BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNGTHUYẾT MINH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ TÊN ĐỀ TÀI: “NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC CHUYÊ
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
THUYẾT MINH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
TÊN ĐỀ TÀI :
“NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN
CÁC LĨNH VỰC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG”
Mã số: 2015.08.15
(Kèm theo Quyết định số 808/QĐ - BTNMT ngày 08 tháng 4 năm 2015)
HÀ NỘI, 2015
Trang 2BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
THUYẾT MINH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
TÊN ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN
CÁC LĨNH VỰC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG “
Trang 3THUYẾT MINH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
I THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn đánh giá
hiệu quả thực hiện công tác chuyên môn các lĩnh
vực tài nguyên và môi trường
6 Thuộc Chương trình (ghi rõ tên chương trình, nếu có)
Thuộc Dự án KH&CN (ghi rõ tên dự án KH&CN, nếu có)
Họ và tên: Tăng Thế Cường
Nam/Nữ: Nam giới
Trang 4Năm sinh: Ngày 19 tháng 11 năm 1970
Học vị: Thạc sỹ Năm đạt học vị: 2002
Chức danh nghiên cứu: Chuyên viên chính
Chức vụ: Chánh Văn phòng Bộ Tài nguyên và Môi trường
ĐT cơ quan: 04.37737601; Mobile: 0913.540.334
Fax: 04.383835921 E-mail: ttcuong@monre.gov.vn; ttcuong@gmail.comTên cơ quan đang công tác: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Địa chỉ cơ quan: Số 10 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Địa chỉ nhà riêng: 204 - A11 Khương Thượng, Đống Đa, Hà Nội
Họ và tên: Nguyễn Hưng Thịnh
Nam/Nữ: Nam giới
Năm sinh: Ngày 14 tháng 04 năm 1977
Học vị khoa học: Thạc sỹ khoa học Năm đạt học vị: 2005
Chức danh nghiên cứu: Chuyên viên chính
Chức vụ: Phó Chánh Văn phòng Bộ Tài nguyên và Môi trường
ĐT cơ quan: 04.37956868- 2369; Mobile: 091.3519639
Fax: 04.383835921 E-mail: thinhnh@vea.gov.vn Tên cơ quan đang công tác: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Địa chỉ cơ quan: Số 10 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Địa chỉ nhà riêng: Phòng 1211, CT6 KĐT mới Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
9 Cơ quan chủ trì đề tài
Tên cơ quan chủ trì đề tài: Văn phòng Bộ Tài nguyên và Môi trường
Điện thoại: 04.38343005 Fax: 04.38359221
E-mail: phongtonghop@monre.gov.vn
Địa chỉ: Số 10 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội
Họ và tên thủ trưởng cơ quan: Tăng Thế Cường, Chánh Văn phòng Bộ
Số tài khoản: 8123 tại KBNN Cầu Giấy, Hà Nội
Tên cơ quan chủ quản đề tài: Văn phòng Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trang 5II NỘI DUNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA ĐỀ TÀI
10 Mục tiêu của đề tài
1 Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác chuyên môn các lĩnh vực của ngànhtài nguyên và môi trường;
2 Đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả thực hiện công tác chuyên môncác lĩnh vực của ngành tài nguyên và môi trường
11 Tổng quan tình hình nghiên cứu và luận giải sự cần thiết phải nghiên cứu
đề tài
11.1 Tình trạng đề tài
Mới Kế tiếp
11.2 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
11.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu của nước ngoài
Hoạt động đánh giá được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới Hoạt độngđánh giá đang ngày càng phát triển rộng rãi và thường có liên quan chặt chẽ với đờisống chính trị của mỗi quốc gia Hoạt động này phản ánh xu thế tiến bộ trên thế giớinhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động Đánh giá ngày càng được quan tâm với
sự tham gia ngày càng rộng rãi của các bên liên quan, các tầng lớp nhân dân trongviệc hoạch định các chính sách của quốc gia, kiểm tra hiệu quả hoạt động của các
cơ quan công quyền, các cơ quan hoạt động bằng ngân sách nhà nước Mặt khác,các chính phủ dân cử cũng cần tiến hành đánh giá để có thể biện minh cho hiệu quảhoạt động của mình và tạo dựng lòng tin trong nhân dân Nhiều nước trên thế giới
đã có những nghiên cứu sâu về hoạt động đánh giá nhằm nâng cao tính hiệu quả củaviệc thực hiện các nhiệm vụ
Hoa Kỳ có thể được coi là cái nôi của đánh giá Vào những năm 1980, đã cókhoảng 2.000 công ty tham gia vào các hoạt động đánh giá, có tới 10 tạp chí khácnhau về đánh giá Sự xuất hiện một số lớn tổ chức đánh giá ở Hoa Kỳ chủ yếu là do
hệ thống chính trị phân quyền giữa Quốc hội và Chính phủ Mỗi tổ hợp chính trịnày có những cơ quan đánh giá riêng Chính vì vậy, những nghiên cứu đánh giá đầutiên đã được tiến hành tại Hoa Kỳ và nơi đây đã được coi là thị trường đánh giá đầutiên trên thế giới Theo D.Roessner và J Melkers, đánh giá mang đậm dấu ấn chínhtrị: “Tại Hoa Kỳ, nhiều tổ chức đánh giá nhiều đối tượng sử dụng kết quả đánh giáhoạt động theo kiểu độc lập với nhau đã thể hiện tính chất phân chia quyền lực đặc
trưng của Nhà nước Hoa Kỳ” (Roessner D & Melkers J., 1993)
Cũng từ những năm 1980, số những nghiên cứu đánh giá đã tăng lên khôngngừng ở các nước phương Tây Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng nhu cầu đánh giá ởmỗi quốc gia phụ thuộc khá nhiều vào cơ cấu và thể chế chính trị của quốc gia đó.Đánh giá được coi như một công cụ chính sách, nhằm xác định tính hợp lý của cácquyết định quản lý nhà nước Chẳng hạn những nghiên cứu đánh giá đã giúp các
Trang 6chính khách ra các quyết định lựa chọn chiến lược và phân bổ ngân sách Chúngcung cấp các thông tin phản hồi cho các quyết định chính sách phù hợp với đườnglối chính trị của các đảng phái Trong các thể chế dân chủ, tính công khai có thểbiểu hiện bằng cách tiến hành các đánh giá, đó là chỗ dựa cho việc quyết định cácchính sách quản lý Trong các thể chế chính trị tập trung, các chính phủ không ủng
hộ nhiều việc đánh giá các quyết định chính sách của mình Cũng vẫn đề cập đếnvai trò của hoạt động đánh giá, P Rossi và H Freeman thậm chí còn đi xa hơn khi
họ nói rằng “những đánh giá có tính hệ thống là vô giá đối với những nỗ lực hiện tại
và tương lai nhằm cải thiện số phận của loài người” (Rossi P & Freeman H.,
1986) Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu thì khoa học đánh giá trong thời kỳ
này vẫn còn ở giai đoạn ấu thơ, mang nhiều tính chất nghệ thuật hơn là tính khoa
học (Martin Ben R., 1993).
