Nhất là trong các tiết ôn tập, lượng kiến thức đòi hỏi phảirộng và sâu, củng cố kiến thức của các phân môn trong suốt một thời gian dàicác em đã được học.. Trừ một số ít thực sựđầu tư ch
Trang 11 TÊN ĐỀ TÀI : TẠO HỨNG THÚ TRONG GIỜ ÔN TẬP VĂN HỌC
2 ĐẶT VẤN ĐỀ :
*Tầm quan trọng của vấn đề: Trong dạy học Ngữ văn đòi hỏi nhiều kết
quả cần phải đạt được như: đảm bảo lượng kiến thức, tính hệ thống, rõ trọng tâm,mang tính giáo dục, có tính thực tiễn Và một yếu tố rất quan trọng nữa màkhông phải môn học nào cũng đòi hỏi, đó là tạo được hứng thú nơi người học.Học Ngữ văn cũng phần nào giống với tìm hiểu một môn nghệ thuật, mà nghệthuật ở đây là nghệ thuật ngôn từ Đã mang tính nghệ thuật thì đòi hỏi tất yếu của
nó là phải hứng thú, phải có ý thức chủ động tìm hiểu, khám phá, phát hiện cáihay, cái đẹp để từ đó thích thưởng thức và có mong muốn tạo ra được nhữngđiều tương tự Vì thế, tạo hứng thú để học sinh học tốt môn Ngữ văn là vấn đềhết sức quan trọng đối với giáo viên đang dạy học môn học này
*Thực trạng liên quan: Nói như trên có vẻ như là yêu cầu khá cao so với
yêu cầu của một học sinh THCS nhưng không phải là không làm được Thực tế,học sinh đã thể hiện khả năng từ những bài viết, bài luyện tập, chương trình địaphương, các tiết tập làm thơ Nhưng nhìn chung các em thực hiện các yêu cầucủa các tiêt học này chỉ mang tính bắt buộc là chủ yếu chứ chưa thật sự tựnguyện vì hứng thú Nhất là trong các tiết ôn tập, lượng kiến thức đòi hỏi phảirộng và sâu, củng cố kiến thức của các phân môn trong suốt một thời gian dàicác em đã được học Nội dung có thể là một chủ đề của phân môn các em đã họctrong nhiều tuần, nhiều hơn nữa là một học kỳ, có khi là cả năm học và có lúcgồm cả kiến thức của mấy năm về trước Trong khi đó, học sinh ở lứa tuổi này,nhanh nhớ lại cũng rất nhanh quên Làm sao các em có thể hệ thống một cáchđầy đủ lượng kiến thức theo yêu cầu trong các bài ôn tập? Trừ một số ít thực sựđầu tư cho bài soạn, còn phần lớn các em chỉ chuẩn bị mang tính chất đối phó.Nếu giáo viên chọn phương pháp lên lớp theo trình tự các yêu cầu trong sáchgiáo khoa thì tiết học diễn ra đúng kế hoạch, đảm bảo các yêu cầu nhưng sẽkhông mang đến sự hứng thú ở học sinh Vì thế, việc tạo được hứng thú cho họcsinh trong tiết ôn tập là điều cần thiết
* Lý do chọn đề tài: Chính vì đây là một vấn đề khó khăn nhưng không
phải nằm ngoài tầm tay lại có tác dụng rất lớn trong việc dạy học mông Ngữ vănnên bản thân tôi luôn cố gắng tìm tòi các phương pháp giúp học sinh tránh được
sự nhàm chán Và tôi thấy rằng tổ chức các trò chơi trong tiết ôn tập là một
trong những phương pháp phù hợp để tạo hứng thú nên tôi đã tập trung đầu tư, nghiên cứu phương pháp này
* Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này, tôi xin được đề cập đến
việc tổ chức trò chơi trong các tiết ôn tập Văn học cấp Trung học cơ sở
* Đối tượng nghiên cứu: Học sinh các khối lớp ở trưòng THCS.
