quy định chung bao gồm 7 điều (từ Điều 1 đến Điều 7)

quy định: Phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; nguyên tắc,chính sách và trách nhiệm quản lý của Nhà nước về bảo tồn và phát triển bềnvững đa dạng sinh học; những hành vi bị nghiêm cấm về đa dạng sinh học

Chương II Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học bao gồm 8 điều (từ Điều 8

đến Điều 15), chia thành hai mục Mục 1 quy định các căn cứ lập, nội dung quyhoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước; lập, phê duyệt, điều chỉnhquy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước, của bộ, ngành; công

bố, tổ chức thực hiện quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước.Mục 2 quy định căn cứ, nội dung, lập, thẩm định, thông qua, điều chỉnh, công bố

Trang 22

và thực hiện quy hoạch đa dạng sinh học của tỉnh, thành phố trực thuộc trungương.

Chương III Bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên bao gồm

21 điều (từ Điều 16 đến Điều 36), chia thành hai mục Mục 1 quy định về khubảo tồn, phân cấp khu bảo tồn; vườn quốc gia; khu dự trữ thiên nhiên; khu bảotồn loài-sinh cảnh; khu bảo vệ cảnh quan; nội dung, lập, thẩm định dự án thànhlập khu bảo tồn quốc gia; thẩm quyền ban hành quyết định thành lập khu bảo tồncấp quốc gia; lập, thẩm định và quyết định thành lập khu bảo tồn cấp tỉnh; sửdụng đất trong khu bảo tồn; phân khu chức năng và ranh giới khu bảo tồn; tráchnhiệm, tổ chức quản lý khu bảo tồn; quyền, trách nhiệm của Ban quản lý, tổ chứcđược giao quản lý khu bảo tồn; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sinh sống

và có hoạt động hợp pháp trong khu bảo tồn; quản lý vùng đệm khu bảo tồn vàbáo cáo hiện trạng đa dạng sinh học Mục 2 quy định về phát triển bền vững các

hệ sinh thái tự nhiên; việc điều tra, đánh giá và xác lập chế độ phát triển bềnvững các hệ sinh thái tự nhiên; phát triển bền vững hệ sinh thái trên vùng đấtngập nước tự nhiên, vùng núi đá vôi và vùng đất chưa sử dụng không thuộc hệsinh thái rừng

Chương IV Bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật gồm 18

điều (từ Điều 37 đến Điều 54) quy định về loài được xem xét đưa vào Danh mụcloài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ; trình tự, thủ tục đề nghị, quyết địnhđưa vào hoặc đưa ra khỏi Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảovệ; bảo tồn loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ;thành lập cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học; quyền và nghĩa vụ của tổ chức,

cá nhân quản lý cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học; loài hoang dã bị cấm khai thác

và loài hoang dã được khai thác có điều kiện trong tự nhiên; nuôi, trồng, trao đổi,xuất khẩu, nhập khẩu, mua, bán, tặng cho, lưu giữ, vận chuyển, cứu hộ các loàithuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và mẫu vật ditruyền, sản phẩm của chúng; bảo vệ giống cây trồng, vật nuôi đặc hữu hoặc cógiá trị đang bị đe dọa tuyệt chủng; bảo vệ loài vi sinh vật và nấm đặc hữu hoặc

có giá trị đang bị đe doạ tuyệt chủng; điều tra và lập Danh mục loài ngoại laixâm hại; kiểm soát việc nhập khẩu loài ngoại lai xâm hại, sự xâm nhập từ bên

Trang 23

ngoài của loài ngoại lai; kiểm soát việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâmhại; kiểm soát sự lây lan, phát triển của loài ngoại lai xâm hại; công khai thôngtin về loài ngoại lai xâm hại.

Chương V Bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên di truyền bao gồm 14

điều (từ Điều 55 đến Điều 68), chia thành 3 mục Mục 1 quy định về quản lýnguồn gen; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được giao quản lý nguồngen; trình tự, thủ tục tiếp cận nguồn gen; hợp đồng tiếp cận nguồn gen và chia sẻlợi ích; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tiếp cậnnguồn gen; chia sẻ lợi ích từ việc tiếp cận nguồn gen Mục 2 quy định lưu giữ vàbảo quản mẫu vật di truyền; điều tra, thu thập, đánh giá, cung cấp, quản lý thôngtin về nguồn gen; bản quyền tri thức truyền thống về nguồn gen Mục 3 quy địnhtrách nhiệm quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinhvật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học; lập, thẩm định báo cáo đánh giárủi ro, công khai thông tin về mức độ rủi ro và biện pháp quản lý rủi ro do sinhvật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đadạng sinh học; cấp giấy chứng nhận an toàn của sinh vật biển đổi gen, mẫu vật ditruyền của sinh vật biến đổi gen đối với đa dạng sinh học; quản lý cơ sở dữ liệu

về sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen liên quanđến đa dạng sinh học

