Cuộc đời là nơixuất phát của văn học.+ Đứng trước HT cuộc sống phong phú, mỗi nhà nghệ sĩ có những cảm xúc, suyngẫm, lí giải khác nhau, lựa chọn những mảng đề tài khác nhau, cách xử lí đ
Trang 1Môn : NGỮ VĂN; Khối 11
Thời gian làm bài : 180 phút, không kể thời gian phát đề
- Ôi, chắc là bạn đau lắm Nhưng tại sao bạn lại phải làm như thế ?
- Họ hàng nhà tớ ai cũng phải lột xác thì mới lớn lên và trưởng thành được, dù rất đau đớn cá chép con ạ.
- À, bây giờ thì tớ đã hiểu
(Những mẩu chuyện thiếu nhi chọn lọc – NXB Kim Đồng, 2009)
Anh (chị) có suy nghĩ gì sau khi đọc câu chuyện trên ?
Câu 2 (12 điểm).
Nhận xét về vai trò của chi tiết nghệ thuật trong truyện, có ý kiến cho rằng:
“Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên?
Hãy chọn hai chi tiết đặc sắc trong hai tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân và “Chí Phèo” của Nam Cao để làm sáng tỏ nhận định trên.
Trang 2ĐÁN ÁN Câu 1 ( 8 điểm)
I Yêu cầu về kĩ năng : Nắm vững kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội Vận dụng
nhuần nhuyễn các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận…Diễn đạt trong sáng, bố cục rõ ràng, không mắc lỗi chính tả
II Yêu cầu về nội dung : Bài viết cần làm sáng tỏ những ý sau:
1 Phân tích khái quát câu chuyện:
- Câu chuyện nhấn mạnh đến cách thức mà cua con “lớn lên và trưởng thành” – đó là
“lột xác” “Lột xác” là trút bỏ lớp vỏ cũ, hình thành và phát triển một lớp vỏ hoàntoàn mới, vừa vặn hơn với cơ thể Mỗi lần lột xác là loài cua lại lớn hơn Song quátrình “lột xác” lại rất đau đớn và thường gặp nguy hiểm nữa Tuy nhiên, loài cuakhông thể lớn lên mà không lột xác
- Điều quan trọng là cách chấp nhận rất tự nhiên của cua con với quá trình lột xác của
họ hàng nhà mình, coi như đó là cách duy nhất để lớn lên và trưởng thành
2 Bình luận:
- Câu chuyện đã gợi cho ta bài học nhân sinh sâu sắc về quá trình lớn lên và trưởngthành của muôn loài và con người: muốn lớn lên và trưởng thành, muốn đạt đếnthành công thì tất cả muôn loài và con người cần phải trải qua chông gai thử thách,qua những quá trình lột xác đau đớn
- Cuộc đời con người là một hành trình dài, trong đó có những dấu mốc thành côngkhông thể phai mờ, nó đánh dấu sự trưởng thành của mỗi chúng ta trên đường đời.Nhưng để đi đến những thành công ấy, con người đã phải qua quá trình “lột xác” đauđớn Quá trình này là tự thân, không ai thay thế được chính bản thân ta Do đó, để
“lớn lên và trưởng thành”, con người phải tự thân vận động vượt qua khó khăn, thửthách, chông gai cũng như loài cua, cua con cũng phải tự lột xác mới lớn lên được
- Thái độ chấp nhận thử thách, khó khăn như một điều tất yếu trong cuộc sống là thái
độ cần thiết để con người có thể “lớn lên và trưởng thành” và đạt tới thành công.Vượt qua thử thách cũng là một cách để thể hiện bản lĩnh, ý chí, nghị lực sống củacon người, khẳng định ý nghĩa sự sống của mỗi con người
- Từ quá trình “lột xác” của cua con, câu chuyện cũng đưa ra một quy luật của sựsống: sự sống là một sự phát triển liên tục mà ở đó cái mới thay thế cái cũ là điều tấtyếu Con người cần nhận thức được quy luật của sự phát triển ấy để thích ứng và làmchủ bản thân trong những thử thách và chông gai trên đường đời Mỗi cá nhân đềucần lột xác để trưởng thành, từ đó thúc đẩy sự phát triển đi lên của xã hội
Trang 3*(Lưu ý: Mỗi luận điểm trên đều có phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ Dẫn chứngphải tiêu biểu, toàn diện, xác đáng)
- Điểm 1-2: Bài viết chưa hiểu rõ về vấn đề hoặc không biết cách lập luận, mắc lỗi
nhiều về kĩ năng và diễn đạt
- Điểm 0: Bài viết lạc đề hoàn toàn hoặc học sinh không viết bài.
Câu 2 (12 điểm)
I Yêu cầu về kĩ năng: Viết đúng kiểu bài nghị luận văn học dạng lí luận văn học,
vận dụng nhuần nhuyễn các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bìnhluận, so sánh Diễn đạt trong sáng, bố cục mạch lạc, rõ ràng Không mắc lỗi chínhtả
II Yêu cầu về nội dung: Học sinh có thể trình bày nhiều cách sáng tạo song cần
đảm bảo được những ý cơ bản sau:
1 Giải thích
- “Chi tiết” là gì? – Ở đây không phải muốn nói đến những chi tiết thông thường cấu
thành cốt truyện mà muốn nói đến những chi tiết nghệ thuật - là các tiểu tiết của tác
phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng (Từ điển thuật ngữ văn học).
- Vì sao “chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”? (Vai trò của chi tiết đối với tác phẩm văn
học và thể hiện tài năng của nhà văn)
Trang 4Chi tiết nghệ thuật tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong tácphẩm Chi tiết có khả năng thể hiện, giải thích, làm minh xác cấu tứ nghệ thuật củanhà văn, trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ của tư tưởng tác giả trong tác phẩm.