Trang 2
3 CƠ SỞ LÍ LUẬN :
Chúng ta đang sống trong giai đoạn mà khoa học – công nghệ phát triểnnhư vũ bão Nó tác động, chuyển biến mạnh đến mọi lĩnh vực của đời sống Vìthế, con người sống trong giai đoạn này cũng phải kịp thời biến đổi để có thểthích ứng kịp thời
Mục tiêu của Giáo dục nước ta là “đào tạo con người phát triển toàn diện đáp ứng được yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Vậy, để có con
người đáp ứng được yêu cầu đó trong giai đoạn hiện nay và tương lai, giáo dục
không thể cứng nhắc trong phương pháp, “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Điều 4 – Luật Giáo dục).
Có nhiều phương pháp để có thể tạo được hứng thú, niềm say mê, yêuthích môn học của học sinh trong học tập góp phần tạo nên những con người tíchcực, tự giác, chủ động, sáng tạo Tổ chức các trò chơi trong một tiết học, đặc biệt
là một tiết có lượng kiến thức nặng như các tiết ôn tập, là phương pháp phù hợp
Hơn nữa, tất cả các tiết ôn tập đều có chung một mục tiêu là giúp học sinh
hệ thống kiến thức, đó có thể là một nhóm bài, một chương hoặc toàn bộ kiếnthức của phân môn trong một học kì Vì thế lựa chọn cách tổ chức thực hiện ôntập phù hợp mới có thể đạt được mục tiêu đề ra
4 CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Nhìn chung Ngữ văn là môn học khó đối với cả người dạy lẫn người học
vì lượng kiến thức rộng, đòi hỏi tầm hiểu biết và khả năng tư duy rất cao, không
có dung lượng kiến thức rõ ràng như các môn học khác, nhất là phân môn Vănhọc và Tập làm văn Học sinh tự nghiên cứu không thể lĩnh hội được hết lượngkiến thức cần thiết của mỗi bài Mà sau khi học xong thấy như mình chưa hiểubiết được nhiều, cứ vẫn có cảm giác không chiếm lĩnh hết được nội dung cầnhọc Chính vì thế, học bộ môn này học sinh không có tâm lý thoải mái, tự tin nên
dễ bị nhàm chán, không tích cực, chủ động tìm hiểu và thể hiện hiểu biết củamình Nhất là ở các tiết ôn tập: dung lượng kiến thức rất lớn, đòi hỏi sự hiểu biếtrất rộng vừa mang tính khái quát vừa rất cụ thể khiến học sinh lo âu Trước khihọc các tiết này, các em phải học rất nhiều, phải nhớ thật nhiều Dù vậy vẫn cảmthấy chưa đủ nên các em thường hay nhụt chí, thả nổi, đợi đến khi lên trường,giáo viên dạy phần nào thì học phần ấy, giáo viên hỏi đến đâu trả lời đến đó, câunào nhớ được thì trả lời còn không thì chờ giáo viên cho đáp án Nhìn chung các
em rất thụ động, không tự học ở nhà nên lên lớp lại càng ít tích cực hơn Giờ họcdiễn ra chủ yếu theo kiểu thầy hỏi, trò trả lời, thầy bổ sung và kết luận; có khicòn nhàm chán hơn là thầy hỏi, trò im lặng, thầy trả lời và đi đến kết luận Nhìnlại, vẫn thấy chỉ có thầy là người hoạt động nhiều nhất trong tiết ôn tập Nếu theo
Trang 3lối dạy - học ấy, chúng ta quay về theo lối học truyền thống, người dạy rất mệtmỏi vì làm việc nhiều, kèm theo cảm giác chán nản, thất vọng về học trò củamình; còn người học cũng mệt mỏi không kém vì một tiết học chỉ ngồi nghe rồiviết để có cơ sở về nhà học, mà có khi học cái mà bản thân không thật sự hiểu,chỉ là học gạo, học vẹt thôi Chính cách học mà không hiểu ấy các em sẽ nhanhchóng quên Cách dạy ấy sẽ tạo ra những con người thiếu kiến thức, thụ động.Hay nói cách khác, giáo viên đã không thực hiện được mục tiêu giáo dục: Đàotạo ra những con người năng động, tích cực, sáng tạo,