Năm 1994, Tiêu chuẩn Đánh giá Chương trình đã được xuất bản ở Mỹ vàđược sự phê chuẩn để làm tiêu chuẩn quốc gia cho công tác đánh giá các Chươngtrình Văn kiện này định nghĩa đánh giá là một sự nghiên cứu có tính hệ thống vềgiá trị và phẩm chất của một đối tượng (một chương trình, dự án, hoặc sản phẩm)
Ví dụ, một chương trình phát triển có thể rất hiệu quả trong việc cải thiện nền kinh
tế của một quốc gia (giá trị hoặc hiệu quả), nhưng cái giá phải trả là hy sinh phúclợi của người dân (giá thực chất) Cả phẩm chất lẫn giá trị đều có tầm quan trọngtrong đánh giá các chương trình phát triển Các nghiên cứu đánh giá hiệu quả thựchiện nhiệm vụ cấp Bộ của một số nước như Mỹ, Canada, Thụy Điển đặt tầm quantrọng của việc thực hiện dịch vụ công qua việc đánh giá sự hài lòng của kháchhàng; cũng như việc thu thập thông tin liên quan đến lĩnh vực quản lý của Bộ Vớiquan điểm “công dân là khách hàng của Nhà nước”, Nhà nước luôn quan tâm tới
thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của nhân dân (Chu Xuân Khánh, 2003).
Tại Vương Quốc Anh, trong giai đoạn những năm của thập niên 90 của thế
kỷ trước, các nghiên cứu về đánh giá rất phát triển Trong nghiên cứu của mình,Ken Guy và Erik Arnold đã đề xuất tiêu chuẩn đánh giá đối với các dự án đề nghịtài trợ, bao gồm các khoản mục: (i) Tính hợp lý (Rationale): cần nêu rõ những lý docần sự hỗ trợ của Bộ Thương mại và Công nghiệp (DTI), những lợi ích sẽ đạt được
và những lý do giải thích tại sao hoạt động đó lại không thể để hoàn toàn cho thịtrường điều tiết; (ii) Những mục tiêu (Objectives): việc xây dựng các mục tiêunhằm làm rõ ý đồ của người kiến nghị và cung cấp thước đo cho công tác đánh giásau này; (iii) Thẩm định (Appraisal): mục này nhằm chi tiết hóa cách thức xét duyệtcác thành tố của dự án Những điểm này phải nhất quán với lý giải chung và mụctiêu của dự án; (iv) Kiểm tra, giám sát (Monitoring): mục này trình bày những dựkiến khảo sát tiến độ các hoạt động của dự án, đặc biệt là liên quan tới những dự áncủa cá nhân Nó cũng bao gồm những dự kiến giám sát và xem xét tiến trình củatoàn bộ chương trình Nếu xuất hiện những vấn đề nghiêm trọng, có thể cần đến sựquan tâm quản lý của cấp trung ương hoặc của các bộ trưởng Chúng cũng có thểbao gồm cả việc xét lại chiến lược ban đầu, xem nó có còn thích hợp hay không khihoàn cảnh đã thay đổi; (v) Đánh giá (Evaluation): mục này đưa ra những kiến nghịban đầu về đánh giá chương trình Nó định ra thời biểu cho các dự kiến đánh giá
(Ken Guy & Erik Arnold UK Government Practice in Science and Technology
Trang 7Evaluation; Report; FhG-ISI; Karlsruhe, 1992) Trên cơ sở nghiên cứu này, Ủy ban
Đánh giá và Cải thiện Chính sách (the Evaluation and Policy ImprovementCommittee – EPIC) của Bộ Thương mại và Công nghiệp (the Department of Tradeand Industry - DTI) Vương quốc Anh đã công bố tài liệu chính thức về tiêu chuẩnđánh giá, gọi là ROAME, đặt nền móng cho sự phát triển của hệ thống đánh giá tạiquốc gia này
Tại Cộng hòa liên bang Đức cũng như Cộng đồng châu Âu, văn hóa đánh giá
đã được hình thành từ rất sớm và hiện các nghiên cứu đánh giá ở quốc gia này đangchủ yếu được thực hiện nhằm giải quyết nhu cầu phối hợp và tích hợp nhữngnghiên cứu đánh giá khác nhau đã được tiến hành nhằm mục đích cuối cùng là sửdụng tốt hơn những kết quả đánh giá và nâng cao hiệu quả của chính sách quốc gia.Nghiên cứu về thực tiễn đánh giá ở Cộng đồng châu Âu, Lionel Pilorget cho rằnghoạt động đánh giá cần dựa trên sáu đặc trưng để so sánh sau: (i) Mức độ thiết chếhóa: nghĩa là những nghiên cứu đánh giá có được tiến hành một cách hệ thống haykhông, có theo những hướng dẫn đã ban hành hay không; (ii) Mức độ sử dụngchuyên gia bên ngoài; (iii) Mức độ sử dụng chuyên gia bên trong; (iv) Tính chất củanghiên cứu đánh giá theo cách xếp lớp: ex-ante strategic (đánh giá trước từ bênngoài có tính chiến lược); ex-ante operational (đánh giá mang tính tác nghiệp, trước
và từ bên ngoài); interim (đánh giá trung gian) hoặc ex-post (đánh giá từ bên ngoàisau khi hoàn thành); (v) Ý nghĩa chiến lược của việc đánh giá đối với việc hìnhthành chính sách; (vi) Giá trị phục vụ cho tương lai của các nghiên cứu đánh giá
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), “Đánh giá là một quátrình xác định giá trị hoặc tầm quan trọng của một hoạt động, chính sách hoặcchương trình, là sự đánh giá ở mức độ hệ thống và khách quan nhất có thể, đối vớimột can thiệp đã được lập kế hoạch, đang diễn ra, hoặc đã hoàn thành” (OECDDAC, 1991) Đánh giá được thực hiện để đánh giá sự hình thành, đánh giá tổng kết
và đánh giá triển vọng đối với các dự án/chương trình/chính sách Ở phương diệnnày, đánh giá được phân thành 03 loại, bao gồm: đánh giá nội bộ, đánh giá bên
ngoài và đánh giá phát triển Đánh giá nội bộ là đánh giá một can thiệp phát triển
được tiến hành bởi một đơn vị hoặc các cá nhân để thông báo cho cấp quản lý của
tổ chức tài trợ, đối tác hoặc tổ chức thực hiện Đánh giá bên ngoài là đánh giá một
can thiệp phát triển được tiến hành bởi các chủ thể và/hoặc các cá nhân ở bên ngoài
tổ chức tài trợ, đối tác hoặc tổ chức thực hiện Đánh giá phát triển là một sự đánh