Chi tiết nghệ thuật gắn với quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người, vớitruyền thống văn hóa nghệ thuật nhất định
-> Do đó, “chi tiết nhỏ” có khả năng tạo nên “nhà văn lớn”
- Đánh giá được vị trí quan trọng của các chi tiết trong tác phẩm và trong việc thểhiện tài năng của nhà văn
b Cảm nhận, phân tích cụ thể các chi tiết:
- HS chọn và phân tích hai trong số những chi tiết đặc sắc thuộc hai tác phẩm “Chữngười tử tù” của Nguyễn Tuân và “Chí Phèo” của Nam Cao Bám sát vai trò và ýnghĩa của chi tiết đối với tác phẩm văn học và nhà văn, đồng thời làm rõ ý nghĩa, vaitrò của chi tiết với tác phẩm cụ thể
- Trong quá trình phân tích cần đối sánh để làm nổi bật ý nghĩa của từng chi tiết đãchọn
3 Bình luận, đánh giá
- Hai chi tiết đều là những chi tiết nghệ thuật đặc sắc, góp phần không nhỏ tạo nên thành công cho tác phẩm và nhà văn, thể hiện khả năng khái quát hiện thực và sáng tạo nghệ thuật của hai nhà văn
- Quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn là quá trình lao động công phu, chắt lọc từng chi tiết nhỏ trong đời sống để tạo nên những chi tiết nghệ thuật sáng giá Bởi vậy, nhận định trên hoàn toàn đúng đắn
III Cách chấm điểm:
- Điểm 10-12: Bài viết đáp ứng tốt các yêu cầu trên Hành văn có cảm xúc, lập luận
rõ ràng, dẫn chứng thuyết phục…
Trang 5- Điểm 7-9: Bài viết đáp ứng được những ý cơ bản, hầu như không mắc lỗi về kĩ năng
và diễn đạt
- Điểm 4-6: Bài viết chỉ trình bày được một nửa yêu cầu về kiến thức, còn mắc lỗi về
kĩ năng và diễn đạt
- Điểm 1-3: Bài viết chưa hiểu rõ về vấn đề, chủ yếu kể lể lại các tình tiết Diễn đạt
và kĩ năng viết văn nghị luận yếu
- Điểm 0: Bài viết lạc đề hoàn toàn hoặc học sinh không viết bài.
Trang 6-SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG THPT CHUYÊN BẮC GIANG
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI KHU VỰC DH&ĐBBB NĂM HỌC 2012-2013
(Đề thi gồm có 01 trang)
ĐỀ THI ĐỀ XUẤT
MÔN: VĂN - LỚP 11 Thời gian làm bài: 180 phút
Câu 1 (8 điểm): Suy nghĩ về câu nói sau:
Đường đời không chỉ có một lối đi
Câu 2 (12 điểm):
Mỗi nghệ sĩ có thể đến với văn chương và cuộc đời bằng con đường riêng của mình Nhưng… tư duy nghệ thuật dù có đổi mới đến đâu đi nữa thì cũng không thể vượt ra ngoài các quy luật của chân thiện mĩ, quy luật nhân bản Nhà văn chân chính
có sứ mệnh khơi nguồn cho dòng sông văn học đổ ra đại dương nhân bản mênh mông.
(Lã Nguyên, Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới tư duy nghệ thuật/
Nguyễn Minh Châu – về tác gia và tác phẩm; NXB GD; Hà Nội; 2007; trang 395)
Anh (chị) hiểu nhận định trên như thế nào? Làm sáng tỏ qua truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam và “Chí Phèo” của Nam Cao
………Hết………
Thí sinh không được sử dụng tài liệu Giám thị không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh:……… Số báo danh:…………Trường:………
Chữ kí của giám thị 1:……… Chữ kí của giám thị 2:………
Trang 7SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG THPT CHUYÊN BẮC GIANG
Câu 1 (8 điểm): Đường đời không chỉ có một lối đi
1 Giải thích (2.0 điểm)
- Lời khẳng định ở chỗ: không chỉ có một lối đi; đã nhấn mạnh: có nhiều lối đi
trên đường đời – con đường cuộc đời mỗi người Cuộc đời nhiều ngã rẽ, nhiều nẻođường; mỗi con đường dẫn đến những mục tiêu khác nhau Có con đường thẳng,phẳng phiu, có con đường chông gai, gồ ghề, trắc trở, gập ghềnh; có nhiều ngả đườngdẫn đến đích; vấn đề lối đi nào ngắn nhất, thông minh nhất, đạt mục tiêu sớm nhất thìcòn tùy thuộc vào sự lựa chọn của mỗi người
- Câu nói đặt ra vấn đề lựa chọn đường đi trên đường đời của con người
sự lựa chọn cho con người
Ví dụ để lập nghiệp lập thân với thanh niên có nhiều con đường: Ngày xưa để lậpnghiệp người con trai có thể trên con đường lập đức hành đạo, lập công, hay conđường lập ngôn Có người lựa chọn con đường công danh, người chọn con đường vănchương nghệ thuật, con đường võ nghệ Thời đại cách mạng cũng mở ra nhiều conđường với người thanh niên Việt Nam thế kỉ 20 Có người lựa chọn đúng đắn conđường của mình; nhưng không ít người lầm đường lạc lối Lựa chọn con đường sáng –
Trang 8tối, đen – trắng, phải – trái là cả vấn đề nhân cách và ý chí của con người Ngày naycũng vậy, có nhiều con đường: học tập thành danh, lao động sản xuất, kinh doanhcông nghệ, văn nghệ thể thao… và trên con đường nào cũng có người thành danh nổitiếng.
- Nhưng lưạ chọn con đường đi nào tùy thuộc vào mỗi người: mục tiêu, ước mơ,khát vọng, ham muốn, hay bản lĩnh, ý chí của con người Có người chọn đường đi trênđường đời đúng đắn, đi đến đích nhanh chóng dễ dàng? Có người lựa chọn sai conđường của mình dẫn đến những sai lầm đổ vỡ?
- Vấn đề đặt ra: có nhiều con đường đi trên đường đời đến đích, vậy nên conngười không nên bi quan chán nản mỗi khi vấp ngã trên đường đời Có những lúc bănkhoăn, chao đảo, đứng ở ngã ba cuộc đời nhiều lối rẽ, không biết đi con đường nào.Lúc ấy hãy tỉnh táo nhận ra con đường đi của riêng mình và quyết tâm dấn bước, đó làđiều tiên quyết để lập thân lập nghiệp với mỗi người, nhất là người thanh niên Vàphải chọn được con đường của riêng mình, không nên dẫm lên vết chân người đitrước
- Phê phán những người hèn yếu, không biết chọn đường đi trên đường đời, hoặcchọn con đường sai lầm hại dân hại nước, hại nhà hại mình; hoặc bỏ cuộc, đầu hàng sốphận
3 Bài học và liên hệ (1.0 điểm)
- Nhận thức được những ngã rẽ cuộc đời, con đường đúng đắn để đi
- Quyết tâm thực hiện con đường mình đã lựa chọn, không bỏ dở con đường; cónghị lực bản lĩnh vượt qua mọi trở ngại trên đường đời nhiều chông gai trắc trở; biếtchống lại những cám dỗ trên đường đời, biết tránh những xấu xa trên con đường để điđến đích
Câu 2 (12 điểm):
1 Giải thích: (4.5 điểm)
a Mỗi nghệ sĩ… riêng mình (1.5 điểm)
Câu nói đề cập đến cách tiếp cận, cắt nghĩa, lí giải đời sống bằng văn chương củamỗi người nghệ sĩ: mỗi người có con đường của riêng mình Vì sao?
Trang 9+ Vì đời sống là đối tượng khám phá của NT, của văn chương Cuộc đời là nơixuất phát của văn học.