Chương VI Hợp tác quốc tế về đa dạng sinh học gồm 2 điều (Điều 69 và

Điều 70), quy định về hợp tác quốc tế và việc thực hiện các điều ước quốc tế về

đa dạng sinh học; hợp tác quốc tế với các nước có chung biên giới với Việt Nam

Chương VII Cơ chế, nguồn lực bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học bao gồm 5 điều (từ Điều 71 đến Điều 75), quy định về Điều tra cơ bản,

nghiên cứu khoa học, quản lý thông tin, số liệu về đa dạng sinh học; báo cáo về

đa dạng sinh học; kinh phí cho việc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinhhọc; dịch vụ môi trường liên quan đến đa dạng sinh học và bồi thường thiệt hại

về đa dạng sinh học

Chương VIII Điều khoản thi hành bao gồm 3 điều (từ Điều 76 đến Điều

78), quy định chuyển tiếp; hiệu lực thi hành; quy định chi tiết và hướng dẫn thihành

Trang 24

2 Những nội dung chính của Luật đa dạng sinh học

2.1 Đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật

Luật Đa dạng sinh học quy định về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạngsinh học; quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân, hộ giađình và cộng đồng dân cư trong bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học.Đối tượng áp dụng của Luật Đa dạng sinh học bao gồm tổ chức, hộ giađình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cánhân nước ngoài có hoạt động trực tiếp hoặc liên quan đến bảo tồn và phát triểnbền vững đa dạng sinh học tại Việt Nam

2.2 Những hành vi bị nghiêm cấm về đa dạng sinh học (Điều 7)

Điều 7 của Luật đa dạng sinh học quy định 9 nhóm hành vi bị nghiêm cấm

áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có hoạt động trực tiếp hoặc liên quanđến đa dạng sinh học ở Việt Nam Chế tài xử lý người có hành vi vi phạm cácquy định này được quy định trong Nghị định về xử phạt vi phạm hành chínhhoặc bị xử lý theo quy định của Bộ luật hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tộiphạm Các hành vi bị nghiêm cấm được quy định cụ thể như sau:

Săn bắt, đánh bắt, khai thác loài hoang dã trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặtcủa khu bảo tồn, trừ việc vì mục đích nghiên cứu khoa học; lấn chiếm đất đai,phá hoại cảnh quan, hủy hoại hệ sinh thái tự nhiên, nuôi trồng các loài ngoại laixâm hại trong khu bảo tồn

Xây dựng công trình, nhà ở trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảotồn, trừ công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh; xây dựng công trình,nhà ở trái phép trong phân khu phục hồi sinh thái của khu bảo tồn

Điều tra, khảo sát, thăm dò, khai thác khoáng sản; chăn nuôi gia súc, gia cầmquy mô trang trại, nuôi trồng thuỷ sản quy mô công nghiệp; cư trú trái phép, gây

ô nhiễm môi trường trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồisinh thái của khu bảo tồn

Săn bắt, đánh bắt, khai thác bộ phận cơ thể, giết, tiêu thụ, vận chuyển, mua,bán trái phép loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;

Trang 25

quảng cáo, tiếp thị, tiêu thụ trái phép sản phẩm có nguồn gốc từ loài thuộc Danhmục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.

Nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo trái phép loài động vật,thực vật hoang dã thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.Nhập khẩu, phóng thích trái phép sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền củasinh vật biến đổi gen

Nhập khẩu, phát triển loài ngoại lai xâm hại

Tiếp cận trái phép nguồn gen thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được

ưu tiên bảo vệ

Chuyển đổi trái phép mục đích sử dụng đất trong khu bảo tồn

2.3 Bảo tồn đa dạng sinh học

Bảo tồn đa dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tựnhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thườngxuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáocủa tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý,hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền.Nhà nước công bố các khu bảo tồn thiên nhiên để bảo tồn đa dạng sinh học

Hệ thống các khu bảo tồn của Việt Nam hiện nay có 211 khu, bao gồm: 128 khubảo tồn rừng (Khu rừng đặc dụng), 15 khu bảo tồn biển, 68 khu bảo tồn đất ngậpnước

Khu bảo tồn thiên nhiên (sau đây gọi là khu bảo tồn) là khu vực địa lý được

xác lập ranh giới và phân khu chức năng để bảo tồn đa dạng sinh học Căn cứvào mức độ đa dạng sinh học, giá trị đa dạng sinh học, quy mô diện tích, khu bảotồn thiên nhiên được phân cấp thành khu bảo tồn cấp quốc gia và khu bảo tồncấp tỉnh