giá mang tính hệ thống và khách quan đối với các công việc thiết kế, thực hiện vàkết quả của một dự án/chương trình/chính sách đang diễn ra hoặc đã hoàn thành.Mục đích của nó là xác định tính liên quan và sự hoàn thành các mục tiêu, hiệu suất,hiệu quả phát triển, tác động và tính bền vững Đánh giá phải cung cấp những thôngtin tin cậy và hữu ích, tạo khả năng kết hợp những bài học nhận được vào quá trình
đề ra quyết định cả ở những đối tượng tiếp nhận lẫn những nhà tài trợ
Đối với lĩnh vực đánh giá phát triển, Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (DevelopmentAssistance Committee - DAC) đã có công trình nghiên cứu, xây dựng hệ thống tiêuchí phục vụ cho công tác đánh giá này, bao gồm:
- Tính liên quan: là mức độ mà hoạt động viện trợ thích hợp với những ưu
Trang 8tiên và chính sách của các nhóm đối tượng mục tiêu, nơi tiếp nhận và nhà tài trợ;
- Hiệu quả: là số đo mức độ mà hoạt động viện trợ nhận được các mục tiêu đề
ra;
- Hiệu suất: là số đo các đầu ra - cả chất lượng lẫn số lượng - liên quan tới các
đầu vào Đây là một thuật ngữ kinh tế, cho thấy việc viện trợ sử dụng những nguồnlực với khả năng ít tốn kém nhất để đạt được những kết quả cần thiết Điều này nhìnchung đòi hỏi so sánh các cách tiếp cận thay thế nhau trong việc đạt được những đầu
ra như nhau để xét xem quy trình nào có hiệu suất cao nhất được áp dụng;
- Tác động: là những thay đổi tích cực và tiêu cực do sự can thiệp phát triển
tạo ra, trực tiếp hoặc gián tiếp, mong muốc hoặc không mong muốn Điều này liênquan đến những tác động và ảnh hưởng chính của hoạt động đối với những chỉ báokinh tế - xã hội, môi trường và các chỉ báo phát triển khác của địa phương Việcxem xét cần phải quan tâm đến những kết quả mong muốn và không mong muốn vàcần phải bao hàm tác động tích cực và tiêu cực của những nhân tố bên ngoài, chẳnghạn như những thay đổi về điều kiện thương mại và tài chính;
- Tính bền vững: là sự quan tâm đến việc đo xem liệu những lợi ích nhận
được từ hoạt động có khả năng tiếp diễn hay không sau khi nhà tài trợ rút khỏi Các
dự án cần phải có tính bền vững về môi trường cũng như về tài chính
Dựa vào các tiêu chí nêu trên, trong nghiên cứu của mình, DAC đã phát triểnnhững nguyên tắc cụ thể đối với đánh giá sự hỗ trợ phát triển, nhằm vào những vấn
đề sau: Mục đích đánh giá; Tính khách quan và độc lập; Độ tin cậy; Tính hữu ích;
Sự tham gia của nhà tài trợ và nơi tiếp nhận; Sự hợp tác của nhà tài trợ; Lập trìnhđánh giá; Thiết kế và thực hiện đánh giá; Báo cáo, phổ biến và phản hồi; Áp dụng
các nguyên tắc đưa ra (OECD DAC, 1991)
Ở góc độ khoa học quản lý và để có thể nâng cao chất lượng hoạt động, thìđánh giá là một khâu quan trọng của quá trình quản lý; vấn đề đánh giá chất lượng,hiệu quả phải được tiến hành trước một bước Evan M.Berman trong nghiên cứu
“Measuring Productivity” (Đo lường hiệu suất) đã nhấn mạnh “Các tiêu chí đánh giá
cần phải bảo đảm tính hợp lý, tin cậy, đơn giản và dễ áp dụng Bởi tính đa đạng của các hoạt động, chúng ta cần có những chỉ số đa diện để đánh giá toàn diện các hoạt động này” Peter Drucker là một nhà khoa học quản lý hiện đại – cũng đã nhấn mạnh:
“Nếu bạn không đo được kết quả, bạn sẽ không thể chỉ ra thành công từ thất bại; nếu
bạn không nhận ra thành công, bạn không khen thưởng được thành công thì có thể bạn lại khuyến khích thất bại; nếu bạn không nhận ra thành công, bạn không thể học hỏi từ thành công; nếu bạn chỉ ra được kết quả, bạn có sự ủng hộ của mọi người”
Nhìn chung, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt độngđánh giá dưới các góc độ khác nhau, tập trung nhiều vào đối tượng đánh giá là cácchương trình, dự án, chính sách Các nghiên cứu đều có sự thống nhất cho rằngđánh giá phải dựa trên một hệ thống tiêu chí cụ thể Tuy nhiên hệ thống tiêu chí này
là khác nhau phụ thuộc vào mục tiêu của hoạt động đánh giá, đối tượng đánh giá vàphạm vi đánh giá Đối với đối tượng đánh giá là việc thực hiện công tác chuyênmôn của các lĩnh vực tài nguyên và môi trường ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu
Trang 9trên thế giới nào đề cập một cách cụ thể Nguyên nhân do đây là vấn đề khó xuấtphát từ sự khác biệt giữa cơ quan quản lý nhà nước ở mỗi quốc gia (như thể chếchính trị, trình độ khoa học và công nghệ, mô hình quản lý nội bộ, cách thức chỉđạo triển khai công tác chuyên môn ) Bản thân việc tự đánh giá hiệu quả hoạtđộng công tác của chính mình là công việc nội bộ, ít nhiều có tính nhạy cảm nênviệc tiếp cận, nghiên cứu các tài liệu chính thống của các bộ, ngành quản lý ngoàinước gần như là không thể Thực tế các trao đổi kinh nghiệm quốc tế hiện nay giữa
Bộ Tài nguyên và Môi trường, các đơn vị trực thuộc Bộ với các cơ quan quản lýnhà nước nước ngoài tương ứng phần lớn tập trung vào những thỏa thuận hợp tác đểcùng triển khai, thực hiện các dự án chuyên môn cụ thể và tổng kết đánh giá việcthực hiện đó
11.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở phạm vi trong nước, đã có nhiều nghiên cứu về đánh giá hiệu quả đượcquan tâm thực hiện như: đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ, đánhgiá hiệu quả kinh doanh, đánh giá hiệu quả đầu tư, đánh giá hiệu quả phổ biến vănbản quy phạm pháp luật, đánh giá hiệu quả cải cách hành chính, Các nghiên cứutiêu biểu bao gồm:
- Xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động quản lý cấp Bộ ở nước ta (Chu Xuân Khánh, 2003) đã khái quát về đánh giá chất lượng hoạt động
quản lý cấp Bộ, việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của các Bộ chịu sự kiểm soátthường xuyên của nhiều chủ thể (Quốc hội, Tòa án, các tổ chức đảng và của xã hội);các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý hành chính các cấp bao gồm yếu tố tổchức pháp lý, yếu tố tổ chức thực hiện, yếu tố kiểm tra, giám sát, đánh giá; cơ sởkhoa học của việc xác định tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động quản lý nhà nướccấp Bộ, các tiêu chí, phương pháp, kỹ thuật và quy trình đánh giá Tuy nhiên,nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở những cơ sở cho việc thiết lập hệ thống tiêu chí đánhgiá chất lượng chung cho các bộ theo quy trình đánh giá chất lượng ISO mà chưa
đề cập tới những nghiên cứu đánh giá toàn diện cho những Bộ quản lý chuyênngành, đa ngành, đa lĩnh vực, tập trung nhiều vấn đề bức xúc, nhạy cảm, gắn nhiềuvới quyền lợi của nhân dân và doanh nghiệp như Bộ Tài nguyên và Môi trường.Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc thực hiện đánh giá hiệu quả thực hiện nhiệm vụ củacác Bộ còn hình thức, cũng như chưa có hệ thống tiêu chí đánh giá, tiêu chuẩn, địnhmức phản ảnh chất lượng của hoạt động quản lý hành chính nhà nước của các Bộ
- Nghiên cứu đề xuất tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh ở nước ta hiện nay (Lê Hồng Yến, 2011) cũng đề cập
tới cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng hoạtđộng của cơ quan hành chính nhà nước; sự cần thiết phải đánh giá chất lượng,…Tuy nhiên, đánh giá chất lượng là phạm trù khó, phức tạp, khó lượng hóa
- Bộ Chỉ số cải cách hành chính PAR INDEX (Bộ Nội vụ, 2013) kết hợp giữa
phương pháp đánh giá bên trong - tự đánh giá của các bộ, ngành, địa phương vớiphương pháp đánh giá bên ngoài do cơ quan nhà nước có trách nhiệm đánh giá (BộNội vụ phối hợp với một số Bộ, ngành khác) đồng thời kết hợp với sự đánh giá của
Trang 10người dân, doanh nghiệp đối với các bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiệnchương trình cải cách hành chính nhà nước Do tính chất và nội dung cải cách hànhchính của mỗi cấp khác nhau, do vậy bộ chỉ số theo dõi, đánh giá cải cách hànhchính đã được xây dựng riêng cho các bộ, ngành và địa phương Bộ chỉ số cấp bộ,
áp dụng đánh giá cho các Bộ, ngành và bộ chỉ số cấp tỉnh, áp dụng đánh giá cho cáctỉnh, thành phố Về cơ bản Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá đều được đề cập đầy đủ nộidung để đánh giá toàn bộ kết quả thực hiện chương trình cải cách hành chính nhànước của các Bộ, ngành và địa phương như từ công tác chỉ đạo, điều hành cải cáchhành chính đến xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật tại địaphương hay xây dựng thể chế; cơ chế chính sách quản lý đối với Bộ, ngành; cảicách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng vànâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, đổi mới cơ chế quản lý đối với cơ quanhành chính và đơn vị sự nghiệp công lập, hiện đại hoá nền hành chính nhà nước
- Khung đánh giá chương trình, dự án đầu tư công (2014) là hệ thống đánh
giá cho phép xếp hạng, tính điểm đang được Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp vớiNgân hàng Phát triển Châu Á (ADB) xây dựng trong khuôn khổ dự án Hỗ trợ chuẩn
bị và thực hiện phát triển kinh tế - xã hội dựa trên kết quả của giai đoạn 2011-2015
Hệ thống đánh giá Chương trình đầu tư công mới đang được xây dựng bao gồm cáctiêu chí chính được sử dụng thường xuyên nhất để đánh giá phát triển bao gồm: tínhphù hợp, tính hiệu quả, tính hiệu lực/hiệu suất và tính bền vững Theo đó, tính phùhợp được đánh giá trên cơ sở sự hợp lý của chương trình dự án tại thời điểm thiết kế
và thời điểm tiến hành đánh giá Tính hiệu quả quan tâm đến việc nguồn lực củachương trình dự án đã được chuyển hóa một cách tiết kiệm đến đâu để trở thành kếtquả Tiêu chí tính hiệu suất được xem xét trên cơ sở thực hiện đánh giá mức độ đạtđược hoặc có khả năng đạt được các mục tiêu và kết quả mong muốn Còn tính bềnvững, sẽ tập trung đánh giá về tài chính xem liệu chương trình dự án có tạo đượcnguồn thu hoặc có thể yêu cầu sự hỗ trợ tiếp tục của ngân sách để đảm bảo chuỗiđầu ra và kết quả trực tiếp của chương trình dự án được duy trì hay không
- Để góp phần tạo dựng cơ sở khoa học và thực tiễn trong công tác thammưu, tổng hợp thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Bộ, trong thờigian qua Văn phòng Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao thực hiện 02 đề tàinghiên cứu khoa học và công nghệ cấp cơ sở:
(1) “Nghiên cứu xây dựng cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin giữa Vănphòng Bộ và các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ nhằm phục vụ công tác chỉ đạo,điều hành của Lãnh đạo Bộ” năm 2006;
(2) “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất xây dựng ban hành quychế về công tác tổng hợp đáp ứng yêu cầu chỉ đạo của Bộ Tài nguyên và Môitrường” năm 2012
Với đề tài thứ nhất, đã bước đầu đề ra các quy định, phương thức trong phốihợp xây dựng chương trình công tác, tổ chức các hội nghị, cuộc họp, thủ tục banhành văn bản, tổ chức tiếp khách làm cơ sở để xây dựng Quy chế làm việc của BộTài nguyên và Môi trường Sản phẩm của Đề tài thứ hai là báo cáo đánh giá thực