+ Đứng trước HT cuộc sống phong phú, mỗi nhà nghệ sĩ có những cảm xúc, suyngẫm, lí giải khác nhau, lựa chọn những mảng đề tài khác nhau, cách xử lí đề tài khácnhau để đặt ra những vấn đề khác nhau Và đó là con đường riêng họ tạo ra cho mình
Đó cũng là yêu cầu xuất phát từ đặc trưng của VHNT: lĩnh vực của sự sáng tạo Đócũng là lương tâm, là trách nhiệm của mỗi người nghệ sĩ Nam Cao tâm niệm: “Vănchương không cần những người thợ khéo tay…”
Nếu không tạo ra con đường riêng của mình thì sao? Tác phẩm của họ sẽ trởthành sự sao chép, sẽ chết, sẽ dẫm lên vết chân của người đi trước Nghĩa là nó sẽchẳng mang đến chút gì mới lạ cho văn chương
Tác dụng: Tạo ra con đường riêng của mình người nghệ sĩ sẽ tạo ra sự đa dạngtrong sáng tạo nghệ thuật, khẳng định sức sống của mỗi tác phẩm, vị trí, phong cáchcủa nhà văn, cái lí để nhà văn đứng được với cuộc đời
Có thể lấy ví dụ: Cùng một đề tài, cách xử lí khác nhau ở các nhà văn
b Tư duy NT… quy luật chân thiện mĩ, quy luật nhân bản (1.5 điểm)
Đây là vấn đề đổi mới tư duy nghệ thuật – một vấn đề đặt ra như một nhu cầu
bức thiết, sống còn của nghệ thuật Nhà văn luôn phải tự làm mới mình góp phần đổimới nghệ thuật Đổi mới cái gì? Đổi mới đề tài, chủ đề, cảm hứng, văn phong… Quantrọng là đổi mới tư duy, cách nhìn nhận của nhà văn trước cuộc đời
Nhưng mọi sự đổi mới đều không vượt ra ngoài quy luật chân, thiện, mĩ Cáichân, cái thiện, cái mĩ, cái nhân bản vẫn là cái đích hướng đến của mọi khám phá,sáng tạo nghệ thuật Quy luật chân thiện mĩ, nhân bản giống như sợi dây neo giữ, làgiới hạn mà bán kính sáng tạo nhà văn quay chiều nào cũng không thể vượt qua Nóicách khác, nó cũng là một tâm điểm của mọi khám phá sáng tạo nghệ thuật
Văn học sở dĩ là nhu cầu, là món ăn tinh thần không thể thiếu của con người, vì
nó là lĩnh vực đáp ứng nhu cầu sống của con người Văn học có nhiều chức năng(nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, dự báo, giải trí…); có nhiều quan niệm cổ kim đôngtây, nhưng điểm giao thoa gặp gỡ vẫn cứ là cái chân - thiện - mĩ, những vấn đề mangtính nhân bản nhân văn của đời sống con người Cái chân, là muốn nói đến chức năng
Trang 10nhận thức của văn học; văn học phải chân thực Cái thiện là nói đến chức năng giáodục, cảm hóa của văn học Cái mĩ, là nói đến chức năng thẩm mĩ, chức năng cơ bảnnhất, chất keo kết dính các chức năng khác Khi đạt tới chân thiện mĩ là văn học đạttới chiều sâu nhân bản, hướng về con người, vì con người.
c Sứ mệnh nhà văn chân chính… đại dương nhân bản mênh mông (1.5
điểm)
Đây là vấn đề trăn trở của nhiều cây viết Chữ dùng có thể khác nhau, nhưngthực chất vẫn là một Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Tuân và nhiều nhà văn khác cónhững phát biểu về vấn đề này Đó là vấn đề cái tâm của người cầm bút Ở đây ngườinói đặt vấn đề: “khơi nguồn dòng sông văn học đổ ra đại dương nhân bản mênhmông” – ý tưởng độc đáo Mọi dòng sông đều đổ về biển rộng, cũng như mọi khámphá sáng tạo đều có đích hướng về, những vấn đề thuộc về con người, nhân sinh, nhânbản Bởi lẽ, con người là một trung tâm khám phá của văn học nghệ thuật Văn học cóthể viết về mọi vấn đề của đời sống, mọi hình thức sáng tạo, nhưng đều hướng tới làđể đặt ra và cắt nghĩa những vấn đề của nhân sinh Văn học chân chính phải là thứ vănchương vị đời, nhà văn chân chính phải là nhà văn vì con người, tác phẩm mới đạt tớitầm nhân bản
2 Chứng minh qua một vài tác phẩm (6.0 điểm)
- Cách đến với cuộc sống của Thạch Lam qua truyện “Hai đứa trẻ”: Chuyện mộtphố huyện buồn, những đứa trẻ nghèo với tâm hồn nhân ái, giàu mơ ước Qua đó nhàvăn đặt ra nhiều vấn đề sâu sắc mang tính nhân văn, nhân bản: vấn đề khát vọng sốngcủa con người; vấn đề quyền được sống của trẻ em; vấn đề số phận con người và khátvọng đổi thay cuộc sống… Tác phẩm lấp lánh tư tưởng nhân văn theo cách viết của
Trang 11- Cả hai tác phẩm đều chạm tới vấn đề mang tính nhân văn, nhân bản: khám phá
vẻ đẹp con người, chất người, tức là đạt tới chân thiện mĩ… Tuy nhiên mỗi tác giảtrong mỗi tác phẩm lại có những khám phá nghệ thuật riêng, hướng đi riêng; làm nêngiá trị riêng cho mỗi tác phẩm và khẳng định vị trí của mỗi nhà văn trong nền văn học
(3.0 điểm).
3 Kết luận (1.5 điểm): khẳng định vai trò của hướng đi riêng trong khám phá
sáng tạo; đặc biệt là cái đích muôn đời của văn chương
Trên đây chỉ là những gợi ý có tính chất định hướng GV cần căn cứ trên bài viết cụ thể để chấm điểm cho sát hơn Khuyến khích những bài viết sáng tạo
Người ra đề: Trần Thúy Hoàn, GV THPT Chuyên Bắc Giang
Trang 12Sở giáo dục đào tạo Hà nam đề thi chọn học sinh giỏi
Trường thpt chuyên biên hoà khối trường thpt chuyên
Nghệ thuật miêu tả tâm lí con người là thước đo tài năng người nghệ sĩ.
