Đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền củaĐảng, của các ngành, đoàn thể chính trị-xã hội và cán bộ, đảng viên trong toàn bộ hệ thống chính trị bằng nhiều phương pháp, hình thức khác nh
Trang 1BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY GIA LAI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN TRONG ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH GIA LAI
Pleiku, tháng 7-2010
Trang 2TẬP THỂ TÁC GIẢ
PHAN XUÂN TRƯỜNG - Chủ biên TỐNG THỚI MỐC - Thư ký NGUYỄN PHI YẾN
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Những năm qua, triển khai thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế-xãhội của tỉnh Gia Lai có bước phát triển nhanh và ổn định, đời sống của nhân dânđược cải thiện theo hướng tích cực, quốc phòng-an ninh được giữ vững Đạt đượcnhững thành tựu chung đó có sự đóng góp không nhỏ của các lực lượng làm côngtác tuyên truyền từ tỉnh đến cơ sở Đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền củaĐảng, của các ngành, đoàn thể chính trị-xã hội và cán bộ, đảng viên trong toàn bộ
hệ thống chính trị bằng nhiều phương pháp, hình thức khác nhau đã tuyên truyềnchủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng,chính sách, pháp luật của nhà nước; nhiệm vụ chính trị của địa phương đến đôngđảo các tầng lớp nhân dân Biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng vàNhà nước thành hành động cách mạng của quần chúng nhân dân Bên cạnh đó, cáclực lượng làm công tác tuyên truyền đã kịp thời phát hiện, cỗ vũ những nhân tốmới, điển hình tiên tiến; đồng thời đấu tranh không khoan nhượng với các luận điệuphản tuyên truyền, các tư tưởng lạc hậu, việc làm sai trái nhằm giữ vững an ninh tưtưởng trên địa bàn tỉnh
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan, hiệu quả tuyên truyền, nhất làtrong vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh còn thấp Nhiều chủ trương, đườnglối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa đến được với dân, do nộidung, phương pháp, hình thức tuyên truyền chưa phù hợp với đối tượng tuyêntruyền Quần chúng chưa hiểu hoặc hiểu không đầy đủ, nên việc triển khai thựchiện còn nhiều khó khăn, hiệu quả thấp Thậm chí có một bộ phận do thiếu thôngtin, nhận thức còn hạn chế nên bị các thế lực thù địch, các phần tử xấu lợi dụng, lôikéo, kích động tham gia vào các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội tại địa phương Hệ quả này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong
Trang 4đó có nguyên nhân công tác tuyên truyền trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ởtỉnh ta còn nhiều hạn chế, bất cập Lực lượng làm công tác tuyên truyền đông,nhưng khả năng tuyên truyền còn hạn chế Công tác phối hợp giữa các lực lượnglàm công tác tuyên truyền chưa chặt chẽ, khoa học nên chưa phát huy được sứcmạnh tổng hợp trong công tác tuyên truyền Mục đích tuyên truyền khá rõ, nhưngnội dung, hình thức, phương pháp còn đơn điệu, chưa phù hợp với đối tượng tiếpnhận thông tin, chưa thật sự hấp dẫn để lôi cuốn nhân dân.
Trước thực trạng trên, được sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và sựđồng ý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, trong hơn hai năm qua, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
đã triển khai thực hiện đề tài khoa học cấp tỉnh “Nghiên cứu xây dựng hệ thống
giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền trong đồng bào dân tộc thiểu số
ở tỉnh Gia Lai” Đề tài đã được Hội đồng khoa học chuyên ngành cấp tỉnh nghiệm
thu và xếp loại A (xuất sắc) Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài, Ban Tuyêngiáo Tỉnh ủy Gia Lai đã nhận được sự cộng tác, giúp đỡ thường xuyên, kịp thời của
Sở Khoa học và Công nghệ; các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh; nhiềunhà quản lý, nhà khoa học ở Trung ương và địa phương Ban Tuyên giáo Tỉnh ủyxin chân thành cảm ơn các tổ chức, cá nhân đã đóng góp tích cực trong quá tìnhthực hiện đề tài này
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã biên tạp và xuất
bản cuốn sách “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền trong đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai” Nội dung của cuốn sách tập trung trình
bày một số vấn đề nguyên lý, lý luận về công tác tuyên truyền Quan điểm của chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách củaĐảng và Nhà nước ta về công tác tuyên truyền Phân tích thực trạng tâm lý tiếpnhận thông tin; trình độ, khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin của đồng bào dântộc thiểu số (chủ yếu là đồng bào Jrai và Bahnar) ở tỉnh Gia Lai Đánh giá trình độcác mặt của đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền; thực trạng công tác tổ chức,
Trang 5phối hợp giữa các lực lượng tuyên truyền; tính phù hợp của nội dung, hình thức,phương pháp, phương tiện sử dụng tuyên truyền; khảo sát đánh giá thực trạng hiệuquả công tác tuyên truyền trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh thời gianqua Từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáodục chính trị tư tưởng, công tác tuyên truyền ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số củatỉnh trong thời gian tới
Nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng(01/8/1930 – 01/8/2010) và chào mừng Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội lầnthứ XIV Đảng bộ tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng,
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Gia Lai trân trọng giới thiệu cuốn sách “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền trong đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai” cùng bạn đọc và mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý độc
giả
BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY GIA LAI
Trang 6CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN
I NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN
1 Khái niệm tuyên truyền.
Tuyên truyền theo tiếng La tinh (Prataganda) là truyền bá, truyền đạt mộtquan điểm nào đó Thuật ngữ tuyên truyền được sử dụng để biểu đạt các hoạt độngnhằm tác động đến suy nghĩ, tư tưởng của người khác và định hướng hành độngcủa họ theo một khuynh hướng nhất định
Theo Đại từ điển bách khoa toàn thư Liên Xô (cũ), thuật ngữ tuyên truyền cóhai nghĩa Theo nghĩa rộng, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm, tưtưởng về chính trị, triết học, khoa học, nghệ thuật…nhằm biến những quan điểm, tưtưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của quần chúng Theo nghĩahẹp, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm lý luận nhằm xây dựng choquần chúng thế giới quan nhất định phù hợp với lợi ích thế giới quan ấy Với quanđiểm này, tuyên truyền theo nghĩa hẹp chính là tuyên truyền chính trị, tuyên truyền
tư tưởng mà mục đích của nó là hình thành ở đối tượng tuyên truyền một thế giớiquan nhất định, một kiểu ý thức xã hội nhất định và cổ vũ tính tích cực xã hội củacon người
Trong tác phẩm “Người tuyên truyền và cách tuyên truyền”, Hồ Chí Minhcho rằng: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin, dântheo, dân làm” “Từ điển tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học, do GS.Hoàng Phê(chủ biên) chú giải “tuyên truyền là giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi ngườitán thành, ủng hộ, làm theo”
Từ những quan điểm trên, vận dụng vào công tác tuyên truyền ở nước ta hiện
nay, có thể xác định: Tuyên truyền là hoạt động có mục đích của chủ thể tuyên
Trang 7truyền, nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng , chính sách, pháp luật của Nhà nước đến đối tượng tuyên truyền, từ đó tạo cho đối tượng tuyên truyền có niềm tin vững chắc vào sự nghiệp cách mạng và tự giác, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, nhằm góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội
Tuyên truyền có quá trình hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sửnhân loại Xã hội loài người xuất hiện cũng đồng thời xuất hiện hoạt động tuyêntruyền Tuyên truyền gắn liền với các hình thái kinh tế- xã hội khác nhau Ngônngữ chính là phương tiện truyền thông sơ khai nhưng quan trọng bậc nhất của conngười Qua những tín hiệu âm thanh giản đơn con người có sự trao đổi tình cảm,tạo sự giao tiếp trong sinh hoạt, lao động sản xuất Hoạt động tuyên truyền chính làhoạt động của con người tác động đến con người, vì vậy nó là hoạt động xã hội đặcbiệt, bởi chủ thể tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền đều là con người
Tuyên truyền là hoạt động xã hội, phát triển cùng với sự phát triển của xãhội, nên có tác dụng qua lại biện chứng với nhau Tuyên truyền có vai trò tích cựctrong việc truyền bá sâu rộng hệ tư tưởng của giai cấp thống trị đến với quần chúngtrong xã hội, động viên mọi người tích cực tham gia xây dựng và phát triển xã hội.Ngược lại, khi xã hội phát triển sẽ tạo điều kiện để tuyên truyền ngày càng hoạtđộng thuận lợi, đạt hiệu quả hơn
2 Vai trò, chức năng của công tác tuyên truyền.
Vai trò của tuyên truyền:
Trong mọi hình thái kinh tế- xã hội, tuyên truyền luôn đóng vai trò quan
trọng trong việc truyền bá, chuyển tải hệ tư tưởng, đường lối chiến lược, sách lượccủa giai cấp nắm quyền đến với quần chúng nhân dân Trong xã hội có giai cấpluôn diễn ra các cuộc đấu tranh giai cấp, và giai cấp thống trị tìm mọi cách để lôikéo quần chúng về phía mình Nhiệm vụ của tuyên truyền là phải đảm nhiệm vai
Trang 8trò đó Theo Mác “Vai trò của tuyên truyền chính là làm cho “lý luận thâm nhậpvào quần chúng” để qua đó “trở thành lực lượng vật chất”.1
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công tác tuyên truyền luôngiữ vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên
và quần chúng về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về đường lối,chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Công tác tuyên truyền còn góp phầnxây dựng con người mới, cuộc sống mới, nâng cao hiểu biết về các kiến thức, kỹnăng cần thiết của cuộc sống, hình thành nếp sống văn hóa mới, đấu tranh xoá bỏthói hư, tật xấu, xây dựng, hình thành đạo đức, lối sống mới trong xã hội
Công tác tuyên truyền không những góp phần nâng cao nhận thức, truyền tảithông tin, mở rộng dân chủ, giáo dục và cổ vũ quần chúng hành động cách mạng,
mà còn thông qua việc nêu gương, cổ động bằng hình thức trực quan sinh động,thông qua các phong trào thi đua để tập hợp, tổ chức quần chúng hành động cáchmạng Do đó, công tác tuyên truyền là việc làm thường xuyên, cần thiết cho bất cứ
tổ chức nào, một phong trào nào muốn lôi cuốn được đông đảo quần chúng thamgia và đạt được những kết quả thiết thực, hữu ích
Công tác tuyên truyền còn có khả năng và điều kiện để thông tin hai chiều.Một mặt, đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nướcđến quần chúng Mặt khác, lắng nghe, tìm hiểu, nắm bắt những thông tin phản hồi,tâm trạng, tư tưởng, nguyện vọng, ý kiến của quần chúng trong quá trình thực hiệnđường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong cuộcsống thực tiễn để góp phần bổ sung, hoàn thiện, sửa đổi những chủ trương, chínhsách, pháp luật cho phù hợp với thực tiễn Do đó, công tác tuyên truyền là sợi dâybền chặt nối liền Đảng, Nhà nước với quần chúng, nối liền Trung ương với địaphương và cơ sở, góp phần tăng cường liên minh công-nông và trí thức trong quátrình đấu tranh cách mạng
1 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 1, tr 580.