Trang 11trạng công tác tổng hợp, xây dựng quy trình nghiệp vụ công tác tổng hợp, bước đầu
đề xuất các mẫu báo cáo tổng hợp và hình thành dự thảo Quy chế công tác tổng hợp
Nhìn chung các sản phẩm và kết quả có được từ 02 đề tài mới chỉ dừng lại ởviệc củng cố, tăng cường tác nghiệp theo công việc sự vụ của Văn phòng Bộ đểphục vụ sự chỉ đạo, điều hành mang tính chất mệnh lệnh hành chính của lãnh đạo
Bộ đối với các đơn vị trực thuộc Bộ; đáp ứng bước đầu công tác trao đổi thông tin,theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện nhiệm vụ phục vụ sự chỉ đạo, điều hànhcủa lãnh đạo Bộ Chức năng tham mưu tổng hợp, đề xuất giải pháp của Văn phòng
Bộ (gồm cả khối văn phòng nói chung) phục vụ lãnh đạo Bộ (và thủ trưởng các cơquan, đơn vị trực thuộc Bộ) chỉ đạo thực hiện công tác chuyên môn các lĩnh vựcvẫn còn là vấn đề bỏ ngỏ
Tuy nhiên các kinh nghiệm, phương pháp trao đổi thông tin, cách thức phốihợp trong việc kiểm tra, thực hiện nhiệm vụ được giao, báo cáo kiểm điểm chỉ đạo,điều hành năm cùng một số phương pháp nghiên cứu của 02 đề tài nêu trên sẽđược tham khảo, nghiên cứu để xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hìnhthành hệ thống tiêu chí đánh giá việc thực hiện công tác chuyên môn các lĩnh vựctài nguyên và môi trường
- Thời gian qua, các tổ chức quốc tế (Ngân hàng thế giới – WB, Chương trìnhPhát triển Liên hợp quốc – UNDP, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản – JICA, ) hợptác với Bộ Tài nguyên và Môi trường, các đơn vị trực thuộc Bộ khi thực hiện các dự ánhợp tác theo lĩnh vực có những cách thức đánh giá riêng về mức độ phối hợp triển khai
và hiệu quả hoạt động của dự án Đây sẽ là những kinh nghiệm tốt để nghiên cứu tiếpthu xây dựng bộ tiêu chí, phương pháp đánh giá và đề xuất các giải pháp tăng cườnghiệu quả thực hiện công tác chuyên môn về tài nguyên và môi trường
11.2.3 Về sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả thực hiện công tác chuyên môn các lĩnh vực tài nguyên và môi trường
Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập theo Nghị quyết số02/2012/QH11 ngày 05 tháng 8 năm 2002 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam khóa XI và Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm
2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức
Bộ Tài nguyên và Môi trường, trên cơ sở hợp nhất Tổng cục Địa chính, Tổng cụcKhí tượng Thủy văn (là các cơ quan trực thuộc Chính phủ), Cục Môi trường (trựcthuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường trước đây), Cục Địa chất và Khoángsản Việt Nam, Viện nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản (trực thuộc Bộ Công nghiệptrước đây) và một bộ phận quản lý tài nguyên nước thuộc Cục Quản lý nước vàcông trình thủy lợi (trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Đến năm
2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao bổ sung chức năng quản lý nhà nước
về quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo Hiện nay, chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường được quy định tạiNghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ Theo đó,
Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lýnhà nước về các lĩnh vực: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất;
Trang 12môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; viễn thám; quản
lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo; quản lý nhà nước các dịch vụ côngtrong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ
Trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường, cónhững lĩnh vực mới được hình thành như biển và hải đảo, tài nguyên nước, biến đổikhí hậu, viễn thám, nhưng cũng có những lĩnh vực đã ra đời từ rất lâu như quản lýđất đai, đo đạc và bản đồ, địa chất và khoáng sản, khí tượng thủy văn Hầu hết cáclĩnh vực tài nguyên và môi trường có tính chất phức tạp, nhạy cảm, liên quan trựctiếp đến quyền lợi của nhân dân, doanh nghiệp, tổ chức, có tác động lớn đến bảođảm an ninh, quốc phòng, sự phát triển kinh tế - xã hội và sự phát triển bền vữngcủa đất nước Ngành tài nguyên và môi trường cũng là ngành tập trung công tácđiều tra cơ bản gắn liền với nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ, có tính
hệ thống, có mối liên hệ chặt chẽ giữa các lĩnh vực với nhau
Cùng với sự thành lập và phát triển của Bộ Tài nguyên và Môi trường trongnhững năm qua, hệ thống tổ chức bộ máy của ngành liên tục được kiện toàn, đổimới, tăng cường và đang trong quá trình tiếp tục được hoàn thiện, được tổ chứcthống nhất từ Trung ương đến địa phương, cơ sở: Bộ Tài nguyên và Môi trường là
cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ở Trung ương; Sở Tàinguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện và công chứcđịa chính – xây dựng – nông nghiệp và môi trường (đối với xã) hoặc công chức địachính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phương, thị trấn) là các tổ chức,
cá nhân giúp việc ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về tàinguyên và môi trường ở địa phương