Việc tổ chức dạy học theo hướng đổi mới phương pháp đã được đề cậpkhá thường xuyên trong giáo dục hiện nay Thế nhưng, để thay đổi một thói quenlâu đời không phải là việc của một sớm một chiều Đã có nhiều tài liệu bồidưỡng, nhiều chuyên đề được tổ chức cấp trường, cấp huyện đề cập đến vấn đềnày Đây là điều kiện thuận lợi để mỗi giáo viên tiếp tục nghiên cứu, thực hiện đểthực hiện dạy học hiệu quả hơn
Và thực tế, cách thức tổ chức trò chơi trong một tiết học đã được đề cập đếntrong một số chuyên đề bồi dưỡng cho giáo viên, nó được đan lồng trong nộidung Bồi dưỡng đổi mới trong phương pháp giảng dạy, nhưng nó cũng còn rấtchung chung Thực hiện thế nào cho phù hợp, hiệu quả trong mỗi tiết dạy, mỗidạng bài còn đòi hỏi ở sự tìm tòi, sáng tạo của giáo viên
5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Kiến thức học sinh cần chiếm lĩnh khi học phân môn Văn học không phảikiến thức có sẵn trong sách giáo khoa, học sinh có thể học thuộc lòng và hiểulượng kiến thức đó hay giải theo những công thức sẵn có Đây là môn học đòihỏi tính tư duy sáng tạo Vì thế, nếu không chú ý đến vấn đề dạy học phân hóa sẽ
dễ dẫn đến một số học sinh cảm thấy tự ti, chán học Mỗi giáo viên cần nghiêncứu trình độ học sinh của từng lớp, trình độ của từng học sinh để ra câu hỏi vừasức cho từng đối tượng Một khi tất cả các em được tham gia, mỗi em đều có thểgiải được một bài tập, trả lời được một câu hỏi góp phần làm nên thành tích củađội sẽ giúp các em có hứng thú hơn, tích cực, chủ động hơn trong học tập Đócũng là cách để các em sẽ nhớ lâu hơn những gì mình đã học, đã hiểu Để làm
được điều đó đòi hỏi sự đầu tư, chuẩn bị rất cao ở cả người dạy và người học ở
cả hai thời điểm: chuẩn bị ở nhà và tiết học trên lớp
Trang 4- Văn học dân gian: Truyền thuyết, Cổ tích, Truyện ngụ ngôn, Truyện cười,
Ca dao, Tục ngữ
- Các hình thức nghệ thuật sân khấu: Chèo, Kịch
- Các hình thức văn xuôi khác: Truyện trung đại, truyện hiện đại, bút ký, tùybút, hồi ký, ký sự
- Thơ: Thơ cổ điển (tứ tuyệt, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt, thất ngônbát cú, lục bát, song thất lục bát hoặc lục bát gián thất), thơ hiện đại (thơ 4 chữ, 5chữ, 7 chữ, 8 chữ thơ văn xuôi, các câu dài ngắn không qui định )
a.1.2/ Những kiến thức học sinh cần ôn đối với từng văn bản cụ thể (tùy thuộc vào mỗi thể loại, giáo viên định hình cụ thể):
- Các văn bản văn xuôi học sinh cần nắm những kiến thức về: Tác giả, hoàncảnh sáng tác tác phẩm (hoàn cảnh của tác giả, hoàn cảnh lịch sử), vị trí đoạntrích (nếu là đoạn trích), nội dung chính của văn bản, nghệ thuật tiêu biểu củavăn bản, các nhân vật, nhân vật chính, các sự việc, các sự việc chính của văn bản(nếu là văn bản tự sự) Đồng thời yêu cầu học sinh rèn kỹ năng trình bày nhữngnhận xét, đánh giá về các nhân vật, sự việc, phân tích được những chi tiết, nhữnggiá trị nghệ thuật, tóm tắt văn bản