Chính phủ phân công cơ quan quản lý nhà nước lập dự án thành lập khu bảotồn thiên nhiên Hiện nay, hệ thống các khu rừng đặc dụng phân bố rộng khắptrên các vùng sinh thái toàn quốc Tuy nhiên phần lớn các khu rừng đặc dụng cóđặc điểm là diện tích nhỏ, phân bố phân tán Nhiều khu bảo tồn còn bao chiếm

Trang 26

cả diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư, ranh giới một số khu bảo tồn trên thựcđịa chưa rõ ràng, còn có tranh chấp, tính liên kết các khu yếu, chưa hình thànhđược các hành lang liên kết các khu bảo tồn nhỏ, có nhiều đặc điểm giống nhau,nên các hoạt động bảo tồn trên phạm vi khu vực rộng cũng bị hạn chế Bên cạnh

đó, ranh giới các khu bảo tồn phần lớn chưa được phân định rõ ràng trên thựcđịa, các hoạt động xâm lấn, vi phạm trong các khu bảo tồn còn xảy ra

Nguồn ngân sách cho bảo tồn còn hạn chế, chủ yếu dựa vào nguồn ngân sáchNhà nước, các khu bảo tồn cấp tỉnh thuộc địa phương quản lý có nguồn ngânsách rất hạn chế cho các hoạt động bảo tồn, chưa có chính sách cụ thể để xã hộihóa công tác bảo tồn Một số chính sách về khu bảo tồn còn thiếu, như chínhsách đầu tư, quản lý vùng đệm v.v

Để khắc phục những hạn chế này, Luật đa dạng sinh học đã có quy định chặtchẽ hơn về việc thành lập khu bảo tồn Trước hết, dự án thành lập khu bảo tồnphải nêu rõ mục đích bảo tồn đa dạng sinh học, việc đáp ứng các tiêu chí cụ thể

để thành lập khu bảo tồn, thực trạng các hệ sinh thái tự nhiên, các loài thuộcDanh mục các loài được ưu tiên bảo vệ, các loài hoang dã khác, cảnh quan môitrường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, diện tích và hiện trạng sử dụng đất, mặtnước, đất ở và dân cư sinh sống hợp pháp trong khu bảo tồn và phương ánchuyển đổi mục đích sử dụng đất, kế hoạch quản lý khu bảo tồn, vị trí, ranh giới,diện tích vùng đệm của nơi dự kiến thành lập khu bảo tồn Khu bảo tồn dự địnhthành lập phải có quy hoạch chi tiết, bao gồm: vị trí và diện tích phân khu bảo vệnghiêm ngặt, phân khu phục hồi hệ sinh thái, phân khu dịch vụ - hành chính; dựkiến ranh giới từng phân khu và toàn khu bảo tồn; phương án ổn định hoặc dichuyển các hộ gia đình, cá nhân hiện đang sinh sống trong khu bảo tồn Khu bảotồn phải có 2 phân khu chức năng: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khuphục hồi sinh thái, tuỳ theo điều kiện thực tế, khu bảo tồn có thể có thêm phânkhu dịch vụ - hành chính (điều 21) Hồ sơ, trình tự, thủ tục lập, thẩm định vàquyết định thành lập khu bảo tồn cấp quốc gia và cấp tỉnh theo quy định tại Điều

22, 23, 24 của Luật đa dạng sinh học Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lậpkhu bảo tồn cấp quốc gia, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập khubảo tồn cấp tỉnh sau khi có ý kiến của Uỷ ban nhân dân các cấp có liên quan, ý

Trang 27

kiến của cộng đồng dân cư sinh sống hợp pháp trong hoặc tiếp giáp khu vực dựkiến thành lập khu bảo tồn và ý kiến chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩmquyền quản lý khu bảo tồn.

Khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm: Vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên,khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan

Vườn quốc gia là nơi có hệ sinh thái tự nhiên quan trọng đối với quốc gia,quốc tế, đặc thù hoặc đại diện cho một vùng sinh thái tự nhiên; có ít nhất mộtloài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ sinh sống tựnhiên thường xuyên hoặc theo mùa; có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục; cócảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên và có giá trị du lịch sinh thái(Điều 17)

Khu dự trữ thiên nhiên là nơi có hệ sinh thái tự nhiên quan trọng đối với quốc

gia, quốc tế, đặc thù hoặc đại diện cho một vùng sinh thái tự nhiên; có giá trị đặcbiệt về khoa học, giáo dục hoặc du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng Khu dự trữ thiênnhiên gồm có: Khu dự trữ thiên nhiên cấp quốc gia và Khu dự trữ thiên nhiêncấp tỉnh Khu dự trữ thiên nhiên cấp tỉnh là khu thuộc quy hoạch bảo tồn đa dạngsinh học của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhằm mục đích bảo tồn các

hệ sinh thái tự nhiên trên địa bàn (Điều 18)