Từ khi được thành lập đến nay, công tác quản lý nhà nước về tài nguyên vàmôi trường đã từng bước được tổ chức thực hiện và hoàn thiện, phát huy hiệu lực,hiệu quả, đóng góp quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước Tuy nhiên,vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, những khó khăn, vướng mắc nảy sinh đã và đanglàm giảm hiệu lực và hiệu quả công tác quản lý nhà nước của ngành
Hệ thống pháp luật về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó vớibiến đổi khí hậu còn chưa đồng bộ; một số cơ chế, chính sách chưa sát với tình hìnhthực tế Chất lượng công tác điều tra cơ bản, dự báo, quan trắc và quy hoạch cònnhiều hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển, tính tổng thể, liên ngành, liên vùng;chưa rõ trọng tâm, trọng điểm và nguồn lực thực hiện; còn có sự thiên về lợi íchkinh tế trước mắt, chưa coi trọng hay ưu tiên cho phát triển bền vững Khai thác và
sử dụng các nguồn lực đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản hiệu quảchưa cao Nhiều tài nguyên còn bị khai thác, sử dụng hợp lý, kém hiệu quả và thiếubền vững Việc khai thác, sử dụng một số nguồn tài nguyên còn bất hợp lý, chưaphù hợp với thể chế kinh tế thị trường
Kỷ luật kỷ cương trong quản lý tài nguyên còn có nơi chưa nghiêm; phâncông, phân cấp, phối hợp giữa các Bộ, ban, ngành, địa phương còn thiếu chặt chẽ;
tổ chức thực hiện chưa thực sự chủ động, cương quyết; hiệu lực, hiệu quả thanh tra,kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm chưa cao Ô nhiễm môi trường tiếp tục diễn biến
Trang 13phức tạp ở nhiều nơi Một số nơi bị ô nhiễm nặng, có nguy cơ vượt ngưỡng chịuđựng của các hệ sinh thái Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, khu vực nôngthôn, nhiều khu, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất, lưu vực sông, khu vực khai tháckhoáng sản chậm được cải thiện Nhiều hệ sinh thái tự nhiên, nhất là hệ sinh tháirừng, đất ngập nước, san hô, thảm thực vật biển giảm nhanh về diện tích, xuống cấp
về chất lượng Rừng nguyên sinh suy giảm về số lượng và chất lượng Nhiều loài,nguồn gen quý hiếm đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao
Khả năng phòng tránh thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu vẫn còn hạnchế Điều kiện, nguồn lực để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu còn rất thiếu.Mức độ gia tăng phát thải khí nhà kính cao; sử dụng năng lượng còn lãng phí, kémhiệu quả; tỷ lệ năng lượng hóa thạch còn cao, sử dụng năng lượng tái tạo còn hạnchế Một số công trình thủy điện thực hiện chưa tốt việc điều tiết nước, chưa bảođảm mục tiêu tổng hợp
Đúng như nhận định đã được nêu trong Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủđộng ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môitrường thông qua tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7, khóa XIlà: “Chất lượng công tác dự báo và quy hoạch còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp yêucầu phát triển, tính tổng thể, liên ngành, liên vùng; chưa rõ trọng tâm, trọng điểm vànguồn lực thực hiện Tổ chức bộ máy, quản lý nhà nước và việc phân công, phâncấp, phối hợp giữa các bộ, ban, ngành, địa phương còn thiếu chặt chẽ; tổ chức thựchiện chưa thực sự chủ động, cương quyết; hiệu lực, hiệu quả thanh tra, kiểm tra,giám sát, xử lý vi phạm chưa cao”
Những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên vàmôi trường hiện nay do nhiều nguyên nhân, trong đó có một phần quan trọng từcông tác đánh giá hiệu quả thực hiện công tác chuyên môn các lĩnh vực tài nguyên
và môi trường
Cũng như nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước khác, việc đánh giá tình hình côngtác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường trên các lĩnh vực luôn được lãnhđạo Bộ Tài nguyên và Môi trường quan tâm chỉ đạo và coi là nhiệm vụ quan trọngcần được tiến hành một cách thường xuyên liên tục Hoạt động đánh giá được thựchiện theo mô hình từ dưới lên trên, trước tiên từ cấp cơ sở đến cấp Trung ương Tại
Bộ Tài nguyên và Môi trường, đơn vị tham mưu quản lý nhà nước của từng lĩnhvực sẽ tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn của lĩnh vực
đó, sau đó kết quả này sẽ được tổng hợp, đánh giá chung thành kết quả của toànngành Quy trình đánh giá này được thực hiện là chung nhất đối với tất cả các lĩnhvực quản lý nhà nước và đã được quy phạm hóa thành quy chế làm việc của các cơquan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương Tuy nhiên, trong quá trìnhđánh giá, tùy thuộc vào đặc thù của từng lĩnh vực quản lý nhà nước mà việc đánhgiá sẽ có các mục tiêu, phạm vi, tiêu chí và cách thức cụ thể
Các lĩnh vực trong ngành tài nguyên và môi trường có mối liên hệ hữu cơ,mật thiết và tác động qua lại, tạo được sự đồng bộ và thống nhất trong quản lý củangành đối với các lĩnh vực, song lại có những nét rất khác biệt so với các lĩnh vực
Trang 14thuộc ngành khác Đó là nếu như các lĩnh vực của ngành tài nguyên và môi trườngluôn chú trọng đến việc bảo đảm tính hiệu quả trong bảo vệ tài nguyên và môitrường thì các lĩnh vực khác lại chỉ quan tâm, chú trọng đến sự khai thác, sử dụngtài nguyên và môi trường Nét khác biệt này cho thấy việc đánh giá hiệu quả tìnhhình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn các lĩnh vực tài nguyên và môi trường cầnphải có những mục tiêu, phạm vi, tiêu chí và cách thức riêng biệt