- Văn bản thơ, ca dao, tục ngữ: Học sinh cũng cần nắm những kiến thức nhưvăn bản văn xuôi (trừ kiến thức về nhân vật, sự việc) Nhưng với thơ, ca dao, tụcngữ còn yêu cầu học sinh phải thuộc lòng, nhận biết thể thơ, phát hiện và phântích nghệ thuật có trong từng câu thơ, Trình bày được cảm nhận về câu thơ, khổthơ, bài thơ
a.2/ Định hình các hình thức ra câu hỏi phù hợp từng nội dung Giáo viên có thể sử dụng các hình thức câu hỏi sau:
a.2.1 Trắc nghiệm:
- Hình thức nhiều lựa chọn
Ví dụ: Khái niệm “Loại truyện kể, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mượnchuyện về loài vật, đồ vật hoặc chính con người để nói bóng gió, kín đáo chuyệncon người nhằm khuyên nhủ, răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc sống”
Ví dụ: Điền thêm từ ngữ vào dấu ( ) để hoàn chỉnh khái niêm sau:
Truyện ngụ ngôn: là loại truyện kể, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mượnchuyện về loài vật, đồ vật hoặc chính con người để nói bóng gió, kín đáo chuyệncon người nhằm ( ) người ta bài học nào đó trong cuộc sống
a.2.2 Tự luận: (Trình bày hiểu biết)
Trang 5
Ví dụ: Thế nào là truyện ngụ ngôn?
a.2.3 Câu hỏi trực quan:(quan sát, nghiên cứu, phát hiện, trình bày)
Ví dụ 1: Hãy sắp xếp các sự việc sau theo trình tự diễn biến của câu chuyện,sau đó lựa chọn kể lại một cách chi tiết một sự việc mà em thích
(1) Hằng năm, Thủy Tinh lại dâng nước đánh Sơn Tinh, nhưng đều thua(2) Vua Hùng ra điều kiện kén rễ
(3) Thủy Tinh đến sau, tức giận, đánh Sơn Tinh
(4) Vua Hung kén rể
(5) Sơn Tinh đến trước, cưới được vợ
(6) Thủy Tinh, Sơn Tinh đến cầu hôn
(7) Hai bên giao chiến hàng tháng trời, cuối cùng Thủy Tinh thua, đành rútquân
Ví dụ 2: Quan sát các hình ảnh sau, sắp sếp các hình ảnh theo trình tự các
sự việc, sau đó lựa chọ 1 sự việc để kể lại một cách chi tiết
Trang 6
a.3/ Định hình những phương pháp tổ chức trong tiết ôn tập:
Có thể nói, có rất nhiều phương pháp chúng ta có thể sử dụng để thực hiệntiết ôn tập như: vấn đáp, thảo luận nhóm, thuyết trình, Với sáng kiến kinhnghiệm này, tôi tập trung vào phương pháp cụ thể giúp học sinh có được hứngthú trong tiết ôn tập, đó là tổ chức trò chơi Những hình thức trò chơi cụ thể sẽđược trình bày cụ thể trong phần sau: Tổ chức thực hiện
* Lưu ý: Để có thể tổ chức tiết ôn tập tốt, cần phải:
- Giáo viên:
+ Nghiên cứu thật kỹ các yêu cầu trong chuẩn kiến thức, kỹ năng mà Bộgiáo dục đã yêu cầu thực hiện để bám sát kiến thức trọng tâm trong khi ôn tập.+ Nghiên cứu kỹ yêu cầu trong phần gợi ý dạy học trong sách giáo khoa đãhướng dẫn để có những câu hỏi hợp lý, sát với yêu cầu ôn tập
+ Nghiên cứu kỹ sách giáo viên để có những đáp án chính xác nhất cho họcsinh, đồng thời nghiên cứu, tìm hiểu thêm qua các tư liệu để có thể đưa ra lờibình giảng khắc sâu kiến thức cho học sinh trong những câu hỏi mang tính chất
tư duy, sáng tạo