Hãy phân tích trong sự đối sánh nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và nhân vật văn sĩ Hộ trong Đời thừa (Nam Cao) để thấy được những nét riêng của mỗi nhà văn về vấn đề nói trên (theo Ngữ Văn 11, Nâng cao, tập 1)
Sở giáo dục đào tạo Hà nam hướng dẫn chấm
Trường thpt chuyên biên hoà đề thi chọn học sinh giỏi
(đề giới thiệu) khối trường thpt chuyên Duyên hải bắc bộ
Người ra đề: Lê Thị Chung Năm học 2012-2013
Môn ngữ văn: lớp 11
Câu 1 (8 điểm)
Trên cơ sở hiểu đúng vấn đề về trình độ học vấn, ứng xử văn hóa của con người trong cuộc
sống hiện đại hôm nay, biết cách tạo lập văn bản nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lí, học sinh có thể trình bày bằng nhiều cách, song về cơ bản cần có những ý sau:
1 Dẫn dắt, nêu vấn đề nghị luận (0,5 điểm)
a Người có trình độ học vấn thường có cách cư xử rất văn hoá Vì kiến thức họ nhận được từ
sách vở, về thực tế và cách ứng xử luôn hoà thấm trong nhau Họ học cao, biết rộng, hiểu tâm lí con người nên làm chủ được phát ngôn hành động, cử chỉ của mình trong mọi tình huống Họ biết tôn trọng mình, tôn trọng người khác Trong mắt mọi người, họ luôn được mọi người yêu mến, nể trọng, (Dẫn chúng thực tế minh hoạ…)
b.Nhưng có một số người có trình độ học vấn nhưng chưa chắc đã có cách ứng xử văn hoá Vì
những người này thường không làm chủ được lới nói, hành vi của mình nhất là trong hoàn cảnh bất thường Có thể học rộng, tài cao nhưng đôi lúc không ý thức được hành vi của mình là thiếu văn hoá, làm tổn hại đến danh dự, quyền lợi của người khác hay suy nghĩ lệch lạc để biện hộ cho việc khẳng định bản thân trước đám đông, hoặc do tâm lí đố kị, thù hằn ai đó ăn sâu vào tiềm thức nên
Trang 13muốn hạ thấp nhân phẩm, thậm chí lấy đi mạng sống của kẻ đối nghịch, … Cách ứng xử thiếu văn hoá là mầm mống của căn bệnh vô cảm đến lạnh lùng, tàn nhẫn trong xã hội cần được đấu tranh, lên án,…(Dẫn chứng thực tế minh hoạ)
c Trong xã hội, lại có người không có trình độ học vấn nhưng cách ứng xử vẫn có văn hoá Đó là
những người do điều kiện không thuận lợi nên không được học hành đến nơi đến chốn nhưng họ biết phân biệt rõ trắng - đen, phải - trái trong cuộc đời Họ am hiểu tâm lý con người hướng tâm hồn mình và người khác đến chân trời của chuẩn mực đạo đức, của cái Đẹp Họ có khả năng kiềm chế nóng giận, bức xúc trong hoàn cảnh bất thường Họ có tấm lòng bao dung, nhân hậu, vị tha Cuộc sống này có vô vàn những con người như thế, rất đáng để ta quý trọng và học tập,…(Dẫn chứng thực tế minh hoạ)
4 Bài học nhận thức và hành động (1,0 điểm)
- Cần tiếp thu tri thức sách vở, trau dồi kĩ năng sống, kiên định theo lí tưởng sống cao đẹp.
- Đấu tranh với những biểu hiện thiếu văn hoá trong cuộc sống hằng ngày.
Câu 2 (12 điểm)
Trên cơ sở hiểu đúng yêu cầu của đề, nắm chắc kiến thức về các tác phẩm Hai đứa trẻ, Đời
thừa, các tác giả Thạch Lam, Nam Cao, biết cách tạo lập văn bản nghị luận văn bản ở dạng đề đối
sánh, học sinh có thể trình bày theo nhiều cách, song về cơ bản cần có những ý sau.
1 Dẫn dắt, nêu vấn đề nghị luận (0,5 điểm )
2 Giải thích (2,0 điểm)
- Tâm lí, tính cách con người bao giờ cũng là đối tượng phản ánh của văn học Lịch sử văn học
dân tộc xét cho cùng là lịch sử tâm hồn của nhân dân.
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí là nhà văn sử dụng các phương tiện, biện pháp nghệ thuật để tái hiện
thế giới tâm lí phong phú, phức tạp của con người trong tác phẩm của mình.
- Thước đo là tiêu chuẩn đánh giá sự vật, hiện tượng nào đó.
- Tài năng người nghệ sĩ là khả năng sáng tạo nghệ thuật, cơ sở để hình thành phong cách nhà
văn.
-> Nhận định trên thừa nhân chân lí trong sáng tạo nghệ thuật: tài năng của người nghệ sĩ không phụ thuộc vào điều anh ta nói mà hãy xem anh ta miêu tả tâm lí nhân vật ra sao? Người nghệ sĩ lớn bao giờ cũng là một bậc thầy trong việc mêu tả tâm lí.
3 Phân thích trong sự đối sánh
3.1 Giống nhau (2,0 điểm)
a Tác giả: Thạch Lam và Nam Cao là những nhà văn xuất sắc có đóng góp lớn cho công cuộc
hiện đại hoá văn học nước nhà (giai đoạn đầu thế kỉ XX đến năm 1945)
b Cảm hứng sáng tạo: Họ đều hướng tới những số phận bất hạnh trong xã hội cũ bằng trái tim
nhân đạo dào dạt, sâu sắc.
c Nghệ thuật miêu tả tâm lí:
- Đều tìm đến thể loại truyện ngắn.
- Đều chú trọng đến việc miêu tả tâm lí con người trong hoàn cảnh cụ thể, không quan tâm nhiều đến việc miêu tả yếu tố ngoại hình.
- Ngôn ngữ giản dị, trong sáng, phù hợp với tâm lí nhân vật.
3.2 Khác nhau (7,0 điểm)
a Tác giả:
- Thạch Lam là nhà văn thuộc khuynh hướng văn học lãng mạn.
- Nam Cao là nhà văn thuộc khuynh hướng văn học hiện thực phê phán.
b Cảm hứng sáng tác:
- Thạch Lam: Cảm thương vô hạn trước những mảnh đời vô danh, vô nghĩa trong xã hội cũ.
- Nam Cao: Thông cảm sâu sắc trước tấn bi kịch tinh thần đau đớn, dai dẳng của người tri thức nghèo trong xã hội cũ.
c Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của hai nhà văn
* Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật Liên của nhà văn Thạch Lam.
Trang 14- Tác giả miêu tả cảm xúc, cảm giác mong manh, tinh tế: lúc chiều tàn khi đêm xuống, Liên
lắng nghe lòng mình phát hiện những cảm giác mơ hồ không hiểu.
- Sự nhịp nhàng giữa ngoại cảnh và tâm hồn nhân vật : buổi chiều, cửa hàng hơi tối - đôi mắt
Liên ngập đầy dần bóng tối; đêm xuống, tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn- đêm phố huyện yên tĩnh đến mức có thể nghe thấy tiếng hoa bàng rơi khe khẽ; đến đêm khuya, khi tàu đến từ xa, Liên đánh thức
An dậy; khi tàu đến rồi vụt qua, Liên dắt tay em đứng lên ngắm nhìn; tàu đi vào trong đêm tối và không còn nghe thấy tiếng xe lửa nữa thì Liên đi nghỉ rồi chìm vào giấc ngủ tĩnh mịch và đầy bóng tối,…
- Thủ pháp đối lập, thủ pháp được các nhà văn lãng mạn ưa dùng: Đối lập giữa quá khứ rực
rỡ và hiện tại buồn chán của Liên; đối lập giữa cái thoáng qua là đoàn tàu thì rực rỡ, tráng lệ và cái hiện tại là bóng tối thì bền vững.