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, việc đánh giá tình hình thực hiện công tácchuyên môn của các lĩnh vực tài nguyên và môi trường lại đang thiếu các tiêu chí,phương pháp đánh giá cụ thể; do đó việc kết quả đánh giá chủ yếu mang tính nhậnđịnh định tính, thiếu cơ sở khoa học cũng như các số liệu lượng hóa để minh chứng,dẫn đến thiếu tính thuyết phục, thậm chí là thiếu chính xác Việc thực hiện đánh giáhiệu quả thực hiện công tác chuyên môn các lĩnh vực tài nguyên và môi trường dựatrên một hệ thống tiêu chí và phương pháp đánh giá thống nhất sẽ góp phần thu hút,lôi kéo được sự quan tâm của những người tham gia đánh giá, từ đó đưa ra đượcnhững đề xuất giải pháp gắn liền với hoạt động thực tiễn; đồng thời tạo được sựđồng thuận cao trong quá trình thực hiện các giải pháp
Từ thực tiễn nêu trên, việc triển khai thực hiện đề tài khoa học và công nghệ:
“Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn việc đánh giá hiệu quả thực hiện công tácchuyên môn các lĩnh vực tài nguyên và môi trường” là hết sức cần thiết và cấp báchtrong bối cảnh hiện nay
11.3 Liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
đã nêu trong phần tổng quan
11.3.1 Các văn bản pháp luật và văn kiện của Đảng:
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2013), Nghị quyết số
24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường;
- Chính phủ (2013), Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2013
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
11.3.2 Tạp chí, hội thảo, đề tài, công trình khoa học, báo cáo (tiếng Việt):
- Bộ Nội vụ (2013), Bộ Chỉ số cải cách hành chính PAR INDEX;
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014), Khung đánh giá chương trình, dự án đầu tư
công;
- Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Kế hoạch 5 năm 2016 – 2020 ngành
tài nguyên và môi trường;
- Chu Xuân Khánh (2003), Đề tài khoa học cấp Bộ “Xây dựng các tiêu chí
đánh giá chất lượng hoạt động quản lý ở cấp Bộ nước ta”, Học viện Chính trị
-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh;
- Lê Hồng Yến (2011), Nghiên cứu đề xuất tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt
động của cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh ở nước ta hiện nay;
- Trần Trí Đức (2003), Phương pháp luận đánh giá các tổ chức nghiên cứu và
Trang 15phát triển và những gợi suy trong điều kiện của Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật;
- Tạ Đình Thi (2006), Đề tài khoa học cấp cơ sở: “Nghiên cứu xây dựng cơ
chế phối hợp, trao đổi thông tin giữa Văn phòng Bộ và các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ nhằm phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Bộ”, Bộ Tài
nguyên và Môi trường;
- Tạ Đình Thi (2013), Một số vấn đề kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước
về tài nguyên và môi trường, NXB Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam;
- Tạ Đình Thi (2014), Đề tài khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu, xây dựng Bộ chỉ
số theo dõi, đánh giá cải cách hành chính đối với các đơn vị trực thuộc Bộ”, Bộ Tài
nguyên và Môi trường;
- Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học; NXB Khoa
học và Kỹ thuật;
- Vũ Văn Long (2012), Đề tài khoa học cấp cơ sở “Nghiên cứu cơ sở khoa
học và thực tiễn đề xuất xây dựng ban hành quy chế về công tác tổng hợp đáp ứng yêu cầu chỉ đạo của Bộ Tài nguyên và Môi trường”, Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (2014), Báo cáo xây dựng bộ tiêu chính
đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ lĩnh vực thủy lợi
- V.v
13.3.3 Tài liệu nước ngoài:
- Gibbons M & Georghiou L (1987) Evaluation of Research – A Selection
of Current Practices, Paris: OECD;
- Evan M.Berman (1998), cuốn Measuring Productivity (Đo lường hiệu suất);
- Roessner D & Melkers J (1993) Evaluation of National Research and Technology Policy Programs in the United States and Canada; Report; FhG-ISI;
Karlsruhe;
- Rossi P & Freeman H.(1986) Evaluation, a Systematic Approach; Sage
Publications; Beverly Hills; London, Delphi;
- Martin Ben R (1993) Evaluating Science and Scientists: Factors Affecting
the Acceptance of Evaluation Results, Paper to be Presented at the Workshop on
Evaluating Science and Scientists, Pultusk, Poland 8-10 October;
- Ken Guy & Erik Arnold (1993) UK Government Practice in Science and
Technology Evaluation; Report; FhG-ISI; Karlsruhe;
- OECD DAC (1991), Principles For the Evaluation of DevelopmentAssistance, Paris;
- OECD, DAC Criteria for Evaluating Development Assistance,
http://www.oecd.org/document/22/0,2340,en_2649_34435_2086550_1_1_1_1,00.html
11.4 Phân tích, đánh giá cụ thể những vấn đề KH&CN còn tồn tại, hạn chế của sản phẩm, công nghệ nghiên cứu trong nước và các yếu tố, các nội dung cần đặt ra nghiên cứu, giải quyết ở đề tài này (nêu rõ, nếu thành công thì đạt được
Trang 16những vần đề gì)