Trang 9Công tác tuyên truyền là vũ khí đấu tranh tư tưởng, chính trị của Đảng chốnglại các lực lượng thù địch, các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của kẻ thùđối với nước ta Trong bối cảnh chính trị quốc tế phức tạp hiện nay, đất nước tađang đứng trước những thời cơ và vận hội mới, song, cũng đang đứng trước nhữngthách thức mới hết sức gay gắt Các lực lượng thù địch tăng cường chống phá cáchmạng nước ta, nhất là trên mặt trận chính trị, tư tưởng-văn hoá Vì vậy, công táctuyên truyền đóng vai trò là vũ khí không thể thiếu được để đấu tranh chống lại cáclực lượng thù địch, nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững ổn định chính trị,tạo điều kiện để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân.
Chức năng cơ bản của công tác tuyên truyền: công tác tuyên truyền có 4
chức năng cơ bản sau:
- Chức năng thông tin: Đây là chức năng cơ bản, đầu tiên của công tác tuyên
truyền, nó đem lại thông tin mới cho đối tượng nhằm thực hiện mục đích là nângcao nhận thức cho đối tượng tuyên truyền
- Chức năng giáo dục chính trị tư tưởng: Đây là chức năng hết sức quan
trọng của công tác tuyên truyền Chức năng giáo dục chính trị tư tưởng của côngtác tuyên truyền thực hiện qua nội dung sau: giáo dục lý luận hình thành tư duy lýluận và thế giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin; giáo dục chính trị tưtưởng, hình thành văn hoá chính trị; giáo dục lao động và hình thành thái độ laođộng mới; giáo dục kinh tế, hình thành văn hoá kinh tế; giáo dục đạo đức và lốisống mới; giáo dục tinh thần cảnh giác cách mạng và hình thành khả năng “miễndịch” của nhân dân đối với ảnh hưởng của hệ tư tưởng thù địch và “diễn biến hoàbình” của các thế lực thù địch
- Chức năng tổ chức, cổ vũ hành động: thể hiện thông qua việc hướng dẫn
tập hợp quần chúng tham gia vào các quá trình tư tưởng, tham gia vào giải quyếtnhiệm vụ chính trị, ủng hộ cái mới, cái tiến bộ, phê phán cái tiêu cực, lạc hậu trongđời sống xã hội Cổ vũ khích lệ quần chúng sáng tạo, tích cực, chủ động tham gia
Trang 10các phong trào thi đua, tham gia các cuộc vận động cách mạng rộng lớn hoặc mộthình thức tập hợp nào đó nhằm thực hiện những nhiệm vụ chính trị đề ra.
- Chức năng phê phán: thực hiện chức năng này, công tác tuyên truyền tập
trung phê phán triệt để, sâu sắc với thái độ khách quan mọi biểu hiện của chủ nghĩa
cơ hội, chủ nghĩa xét lại và mọi trào lưu tư tưởng đối lập với hệ tư tưởng Lênin Đấu tranh không khoan nhượng với các luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận chủ nghĩa xã hội hiện thực, phủ nhận sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với xã hội Phê phán tàn dư, ảnh hưởng của tưtưởng và hành vi lỗi thời, lạc hậu còn rơi rớt trong xã hội, không còn phù hợp vớithực tiễn hiện nay Đấu tranh với biểu hiện tiêu cực trong xã hội, những biểu hiệnlệch lạc, xa lạ, trái với quan điểm, đường lối của Đảng Đấu tranh với mọi thủ đoạncủa âm mưu “diễn biến hoà bình” mà kẻ địch đang sử dụng để ráo riết chống lạichế độ ta, âm mưu lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang xâydựng
Mác-Các chức năng của công tác tuyên truyền đều quan trọng như nhau, mỗi chứcnăng giữ một vai trò riêng, không thể thay thế được trong quá trình tuyên truyền
Do vậy, khi tiến hành tuyên truyền không thể coi nhẹ chức năng nào để tránh phiếndiện làm cho công tác tuyên truyền kém hiệu quả
3 Các yếu tố cấu thành công tác tuyên truyền
Khi xem xét tuyên truyền như một hoạt động xã hội đặc thù, thì công tác nàycấu thành bởi các yếu tố sau: chủ thể, khách thể, mục đích, nội dung, phương pháp,phương tiện, hình thức tổ chức và hiệu quả tuyên truyền Như vậy, hệ thống tuyêntruyền là toàn bộ các yếu tố cấu thành hoạt động tuyên truyền và hiệu quả tuyên
truyền
Trang 11Sơ đồ công tác tuyên truyền:
Mục đích tuyên truyền Nội dung tuyên truyền Phương pháp tuyên truyền Chủ thể tuyên truyền Đối tượng tuyên truyền
Tổ chức Hình thức Phương tiện
Công tác tuyên truyền là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị,nhưng có đội ngũ và lực lượng chuyên trách, chuyên môn ở các cơ quan Đảng, Nhànước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội
Mục đích của công tác tuyên truyền: là sự phản ánh những kết quả mong
muốn đạt tới trong tương lai của quá trình nhận thức ở đối tượng tuyên truyền, là sựphản ánh trước sản phẩm dự kiến của hoạt động tuyên truyền Kết quả đó, sản phẩn
đó là một kiểu thế giới quan, một kiểu ý thức xã hội và ý thức cá nhân, là một loạihình tính tích cực xã hội của con người
Mục đích công tác tuyên truyền là yếu tố cơ bản, có tính quyết định trong hệthống công tác tuyên truyền Nó quy định nội dung, phương pháp và tổ chức quátrình thực hiện công tác tuyên truyền, quy định tiêu chuẩn đánh giá và kiểm tra hiệuquả công tác tuyên truyền Mục đích thường được thể hiện thông qua một hệ thốngmục tiêu cụ thể thuộc từng mặt, từng bộ phận và nhiệm vụ của công tác tuyêntruyền trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn cách mạng
Đối tượng tuyên truyền: là tất các cá nhân, tập thể, tầng lớp, giai cấp…trong
xã hội Đối tượng tuyên truyền rất đa dạng, phức tạp Hiện nay, đối tượng tuyên truyền
của nước ta là toàn thể các tổ chức, cơ quan, đơn vị, là cán bộ, đảng viên , quần chúngnhân dân … Và tất cả các quốc gia, các tổ chức và cá nhân trên thế giới
Nội dung công tác tuyên truyền: là nội dung các hoạt động mà chủ thể tuyên
truyền xác định nhằm thực hiện mục đích đặt ra Nội dung do mục đích công táctuyên truyền và nhiệm vụ cụ thể của mỗi giai đoạn cách mạng quy định
Trang 12Phương pháp công tác tuyên truyền : là tổng hợp các phương tiện, thao tác,
cách thức, quy trình mà chủ thể sử dụng để cung cấp cho đối tượng những thông tinnhất định nhằm củng cố, bổ sung hoặc xây dựng ở họ kiểu thế giới quan, nhân sinhquan mới hay nhận thức về tự nhiên hoặc xã hội, qua đó tác động đến nhận thức,thái độ và hiệu quả hành động thực tiễn của họ trong đời sống xã hội
Hình thức tuyên truyền: Hình thức tuyên truyền là biểu hiện bên ngoài, là
cách thức sắp xếp nội dung và hình thức tổ chức các hoạt động giữa chủ thể và đốitượng tuyên truyền Hình thức công tác tuyên truyền rất đa dạng và phong phú.Việc lựa chọn hình thức nào là do đối tượng và nội dung quy định
Phương tiện tuyên truyền: là những vật dụng truyền tải nội dung và phương
pháp tác động của tuyên truyền, là những phương tiện công tác của chủ thể và
phương tiện tiếp nhận, lĩnh hội của đối tượng
II MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN
1 Quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về công tác tuyên truyền.
Công tác tuyên truyền theo quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin được thể hiệnrất cụ thể Khi xem xét công tác tư tưởng như một quá trình bao gồm từ việc sángtạo ra hệ tư tưởng và vận dụng hệ tư tưởng để đề ra đường lối chiến lược, sách lượccủa một giai cấp, một chính đảng, đến việc truyền bá hệ tư tưởng và đường lốitrong quần chúng, thúc đẩy quần chúng hiện thực hoá đường lối trong thực tiễn,Lênin đã khẳng định: Công tác tư tưởng có ba hình thái, đó là, công tác lý luận,công tác tuyên truyền và công tác cổ động Ba hình thái trên tương ứng với các quátrình tư tưởng: sản xuất ra hệ tư tưởng, truyền bá hệ tư tưởng và cổ vũ động viênquần chúng thực hiện
Như vậy, tuyên truyền là hoạt động nối tiếp của công tác lý luận, tương ứngvới quá trình truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chính trị trong quần chúng, cổđộng quần chúng hành động bằng các con đường và phương thức khác nhau Quacông tác tuyên truyền làm cho hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền chiếm địa vị
Trang 13thống trị trong xã hội Tuyên truyền làm cho lý luận có sức sống mạnh mẽ, trởthành hiện thực trong hoạt động thực tiễn
Tuyên truyền luôn đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá, chuyển tải
hệ tư tưởng, đường lối chiến lược, sách lược của giai cấp nắm quyền đến với quầnchúng nhân dân Theo Mác “Vai trò của tuyên truyền chính là làm cho “lý luậnthâm nhập vào quần chúng” để qua đó “trở thành lực lượng vật chất”.2 Lênin cũngnêu rõ nhiệm vụ của công tác tuyên truyền và cổ động là: “Làm cho tư tưởng xã hộichủ nghĩa và ý thức chính trị thấm sâu vào quần chúng vô sản” “Khi được thuyếttrình công khai, ta nói với quần chúng, tiếp xúc trực tiếp với họ, được nhìn thấy họ,làm quen với họ và ảnh hưởng tới họ theo “kiểu” của mình”.3
Trong hoạt động tuyên truyền, phải tuân thủ các nguyên tắc Các nhà kinhđiển Mác-Ăngghen, Lênin xác định các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tuyêntruyền ở chế độ xã hội chủ nghĩa cần phải tuân thủ là: tính Đảng (tính tư tưởng),tính giai cấp, tính khoa học và thực tiễn, tính chân thật, tính chiến đấu, tính phổthông và tính thống nhất lý luận với thực tiễn
Tính Đảng, tính giai cấp và tính chiến đấu là nguyên tắc cơ bản nhất củatuyên truyền Tuyên truyền bao giờ cũng đứng trên quan điểm tư tưởng nhất định,
đó là tư tưởng của giai cấp cầm quyền Tuyên truyền xã hội chủ nghĩa lấy chủnghĩa Mác-Lênin, đường lối, chính sách của Đảng làm nội dung cốt lõi của tuyêntruyền Lênin cho rằng: “Việc tuyên truyền và cổ động hàng ngày phải thực sự cótính chất cộng sản” Nguyên tắc tính Đảng, phải thể hiện rõ ở việc đấu tranh khôngkhoan nhượng đối với tất cả các trào lưu tư tưởng đi ngược lại lợi ích của giai cấp,của Đảng, bảo vệ hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác- Lênin
Đồng thời xuất phát từ cơ sở bản chất của hệ tư tưởng Mác- Lênin và mụcđích của tuyên truyền, nên nguyên tắc cơ bản của tuyên truyền là thống nhất lý luậnvới thực tiễn Tuyên truyền hướng vào giải quyết những vấn đề cấp bách của thực
2 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 1, tr 580.