Khu bảo tồn loài sinh cảnh là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo

mùa của ít nhất một loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiênbảo vệ; có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục Khu bảo tồn loài - sinh cảnhgồm có: Khu bảo tồn loài - sinh cảnh cấp quốc gia và Khu bảo tồn loài - sinhcảnh cấp tỉnh Khu bảo tồn loài - sinh cảnh cấp tỉnh là khu thuộc quy hoạch bảotồn đa dạng sinh học của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhằm mục đíchbảo tồn các loài hoang dã trên địa bàn (Điều 19)

Khu bảo vệ cảnh quan là nơi có hệ sinh thái đặc thù; có cảnh quan môi

trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; có giá trị về khoa học, giáo dục, du lịchsinh thái, nghỉ dưỡng Khu bảo vệ cảnh quan gồm: Khu bảo vệ cảnh quan cấpquốc gia và Khu bảo vệ cảnh quan cấp tỉnh Khu bảo vệ cảnh quan cấp tỉnh là

Trang 28

khu thuộc quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học của tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương nhằm mục đích bảo vệ cảnh quan trên địa bàn (Điều 20).

Việc quản lý khu bảo tồn thiên nhiên theo sự phân công, phân cấp của Chínhphủ Khu bảo tồn cấp quốc gia có Ban quản lý, khu bảo tồn cấp tỉnh do Ban quảnlý hoặc tổ chức được giao quản lý khu bảo tồn

a Quyền và trách nhiệm của Ban quản lý khu bảo tồn hoặc tổ chức được giao quản lý khu bảo tồn:

Bảo tồn đa dạng sinh học phải tuân theo quy định của Luật đa dạng sinh học vàquy chế quản lý khu bảo tồn;

Xây dựng, trình cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tổ chứcthực hiện kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư phục hồi hệ sinh thái tự nhiêntrong khu bảo tồn;

Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, thu thập nguồn gen, mẫu vật ditruyền; theo dõi, tổ chức thu thập thông tin, số liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu vàlập báo cáo hiện trạng đa dạng sinh học của khu bảo tồn; có biện pháp phòng,trừ dịch bệnh trong khu bảo tồn;

Kinh doanh, liên doanh trong lĩnh vực du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học,nghỉ dưỡng và các hoạt động dịch vụ khác trong khu bảo tồn theo quy định củapháp luật;

Phối hợp với lực lượng kiểm lâm, cảnh sát môi trường, cảnh sát phòng cháy,chữa cháy và chính quyền địa phương trong việc bảo tồn đa dạng sinh họctrong khu bảo tồn;

- Được chia sẻ lợi ích từ hoạt động tiếp cận nguồn gen thuộc phạm vi khubảo tồn;

- Quyền và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật

b Quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sinh sống hợp pháp trong khu bảo tồn (Điều 30):

Trang 29

- Khai thác nguồn lợi hợp pháp trong khu bảo tồn theo quy định của Luật

đa dạng sinh học, quy chế quản lý khu bảo tồn và các quy định khác của phápluật có liên quan;

- Tham gia, hưởng lợi ích từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ trong khu bảotồn;

- Hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ, bồi thường, tái định cư theo quy địnhcủa pháp luật;

- Thực hiện quy chế quản lý khu bảo tồn;

- Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

c Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có hoạt động hợp pháp trong khu bảo tồn (Điều 31):

Khai thác nguồn lợi hợp pháp trong khu bảo tồn theo quy định của Luật đadạng sinh học, quy chế quản lý khu bảo tồn và các quy định khác của pháp luật

có liên quan;

Tiếp cận nguồn gen, chia sẻ lợi ích từ việc tiếp cận nguồn gen và các hoạtđộng hợp pháp khác trong khu bảo tồn theo quy định của pháp luật;

Thực hiện quy chế quản lý khu bảo tồn;

Tiến hành các hoạt động khác theo quy định của pháp luật;

Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

2.4 Phát triển bền vững hệ sinh thái

Các quy định về phát triển bền vững hệ sinh thái tập trung tại mục 2, Chương III - Bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái tự nhiên.

Các hệ sinh thái tự nhiên phải được điều tra, đánh giá và xác lập chế độ pháttriển bền vững Hệ sinh thái rừng tự nhiên, hệ sinh thái tự nhiên trên biển phảiđược điều tra, đánh giá và xác lập chế độ phát triển bền vững theo quy định củapháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về thủy sản và các quy địnhkhác của pháp luật có liên quan Việc thống kê, kiểm kê vùng đất ngập nước tựnhiên là vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước thường xuyên hay tạm thời, kể

Trang 30

cả vùng biển có độ sâu không quá 6m (sáu mét) khi ngấn nước thuỷ triều thấpnhất được thực hiện theo quy định pháp luật về đất đai Uỷ ban nhân dân cấp tỉnhphải tiến hành điều tra, thống kê, đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học và xác lậpchế độ phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên trên vùng núi đá vôi và vùng đấtchưa sử dụng không thuộc hệ sinh thái rừng.