- Lựa chọn hệ thống hình ảnh thi vị nhẹ nhàng, giàu sức gợi, câu văn có nhịp điệu êm mượt,
góp phần làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, nhạy cảm của nhân vật.
* Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật Hộ của nhà văn Nam Cao:
- Nam Cao miêu tả rất sâu sắc những giằng xé trong tâm trạng người trí thức nghèo:
+ Hộ có khát vọng cao đẹp nhưng không thể thực hiện khát vọng ấy Vì thế Hộ rất khổ tâm: Nam Cao đã đi sâu miêu tả thế giới tâm lí đau đớn của Hộ khi không làm gì được để nâng cao giá trị cuộc sống của mình: xấu hổ, đau đớn,…mắng mình là thằng khốn nạn, đê tiện Khi biết mình không thể đạt được hoài bão vì gánh nặng cơm áo ghì sát đất, những cái tên sau mới trồi ra rực rỡ hơn thì Hộ trở nên thay đổi tâm tính: cau có, gắt gỏng, bực bội Hộ nhận ra mình đã hỏng, không thể cứu vãn…
+ Hộ không thể lựa chọn dứt khoát giữa nghệ thuật và tình thương Dám hi sinh nghệ thuật
vì tình thương, sống cho tình thương nhưng giấc mơ có một tác phẩm có giá trị cứ âm ỉ, giày vò Hộ Điều ấy dẫn anh đến bi kịch thứ hai Hộ chà đạp lên lẽ sống, tình thương rồi lại ân hận vì điều đó Anh rơi vào bế tắc.
- Nam Cao khéo léo tạo tình huống để đẩy xung đột nội tâm lên đỉnh điểm Đó là lần Hộ xuống
phố đi lĩnh nhuận bút, gặp Trung và Mão, anh lại quên người vợ hiền, đàn con đang đói khát đợi ở nhà… Kết thúc truyện, Nam Cao để cho nhân vật Hộ tự chất vấn lương tâm,… -> Trước sau, Hộ vẫn bảo vệ lẽ sống tình thương Đây là cảm hứng chủ đạo xuyên suốt sự nghiệp sáng tác của Nam Cao.
- Nam Cao linh hoạt trong việc sử dụng ngôn từ để miêu tả nội tâm nhân vật: có khi dùng lời
người kể chuyện; có khi dùng lời nhân vật…
3.3 Lý giải sự khác nhau (0,5 điểm)
- Do hoàn cảnh sống, sở trường của mỗi nhà văn.
- Do yêu cầu của nghệ thuật: không lặp lại người khác.
Trang 16
SỞ GD&ĐT HÒA BÌNH ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI BẬC THPT
TRƯỜNG THPT CHUYÊN VÙNG DUYÊN HẢI &ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ HOÀNG VĂN THỤ LẦN THỨ VI, NĂM HỌC 2012-2013
Môn Ngữ văn; Lớp: 111
ĐỀ GIỚI THIỆU Thời gian: 180 phút không kể thời gian phát đề
Câu 1 (8,0 điểm)
Nêu những cảm nhận và suy ngẫm của anh (chị) về ý kiến sau của R.Targore
“Nếu bạn đóng cửa với mọi sai lầm, chân lý cũng bị bạn cho đứng ngoài cửa”
-Thí sinh không được sử dụng tài liệu Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh: ; Số báo danh:
………
SỞ GD&ĐT HÒA BÌNH ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI BẬC THPT
TRƯỜNG THPT CHUYÊN VÙNG DUYÊN HẢI &ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ HOÀNG VĂN THỤ LẦN THỨ VI, NĂM HỌC 2012-2013
Môn: Ngữ văn ; Lớp: 11
HƯỚNG DẪN CHẤM
Câu 1 1) Đây là dạng đề mở Thí sinh có quyền tự do trình bày suy
nghĩ của mình theo những hướng khác nhau Tuy nhiên, cần
đạt được một số yêu cầu cơ bản sau:
- Về hình thức và kĩ năng
8 điểm
Trang 17Trước hết, thí sinh cần phải xác định đây là đề nghịluận xã hội Dạng đề này cho phép thí sinh tự do lựa chọn
các kiểu bài và thao tác tạo lập văn bản khác nhau, nhưng
phải phù hợp và nhuần nhuyễn Đồng thời, thí sinh cũng
đựoc tự do huy động các chất liệu khác nhau như: chất liệu
thuộc tri thức sách vở, tri thức đời sống và những trải
nghiệm của riêng mình Tuy nhiên, vẫn phải xác định rõ vấn
đề ở câu này thuộc về thực tế đời sống chứ không phải trong
các tác phẩm văn học
- Về nội dung
Bài làm cần đạt được những nội dung cơ bản sau:
a) Giải thích câu nói
- Sai lầm: những thất bại, ngộ nhận, sai sót trong cuộcsống
- Đóng cửa: Không chấp nhận, thừa nhận
- Chân lý: Những nhận thức đúng đắn, có ý nghĩa lớnlao, quan trọng
Ý kiến của R.Targo muốn khẳng định về ý nghĩa củanhững sai lầm trong cuộc sống Việc biết chấp nhận,thừa nhận sai lầm là cách tốt nhất để tìm ra chân lýtrong cuộc sống
b)Bình luận về ý kiến của R.Targo
- Khẳng định ý kiến của R.Tagore là rất sâu sắc vì:
+ Những chân lý trong cuộc sống thường gắn với những
kiến thức phức tạp, những triết lí sâu sắc đòi hỏi một quá
trình tư duy nghiền ngẫm dài nên không dễ gì để tìm ra chân
lý Việc mắc sai lầm trong quá trình đi tìm chân lí là điều
khó tránh khỏi
+ Sau mỗi lần thất bại nếu biết phân tích, tìm nguyên nhân,
tìm cách khắc phục thì con người sẽ rút ra được những bài
học, kinh nghiệm quý báu để có thể thành công trong những
lần sau
+ Biết đối diện và vượt qua những sai lầm con người sẽ trở
nên bản lĩnh, giàu kinh nghiệm sống Đây là điều kiện quan
trọng để có thể tìm được những chân lý có giá trị
+ Mọi chân lý đều có tính tương đối, đến một thời điểm nảo
đó sẽ trở nên lạc hậu hoặc không còn phù hợp vì vậy cần
Trang 18xác định tâm lí dám chấp nhận và vượt qua sai lầm thì con
người mới có thể vượt qua chính mình tìm ra những chân lý
là cần rút kinh nghiệm để thành công Mỗi người cầnxác định tâm lý vững vàng để dám chấp nhận và vượtqua sai lầm của bản thân tránh rơi và tâm lí bi quan,hụt hẫng, sợ đối mặt với sai lầm
- Bài học về hành động: Sau mỗi lần mắc sai lầm cầnnghiền ngẫm, phân tích để xem mắc sai lầm ở đâu vàtìm cách khắc phục Cần mạnh mẽ và bản lĩnh để
vượt qua sai lầm
Phần liên hệ bản thân: khuyến khích nhữngcảm xúc chân thành, những câu chuyện cảm động của bản
thân học sinh
2) Là dạng đề mở, nên người chấm cũng cần có cáinhìn "mở" Nghĩa là cần đón nhận nhiều quan điểm khác
nhau, nhiều lối nghĩ khác nhau, nhiều lối viết khác nhau,
nhiều thể loại và văn phong khác nhau… Không nên câu nệ
trong đánh giá
Câu 2: Thí sinh có quyền triển khai bài làm của mình theo những
hướng và các cách khác nhau Tuy nhiên, bài làm cần đạt
được một số yêu cầu cơ bản sau:
- Về hình thức và kĩ năng (2,0 điểm)
Thí sinh cần xác định đây là kiểu bài lý luận văn họcđể triển khai bài làm đúng kiểu văn bản Thí sinh cần phát
huy đồng thời kiến thức lí luận văn học và kĩ năng phân
tích tác phẩm văn học để làm sáng rõ cho luận đề
- Về nội dung (10,0 điểm)
Bài làm cần đạt được hai nội dung căn bản sau:
Mở bài:
Dẫn dắt để giới thiệu được luận đềThân bài:
12 điểm
Trang 19muốn có phong cách riêng nhất thiết phải có một “giọng điệu”
riêng Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” [1] thì“Giọng điệu
phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ
của tác giả, có vai trò rất lớn tạo nên phong cách nhà văn và tác
dụng truyền cảm cho người đọc.”