3 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, matxcơva, 1975, tập 6, tr84, 85.
Trang 14tiễn, làm rõ những vấn đề lý luận của thực tiễn, từ đó động viên, cổ vũ quần chúngtích cực hành động thực hiện mục tiêu của cách mạng Lênin đã chỉ rõ: “Công táctuyên truyền và cổ động không trả lời được những vấn đề căn bản của cuộc sống thìkhông tiến lên được” Lênin luôn đòi hỏi người tuyên truyền phải nghiên cứu đặcđiểm tâm lý của các tầng lớp nhân dân trong quá trình tuyên truyền: “Cần phảithâm nhập vào quần chúng và học hỏi ở họ một cách kiên trì, bền bỉ thì mới hiểuđược các thuộc tính, đặc trưng tâm lý đa dạng ở mỗi tầng lớp, mỗi nghề của họ”.4
Để tuyên truyền đạt được kết quả, đưa nội dung tuyên truyền đến đượcquần chúng nhân dân, được quần chúng tiếp nhận, dễ hiểu, vấn đề hình thức vàphương pháp tuyên truyền là vô cùng quan trọng Theo quan điểm của chủ nghĩaMác-Lênin, phương pháp tuyên truyền do mục đích, nội dung của tuyên truyền quiđịnh Việc sử dụng hình thức tuyên truyền nào hoặc kết hợp các hình thức nào làphụ thuộc vào yêu cầu nội dung, đối tượng tuyên truyền, điều kiện tuyên truyền.Phương pháp và hình thức tuyên truyền phải phù hợp với trình độ, tâm lý của từngloại đối tượng, có hệ thống, lôgich, mang tính thuyết phục nhằm giúp người nghetiếp thu, hiểu rõ vấn đề
Theo Lênin, nhiệm vụ tuyên truyền là phổ biến lý luận chính trị, tuyêntruyền những nội dung cơ bản của hệ tư tưởng, làm cho hệ tư tưởng vô sản chiếmđịa vị thống trị trong xã hội; đồng thời cần quán triệt sâu đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng, nhà nước trong quần chúng nhân dân
Là một trong những bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng, tuyêntruyền có nhiệm vụ phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng, chủ trương, đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến quần chúng nhân dân, góp phầnnâng cao nhận thức, hình thành và củng cố niềm tin, giáo dục lý luận chính trị, đạođức, lối sống, bồi dưỡng phương pháp, kỹ năng hành động cho cán bộ, đảng viên
và quần chúng nhân dân Qua công tác tuyên truyền, góp phần đấu tranh với những
4 Lênin Toàn tập, Nxb Tiến Bộ Matxcơva, tập 41, tr 192
Trang 15quan điểm sai trái, bảo vệ vững chắc học thuyết Mác-Lênin, nền tảng tư tưởng củaĐảng
2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tuyên truyền.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm lý luận chính trị toàndiện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sựvận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nướcta; kế thừa và phát triển các truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa vănhoá của nhân loại Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan điểm rất rõ ràng về công tác
tuyên truyền Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói
cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm Nếu không đạt được mục tiêu đó thì tuyên truyền thất bại”5
Trong công tác tuyên truyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng phải nắmđược phương pháp tuyên truyền mới đạt được kết quả tốt, “Muốn thành công phảibiết cách tuyên truyền”6 Phương pháp tuyên truyền theo Hồ Chí Minh phải mangtính đại chúng, tính nghệ thuật, diễn đạt ngắn gọn nhưng sâu sắc, giản dị, dễ hiểu,
sử dụng linh hoạt sáng tạo các thành ngữ, dân ca…trong hoạt động thực tiễn.Tuyên truyền phải đa dạng, phong phú về hình thức như tuyên truyền miệng khidiễn giảng, lên lớp, hoặc tuyên truyền bằng hình thức viết sách, báo, truyện, ký,hoặc sử dụng phương pháp trực quan sinh động như khẩu hiệu, truyền đơn, cổđộng…
Trong hoạt động tuyên truyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện phươngchâm kết hợp giữa lời nói và hành động, lý luận gắn liền với thực tiễn Người chủtrương nói ít, làm nhiều; chỉ nói khi thật cần thiết, nói đúng để làm đúng Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã thể hiện nhuần nhuyễn sự kết hợp giữa lời nói và hành động, làmchủ lý luận, thực tiễn hóa lý luận và lý luận hoá thực tiễn Từ những hành độngtuyên truyền của Người đã tạo sức cuốn hút, cảm hoá mọi người Theo Hồ Chí
5 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, 2002, tr 162
6 Sđd
Trang 16Minh: “Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi viết cho ai xem, nói cho ainghe Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, khôngmuốn cho người ta xem.”7 “Người tuyên truyền không điều tra, không phân tách,không nghiên cứu, không hiểu biết quần chúng, chỉ gặp sao nói vậy, bạ gì viết nấy,nhất định thất bại” Người còn chỉ ra rằng: “Tuyên truyền không cần phải nói trànggiang đại hải Mà nói ngắn gọn, nói những vấn đề thiết thực, chắc chắn làm được,
để cho mọi người hiểu rõ và quyết tâm làm bằng được”8 Theo Hồ Chí Minh, khituyên truyền phải: Nói đơn giản, có đầu, có đuôi, có nội dung…Nói ít nhưng nóicho chắc chắn thì quần chúng thích hơn Muốn nói gì thì phải chuẩn bị trước Và
“bao giờ ta cũng tôn trọng sự thực Sự chân thực thì việc tuyên truyền của mìnhmới có người nghe”9
Trong tuyên truyền, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc tìm hiểu đặc điểmngười nghe (đối tượng tuyên truyền), Người nói: “Công tác tuyên truyền phải cụthể, thiết thực Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì?Tuyên truyền cách thế nào? Đó là những vấn đề các chú phải tự hỏi và tự trả lời.Chứ không phải ngồi chờ trên gửi tài liệu xuống, rồi theo một, hai, ba, bốn mà làm;
“Phải làm sao dễ hiểu, nói sao để người ta hiểu được, hiểu để làm Vì thế tuyêntruyền phải thiết thực Không phải tuyên truyền để mà tuyên truyền, huấn luyện để
mà huấn luyện”.10
Nói đến lực lượng làm công tác tuyên truyền, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Tất cả cán bộ, đảng viên, hễ những người tiếp xúc với dân chúng đều là ngườituyên truyền của Đảng Vì vậy, ai cũng phải học nói, nhất là học nói cho quầnchúng hiểu”11
Đối với công tác tuyên truyền trên mặt trận báo chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã thể hiện rất rõ quan điểm tư tưởng của mình Đó là cách viết Vì ai mà viết? Mục
Trang 17đích viết làm gì? Viết cho ai? Viết cái gì? Cách viết thế nào? Theo Chủ tịch Hồ Chí
Minh, “mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích Mà muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của
người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng nhiều chữ12 Viết phải gọn gàng, vắntắt, nhưng phải có đầu có đuôi, viết phải thiết thực, chớ ham dùng chữ Bác còn căndặn “để làm trọn nhiệm vụ tuyên truyền, tổ chức, hướng dẫn, thì các báo chí ta cầnphải gần gũi quần chúng hơn nữa, đi sâu vào công việc thực tế hơn nữa, cách làmviệc của báo chí phải cải thiện hơn nữa”13 Bác xác định rõ mục đích của báo chí
“Báo chí phải phục vụ ai? Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động,phục vụ chủ nghĩa xã hội…Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà
để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng vàChính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu” “Về tráchnhiệm báo chí, Lênin có nói: báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người
tổ chức chung, người lãnh đạo chung Vì vậy nhiệm vụ của người làm báo là quantrọng và vẻ vang”14
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tuyên truyền lớn của Đảng ta, là tấm gươngmẫu mực về công tác tuyên truyền Quán triệt quan điểm “lấy dân làm gốc”, cáchmạng là sự nghiệp của quần chúng trong tuyên truyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
do vậy, công tác tuyên truyền của Đảng phải mang tính nhân dân, tính phổ thôngđại chúng, phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân, do dân và vì dân Công tác tuyêntruyền nhằm đưa đường lối chủ trương của Đảng đến với mọi tầng lớp quần chúngnhân dân, làm cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin và làm theo, tất cả đều nhằm để mưucầu lợi ích cho nhân dân Đồng thời phương pháp, hình thức tuyên truyền phải đảmbảo tính dân tộc, phù hợp với đặc điểm tâm lý, kinh tế- xã hội của mỗi dân tộc
3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác tuyên truyền.
12 , Sđd, tập 7, 2000, tr 232, 233.
13 Sđd, tập 7, 2000, tr 271.
14 Sđd, tập 9, 2000, tr 412.
Trang 18Ngay từ khi mới ra đời (3- 2- 1930) Đảng ta đã rất coi trọng công tác tuyêntruyền Trong những năm 1930-1945, Đảng ta coi công tác tư tưởng, công tác tuyêntruyền là công tác quan trọng hàng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Đảng raChỉ thị: “Luôn tuyên truyền, tuyên truyền nữa, luôn có những cuộc nói chuyện vànhững cuộc nói chuyện nữa để cổ vũ, thúc đẩy quần chúng hy sinh cho sự nghiệpchung”15… “Thuật ngữ tuyên truyền phải được tuyệt đại đa số quần chúng hiểubiết”, “ các tỉnh và các chi bộ phải lập ra những Uỷ ban cách mạng để nghiên cứuphương pháp tuyên truyền”16 Ngay sau khi ra đời, Ban cổ động và tuyên truyền- cơquan tuyên truyền đầu tiên của Đảng đã được thành lập và ấn hành tài liệu tuyêntruyền sớm nhất phục vụ cho tuyên truyền cổ động ngày Quốc tế đỏ (1-8-1930)
Sau khi giành độc lập, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời đã phảiđương đầu những khó khăn, thách thức, thù trong, giặc ngoài , Đảng ta đã lãnh đạođẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tích cực tham giacủng cố và bảo vệ chính quyền cách mạng Cùng với Ban cổ động và tuyên truyềnđược hình thành ngay sau khi thành lập Đảng, các cơ quan tuyên truyền như BộTuyên truyền, Đài tiếng nói Việt Nam, báo Cờ giải phóng…cũng lần lượt ra đời
Để phục vụ công tác tuyên truyền, vai trò của lực lượng làm công tác tuyêntruyền là vô cùng quan trọng Nhận thức đúng đắn vấn đề trên, Đảng ta đã luônquan tâm đẩy mạnh củng cố, xây dựng và phát triển đội ngũ báo cáo viên, tuyêntruyền viên, lực lượng nòng cốt trong công tác tuyên truyền; tăng cường các hìnhthức, phương tiện phục vụ cho tuyên truyền Đảng ta đã có nhiều văn bản chỉ đạoxây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền như: Chỉ thị 14 CT/TW, ngày
3-8-1977, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IV) về việc tổ chức đội ngũ báo cáo
viên và tuyên truyền viên của Đảng; Thông báo số 71 TB/TW, ngày 7-6-1997, của
Thường vụ Bộ Chính trị về việc tăng cường lãnh đạo và đổi mới công tác tuyên
truyền miệng Đây là một văn kiện quan trọng của Đảng đối với công tác tuyên
15 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, HN, 1998, tập 2, tr 55, 69.