2.5 Bảo tồn các loài sinh vật

Chính phủ ban hành Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo

vệ và quyết định loài được đưa vào hoặc đưa ra khỏi Danh mục loài nguy cấp,quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiênbảo vệ phải được công bố công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, đồngthời phải được điều tra, đánh giá quần thể theo định kỳ 3 năm một lần hoặc khi

có nhu cầu để sửa đổi, bổ sung

Tổ chức, cá nhân thực hiện đề tài, dự án điều tra, nghiên cứu về loài sinh vật

ở Việt Nam hoặc được giao quản lý rừng, khu bảo tồn, vùng đất ngập nước, vùngbiển và các hệ sinh thái tự nhiên khác; Hội, hiệp hội và tổ chức về khoa học vàcông nghệ, môi trường có quyền đề nghị loài được đưa vào hoặc đưa ra khỏiDanh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Hồ sơ đề nghị đưa vàohoặc đưa ra khỏi Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ gồmcó: Tên phổ thông, tên bản địa, tên khoa học của loài được đề nghị; Vùng phân

bố, số lượng cá thể ước tính, điều kiện sống và tình trạng nơi sinh sống thườngxuyên hoặc theo mùa của loài được đề nghị; các đặc tính cơ bản, tính đặc hữu,giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trường hoặcvăn hoá lịch sử của loài được đề nghị; mức độ bị đe doạ tuyệt chủng, chế độquản lý, bảo vệ và yêu cầu đặc thù của loài được đề nghị (Điều 38)

Các loài được xem xét đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưutiên bảo vệ gồm: Loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm; giốngcây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm nguy cấp, quý hiếm Khu vực cóloài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ sinh sống tựnhiên thường xuyên hoặc theo mùa phải được điều tra, đánh giá để lập dự ánthành lập khu bảo tồn Việc đưa loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm

Trang 31

thả loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ từ cơ sởcứu hộ vào nơi sinh sống tự nhiên của chúng phải được cơ quan nhà nước cóthẩm quyền chấp thuận bằng văn bản.

Bên cạnh việc bảo tồn đa dạng sinh học trong các khu bảo tồn thiên nhiênhay bảo tồn nội vi, còn có biện pháp bảo tồn ngoại vi, nghĩa là di dời các loàicây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng vàthành lập các cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học Theo Điều 42 của Luật Đa dạngsinh học, cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học gồm: Cơ sở nuôi, trồng loài thuộc Danhmục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Cơ sở cứu hộ loài hoang dã;

Cơ sở lưu giữ giống cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc hữu, nguy cấp,quý, hiếm có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môitrường hoặc văn hoá lịch sử; cơ sở lưu giữ bảo quản nguồn gen và mẫu vật ditruyền Các cơ sở này phải có diện tích đất, chuồng trại, cơ sở vật chất đáp ứngcác yêu cầu về nuôi, trồng, nuôi sinh sản, cứu hộ các loài hoang dã, lưu giữ vàbảo quản nguồn gen, mẫu vật di truyền; có năng lực tài chính, khả năng quản lý

và có cán bộ kỹ thuật có chuyên môn phù hợp

Cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấychứng nhận cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học

Tổ chức, cá nhân quản lý cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học sẽ được hưởng cácquyền lợi và chịu trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ sau:

Hưởng chính sách, cơ chế ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước theo quy định củapháp luật;

Tiếp nhận, thực hiện dự án hỗ trợ từ tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cánhân nước ngoài;

Hưởng các khoản thu từ hoạt động du lịch và các hoạt động khác của cơ sởbảo tồn đa dạng sinh học theo quy định của pháp luật;

Hợp đồng tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích phát sinh từ nguồn gen domình quản lý;

Trang 32

Nuôi, trồng, nuôi sinh sản, cứu hộ loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý,hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ giống cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật và nấmđặc hữu; lưu giữ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyền;

Trao đổi, tặng cho loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưutiên bảo vệ phục vụ mục đích bảo tồn đa dạng sinh học, nghiên cứu khoa học, dulịch sinh thái theo quy định của pháp luật;

Bảo vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếmđược ưu tiên bảo vệ; lưu giữ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyền;

Đăng ký, khai báo nguồn gốc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếmđược ưu tiên bảo vệ với cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

Có biện pháp phòng dịch, chế độ chăm sóc, chữa bệnh cho các loài tại cơ sởcủa mình;

Tháng 12 hằng năm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về tình trạng loàithuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ tại cơ sở củamình;

Đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đưa loài thuộc Danh mụcloài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ vào nuôi, trồng tại cơ sở bảo tồn đadạng sinh học của mình hoặc thả loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếmđược ưu tiên bảo vệ từ cơ sở cứu hộ của mình vào nơi sinh sống tự nhiên củachúng