+ Nghiên cứu kỹ nội dung từng bài đã học có trong yêu cầu ôn tập, xác địnhđúng trọng tâm để nêu ra những câu hỏi hợp lý nhât
+ Hướng dẫn học sinh chuẩn bị nội dung ôn tập trước theo hệ thống câu hỏihoặc chủ đề đã chuẩn bị
+ Xác định nhóm học sinh theo trình độ và kỹ năng để tạo ra câu hỏi vừasức, kích thích tư duy và tạo hứng thú cho học sinh
+ Xác định, lựa chọn những trò chơi phù hợp cho từng loại chủ đề, từng đốitượng học sinh để tạo hứng thú nơi người học
+ Xây dựng hệ thống câu hỏi có đáp án cụ thể (hoặc đã dự kiến câu trả lờiđúng- đối với loại câu hỏi tự luận dài) - phần này có thể hướng dẫn cách học chohọc sinh chuẩn bị trước ở nhà
+ Chia nhóm học sinh để các em có thể giúp nhau tự học trước ở nhà
+ Chuẩn bị các phần thưởng nhỏ (trong điều kiện có thể của giáo viên hoặcgiáo viên yêu cầu học sinh cả lớp chuẩn bị trước một số phần thưởng ) để traocho đội chiến thắng
+ Dặn dò học sinh chuẩn bị dụng cụ học tập (theo định hướng cho tiết ôntập)
Trang 7
+ Chuẩn bị sẵn một số dụng cụ cần thiết cho một tiết học có trò chơi: bảngphụ, giấy nháp, bút, phấn, bảng con theo dặn dò của giáo viên.
+ Tập thể lớp chuẩn bị một số phần quà (nếu giáo viên yêu cầu)
5.2 Hình thức lên lớp:
Có thể thực hiện theo các bước bằng các câu hỏi như sách giáo khoa.Nhưng để tạo được hứng thú cho học sinh, giáo viên có thể tổ chức nhiều tròchơi khác để tiết học thêm sinh động, lôi cuốn (tùy kiến thức, thời gian ôn tậpcho mỗi bài/ mỗi khối lớp mà giáo viên sử dụng một hoặc một số trò chơi để tổchức hợp lí)
Các trò chơi có thể ứng dụng:
a Trò chơi thứ nhất: Khởi động (Hình thức rung chuông vàng) ( số
lượng câu hỏi cho phần này gồm 10 câu Thời gian thực hiện mỗi câu là 10 giây)Cho cùng một câu hỏi, cả lớp cùng trả lời bằng cách viết ra đáp án của mình lênbảng con rồi đưa cao lên để mọi người cùng quan sát, sau đó giáo viên đưa ra kếtquả, học sinh tự đánh giá đúng sai Một em làm thư kí đếm số lượng người đúngcủa mỗi tổ mà ghi điểm, Trong 5 câu hỏi đầu, mỗi em đúng được tính 1 điểm chođội Từ câu hỏi 6 - 10, em nào sai sẽ bị loại, em nào làm đúng được tiếp tục tínhđiểm (1đ/1 câu hỏi/1 em) Câu hỏi sẽ theo mức độ từ dễ đến khó Bằng cách đó
sẽ giúp hs yếu tự tin và tích cực tham gia vào tiết học vì thấy bản thân cũng cókhả năng thực hiện được một số yêu cầu, mình cũng có thể góp một phần vàothành công cho đội Học sinh khá giỏi sẽ tích cực thể hiện hết khả năng của mình
để tự hào mình đã góp một phần rất lớn cho đội Như vậy, bằng cách ra câu hỏi
có tính chất phân hóa sẽ cuốn hút được học sinh cả lớp tham gia Nếu thành mộtthói quen, các em sẽ tự giác nghiên cứu bài học ở nhà để tiết học trên lớp sẽ hiệuquả hơn
Ví dụ: Tiết 54,55 ÔN TẬP TRUYỆN DÂN GIAN (Ngữ văn 6- học kỳ I)
* 5 câu hỏi đầu:
Câu hỏi 1: Loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quanđến lịch sử thời quá khứ, thường có các chi tiết tưởng tượng kỳ ảo; thể hiện thái
độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các nhân vật và sự kiện lịch sử được
kể Đó là thể loại truyện dân gian nào?