16 Sđd, tr 64, 68.
Trang 19truyền miệng trong thời kỳ mới Thông báo số 71 TB/TW khẳng định: “Toàn Đảng,mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí Uỷ viên Trung ương, cấp uỷ viêncác cấp phải căn cứ vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
mà trực tiếp tuyên truyền cho quần chúng”, “Các cấp uỷ đảng, các ban cán sựđảng đoàn phải tăng cường lãnh đạo và đổi mới có hiệu quả công tác tuyên truyềnmiệng, trong đó hoạt động báo cáo viên là bộ phận rất quan trọng” Căn cứ vàoThông báo số 71 của Thường vụ Bộ Chính trị, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư
số 105/1998/TT-BTC ngày 23-7-1998 thực hiện chế độ đối với báo cáo viên củaĐảng
Để ngày càng đáp ứng những đòi hỏi mới của quá trình đẩy mạnh hội nhậpkinh tế quốc tế, thực hiện Nghị quyết Đại hội X và Nghị quyết hội nghị Trung ương
5 (khoá X) “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”, ngày 10-2007 Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 17-CT/TW về “Tiếp tục đổi
15-mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới” Chỉ thị tiếp tục quán triệt vai trò, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền
miệng, hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, xác định đây là mộttrong những kênh thông tin quan trọng nhất, trực tiếp truyền bá sâu rộng chủ nghĩaMác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, phổ biến giáo dục, quán triệt các quan điểmcủa Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, định hướng tư tưởng cho cán bộ,đảng viên và nhân dân trước các vấn đề thời sự quan trọng trong và ngoài nước, tạo
sự thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng và sự đồng thuận trong toàn xã hội Đồngthời đây là một trong những vũ khí sắc bén, kịp thời đấu tranh chống âm mưu thủđoạn “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch Chỉ thị nêu rõ, công tác tuyêntruyền miệng là nhiệm vụ của toàn Đảng, các cấp uỷ đảng từ Trung ương đến cơ
sở, các đảng viên đều có trách nhiệm làm nhiệm vụ tuyên truyền miệng, trực tiếptham gia tuyên truyền đường lối chủ trương của Đảng, nhà nước trong cán bộ, đảngviên và nhân dân
Trang 20Cùng với hoạt động tuyên truyền thông qua đội ngũ báo cáo viên, tuyêntruyền viên, Đảng rất chú trọng hình thức tuyên truyền trên các phương tiện thôngtin đại chúng Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng đã nêu rõ vai trò, tầm quantrọng của lĩnh vực báo chí “Báo chí, xuất bản, phát thanh, thông tin, cổ động, vôtuyến truyền hình toàn bộ lĩnh vực thông tin đại chúng là bộ phận quan trọng củamặt trận tư tưởng văn hóa” Để tăng cường lãnh đạo và quản lý hoạt động của báochí, Bộ Chính trị (khoá IX) có Thông báo số 162- TB/TW ngày 01-12-2004 về một
số biện pháp tăng cường lãnh đạo, quản lý báo chí trong tình hình mới
Đến Đại hội X của Đảng, Bộ Chính trị ra Thông báo số 41, Thông báo số
68 về lãnh đạo và quản lý báo chí; Ban Bí thư có kế hoạch số 03 về công tác báochí, Thông báo số 122 về công tác xuất bản… Thông qua các văn bản trên, đã thểhiện vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước đối với cácphương tiện truyền thông, công cụ phục vụ cho công tác tuyên truyền của Đảng
Qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội, sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng đối với công tác
tư tưởng, tuyên truyền ngày càng được tăng cường Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp
hành Trung ương Đảng (khoá X) đã đề ra Nghị quyết “Về công tác tư tưởng, lý
luận và báo chí trước yêu cầu mới” Nghị quyết đề ra những yêu cầu mới đối với
công tác tư tưởng, lý luận, báo chí Đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức, biệnpháp giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyên truyền sâu rộngđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong toànĐảng, toàn dân Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin, tuyêntruyền, cổ động, báo chí, xuất bản, văn hóa- nghệ thuật Tăng cường sự lãnh đạocủa Đảng về chính trị tư tưởng và tổ chức trong các cơ quan báo chí; khắc phụcnhững biểu hiện lệch lạc trong hoạt động báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ, xarời tôn chỉ, mục đích nhằm tăng cường công tác tư tưởng lý luận, tuyên truyền củaĐảng trong tình hình mới
Trang 21Như vậy quan điểm chỉ đạo, xuyên suốt của Đảng ta từ khi thành lập đếnnay đối với công tác tuyên truyền là toàn Đảng làm công tác tuyên truyền, tuyêntruyền miệng, mỗi cán bộ, đảng viên là một báo cáo viên tích cực Các phương tiệntruyền thông đại chúng, các lĩnh vực báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình,thông tin, cổ động…là bộ phận quan trọng của mặt trận tư tưởng văn hoá Quántriệt và thực hiện tốt quan điểm này của Đảng sẽ góp phần tích cực vào quá trìnhthực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Đảng trên mặt trận tư tưởng- văn hoá.
III TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN
Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học, do GS Hoàng Phê (chủbiên), hiệu quả là “kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại” Nói đến hiệu quảcủa một hoạt động, người ta thường đề cập đến các vấn đề như: so sánh giữa kếtquả trước và sau khi tiến hành một hoạt động; so sánh giữa kết quả đạt được vớimục đích, nhiệm vụ được đặt ra từ trước; so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí
về vật lực, tài lực để đạt được kết quả đó Theo PGS.TS Lương Khắc Hiếu, Học
viện Báo chí và Tuyên truyền: Hiệu quả công tác tuyên truyền là sự tương quan
giữa kết quả đạt được do tác động tuyên truyền mang lại với mục đích của công tác tuyên truyền được đặt ra và với chi phí để đạt được kết quả đó trong một điều kiện xã hội nhất định.
Như vậy, hiệu quả khác với kết quả Kết quả là cái đạt được do hoạt động
tuyên truyền mang lại, là sự thay đổi trong nhận thức, thái độ, hành vi của đốitượng sau một chu trình tác động của công tác tuyên truyền nhưng chưa tính đến
chi phí để có kết quả đó Còn hiệu quả là tương quan, là sự so sánh của kết quả với
mục đích và với chi phí trong công tác tuyên truyền Nói cách khác, hiệu quả là sự
so sánh giữa cái đạt được (kết quả) với cái đặt ra (mục đích) và cái bỏ ra (chi phí).Không đồng nhất hiệu quả với kết quả trong công tác tuyên truyền
Mục đích của công tác tuyên truyền là góp phần hình thành ý thức xã hội vàtính tích cực xã hội Do vậy, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền
Trang 22cũng được biểu hiện trên hai khía cạnh là: Tiêu chuẩn tinh thần và Tiêu chuẩn thực
tiễn
- Tiêu chuẩn tinh thần: Về mặt tinh thần, hiệu quả của công tác tuyên truyền
được đánh giá bằng các tiêu chuẩn như tính tích cực nhận thức - tri thức - niềm tin.
+ Ở mức độ thấp nhất, hiệu quả công tác tuyên truyền là việc hình thành sự
hứng thú của đối tượng đối với vấn đề nghiên cứu, là tính tích cực nhận thức gắn
với những vấn đề như: lòng say mê, mong muốn mở rộng tầm hiểu biết của mình,
sự quan tâm của đối tượng tuyên truyền đến việc nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng,chính sách, pháp luật củanhà nước Trong phạm vi tiêu chuẩn này thì sự phong phú của nhu cầu nhận thức
và sự hứng thú đối với vấn đề cần nhận biết là những chỉ số rất quan trọng Nếukhông xuất hiện nhu cầu hiểu biết, sự hứng thú đối với vấn đề nào đó thì không thểđạt tới kết quả nào cả Do đó, nhiệm vụ đặt ra cho người cán bộ tuyên truyền là tạo
ra sự hứng thú với đối tượng tuyên truyền về vấn đề cần truyên đạt để làm tiền đềcho công tác tuyên truyền đạt kết quả cao
+ Tiếp thu Tri thức mới là mức độ cao hơn của hiệu quả công tác tuyên
truyền Quá trình thu nhận tri thức mới được thể hiện trong sự thống nhất của nhậnthức lý luận và kinh nghiệm Căn cứ vào đó ta có thể phân ra các chỉ số của tiêu
chuẩn tri thức như sau: Thứ nhất là, sự am hiểu về những sự kiện, hiện tượng của thực tế khách quan Thứ hai là, trình độ tri thức khoa học, kỹ thuật, văn hóa mới tiếp thu được Thứ ba là, nắm vững một số vấn đề của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhànước thông qua hoạt động tuyên truyền, biết vận nó để phân tích các quá trình vàhiện tượng của đời sống xã hội là tiêu chí cao nhất của tiêu chuẩn tri thức
+ Trên cơ sở tri thức có căn cứ khoa học và thực tiễn, nhận thức biến thành
niềm tin Niềm tin là tiêu chuẩn cao nhất của hiệu quả công tác tuyên truyền về mặt
tinh thần Trên cơ sở niềm tin, đối tượng tuyên truyền có lòng trung thành với chủ
Trang 23nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, với con đường xã hội chủ nghĩa mà
Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn Những tiêu chuẩn biểu hiện niềm tin: Một là, mức độ
tin tưởng vào tính khoa học, tính cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, vào sự đúng đắn của tư tưởng, lý
luận, quan điểm được trang bị Hai là, khả năng đánh giá đúng và định hướng
đúng, sự kiên định lập trường, quan điểm trước những diễn biến phức tạp của hiện
thực xã hội Ba là, ý chí vững vàng trong cuộc đấu tranh chống ảnh hưởng của hệ
tư tưởng tư sản và các quan điểm, luận thuyết phi khoa học; tinh thần, ý chí đấutranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan
điểm của Đảng Bốn là, sự kết hợp chặt chẽ quan điểm với hành động thực tế, sự
sẵn sàng hành động phù hợp với tri thức được trang bị Do đó, niềm tin tự nó baohàm sự thống nhất lời nói với việc làm
Hiện nay vấn đề hình thành niềm tin của quần chúng đối với chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đối với Đảng, với chủ nghĩa xã hội là rất quan trọng
-Để hình thành niềm tin cho đối tượng, người cán bộ tuyên truyên trước hết phải cóniềm tin vững chắc vào những vấn đề tuyên truyền, giáo dục
- Tiêu chuẩn thực tiễn: Hiệu quả của công tác tuyên truyền trong thực tiễn biểu hiện thông qua tính tích cực xã hội của đối tượng tuyên truyền, bao gồm tính
tích cực lao động và tính tích cực chính trị - xã hội.