Trong thực tế, chúng ta đã có hệ thống bảo tồn bằng các cơ sở bảo tồn đadạng sinh học hỗ trợ tương đối hiệu quả cho công tác nghiên cứu, học tập về bảotồn đa dạng sinh học, đồng thời góp phần phát triển kinh tế ở một số vùng Các

cơ sở bảo tồn này đang tồn tại dưới hình thức các vườn thực vật, lâm phần bảotồn nguồn gen cây rừng, vườn cây thuốc và vườn động vật đã sưu tập được sốlượng loài và cá thể tương đối lớn Trong số đó, nhiều loài cây rừng bản địa đãđược nghiên cứu và đưa vào gây trồng thành công; nhiều loài động vật hoang dã

đã gây nuôi sinh sản trong điều kiện nhân tạo Đặc biệt là các vườn cây thuốcchuyên đề hoặc các vườn cây thuốc trong các vườn thực vật đã đóng góp đáng kể

Trang 33

trong công tác nghiên cứu dược liệu và gây trồng phát triển cây thuốc nam cungcấp nguyên liệu cho ngành dược.

Một số loài động thực vật hoang dã đã bị tiêu diệt trong tự nhiên đã đượcgây nuôi thành công như Hươu sao, Hươu xạ, Cá sấu hoa cà, thực vật có Sưa,Lim xanh… Một số khu thực nghiệm điển hình như: Vườn cây gỗ Trảng Bom(huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai): có 155 loài, thuộc 55 họ và 17 loài tre nứa,Viện Dược liệu có trạm cây thuốc Sa Pa, sưu tập được 63 loài đang bảo quản cáccây thuốc ở độ cao 1.500 m

Đối với các loài hoang dã trong tự nhiên việc khai thác phải theo quy địnhcủa pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về thuỷ sản và các quy địnhpháp luật khác có liên quan Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phốihợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường định kỳ công bố Danh mục loài hoang dã

bị cấm khai thác trong tự nhiên và Danh mục loài hoang dã được khai thác cóđiều kiện trong tự nhiên (Điều 44)

Cá thể loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ bịmất nơi sinh sống tự nhiên, bị lạc, bị thương, bị bệnh phải được đưa vào cơ sởcứu hộ để cứu chữa, nuôi dưỡng, chăm sóc và thả lại nơi sinh sống tự nhiên củachúng Trường hợp cá thể loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được

ưu tiên bảo vệ bị mất nơi sinh sống tự nhiên thì được xem xét đưa vào nuôi,trồng tại cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học phù hợp Tổ chức, cá nhân phát hiện cáthể loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ bị mất nơisinh sống tự nhiên, bị lạc, bị thương hoặc bị bệnh có trách nhiệm báo ngay cho

Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ sở cứu hộ nơi gần nhất Sau khi nhận đượcthông tin, Ủy ban nhân dân cấp xã phải kịp thời báo cáo với cơ quan chuyên môncủa Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc báo cơ sở cứu hộ nơi gần nhất (Điều 47).Việc bảo vệ giống cây trồng, vật nuôi đặc hữu, bảo vệ loài vi sinh vật vànấm đặc hữu hoặc có giá trị đang bị đe dọa tuyệt chủng, Luật Đa dạng sinh học

đã giao trách nhiệm cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phốihợp với bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức điều tra, đánh giá giống cây trồng, vậtnuôi đặc hữu hoặc có giá trị đang bị đe doạ tuyệt chủng, thu thập bảo quản loài

Trang 34

vi sinh vật và nấm đặc hữu hoặc có giá trị đang bị đe doạ tuyệt chủng để đưa vàoDanh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 48, Điều 49).

2.6 Kiểm soát loài ngoại lai xâm hại

Mục 3, Chương IV quy định cụ thể về việc quản lý, kiểm soát các loài ngoạilai xâm hại, nhằm bảo tồn nguồn gen bản địa

Sinh vật ngoại lai trước hết là những loài không có nguồn gốc bản địa Khiđược đưa đến một môi trường mới, một loài ngoại lai có thể không thích nghiđược với điều kiện sống và do đó không tồn tại được Tuy nhiên, trong nhiềutrường hợp khác, do ít các đối thủ cạnh tranh và thiên địch cùng với điều kiệnsống mới thuận lợi, các loài này có điều kiện sinh sôi nảy nở rất nhanh, lấnchiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa và đến một lúcnào đó phá vỡ cân bằng sinh thái bản địa và vượt khỏi tầm kiểm soát của conngười Lúc này nó trở thành loài ngoại lai xâm hại, loài ngoại lai xâm hại baogồm loài ngoại lai xâm hại đã biết và loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại

Luật đa dạng sinh học đã xây dựng hệ thống kiểm soát các loài ngoại laixâm hại Trước hết, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức điều tra đểlập danh mục các loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn báo cáo với Bộ Tài nguyên

và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Danh mục loài ngoạilai xâm hại, các thông tin về khu vực phân bố, mức độ xâm hại của các loàingoại lai xâm hại phải được công khai tới toàn dân

Trong hoạt động nhập khẩu các loài sinh vật mới, cơ quan hải quan cửakhẩu có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong việc nhập khẩucác loài thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phốihợp với các cơ quan chức năng tổ chức kiểm tra, đánh giá khả năng xâm nhậpcủa loài ngoại lai từ bên ngoài để có biện pháp phòng ngừa, kiểm soát loài ngoạilai xâm hại (Điều 51)

Việc nuôi trồng, phát triển các loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chỉ đượcphép tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài ngoại lai đó không có nguy

cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được phép của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh(Điều 52)

Trang 35

Khi phát hiện loài ngoại lai xâm hại, tổ chức, cá nhân phải thông báo ngaycho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi gần nhất Nhận được thông báo, Uỷ ban nhândân cấp xã phải kịp thời báo cáo Uỷ ban nhân dân huyện, quận hoặc cơ quanchuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh để có biện pháp kiểm soát.

3 Quản lý nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen

Luật đa dạng sinh học đã đưa các quy định về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ

lợi ích từ việc tiếp cận nguồn gen vào Chương V - Bảo tồn và phát triển tài

nguyên di truyền Theo đó, Ban quản lý khu bảo tồn, tổ chức và cá nhân sẽ đượcnhà nước giao quyền quản lý nguồn gen, cụ thể là Ban quản lý khu bảo tồn, tổchức được giao quản lý khu bảo tồn quản lý nguồn gen thuộc phạm vi khu bảotồn Chủ cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, cơ sở nghiên cứu khoa học và phát triểncông nghệ, cơ sở bảo quản và lưu giữ nguồn gen quản lý nguồn gen thuộc cơ sởcủa mình Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao quản lý, sử dụng đất, rừng,mặt nước quản lý nguồn gen thuộc phạm vi được giao quản lý, sử dụng Ủy bannhân dân cấp xã quản lý các nguồn gen trên địa bàn (Điều 55)

Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao quản lý nguồn gen có quyền điềutra, thu thập nguồn gen, trao đổi, chuyển giao, cung cấp nguồn gen được giaoquản lý cho tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật; được hưởng cáclợi ích do tổ chức, cá nhân tiếp cận nguồn gen chia sẻ theo thỏa thuận và quyđịnh của pháp luật (Điều 56)

Đồng thời, tổ chức, cá nhân được giao quản lý nguồn gen có nghĩa vụ thôngbáo với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về các hoạt động trao đổi,chuyển giao, cung cấp nguồn gen cho tổ chức, cá nhân khác để sử dụng cho mụcđích nghiên cứu phát triển và sản xuất các sản phẩm thương mại; thỏa thuận việctiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được phéptiếp cận nguồn gen, kiểm soát việc điều tra, thu thập nguồn gen của tổ chức, cánhân đã được cấp giấy phép tiếp cận nguồn gen Tổ chức, cá nhân được giaoquản lý nguồn gen cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và cơ quan quảnlý nhà nước có thẩm quyền về việc quản lý nguồn gen (Điều 56)

Trang 36

Hợp đồng tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích phải có các nội dung chínhsau:

- Mục đích tiếp cận nguồn gen;

- Nguồn gen được tiếp cận và khối lượng thu thập;

- Địa điểm tiếp cận nguồn gen;

- Kế hoạch tiếp cận nguồn gen;

- Việc chuyển giao cho bên thứ ba kết quả điều tra, thu thập nguồn gen;

- Hoạt động nghiên cứu, phát triển và sản xuất sản phẩm thương mại từ nguồngen;

- Các bên tham gia nghiên cứu phát triển và sản xuất sản phẩm thương mại từnguồn gen;

- Địa điểm tiến hành nghiên cứu phát triển và sản xuất sản phẩm thương mại từnguồn gen;

- Chia sẻ lợi ích thu được với Nhà nước và các bên có liên quan, bao gồm cảviệc phân chia quyền sở hữu trí tuệ đối với kết quả sáng tạo trên cơ sở tiếp cậnnguồn gen và bản quyền tri thức truyền thống về nguồn gen

Hợp đồng tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích phải có xác nhận của Uỷ bannhân dân cấp xã nơi thực hiện việc tiếp cận nguồn gen và gửi cho cơ quan nhànước có thẩm quyền cấp giấy phép tiếp cận nguồn gen

Tổ chức, cá nhân chỉ được phép tiến hành các hoạt động điều tra, thu thậpnguồn gen khi đã được cấp Giấy phép tiếp cận nguồn gen Hồ sơ đề nghị cấpGiấy phép tiếp cận nguồn gen như sau:

+ Đơn đề nghị tiếp cận nguồn gen;

+ Bản sao hợp đồng tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích với tổ chức, hộ giađình, cá nhân được giao quản lý nguồn gen

Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép tiếp cận nguồn gen

có quyền từ chối không cấp giấy phép khi có một trong những yếu tố sau: Nguồn

Trang 37

việc sử dụng nguồn gen có nguy cơ gây hại đối với con người, môi trường, anninh, quốc phòng và lợi ích quốc gia.