Đáp án: truyền thuyết
Câu hỏi 2 –( tương tự ) về truyện cổ tích
Câu hỏi 3–( tương tự) về truyện cười
Câu hỏi 4–( tương tự) về truyện ngụ ngôn
Câu hỏi 5: Các nhân vật : Lạc Long Quân, Âu Cơ, Ngư Tinh có trong truyệnnào?
Đáp án: "Con Rồng, cháu Tiên"
* 5 câu hỏi sau:
Trang 8
Câu hỏi 6: Các truyện sau thuộc nhóm truyện nào: "Thầy bói xem voi", "Ếch ngồi đáy giếng"
Đáp án: "Sơn Tinh, Thuỷ Tinh"; "Con Rồng, cháu Tiên"; "Thạch Sanh"
Câu hỏi 9: Loại truyện nào bên cạnh tác dụng gây cười còn có tác dụng răn dạy,khuyên nhủ ta một bài học nào đó?
Đáp án: Truyện ngụ ngôn
Câu hỏi 10: Nhân vật trong truyện nào mang tính điển hình rất cao trở thành hìnhtượng để học sinh chúng ta phấn đấu?
Đáp án: Thánh Gióng
b Trò chơi thứ 2: Tăng tốc: (Có 3 câu hỏi cho 3 học sinh) mỗi lượt thi mỗi đội
có 1 em tham gia, các em cùng trả lời 1 câu hỏi trong thời gian 10 giây Nếu trả
lời đúng, được 10 điểm, sai hoặc không có câu trả lời: 0 điểm Mỗi tổ chọn ra 2 học sinh tiêu biểu nhất, chọn trong đội bạn 1 học sinh có khả năng hạn chế nhất Mỗi đội 3 học sinh với 3 trình độ học lực tương ứng 3 mức độ độ câu hỏi Tránh ra những câu hỏi khó cho nhóm 3 Khi tham gia, giải quyết được câu hỏi/ bài tập sẽ giúp các em hứng thú, tự tin hơn
Ví dụ: tiết 54,55 ÔN TẬP TRUYỆN DÂN GIAN (Ngữ văn 6- học kỳ I)
*Câu hỏi dành cho học sinh do đội bạn chọn ra :
1 Ghi lại tên 3 nhân vật trong truyện "Thạch Sanh".
Đáp án: Thạch Sanh, Lý Thông, mẹ Lý Thông, vua, công chúa, đại bàng, chằngtinh,
( Có thể cho một số câu hỏi khác như: - Ghi lại tên 3 nhân vật trong truyện "Sự tích Hồ Gươm" - Đáp án: Lê Lợi, Lê Thận, Long Vương, rùa thần hoặc như loại
truyện nào thể hiện ước mơ của nhân dân ta về sự công bằng của xã hội, cái thiệnthắng cái ác - Đáp án: Truyện cổ tích )
*Câu hỏi dành cho 2 học sinh tiêu biểu do chính đội mình chọn ra:
1.Câu thành ngữ sau gợi em nhớ đến truyện nào: “Gió chiều nào xoay chiều ấy”
Đáp án: "Treo biển".
2 Câu: “Đi cho biết đó biết đây - Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”- Lời khuyên
này trùng với bài học của câu chuyện nào?