+ Tính tích cực lao động - sản xuất biểu hiện trong các tiêu chuẩn sau: Một
là, tận tụy với công việc và mức độ sáng tạo trong công việc được giao Hai là, sự
tinh thông nghề nghiệp, thường xuyên quan tâm đến việc nâng cao trình độ nghề
nghiệp, trình độ văn hóa và khoa học - kỹ thuật Ba là, năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm tốt, tuân thủ nghiêm túc kỷ luật lao động Bốn là, tham gia tích
cực, sáng tạo vào các phong trào thi đua lao động sản xuất, đổi mới cơ chế kinh tế
Năm là, biết làm giàu cho mình và cho đất nước bằng lao động chính đáng, biết lao
động trong điều kiện của nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh Sáu là, tham gia
Trang 24vào việc đấu tranh chống những hành vi vi phạm lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, đấutranh chống tham ô, tham nhũng, làm ăn phi pháp
+Tính tích cực chính trị - xã hội biểu hiện trong các tiêu chuẩn sau: Một là, ý thức cao về nghĩa vụ công dân và mức độ thực hiện nghĩa vụ đó Hai là, tham gia
tích cực, nhiệt tình vào việc tuyên truyền, phổ biến chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Ba
là, tham gia tích cực, tự giác vào các lĩnh vực khác nhau của công tác xã hội; vào
việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị đặt ra trước xã hội; vào việc quản lý các công
việc của nhà nước, của tập thể, của các tổ chức chính trị - xã hội Bốn là, tham gia
tích cực, tự giác vào việc xây dựng đường lối, chính sách của Đảng và pháp luậtcủa Nhà nước, tham gia bầu cử các cơ quan chính quyền Nhà nước, các tổ chức
chính trị - xã hội, tham gia xây dựng Đảng Năm là, tham gia tích cực, tự giác vào
cuộc đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong đời sống chính trị như: tệ quanliêu, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, tham nhũng, thói thờ ơ chính trị
Hiện nay, việc hình thành năng lực tham gia quản lý nhà nước, quản lý xãhội trở thành một trong các tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá hiệu quả công táctuyên truyền Do đó hướng tới việc hình thành các năng lực ấy cho cán bộ, đảngviên và nhân dân là một trong những mục tiêu chủ yếu của công tác tuyên tuyền
Từ vấn đề nêu trên về hiệu quả công tác tuyên truyền, có thể rút ra một số
vấn đề phương pháp luận trong việc đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền: Một
là, mỗi tác động do tuyên truyên mang lại không chỉ một, mà thường là một loạt
kết quả Kết quả này biểu hiện ở cả trong ý thức và hành vi của con người, trong tất
cả các lĩnh vực của hiện thực mà con người với tư cách là đối tượng công tác tuyên
truyền tác động đến Hai là, hiệu quả tác động của công tác tuyên truyền đến lĩnh
vực tinh thần của con người biểu hiện một cách trực tiếp, còn đối với lĩnh vực kinh
tế hoặc chính trị - xã hội thì biểu hiện một cách gián tiếp thông qua kết quả hoạt
động của con người trong lĩnh vực ấy Ba là, khác với lĩnh vực sản xuất vật chất,
Trang 25nơi hiệu quả thể hiện một cách lập tức, trong một thời gian ngắn, trong lĩnh vựctuyên truyền kết quả đạt được chỉ thể hiện dần dần, từ từ, trong một thời gian tươngđối dài Để đánh giá trình độ ý thức giác ngộ, niềm tin cần có thời gian Mặtkhác, có những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền chỉ bộc lộ rabằng hành động trong những điều kiện nhất định (ví dụ: lòng căm thù giặc như mộtbiểu hiện của chủ nghĩa yêu nước chỉ thể hiện bằng hành động trong những điều
kiện nhất định, chẳng hạn trong điều kiện đất nước có nạn ngoại xâm) Bốn là,
trong lĩnh vực tuyên truyền những chỉ số của hiệu quả về số lượng cũng được ápdụng (ví dụ: số sách đã đọc, số lần đi xem phim, nghe thời sự ) Tuy nhiên, nhữngchỉ số về số lượng không phải là chủ yếu Chỉ số chủ yếu của hiệu quả công táctuyên truyền là những chỉ số mang tính chất lượng (sự chuyển hóa của tri thứcthành niềm tin, thành động cơ hành động ) Vì vậy, cần xác định phương pháp
đánh giá hiệu quả một cách thích hợp Năm là, hiệu quả công tác tuyên tuyền được
đánh giá trong sự thay đổi về kiến thức, thái độ và hành vi của đối tượng, do đó nó
được đo lường ở phía đối tượng, ngay trong ý thức và hành vi của đối tượng Sáu
là, khi nói đến hiệu quả người ta nhớ đến lời phân tích của V.I.Lênin về hiệu quả:
"có khả năng thu được kết quả nhiều nhất, vững chắc nhất, mà lại ít tốn sức nhất".Kết quả cao chưa nhất thiết đưa lại hiệu quả cao Hiệu quả cao chỉ khi cùng một kếtquả nhưng chi phí thấp nhất Cho nên, trong công tác tuyên truyền phấn đấu đạthiệu quả cao không phải bằng mọi giá, mà phải bằng cách sử dụng những phươngpháp công tác tốt nhất, có hiệu lực nhất
Tóm lại, hiệu quả cụ thể của công tác tuyên truyền là một thể thống nhất của
hiệu quả tinh thần và hiệu quả thực tiễn, được thể hiện trên ba mức độ từ thấp đếncao theo con đường tri thức - niềm tin - hành động thực tiễn Mức độ hành độngthực tiễn (tính tích cực) là trình độ cao nhất của hiệu quả công tác tuyên truyền Ởmức độ này công tác tuyên truyền trở thành một yếu tố của sự phát triển kinh tế,chính trị, xã hội Tác động của công tác tuyên truyền đến ý thức và hành vi của con
Trang 26người không kết thúc ở mức độ thứ ba (hành động thực tiễn) Trong quá trình hoạtđộng thực tiễn, ở mỗi người lại xuất hiện nhu cầu nắm vững tri thức mới cần thiếtcho hoạt động thực tiễn của mình Cứ như vậy chu trình tác động của công táctuyên truyền hoàn thành và chuyển lên trình độ cao hơn.
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN
Trang 27TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH GIA LAI
I.MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIẾU SỐ CỦA TỈNH
1 Tổng quan tình hình tỉnh Gia Lai.
Nằm ở cửa ngõ bắc Tây Nguyên, có toạ độ địa lý từ 12o 58/ 40// đến 14o 37/ 00//
vĩ độ bắc, 107o 27/ 30// đến 108o 50/ 40// kinh độ đông, Gia Lai có diện tích tự nhiên15.495,71 Km2 Hiện nay Gia Lai phía bắc giáp tỉnh Kon Tum; phía đông giáp tỉnhQuảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên; phía nam giáp tỉnh Đăk Lăk; phía tây giáp vớiđông bắc Campuchia, với đường biên giới chung dài 90 km Gia Lai có 3 đườngquốc lộ đi qua: xuyên theo hướng Bắc - Nam có trục quốc lộ 14 nối cả Tây Nguyênvới vùng động lực kinh tế Miền Trung (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi) vàmiền Đông Nam bộ (vùng động lực kinh tế phía nam); theo hướng Đông - Tây cóquốc lộ 19 và 25 nối Gia Lai với cảng Qui Nhơn và các tỉnh duyên hải Miền Trung
Với vị trí địa lý như trên đã tạo cho tỉnh Gia Lai những điều kiện thuận lợi đểgiao lưu hàng hoá, phát triển, thiết lập mối quan hệ bền chặt cả về kinh tế - xã hội
và an ninh - quốc phòng trong vùng và cả nước Đồng thời là một tỉnh biên giới,Gia Lai có điều kiện để hình thành và phát triển các cửa khẩu quốc tế, nhằm mởrộng giao lưu, phát triển kinh tế văn hoá giữa Việt Nam với Campuchia và cácnước trong khu vực Nằm trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên, Gia Lai được ví nhưnóc nhà của ba nước Đông Dương; nơi đây trong hai cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp và đế quốc Mỹ, chiến sự diễn ra rất ác liệt Việc nắm được địa bàn trọngyếu Gia Lai, có thể kiểm soát và không chế phần lớn Tây Nguyên và một phầnvùng Đông bắc Campuchia Chính vì vậy trong các giai đoạn lịch sử trước kia,cũng như thời điểm hiện nay, các thế lực thù địch không từ mọi thủ đoạn để chốngphá sự nghiệp cách mạng ở tỉnh Nhưng với truyền thống yêu quê hương, yêu hoàbình, kiên cường, bất khuất, thông minh, sáng tạo đồng bào các dân tộc tỉnh GiaLai đã có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống
Trang 28nhất đất nước trước kia, cũng như xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững anninh - quốc phòng hiện nay.
Gia Lai là vùng đất có đông đồng bào dân tộc sinh sống Tính đến thời điểmcuối năm 2008, tỉnh Gia Lai có 34 dân tộc anh em sinh sống, với dân số trung bình
là 1.213.750 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 44,6% Riêngdân tộc Jrai và Bahnar, hai nhóm cư dân bản địa sinh sống lâu đời ở địa phương,chiếm tỷ lệ trên 42% dân số toàn tỉnh
Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, tỉnh ta đã chú trọngđầu tư cơ sở hạ tầng tạo tiền đề tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống của cáctầng lớp nhân dân, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số Hệ thống giao thông pháttriển rộng khắp trên địa bàn tỉnh Giao thông liên huyện, liên xã, giao thông nôngthôn được đầu tư xây mới, gia cố, nâng cấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giaolưu, phát triển kinh tế-xã hội Hiện nay, 100% số xã trong toàn tỉnh đã có điện, số
hộ dân được sử dụng điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất không ngừng tăng Hệthống bưu chính, viễn thông của tỉnh những năm qua phát triển nhanh cả về mạnglưới và chất lượng dịch vụ Đến cuối năm 2008, toàn tỉnh đã có 203/215 xã,phường, thị trấn có báo đến trong ngày Tỷ lệ thuê bao điện thoại đạt 49,4 thuê bao/
100 dân; tỷ lệ thuê bao Internet đạt 1,01 thuê bao/100 dân Hoạt động báo chí, xuấtbản, phát thanh, truyền hình có nhiều tiến bộ Tỷ lệ hộ dân được nghe đài trên địabàn tỉnh đạt 96,5%, xem truyền hình đạt 91% Hoạt động đi lại ngày càng thuận lợi,
hệ thống thông tin mở rộng đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu quả côngtác tuyên truyền
Các hoạt động văn hóa-xã hội của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực, đờisống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, trong đó có đồng bào dân tộcJrai, Bahnar không ngừng được cải thiện Năm 2008, GDP bình quân đầu ngườitoàn tỉnh đạt 10,523 triệu đồng, tương đương 622 USD/người/năm Tỷ lệ hộ nghèotoàn tỉnh năm 2008 còn 18,12% Trình độ dân trí từng bước được nâng lên Sự
Trang 29nghiệp giáo dục của tỉnh có bước phát triển cả về quy mô và chất lượng Năm học2008-2009, toàn tỉnh có 701 trường học (tăng 32 trường so với năm học 2007-2008) với 333.163 học sinh Toàn tỉnh có 143/215 xã, phường, thị trấn (tỷ lệ66,5%) và 3/16 huyện, thị xã, thành phố đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học
cơ sở Đời sống vật chất được cải thiện, trình độ dân trí được nâng lên đã tác độngtích cực đến việc tiếp nhận và xử lý thông tin của đồng bào Jrai, Bahnar của tỉnh
2 Đặc điểm dân cư và tổ chức xã hội của đồng bào Jrai, Bahnar.