-> Ý kiến của Sê-khốp thực chất bàn về phong cáchnghệ thuật với các cấp độ khác nhau Để trở thành một nhà
văn, người cầm bút cần tìm ra cho mình một hướng tiếp cận,
khai thác, phản ánh đời sống một cách độc đáo, còn để trở
thành một nhà văn tài năng, người cầm bút cần tạo ra cho
mình một giọng điệu riêng không lẫn với bất cứ nhà văn nào
khác
2/ Bình luận
* Khẳng định ý kiến trên là hoàn toàn xác đáng, sâu
sắc và đúng đắn
*Chứng minh bằng kiến thức lý luận văn học:
Học sinh cần huy động kiến thức lý luận về phong cách
nghệ thuật để nhận thấy điều không thể thiếu với mỗi nhà
văn chính là phong cách nghệ thuật
+ Phong cách nghệ thuật là những nét độc đáo trong cả nội
dung và hình thức nghệ thuật của một tác phẩm Với một tác
giả, phong cách tạo nên từ sự lặp lại tương đối liên tục của
các nét độc đáo này
+ Phong cách nghệ thuật thể hiện ở cái nhìn, phạm vi đề tài,
chủ đề, các biện pháp nghệ thuật, giọng điệu…
+ Vai trò của phong cách: Làm nên sức sống cho tác phẩm
và khẳng định tài năng của tác giả
* Chứng minh bằng kiến thức văn học
Học sinh có quyền lựa chọn những tác phẩm văn xuôi đã
học để chứng minh trong đó cần tập trung làm rõ:
- Lối đi riêng của các tác giả: vd Thạch Lam chọn sự giao
thoa giữa hiện thực và lãng mạn, tự sự và trữ tình; Nguyễn
Tuân luôn khai thác đời sống ở phương diện văn hóa thẩm
mĩ: Nam Cao luôn khai thác người nông dân trong mối quan
hệ tính cách- hoàn cảnh để làm bật lên nhân phẩm…
- Giọng điệu riêng của các tác giả: VD Thạch Lam luôn có
giọng nhỏ nhẹ, thâm trầm, thấm đẫm chất thơ; Vũ Trọng
Phụng luôn có giọng đả kích, châm biếm, sâu cay; Nam Cao
Trang 20cú sự hũa trộn giọng điệu đờ̉ tỏc phẩm cú tớnh đa thanh, đa
1 Nghị luận xó
về cuộc sống xung quanh qua sỏch, bỏo, truyện, sỏch đờ̉ nghị luận
Số cõu: 1
Tỉ lệ: 40% 1 cõu (40% ì20 = 4,0 đ) 40% ì 20 =
8,0 đ
2 Nghị luận văn
luận về giỏ trị của
truyện cổ tớch Qua
đú đảm bảo tớnh trọn vẹn về nội dung và tớnh thẩm
mĩ về hỡnh thức trỡnh bày.
Trờng thpt chuyên hng yên
đề thi chọn học sinh giỏi Khối trờng thpt chuyên
Trang 21Duyªn h¶i b¾c bé
N¨m häc 2012 – 2013.
M¤N NG÷ V¡N - LíP 11
Đề gồm 2 câu 1 trang( Thời gian làm bài: 180 phút)
Câu 1: ( 8 điểm).
Suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề đặt ra trong đoạn thơ sau:
“Người chìa tay và xin con một đồng
Lần thứ nhất con hãy tặng người ấy hai đồng
Lần thứ hai hãy biếu họ một đồng
Lần thứ ba con phải biết lắc đầu.
Và đến lần thứ tư, con hãy im lặng, bước đi.”
(“Gửi con” - Bùi Nguyễn Trường Kiên)
Trang 22§Ò THI CHäN HäC SINH GIáI KHèI TR¦êNG THPT CHUY£N DUY£N H¶I B¾C Bé N¡M HäC : 2012 – 2013 M¤N NG÷ V¡N - LíP 11 Câu 1(8 điểm)
I Yêu cầu về kĩ năng.
- Biết cách làm bài nghị luận xã hội, bố cục mạch lạc, rõ ràng, lập luận chặtchẽ, dẫn chứng cụ thể, sinh động, văn giàu cảm xúc, không mắc lỗi về chính tả, dùng
từ, diễn đạt
II Yêu cầu về kiến thức.