Đáp án: "Ếch ngồi đáy giếng"
c.Trò chơi thứ 3: Về đích (xem hình đoán truyện và kể truyện): Mỗi đội cử 3
bạn tham gia thi Mỗi đội cử đại diện lên bốc thăm thứ tự trả lời câu hỏi Mỗi đội
Trang 9có thể lựa chọn cho mình một yêu cầu tương ứng theo số thứ tự 1,2,3,4, Trongmỗi số ấy có một nhóm câu hỏi và số điểm phù hợp từ dể đến khó (ở mỗi số cócác nhóm câu hỏi có nội dung và số điểm tương đương nhau) Thời gian cho mỗiđội suy nghĩ thảo luận là 30 giây, thời gian trình bày tất cả nhóm câu hỏi là 3phút Với nội dung thi này giúp ích nhiều cho khả năng tư duy của học sinh, raquyết định kịp thời và rèn luyện kỹ năng nói trước lớp một cách tự tin Qua đónắm chắc nội dung bài đã học
Ví dụ: Tiết 54,55 ÔN TẬP TRUYỆN DÂN GIAN (Ngữ văn 6- học kỳ I)
*Nhóm câu hỏi số 1: Các em nhìn một số tranh gợi ý và thực hiện lần lượt các
yêu cầu:
1 Hai bức tranh đó có liên quan đến câu chuyện nào? (5 đ)
2 Kể lại một trong hai sự việc có liên quan đến một trong hai bức tranh trên( 20đ)
3 Câu chuyện ấy có ý nghĩa gì? Em rút được bài học gì từ câu chuyện đó? (15đ)Tranh minh họa:
- Trong thời gian nhóm này kể, các nhóm còn lại chú ý lắng nghe để bổ sunghoặc sửa chữa những thiếu sót Giáo viên kết luận cuối cùng về kết quả của độithi và ghi điểm cho cả đội có bổ sung chính xác
* Nhóm câu hỏi số 2:
1 Bốn bức tranh đó có liên quan đến câu chuyện nào? (5 đ)
2 Hãy sắp xếp các bức tranh theo trình tự trước sau của các sự việc (5 đ)
2 Kể lại một sự việc có liên quan đến một trong bốn bức tranh trên ( 20đ)
3 Câu chuyện ấy có ý nghĩa gì? (10đ)
Tranh minh họa:
Trang 11
* Các nhóm câu hỏi 3, 4: Các em nhìn một số tranh gợi ý khác và thực hiện lầnlượt các yêu cầu như nhóm câu hỏi 1,2
(Nếu không có tranh gợi ý có thể nêu một số sự việc chính để gợi ý)
d Trò chơi thứ 4: Ai nhanh hơn: Có 5 câu hỏi trong trò chơi này, nội dung câu
hỏi có sự phân hóa, 2 câu hỏi dễ, 3 câu hỏi khó, ưu tiên cho đối tượng học sinhtrung bình Sau khi nghe câu hỏi, ai xung phong trước và trả lời đúng được nhận
1 phần quà Phần thi này không ghi Nếu giành quyền trả lời mà trả lời sai coinhư mất quyền thi đấu Trò chơi này giúp học sinh có tính tự lập, rèn luyện phảnứng nhanh, ra quyết định kiệp thời – từ đó rèn cho hs tính tự tin và chín chắn hơntrong học tập và sau này vào cuộc sống
Ví dụ:
* 2 câu hỏi dễ:
1 Ghi lại tên 3 nhân vật trong truyện "Thạch Sanh".
Đáp án: Thạch Sanh, Lý Thông, mẹ Lý Thông, vua, công chúa, đại bàng, chằngtinh,
5 Con vật nào nghênh ngang đi lại ngoài đường và bị trâu giẫm bẹp
Đáp án: Con ếch
* 3 câu hỏi khó:
1 Câu “Môi hở răng lạnh” làm em nhớ đến câu chuyện nào?
Đáp án: "Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng".
2 Bức tranh sau gợi em nhớ đến câu chuyện nào? Tác giả viết lại câu chuyện ấy
có tên là gì?