* Về dân tộc Jrai:
Dân tộc Jrai thuộc ngữ hệ Mã Lai-Đa Đảo (Malayo-Poliuesien) Theo GS.Đặng Nghiêm Vạn “Jrai là tên chính thức của dân tộc Đó là tên tự gọi một tiếngđồng âm và cũng có thể đồng nghĩa với từ Giơ-rai (thác nước) Người giải thích tộcdanh Jrai theo nghĩa này cho rằng, có lẽ tổ tiên của dân tộc đã từng sinh tự nơi cónhiều thác ghềnh của một con sông nào đó”17 Dân tộc Jrai cư trú trên một vùng đấtrộng lớn chạy suốt từ Kon Tum, Gia Lai đến phía bắc tỉnh Đăk Lăk, phía Tây tỉnhKhánh Hòa Dân tộc Jrai sống tập trung đông nhất ở tỉnh Gia Lai Ở Gia Lai, khuvực cư trú chính của đồng bào Jrai là phía tây cao nguyên Pleiku, gồm các huyệnChư Păh, Ia Grai, Đức Cơ, Chư Prông, Chư Sê, thành phố Pleiku và các huyện ởphía tây nam của tỉnh như: Phú Thiện, Ia Pa, Krông Pa và thị xã Ayun Pa Nhữngđịa phương có đồng bào Jrai sinh sống đông là Chư Sê, Ia Grai, Krông Pa, PhúThiện, Chư Prông
Dân tộc Jrai có nhiều nhóm địa phương Theo các nhà nghiên cứu văn hóa,dân tộc học người Jrai có 5 nhóm địa phương chính: Thứ nhất, Jrai Chor (còn gọi làCheo Reo hay Phun), cư trú chủ yếu ở thị xã Ayun Pa và hai huyện Phú Thiện, Ia
Pa Nhiều người cho rằng, đồng bào Jrai ở vùng này còn bảo lưu nhiều đặc điểmmang tính chất tiêu biểu của tộc người Jrai Thứ hai, Jrai Hđrung (có hai nhóm nhỏ
là Hơbâu và Chon), địa bàn cư trú chủ yếu ở thành phố Pleiku, huyện Chư Păh, tâyhuyện Đăk Đoa, đông huyện Chư Prông Nét nổi bật của nhóm này là còn bảo lưu
17 Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên): các dân tộc tỉnh Gia Lai-Kon Tum, NXB KHXH Hà Nội, 1981, Tr93.
Trang 30khá đầy đủ kiến trúc nhà đặc trưng theo phương pháp cổ truyền của tộc người Jrai.Thứ ba, Jrai Aráp địa bàn cư trú ở tây nam tỉnh Kon Tum, huyện Ia Grai và mộtphần huyện Chư Păh Nhóm cư dân này sống gần với đồng bào Bahnar nên mangnhiều nét đặc trưng văn hóa của tộc người Bahnar Thứ tư, Jrai Mthur sinh sống ởđịa bàn giáp ranh giữa các vùng cư trú của một số dân tộc có cùng ngữ hệ như Ê
Đê, Chăm Theo các nhà nghiên cứu dân tộc học, những dân tộc này được hìnhthành, phát triển từ một cội nguồn nên rất gần nhau về văn hóa, nhất là phong tụctập quán và sinh hoạt văn hóa Ở tỉnh Gia Lai, nhóm cư dân địa phương này sốngtập trung chủ yếu ở huyện Krông Pa Thứ năm, Jrai Tbuăn (Puôn) cư trú ở vùngbiên giới Việt Nam-Campuchia Ở Gia Lai, những địa phương có đồng bào JraiTbuăn sinh sống là các huyện Chư Prông, Đức Cơ Nhóm này sống gần với địa bàn
cư trú của người Khme nên trong ngôn ngữ có sự pha trộn về mặt từ và ngữ âmgiữa tiếng Jrai và Khme
Phương thức sản xuất cổ truyền của người Jrai còn khá sơ khai, công cụ sảnxuất thô sơ, kỹ thuật canh tác quảng canh Họ sống chủ yếu dựa vào rừng Rừngnuôi họ, rừng là nguồn cung cấp chủ yếu từ đất đai canh tác đến các nhu yếu phẩmcần thiết phục vụ đời sống hàng ngày Hiện nay, phương thức sản xuất của đồngbào Jrai có sự thay đổi theo hướng hiện đại Kinh tế của đồng bào ít phụ thuộc hơnvào rừng, sản xuất hàng hóa trong vùng đồng bào dân tộc Jrai bắt đầu phát triển.Nhờ vậy, mức sống của người dân được cải thiện đáng kể
Đồng bào Jrai có tập quán sống thành từng làng Làng theo ngôn ngữ củađồng bào là Plơi hay Bon Trong làng, buôn các gia đình có quan hệ chặt chẽ vớinhau Ở các làng đã hình thành tự nhiên một tổ chức hội đồng già làng Hội đồng
có trách nhiệm cử ra một người đứng đầu Người đứng đầu hội đồng già làng lànhững người có uy tín hoặc giàu có Người đứng đầu hội đồng có trách nhiệm đứng
ra lãnh đạo công việc chung như dời làng, đặt tên làng, tổ chức các lễ hội truyềnthống, dựng nhà cho từng gia đình, tổ chức cứu trợ, giúp đỡ những gia đình neo
Trang 31đơn, nghèo khổ…Tổ chức hội đồng già làng có trách nhiệm điều hòa, tập hợp cácgia đình thành một khối cộng cư thống nhất Đến trước thời kỳ thực dân Pháp xâmchiếm Tây Nguyên, ở vùng đồng bào Jrai đã hình thành những liên minh làng gọi
là tring Trong làng đồng bào Jrai hình thành những luật tục, quy định những điều
mà tất cả thành viên trong làng phải tuân theo Luật tục thường không thành vănđược truyền miệng bằng văn vần Luật tục của đồng bào Jrai có tính dân chủ cao.Những người vi phạm luật tục như trộm cắp, cướp của, giết người, loạn luân, hiếpdâm, chửa hoang …được xử tội theo luật tục Việc xử tội do già làng đứng ra chủtrì, được tuân thủ theo các quy định có tính chất “công bằng tự nhiên” như: hai bênthi nhau lặn nước, đun chì chảy đổ vào lòng bàn tay có lót lá, chặt đầu gà vứt xuốngnước… Tóm lại, làng là đơn vị cư trú lâu đời của người Jrai, những thành viênsống trong làng phải tuân thủ các quy định chung của làng Điều này đã ăn sâu vàotiềm thức của mỗi người Tính cộng đồng trong đồng bào dân tộc Jrai rất lớn, điềunày chi phối trực tiếp đến hiệu quả hoạt động tuyên truyền trong vùng đồng bàodân tộc Jrai
Tế bào nhỏ của làng là các gia đình Người Jrai theo chế độ mẫu hệ và ngoạihôn Sau khi cưới nhau, người con trai phải sống bên nhà vợ Việc hôn nhân vớingười cùng họ hoàn toàn bị luật tục nghiêm cấm Con gái lớn lên cưới chồng phảitách ra ở riêng Mỗi nhà sàn của người Jrai là một gia đình nhỏ thường chỉ có hai
vợ chồng và con cái Người con trai đi lấy vợ không được chia của, con gái lấychồng được chia một phần tài sản của gia đình Người đàn ông có vợ hầu như phụthuộc hoàn toàn vào gia đình vợ Địa vị của người đàn ông trong gia đình Jrai thấphơn phụ nữ Người vợ theo luật tục là chủ gia đình Trong những việc có liên quanđến cộng đồng, người đàn ông đóng vai trò quyết định Người Jrai trong quá trìnhgiao lưu văn hóa đã có một số biến đổi, nhưng những nét đặc thù truyền thống vẫnđược bảo tồn, lưu giữ nhất là những địa phương vùng sâu, vùng xa
*Về dân tộc Bahnar.