Đối tượng được phép tiếp cận nguồn gen phải thực hiện đúng thoả thuận vềchia sẻ lợi ích từ nguồn gen với tổ chức, cá nhân quản lý nguồn được quy địnhtại Điều 60 của Luật Theo đó, lợi ích thu được từ việc tiếp cận nguồn gen phảiđược chia sẻ cho Nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao quản lýnguồn gen, tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép tiếp cận nguồn gen và các bênliên quan khác được quy định trong Giấy phép tiếp cận nguồn gen Lợi ích thuđược từ việc tiếp cận nguồn gen phải được chia sẻ trên cơ sở hợp đồng tiếp cậnnguồn gen và chia sẻ lợi ích cùng các quy định khác của pháp luật có liên quan.Các quy định này có thể coi là nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện mụctiêu thứ ba của Nghị định thư CARTAGENA về An toàn sinh học "phân phốicông bằng và hợp lý những lợi ích thu được từ tiếp cận và sử dụng nguồn gen" Việc lưu giữ và bảo quản lâu dài mẫu vật di truyền của loài thuộc Danh mụcloài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, loài nhập khẩu phục vụ công tácnghiên cứu, nhân giống, lai tạo giống, ứng dụng và phát triển nguồn gen thuộctrách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ Tổ chức, cá nhân phát hiện, lưu giữmẫu vật di truyền của loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưutiên bảo vệ đã bị tuyệt chủng trong tự nhiên có trách nhiệm báo cho Ủy ban nhândân cấp xã Sau khi nhận được thông tin, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệmbáo cáo ngay với cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi trường của Ủy bannhân dân cấp tỉnh để có biện pháp xử lý (Điều 62)

Bản quyền tri thức truyền thống về nguồn gen được Nhà nước bảo hộ Nhànước khuyến khích và hỗ trợ tổ chức, cá nhân đăng ký bản quyền tri thức truyềnthống về nguồn gen

Để phòng ngừa và hạn chế những rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật ditruyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học, Luật quy định

Tổ chức, cá nhân nghiên cứu tạo ra sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền củasinh vật biến đổi gen phải đăng ký với Bộ Khoa học và Công nghệ để được cấpgiấy chứng nhận an toàn của sinh vật biển đổi gen, mẫu vật di truyền của sinhvật biến đổi gen đối với đa dạng sinh học và phải có các điều kiện về cơ sở vật

Trang 38

chất - kỹ thuật, công nghệ, cán bộ chuyên môn theo quy định của Bộ Khoa học

và Công nghệ Tổ chức, cá nhân nghiên cứu tạo ra, nhập khẩu, mua, bán, phóngthích sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen phải được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, phải lập báo cáo đánh giá rủi ro dosinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học, phải công khai thông tin vềmức độ rủi ro và biện pháp quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật ditruyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học

4 Hợp tác quốc tế về đa dạng sinh học

Việt Nam tham gia rất nhiều điều ước quốc tế về đa dạng sinh học, Nhà nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cam kết thực hiện các điều ước quốc tế màViệt Nam là thành viên và mở rộng hợp tác về bảo tồn và phát triển bền vững đadạng sinh học với các nước, vùng lãnh thổ, tổ chức, cá nhân nước ngoài

Việc hợp tác quốc tế về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học đượcthực hiện trên nguyên tắc bình đẳng, các bên cùng có lợi, không can thiệp vàocông việc nội bộ của nhau, vì mục đích bảo tồn và phát triển bền vững đa dạngsinh học, bảo đảm cân bằng sinh thái ở Việt Nam và trên trái đất Đặc biệt, Nhànước ưu tiên hợp tác với các nước có chung biên giới với Việt Nam bằng cáchoạt động sau đây:

Trao đổi thông tin, dự báo tình hình, biến động về đa dạng sinh học;

Phối hợp quản lý hành lang đa dạng sinh học, tuyến di cư xuyên biên giới củacác loài; bảo vệ các loài di cư;

Tham gia các chương trình bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học,các chương trình, dự án bảo vệ các loài di cư và bảo vệ hành lang đa dạng sinhhọc (Điều 70)

Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân Việt Nam, ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện cácchương trình, dự án hợp tác quốc tế về đa dạng sinh học

5 Cơ chế bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học ở Việt Nam

Ngày đăng: 31/03/2021, 22:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w