- Hiểu và đánh giá, bàn luận thuyết phục vấn đề mà đề bài nêu ra
- Học sinh có thể có những kiến giải, đánh giá theo quan điểm riêng của mìnhsong cần lôgic, hợp lí và đảm bảo những ý sau :
1 Dẫn dắt, nêu được vấn đề cần nghị luận.
2 Giải thích:
Qua đoạn thơ, người cha nhắc nhở con về việc giúp đỡ người khác trong cuộcsống Cần giúp đỡ mọi người song phải biết giới hạn, và đôi khi, từ chối cũng là mộtcách giúp đỡ
3 Bình luận:
+ Giúp đỡ người khác là nghĩa cử cao đẹp, cần thiết trong cuộc sống Vì trongcuộc sống ai cũng có lúc gặp khó khăn, sự giúp đỡ của người khác có giá trị quý báu,góp phần nâng đỡ cả về vật chất và tinh thần, thắt chặt sợi dây nối kết giữa người vớingười
+ Tuy nhiên, đôi khi chúng ta cũng cần học cách từ chối lời đề nghị giúp đỡ.Bởi nếu ta quá dễ dãi, ta dễ bị lợi dụng, bản thân người được giúp đỡ cũng ỷ lại,không chịu tự thân vận động Khi đó việc làm của ta trở thành “phản tác dụng”,chẳng những không thể giúp người mà còn hại người Sự từ chối, ban đầu có thể gâymất lòng nhưng mặt khác, đó cũng là cách để người đó chủ động, tích cực phát huykhả năng của bản thân, tự mình tháo gỡ khó khăn, vững vàng hơn trong cuộc sống
Trang 23(HS cần chú ý phân tích cách đếm số lượng: lần thứ nhất, lần thứ hai… không
nhằm chỉ những con số cụ thể mà nhằm nhấn mạnh tính chất tăng tiến, hành động
“chìa tay và xin” lặp lại nhiều lần – Đó là khi người nhận thụ động, lười biếng, chỉtrông chờ vào người khác)
4 Mở rộng:
+ Khi giúp đỡ cần chân thành, tránh tuyệt đối thái độ ban ơn, khinh rẻ người
nhận (Chú ý các từ: tặng, biếu trong lời thơ)
+ Khi từ chối cũng cần kiên quyết tránh cả nể (lắc đầu, im lặng, bước đi)
5 Liên hệ bản thân: Học cách giúp đỡ người khác, nhiệt tình, đúng mực để sự giúp
đỡ ấy phát huy giá trị tốt đẹp
(Trong khi làm rõ các ý, cần liên hệ với thực tiễn bằng các dẫn chứng sinh động)
III Cách cho điểm
- Điểm 7-8: Bài viết nắm chắc vấn đề, trình bày một cách thuyết phục
các yêu cầu về kiến thức nêu trên Có kiến thức xã hội phong phú; hành văn mượtmà; kết cấu mạch lạc, lôgic, lập luận sắc sảo, có những phát hiện tinh tế, sáng tạo.Không vi phạm yêu cầu về kĩ năng
- Điểm 5-6: Học sinh trình bày một cách tương đối các yêu cầu về kiến
thức, biết làm bài nghị luận xã hội Bố cục bài viết sáng rõ, lôgic, dẫn chứng thuyếtphục Có thể chấp nhận vài lỗi nhỏ
- Điểm 3-4: Hiểu vấn đề nhưng lập luận chưa chặt chẽ, trình bày được ½
yêu cầu về kiến thức, ý văn chưa sáng, còn vài lỗi về diến đạt
Câu 2 (12 điểm):
A Yêu cầu :
*Về kĩ năng: Làm tốt kiểu bài nghị luận văn học với việc vận dụng kết hợp các
thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bình luận Bố cục rõ ràng, hànhvăn trôi chảy, mượt mà, lí lẽ sắc sảo, không mắc lỗi về chính tả, dùng từ, ngữ pháp
* Về kiến thức: Trên cơ sở hiểu biết về Thơ mới, đặc biệt là các tác phẩm trong
chương trình Ngữ Văn 11, học sinh có thể có những cách kiến giải khác nhau, songcần đảm bảo các ý chính:
1 Giải thích:
Trang 24- “Câu thơ hay”: Là sản phẩm lao động sáng tạo của nhà thơ, có khả năng layđộng lòng người, có giá trị tinh thần bền vững, có sức sống mãnh liệt trong lòng độcgiả, cũng là hình thức tồn tại của những tư tưởng, tình cảm mà nhà thơ muốn gửigắm.
- “Đọc”: Là hành động tiếp nhận và thưởng thức của người đọc
- “Tình người”: Là nội dung tạo nên giá trị đặc trưng của thơ
=> Quan niệm của Tố Hữu đề cập đến giá trị của thơ từ góc độ của người tiếpnhận: Giá trị của thơ là giá trị của những tư tưởng, tình cảm được biểu hiện trong thơ
2 Lí giải:
- Đối tượng của thơ là thế giới tâm hồn, tình cảm của con người Những cảmxúc, rung động, những suy tư, trăn trở… đều có thể trở thành đối tượng khám phá vàthể hiện của thơ
- Với người làm thơ, bài thơ là phương tiện biểu đạt tình cảm, tư tưởng Chỉ cócảm xúc chân thành, mãnh liệt mới là cơ sở cho sự ra đời một tác phẩm nghệ thuậtchân chính Cảm xúc càng mãnh liệt, càng thăng hoa thì thơ càng có nhiều khả năngchinh phục, ám ảnh trái tim người đọc
-Với người đọc thơ, đến với bài thơ là để trải nghiệm một tâm trạng, một cảmxúc và kiếm tìm sự tri âm Do vậy, khi tìm đến một tác phẩm thơ, người đọc quantâm nhiều tới cảm xúc, tới tình cảm mà nhà thơ kí thác Tuy nhiên, nói “không thấycâu thơ” không có nghĩa là câu thơ không tồn tại mà hình thức biểu hiện đó đã đồngnhất với nội dung, trở thành dạng tồn tại của nội dung tình cảm
3 Chứng minh bằng việc phân tích một vài dẫn chứng thơ tiêu biểu trong
phong trào Thơ mới (Chú ý: Học sinh trong quá trình phân tích phải làm nổi bật tiếngnói tình cảm, nội dung cảm xúc được thể hiện trong thơ.)
4 Đánh giá, mở rộng:
- Ý nghĩa của câu nói đối với người làm thơ?
- Ý nghĩa của câu nói đối với người đọc thơ?
-Thơ hay là thơ lay động tâm hồn con người bằng tình cảm song để có thơhay , người làm thơ bên cạnh sự sâu sắc, mãnh liệt của tình cảm, sự phong phú của
Trang 25cảm xúc cần nghiêm túc, công phu trong lao động nghệ thuật Đây là hai yếu tốkhông thể xem nhẹ trong sáng tạo và thưởng thức thơ ca.
Điểm 3- 4: Hiểu đề lơ mơ, bài viết sơ sài, diễn đạt lủng củng
Chú ý: Người chấm linh hoạt trong quá trình chấm bài, khuyến khích nhữngbài viết sáng tạo, có sự phát hiện mới mẻ và có cách lí giải thuyết phục
.Hết
Trang 26Thời gian làm bài: 180 phút
(không kể thời gian phát đề) (Đề thi có 01 trang )
C©u 1.( 8 ®iÓm)
Trong cuốn nhật kí Mãi mãi tuổi hai mươi, Nguyễn Văn Thạc viết: “…thời gian trôi, không bao
giờ ngoảnh lại và những gì mất đi không bao giờ người ta còn có Nhưng thời gian vẫn còn thừa thãi, còn rơi vãi trong tay những người đang than thở”.