Trang 32Dân tộc Bahnar thuộc ngữ hệ Môn-Khme Họ là một trong những dân tộcsinh sống lâu đời nhất ở Tây Nguyên Địa bàn cư trú của dân tộc Bahnar hẹp hơndân tộc Jrai Đồng bào Bahnar sống chủ yếu ở nam tỉnh Kon Tum, các huyện phíatây tỉnh Bình Định, Phú Yên và đông nhất là ở đông, bắc tỉnh Gia Lai NgườiBahnar có nhiều nhóm địa phương như: Kren ở phía tây tỉnh Bình Định, nhóm KonTum, Rơngao, Jơlơng (Ylơng) cư trú chủ yếu ở tỉnh Kon Tum Ở tỉnh Gia Lai,người Bahnar có 4 nhóm địa phương chính Thứ nhất Bahnar Gơlar, địa bàn sinhsống chủ yếu ở các huyện Mang Yang, Đăk Đoa Đây là nhóm Bahnar có số lượng
cư dân đông của tộc người Bahnar Thứ hai, Bahnar Bơnâm sống ở vùng rừng già,canh tác chủ yếu bằng đốt nương làm rẫy Địa bàn cư trú của nhóm Bahnar địaphương này tập trung chủ yếu ở một số xã phía bắc huyện Kbang như Krong, LơKu…Do sống trong vùng rừng núi tương đối hiểm trở, ít giao lưu với bên ngoài,nên đến giữa thế kỷ XX, nhóm cư dân này vẫn còn lưu giữ khá đậm nét các yếu tốvăn hóa cổ xưa; những dấu vết của hình thái kinh tế săn bắn còn khá đậm nét Thứ
ba, Bahnar Tơlô sống ven sông Ba trên các các vùng đất tương đối rộng và bằng.Địa bàn cư trú chủ yếu của nhóm địa phương này ở huyện Kông Chro Nhóm này
có số lượng dân cư tương đối đông, có sự tiếp xúc văn hóa rộng rãi hơn các nhómBahnar địa phương khác Thứ tư, Bahnar Kon Kơđéh được coi là nhóm địa phươngtrung gian giữa hai nhóm Bahnar Bơnâm và Bahnar Tơlô Phương pháp canh tácvừa làm nương theo cách hỏa canh, vừa bắt đầu làm ruộng nước theo cách sơ khai.Địa bàn cư trú chủ yếu của nhóm Bahnar Kon Kơđéh là ở huyện Đăk Pơ và một số
xá phía nam của huyện Kbang
Về phương thức sản xuất, cũng giống như đồng bào Jrai, đến giữa thế kỷ
XX, nền sản xuất của đồng bào Bahnar với một hệ thống canh tác sơ khai, công cụsản xuất thô sơ, kỹ thuật canh tác quảng canh Đồng bào Bahnar cũng sống dựa vàorừng, nền kinh tế còn nhiều tàn tích của kinh tế chiếm đoạt như hái lượm, săn bắn.Trong sản xuất cổ truyền của đồng bào Bahnar, chăn nuôi chưa tách khỏi trồng trọt,
Trang 33việc chăn thả gia súc còn khá phổ biến Sản xuất của đồng bào còn dựa khá nhiềuvào tự nhiên, tự túc, tự cấp Việc phân công lao động theo giới được tuân thủ kháchặt chẽ Đồng bào Bahnar lao động có tính tự giác cao nhưng trình độ lao độngtương đối thấp, lao động thiếu một nhịp độ cao, cường độ lao động thấp Hiện nay,dưới tác động của khoa học-kỹ thuật và phương thức sản xuất mới, trình độ sảnxuất của đồng bào Bahnar được nâng lên đáng kể Việc sản xuất chuyên canh, thâmcanh, sản xuất hàng hóa bước đầu phát triển Tuy nhiên, những đặc điểm củaphương thức sản xuất dựa vào tự nhiên vẫn còn tồn tại trong nền kinh tế của đồngbào Bahnar Có một đặc điểm văn hóa đặc trưng của đồng bào Bahnar là họ rấtthuần phác, thật thà, không chấp nhận kiểu làm dối, làm ẩu, chạy theo số lượng Họ
ưa sự hoàn chỉnh, bền chắc, sản phẩm làm ra đảm bảo thẩm mỹ theo khuôn mẫu đãđịnh Đồng bào Bahnar ghét sự giả dối Sự dối trá trong bất kỳ trường hợp nào đềucoi là tội lỗi Đối với họ, danh dự của bản thân và cộng đồng được đặt lên trên hết.Phương thức sản xuất và một số đặc điểm văn hóa trên có tác động nhất định đếnhiệu quả công tác tuyên truyền
Giống như nhiều dân tộc thiểu số bản địa khác ở Tây Nguyên, làng là đơn vị
xã hội rất quan trọng của đồng bào Bahnar Khác với đồng bào Jrai, ngoài đơn vịlàng, đã bước đầu hình thành cộng đồng lớn hơn bằng hình thức liên minh giữa cáclàng gọi là tơring, với xã hội cổ truyền của đồng bào Bahnar, làng là đơn vị xã hộiduy nhất Theo ngôn ngữ Bahnar, làng được gọi là plei hay pơlei GS Đặng NghiêmVạn cho rằng “làng người Bahnar không phải là cộng đồng những người cùngchung một huyết thống Đó là những công xã láng giềng, tụ tập những gia đình tựnguyện cùng chung sống với nhau Người nào muốn nhập cư phải được sự đồng ýcủa chủ làng, cũng phải dựng nhà ở rìa làng một vài năm và chỉ được dọn vàotrong hàng rào, nếu qua thời gian đó dân làng không bị một tai họa nào Thành viêntrong làng là một khối thống nhất Chưa thấy trong làng truyền thông sự tách biệtgiữa cá nhân và tập thể”18
18 Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên): Các dân tộc tỉnh Gia Lai-Kon Tum, NXB KHXH Hà Nội, 1981, Tr76
Trang 34Làng của đồng bào Bahnar xưa kia được bố phòng khá cẩn mật bằng hàngrào vây quanh làng Các nhà trong làng bao quanh nhà rông Nhà rông là nơi tụ họpcác già làng, trai tráng trong làng đến vui chơi, tham dự các buổi họp làng, nơikhách lạ đến làng tạm trú, các trai tráng làng bên đến vui chơi và tìm hiểu gáilàng…Điều khiển các công việc chung của làng là hội đồng già làng, đứng đầu làchủ làng Người đứng đầu hội đồng già làng là người được tín nhiệm và am hiểucác phong tục tập quán, thường được cha truyền con nối, một số ít do dân bầu lên.Việc điều khiển các hoạt động trong làng của hội đồng già làng trên cơ sở sự bànbạc nhất trí của toàn thể dân làng Khi việc đã được quyết định, dưới sự điều khiểncủa các già làng, từng thành viên trong làng tự giác hoàn thành Có điểm rất thú vịcác chức dịch trong làng, kể cả chủ làng cũng không có đặc quyền gì Quan hệ giữacác thành viên trong làng là quan hệ bình đẳng Từ khi Pháp xâm chiếm TâyNguyên đến nay, dưới sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau đã làm phá vỡ dần tổchức và các quan hệ xã hội truyền thống của đồng bào Bahnar Tuy nhiên, nhữnggiá trị truyền thống sản sinh từ quan hệ xã hội cổ truyền như: tính đoàn kết thốngnhất giữa các thành viên của làng, quan hệ xã hội bình đẳng, công bằng giữa cácthành viên, tính tổ chức và tính tự giác…vẫn được lưu giữ Những vấn đề đó có tácđộng lớn đến việc tổ chức và hiệu quả các hoạt động tuyên truyền hiện nay.
Gia đình đồng bào Bahnar có những đặc điểm khác biệt với gia đình củađồng bào Jrai, biểu hiện cụ thể nhất là ở thể chế hôn nhân và vị thế của người vợ,người chồng trong gia đình Nhiều nhà nghiên cứu nhận định, thể chế hôn nhân củađồng bào Bahnar chưa thể xác định rõ là phụ hệ hay mẫu hệ Theo GS ĐặngNghiêm Vạn và nhóm đồng sự “gia đình Bahnar nghiêng về dòng họ cha, nhưngkhông hiếm trường hợp rể có thể trở về làng bên vợ Điều này là tùy theo ý nguyệncủa hai bên gia đình, nhất là gia đình bên vợ Trong xã hội Bahnar, địa vị xã hộicủa người đàn ông khá rõ Họ là người đại diện cho gia đình giao tiếp với làngxóm, với khách buôn bán, điều khiển việc sản xuất, nhưng họ không tự quyền và
Trang 35thường bàn bạc với toàn thể gia đình, kể cả thành viên trai và gái Ý kiến bà vợ chủnhà được coi trọng, thậm chí có khi là quyết định và người chồng chỉ là người thihành”19 Trong gia đình người Bahnar, mọi người thường lao động chung và tài sảnlàm ra là của chung Các thành viên trong gia đình cũng có tài sản riêng do laođộng mang lại, nhưng tài sản riêng, trừ những thứ quý, còn lại thường được sửdụng chung Với đồng bào Bahnar, quyền lợi chung của gia đình được đặt lên trênhết, tuy nhiên các thành viên trong gia đình vẫn tôn trọng và không lạm dụng sửdụng tài sản riêng của từng người Trong gia đình người Bahnar, người già đượccoi trọng, tiếng nói của người già thường được xem là đúng đắn và được làm theo.Người Bahnar ưa nhiều con, đồng bào có tục nhận con nuôi để gia đình thêm đông.Trẻ em trong gia đình được thương yêu, chiều chuộng, ít khi bị đánh mắng Giađình Bahnar không có sự phân biệt vợ cả, vợ lẽ, con đẻ, con nuôi, người lớn tuổihơn làm anh, người nhỏ tuổi hơn làm em Gia đình người Bahnar được tổ chức chặtchẽ và cá thành viên trong gia đình sống hài hòa, bình đẳng.
Trình bày khái lược một số vấn đề về dân cư và tổ chức xã hội của đồng bàoBahnar, Jrai vì đây là những yếu tố nền tảng chi phối rất lớn đến đời sống vật chất,tinh thần, nếp nghĩ, tư duy của đồng bào Điều này tác động trực tiếp đến việc tiếpnhận và xử lý thông tin của đồng bào với tư cách là đối tượng của công tác tuyêntruyền
3 Những nhân tố tác động và thực trạng trình độ tiếp nhận và xử lý thông tin của đồng bào Jrai, Bahnar.
* Tác động của giá trị văn hóa truyền thống.
Dân tộc Jrai và Bahnar là hai cư dân bản địa có nền văn hóa lâu đời và đặcsắc ở Tây Nguyên Các cộng đồng xã hội làng, buôn được liên kết bởi hai yếu tốđặc trưng: huyết thống và sự bình đẳng sơ khai Buôn, làng là tổ chức hành chínhduy nhất khép kín Các thành viên trong cộng đồng làng, buôn chỉ tiếp xúc với bênngoài khi có quan hệ hôn nhân, lưu thông và trao đổi về công cụ sản xuất, nhu yếu
19 Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên): Các dân tộc tỉnh Gia Lai-Kon Tum, NXB KHXH Hà Nội, 1981, Tr 142
Trang 36phẩm sinh hoạt và một phần là giao lưu văn hóa Dưới làng đậm nét nhất vẫn làdòng họ rồi đến gia đình và những thành viên Già làng hoặc hội đồng già làng giữvai trò rất quan trọng trong đời sống cộng đồng Đời sống cộng đồng khép kíntrong các buôn, làng và sự gắn bó với núi rừng hoang sơ đã tạo nên các đặc tínhthuần phác, giao hòa giữa người với người và giữa con người với thiên nhiên, đấttrời Ngày nay, tuy tổ chức xã hội cổ truyền đã có sự thay đổi lớn, quan hệ xã hộigiữa các thành viên trong cộng đồng làng, buôn được mở rộng, nhưng những néttính cách thuần phác, tư duy, quan niệm về ứng xử giữa người với người và giữangười với tự nhiên thuần hậu vẫn còn được duy trì trong cộng đồng dân tộc Jrai,Bahnar Điều này ảnh hưởng trực và định hình trình tiếp nhận và xử lý thông tincủa đồng bào hiện nay.
Một trong những nét đặc trưng truyền thống còn được lưu giữ trong đời củađồng bào JRai, Bahnar là tất cả mọi người trong cộng đồng đều được bình đẳng,các thành viên trong cộng đồng nương tựa vào gia đình, buôn, làng để tồn tại Họchia xẻ trước những niềm vui của người trong gia tộc, làng, buôn và cùng xót đautrước những khó khăn, thất bại, mất mát của những người trong gia đình, buôn,làng Những quan hệ ấy được hình thành , hun đúc và thử thách qua nhiều thế hệ,dần dần định hình thành những phong tục tập quán khá bền chặt Sống trong môitrường xã hội đó con người thường thiên về tình cảm, sống chất phát, thật thà, thuỷchung, trọng tín nghĩa Những nét tính cách tốt đẹp này chi phối rất lớn đến tâm lýtiếp nhận thông tin của đồng bào
Bên cạnh những nét tính cách, tâm lý tích cực đã nêu trên, yếu tố cố kết cộngđồng trong một không gian nhỏ bé, tương đối biệt lập giữa các làng sẽ khiến chocon người dễ có tâm lý bằng lòng với cuộc sống thực tại nghèo nàn, thấp kém, ít cótâm lý tiếp thu cái mới để vươn lên Hơn nữa, quan niệm giản đơn về tính bìnhđẳng kiểu nguyên sơ, sẽ kéo theo mặt trái là thói dựa dẫm, ỷ lại, tư tưởng cầu an, cả
Trang 37nể và cào bằng Đây là một trong những rào cản lớn đối với việc tiếp thu các trithức mới thông qua hoạt động tuyên truyền
Được cố kết với dòng họ, bởi tình làng nghĩa xóm qua nhiều thế hệ trên địabàn tương đối ổn định Sản phẩm của tính cộng đồng đó là một tập thể buôn làngmang tính tự trị Tính tự trị thường chú trọng nhấn mạnh sự khác biệt giữa các dântộc Tính tự trị cũng nêu cao tinh thần tự lập, tự lo liệu lấy mọi công việc Nhờ vậycon người thường chịu thương, chịu khó Nhưng mặt khác, do tính tự trị mà conngười dễ có thói ích kỉ, đố kị và cục bộ….Điều này tác động trực tiếp đến tâm lý vàkhả năng tiếp nhận, xử lý thông tin của đồng bào thông qua các hoạt động tuyêntruyền Đây cũng là vấn đề rất đáng lưu ý trong công tác tư tưởng, công tác tuyêntruyền, nhất là khi các thế lực thù địch lợi dụng để kích động, chia rẽ khối đoàn kếtgiữa các dân tộc
Nhận thức về vũ trụ theo tín ngưỡng dân gian, người Jrai, Bahnar tin rằngtrong thế giới tự nhiên muôn hình muôn vẻ, có một lực lượng vô hình tác động đếnmọi mặt đời sống con người Lực lượng vô hình ấy được gọi chung là Yang (thầnlinh) Theo quan niệm của ngươi Jrai có rất nhiều Yang Trong các Yang đó, đồngbào Jrai xem trọng hơn cả là Yang Sang (thần nhà), Yang Bôn (thần làng), YangPin Ia (thần bến nước), Yang Bhertơngia (thần bản mệnh trẻ em) và Yang Pơtao(thần gọi mưa) Trong cuộc sống trước đây của người Jrai, những Yang này luônđược nhắc đến trong các lễ cúng Đối với người Bahnar thì Bok Keidei (thần nam)
và Yă Kungkek (thần nữ) là hai vị thần tối cao, tạo ra vũ trụ và muôn loài, đượcngười Bahnar rất kính trọng Bok Glăile (thần sấm sét) là vị thần mà người Bahnarkinh sợ Ngoài những thần cao siêu, đồng bào Jrai và Bahnar còn quan niệm cónhững thần là động vật, cây cối, đồ dùng…mà con người kết thân được Trên nềntảng tín ngưỡng mang màu sắc dân gian đậm nét, người Bahnar và Jrai có những ýtưởng rất phong phú và độc đáo khi ứng xử với người chết, với linh hồn, với vạnvật hữu linh…nhưng lại có quan niệm đơn giản về vũ trụ quan và nhân sinh quan
Trang 38bằng kiểu tư duy trực quan cụ thể điển hình Kiểu tư duy này phản ánh trình độnhận thức của đồng bào
Thói quen tư duy phản ánh rõ nét thực trạng trình độ tiếp nhận và xử lýthông tin của đối tượng tuyên truyền Đối với đồng bào Jrai, Bahnar của tỉnh GiaLai sống gắn bó với môi trường tự nhiên, hoang sơ hàng ngàn năm Bắt đầu từ cuốithế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đồng bào mới bước đầu mở rộng giao lưu kinh tế-vănhóa trên diện rộng Đặc biệt sau hơn 30 năm giải phóng, với sự đầu tư lớn của nhànước về cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội và tập trung đẩy mạnh phát triển giáo dụctrong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nên đã tác động rất lớn đối với nhận thức củađồng bào Tuy nhiên, hiện nay sức ỳ truyền thống vẫn còn tồn tại khá rõ nét trongmột bộ phận không nhỏ đồng bào dân tộc thiểu số của địa phương Với môi trườngsống gần gũi với tự nhiên và tương đối cách biệt trong thời gian dài đã hình thànhnên nếp tư duy trực quan cụ thể điển hình ở đồng bào Đặc trưng của lối tư duy này
là dựa vào những cảm nhận bằng tai, bằng mắt, mộc mạc, giản đơn Chính kiểu tưduy trực quan cụ thể đã tạo cho đồng bào có nếp nghĩ đơn sơ, trung thực, thẳngthắn, thấy sao nói vậy, ít suy tư những điều rộng lớn, phức tạp, đòi hỏi tầm kháiquát cao Điều này chi phối rất lớn đối với quá trình tiếp nhận thông tin của đồngbào dân tộc thiểu số địa phương Từ thực tế này đòi hỏi công tác tuyên truyền trongđồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh phải hết sức cụ thể, rõ ràng và ngắn gọn, cóchứng minh, liên hệ với thực tiễn, với đời sống của đồng bào để họ dễ nắm bắt vàtiếp thu các nội dung tuyên truyền
Tư duy trực quan cụ thể khi nhìn nhận sự vật, hiện tượng và thế giới xungquanh phản ánh trình độ nhận thức của đồng bào Nhận diện rõ điều này có ý nghĩarất quan trọng đối với công tác tư tưởng nói chung và hoạt động tuyên truyền nóiriêng trong đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay Vì quá trình tiếp nhận, xử lý thôngtin, dần đi đến thay đổi nhận thức và hành động của đối tượng tuyên truyền dựa
Trang 39trên nền tảng trình độ tư duy Điều này quyết định đến hiệu quả của công tác tuyêntruyền.
* Tác động của truyền thống yêu nước, một lòng theo Đảng, cách mạng.
Mặc dầu có một số yếu tố khác nhau về ngôn ngữ, văn hoá, phong tục, tậpquán nhưng đồng bào Jrai, Bahnar có chung một đặc điểm là tinh thần yêu quêhương, đất nước, ý thức cộng đồng, ý thức tự tôn dân tộc rất mạnh mẽ Trong đó,tinh thần yêu quê hương, đất nước trở thành giá trị văn hoá đặc sắc, xuyên suốt quamọi thời kỳ lịch sử trong đời sống tinh thần của đồng bào
Vào cuối thế kỉ XIX khi Pháp xâm chiếm Tây Nguyên, trong đó có Gia Lai,đồng bào Jrai và Bahnar với tinh thần bất khuất, bất hợp tác với Pháp, đã tổ chứcnhiều trận đánh du kích, gây khó khăn và làm chậm lại mưu đồ thôn tính TâyNguyên của thực dân Pháp Khi Pháp đã xâm chiếm Gia Lai, đồng bào bền bỉ chiếnđấu, phong trào trước thất bại, phong trào sau nối tiếp dấy lên Vùng này bị đàn áptan rã phong trào đấu tranh, vùng khác lại tiếp tục đứng lên, lúc ngấm ngầm, lúcrầm rộ bộc phát gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất
Sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và nhất là sau Cách mạng thángTám thành công, đồng bào Jrai, Bahnar sớm đón nhận sự lãnh đạo của Đảng Từ đóđồng bào một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ Trong haicuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng bào Jrai và Bahnardưới sự lãnh đạo của Đảng đã không tiếc của cải, máu xương đóng góp lớn cho sựnghiệp giải phóng dân tộc Trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc đã sảnsinh ra nhiều anh hùng là dân tộc Jrai và Bahnar như : anh hùng Núp, liệt sỹ Wừu,
Y Đôn, … dân tộc Bahnar ; KPuiThu, Kpa Klơng, Rơ Chăm Ớt, Kpa Ó, A Sanh…dân tộc JRai
Có thể nói tinh thần yêu quê hương, đất nước, trung thành với sự nghiệpcách mạng của Đảng, một lòng theo Bác Hồ là những giá trị truyền thống đặc sắc,đồng thời cũng là điểm nổi bật trong tư tưởng của đồng bào Jrai và Bahnar ở tỉnh
Trang 40Gia Lai Đây là tiền đề rất thuận lợi đối với công tác tuyên truyền trong đồng bàodân tộc Jrai và Bahnar ở địa phương Các cấp, các ngành, đoàn thể và lực lượngtuyên truyền nếu biết phát huy đặc điểm mang tính truyền thống này sẽ thu đượcthành công lớn trong công tác tư tưởng.
* Tác động của cơ chế kinh tế thị trường.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước được xác lập
ở nước ta tác động mạnh mẽ vào đời sống vật chất và tinh thần, tạo biến đổi sâu sắctrong nhận thức của người dân, trong đó đồng bào dân tộc Jrai, Bahnar Một bộphận đồng bào dân tộc địa phương tiếp cận và thích ứng được với cơ chế mới đãđổi mới phương thức làm ăn và giàu lên nhanh chóng, có xu hướng ủng hộ cái mới.Tuy nhiên, một bộ phận khá lớn đồng bào do sống ở vùng nông thôn, vùng sâu,vùng xa, do điều kiện kinh tế khó khăn, chậm phát triển, trình độ dân trí thấp, thôngtin bị hạn chế, lại chậm được tuyên truyền, giải thích một cách thấu đáo nên nhìnnhận nền kinh tế thị trường còn phiến diện Nhiều người chỉ nhìn thấy mặt trái của
cơ chế thị trường như: phân hóa giàu nghèo, di cư tự do, tham nhũng, tệ nạn xã hội
và nhiều tiêu cực xã hội khác, nên có xu hướng phản ứng lại với các mới và có lúcnghi ngờ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước.Không ít đồng bào có tư tưởng cực đoan cho rằng, kinh tế thị trường, chủ trương,chính sách của Đảng, nhà nước chỉ tạo điều kiện cho người giàu, nơi có điều kiệnthuận lợi để phát triển kinh tế, còn đối với vùng sâu, vùng xa, với những ngườinghèo, người thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm làm ăn như đồng bào thì cơ chế kinh tếmới trở thành thách thức đối với họ Qua phân tích có thể thấy vấn đề phân hóagiàu nghèo, chênh lệch mức sống giữa các vùng, các dân tộc đã tác động rất lớnđến tình hình tư tưởng, tâm trạng xã hội của các đối tượng Điều này chi phối trựctiếp đến hiệu quả công tác tuyên truyền trong các đối tượng khác nhau Hoạt độngtuyên truyền trong đồng bào dân tộc thiểu số Jrai, Bahnar ở địa phương không thể
bỏ qua các luồng tư tưởng này