Suy nghĩ của anh(chị) về lời tâm sự trên.
Câu 2 (12 điểm)
“ Trên trang sách, cuộc sống tuyệt vời biết bao nhưng cũng bi thảm biết bao Cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu muộn Cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời”
(Theo Nguyễn Văn Thạc - Mãi mãi tuổi 20)
Anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua một số tác phẩm văn học
Trang 27
HƯỚNG DẪN CHẤM
I HƯỚNG DẪN CHUNG
Đề bài gồm 2 câu theo cấu trúc đề thi học sinh giỏi Quốc gia: câu 1 (8 điểm) là bài nghị luận
xã hội; câu 2 (12 điểm) là bài nghị luận văn học Đề bài có sự tích hợp kiểm tra kiến thức xã hội, kiến thức văn học và kĩ năng diễn đạt, lập luận của học sinh.
Giám khảo cần nắm vững nội dung bài làm của học sinh để đánh giá, tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc Chú ý khuyến khích các bài viết có ý riêng, sáng tạo.
Thí sinh có thể trình bày theo các cách riêng, nếu đáp ứng các yêu cầu vẫn cho đủ điểm.
II ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM
1 Yêu cầu chung về kĩ năng
Nắm phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội và bài nghị luận văn học Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác.
Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục.
Không mắc lỗi diễn đạt, chính tả, dùng từ.
2 Yêu cầu chung về nội dung
Câu
1 Suy nghĩ về ý nghĩa của thời gian, thái độ sống 8,0
* Giải thích:
-Nguyễn Văn Thạc chỉ ra quy luật của thời gian và cuộc sống con người: thời gian
“Không bao giờ ngoảnh lại” “ những cái mất đi không bao giờ người ta còn có”.
-Thời gian đang bị lãng phí,bị mất đi một cách vô ích -> không được sử dụng, không
được trân trọng Người đang than thở: là những người đang kêu than, thổ lộ nỗi buồn
rầu đau khổ của mình.Những người này đã bỏ phí thời gian vào việc kêu than.
-> Khảng định: thời gian rất quý giá nó một đi không trở lại vì thế phải trân trọng và
sống thật có ý nghĩa, vượt lên trên những đau buồn, nghịch cảnh để sống có ích hơn.
2,0
Bình luận:
-Đây là ý kiến của một liệt sĩ trẻ đã hiến dâng cuộc đời và tuổi thanh xuân cho cách
mạng, cho sự nghiệp cứu nước vĩ đại của nhân dân ta Anh là biểu tượng của vẻ đẹp lí
tưởng và khát vọng sống cống hiến Chính vì vậy đây là lời tâm sự rất thật, rất đáng trân trọng ở mọi giai đoạn lịch sử nước nhà.
-Con người luôn chạy đua với thời gian bởi thời gian trôi đi là không trở lại,bởi con
người ai cũng chỉ được sống môt lần cần phải sống sao cho không khỏi ân hận xót xa vì
đã sống hoài sống phí.
-Bên cạnh những niềm hạnh phúc cuộc sống còn luôn chứa đựng những nghịch cảnh,
những khó khăn có thể khiến con người phải đau khổ Chúng ta sẽ cần sự sẻ chia song
nếu chúng ta đầu hàng số phận, ngồi kêu than với những khó khăn gặp phải mà không
đứng lên làm cho tốt đẹp hơn lúc đó ta đã lãng phí thời gian sống vì sống không có ích,
sống hoài, sống phí.
- Phê phán những con người sống ích kỉ, nhút nhát, thiếu ý chí ( nhất là một bộ phận
giới trẻ ăn chơi, thiếu lí tưởng ước mơ….)
- Ca ngợi và trân trọng những tấm gương luôn vượt qua nghịch cảnh để sống tốt đẹp
hơn, ca ngợi những người làm việc , sống hết mình để thời gian sống trở nên đáng quý
vì không chỉ làm cho mình họ đã sống cho cả những người xung quanh.
4,0
Trang 28 Lưu ý: học sinh cần lấy dẫn chứng trong thực tế cuộc sống để chứng minh.
Cuộc sống được đề cập trong văn học luôn có hai mặt: vừa có những hạnh
phúc tuyệt vời vừa có những đau khổ bất tận, vừa có nụ cười trong sáng vừa có giọt
Học sinh phân tích tác phẩm để chứng minh:
Cuộc sống tuyệt vời với cái đẹp, cái nên thơ chính là những giá trị tốt đẹp của
cuộc sống: lòng yêu thương, đức hy sinh, sự rung động trước cái đẹp,…
Cuộc sống bi thảm với niềm sầu muộn và giọt nước mắt chính là những mặt hạn chế, tiêu cực Đó là cái ác, cái xấu, những mặt trái của con người, cái khốc liệt của
chiến tranh, …
Tất cả những điều này đều được phản ánh trong văn học.
Văn học không phản ánh cuộc sống một cách đơn điệu, một chiều mà ở góc nhìn
đa chiều Trong mặt tốt, tích cực có cái tiêu cực, hạn chế.
Cái đẹp mà văn học đem lại không phải cái gì khác hơn là cái đẹp của sự thật
đời sống được khám phá một cách nghệ thuật.
6,0
Khái quát, đánh giá những vấn đề đã nghị luận. 1,5
Trang 29SỞ GD& ĐT NINH BÌNH
TRƯỜNG THPT CHUYÊN
LƯƠNG VĂN TỤY
ĐỀ THI CHỌN HSG KHU VỰC ĐBDH&BB
Năm học 2012-2013 MÔN: NGỮ VĂN LỚP 11 Thời gian làm bài 180 phút
(không kể thời gian giao đề)
Vì không còn hoàn hảo nên nó lăn rất chậm Nó bắt đầu ngợi khen những bông hoa dại đang toả sắc bên đường, nó vui đùa cùng ánh nắng mặt trời, tâm tình cùng sâu bọ… Một ngày kia nó tìm được một mảnh hoàn toàn vừa khít và ghép vào Nó lăn đi
và nhận ra mình đang lăn quá nhanh Đến nỗi, không kịp nhận ra những bông hoa đang cố mỉm cười với nó Vòng tròn thấy rằng, cuộc sống khác hẳn đi khi nó lăn quá nhanh Nó dừng lại, đặt mảnh vỡ bên đường rồi chầm chậm lăn đi.
Hãy bình luận về ý nghĩa triết lí của câu chuyện trên
Câu 2 (12 điểm):
Sách Lí luận văn học (tập 3, Phương Lựu chủ biên - NXB ĐHSP, 2011) viết:
Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm mĩ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú.
Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? hãy làm rõ cách hiểu của mình qua một vài sáng tác (thuộc văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945) của một tác giả mà anh (chị) đã học, đọc thêm
Năm học 2012-2013 MÔN: NGỮ VĂN LỚP 11