Như đã phân tích ở phần trên, kinh nghiệm trao đổi quốc tế về đánh giá hiệuquả việc thực hiện công tác chuyên môn các lĩnh vực tài nguyên và môi trường làvấn đề khó do đặc thù khác biệt về thể chế chính trị - xã hội, mô hình, cách thứctriển khai công tác chuyên môn…; những đánh giá của các tổ chức quốc tế mớidừng ở những dự án chuyên môn hẹp cụ thể Do đó, chưa có một nghiên cứu nướcngoài nào về việc đánh giá hiệu quả thực hiện công tác chuyên môn trong các lĩnhvực của ngành tài nguyên và môi trường phù hợp điều kiện thể chế chính trị ở ViệtNam Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, các nghiên cứu ở nước ngoài chỉ có giátrị và sẽ được tham khảo trong quá trình nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận của hoạtđộng đánh giá như: khái niệm đánh giá; phân loại hoạt động đánh giá; cách thứcđánh giá; quy trình tiến hành việc đánh giá v.v
Ở trong nước, tuy đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến phạm
vi nghiên cứu của đề tài, song các công trình nghiên cứu này mới đề cập đến việcđánh giá hoạt động của các cơ quan hành chính nói chung hoặc đi vào một lĩnh vực
cụ thể như: cải cách hành chính, công tác tham mưu tổng hợp Chưa có nhữngnghiên cứu chuyên sâu đánh giá hiệu quả thực hiện công tác chuyên môn đối vớicác lĩnh vực có tính đặc thù của ngành tài nguyên và môi trường
Trong khi đó, hoạt động đánh giá hiệu quả việc thực hiện công tác chuyênmôn đối với các lĩnh vực của ngành tài nguyên và môi trường vẫn đang tiến hànhthường xuyên định kỳ hằng năm hoặc đột xuất đối với từng lĩnh vực, từng chuyên
đề theo yêu cầu của công tác hoạch định chính sách, thực thi các nhiệm vụ quản lýnhà nước của ngành Tuy nhiên, hoạt động đánh giá này đang cần những cơ sở khoahọc và lý luận vững chắc giúp cho việc đưa ra các kết luận đánh giá được kịp thời,
cụ thể, phản ánh đúng với thực tiễn, từ đó nhận diện được các tồn tại, hạn chế để cógiải pháp khắc phục kịp thời Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm khắc phụcvấn đề nêu trên
Các nội dung cơ bản đặt ra trong quá trình nghiên cứu cần phải làm rõ là:
- Thứ nhất, nghiên cứu, làm rõ các vấn đề lý luận của hoạt động đánh giá hiệu
quả thực hiện công tác chuyên môn trong lĩnh vực của ngành tài nguyên và môitrường Trả lời được các câu hỏi sau: Đánh giá hiệu quả hoạt động thực hiện công tácchuyên môn các lĩnh vực tài nguyên và môi trường là gì? Có những đặc thù gì? Phânloại đánh giá? Công cụ đánh giá? Quy trình đánh giá? Xử lý kết quả đánh giá?
- Thứ hai, trên cơ sở các vấn đề lý luận của hoạt động đánh giá hiệu quả thực
hiện công tác chuyên môn trong lĩnh vực của ngành tài nguyên và môi trường đãđược phân tích ở trên, Đề tài sẽ tiến hành đánh giá hiệu quả thực hiện công tácchuyên môn trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường trong giai đoạn 2011 – 2014;chỉ ra những vướng mắc bất cập cần khắc phục
- Thứ ba, từ các kết quả đánh giá dựa trên những căn cứ khoa học đã được
xây dựng, Đề tài nghiên cứu hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thựchiện công tác chuyên môn trong các lĩnh vực của ngành tài nguyên và môi trường
Trang 17- Về thời gian, nghiên cứu tình hình thực hiện công tác chuyên môn các lĩnhvực tài nguyên và môi trường trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 Các giảipháp sẽ được nghiên cứu đề xuất trong bối cảnh giai đoạn 2016 – 2020 dựa trên cácđịnh hướng phát triển của ngành tài nguyên và môi trường và nhiệm vụ quản lý nhànước về tài nguyên và môi trường trong giai đoạn này.
- Quan điểm tiếp cận đối tượng nghiên cứu của Đề tài là việc đánh giá hiệu quảthực hiện công tác chuyên môn các lĩnh vực tài nguyên và môi trường phải vừa mangtính khoa học vừa có tính khả thi, khả dụng Các tiêu chí và phương pháp đánh giáphải được nghiên cứu trên quan điểm của khoa học hành chính, phù hợp với thể chếchính trị và đặc điểm của nền công vụ hành chính ở nước ta hiện nay Đồng thời, cáctiêu chí đánh giá và phương pháp phải phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực cụ thể,
áp dụng đồng bộ, thống nhất và xuyên suốt trong toàn hệ thống của ngành
13 Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào tổng quan tình hình nghiên cứu, sự cần thiết, đối tượng, phạm vi,quan điểm nghiên cứu nêu trên, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu 05 nội dung sau:
(1) Tổng quan nghiên cứu trên thế giới và trong nước về đánh giá hiệu quảthực hiện công tác chuyên môn;
(2) Nghiên cứu tổng quan về các lĩnh vực tài nguyên và môi trường và nhữngyêu cầu đặt ra đối với việc đánh giá hiệu quả công tác chuyên môn của các lĩnh vựctài nguyên và môi trường;
(3) Xây dựng tiêu chí và phương pháp đánh giá hiệu quả thực hiện công tácchuyên môn các lĩnh vực tài nguyên và môi trường;
(4) Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác chuyên môn các lĩnh vực tài nguyên
Trang 18chuyên môn
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới
- Các nghiên cứu ở Mỹ và một số nước Châu Âu;
- Các nghiên cứu của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và một số nướctrong khu vực;
- Các nghiên cứu của một số tổ chức quốc tế
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
- Tổng quan các nghiên cứu về hoạt động đánh giá ở Việt Nam;
- Các nghiên cứu cụ thể ở một số ngành, lĩnh vực tương tự;
- Các nghiên cứu ở một số lĩnh vực thuộc ngành tài nguyên và môi trường;1.3 Một số nhận xét, đánh giá và gợi mở hướng nghiên cứu của đề tài
Nội dung 2: Nghiên cứu tổng quan về các lĩnh vực tài nguyên và môi trường và những yêu cầu đặt ra đối với việc đánh giá hiệu quả công tác chuyên môn các lĩnh vực tài nguyên và môi trường
2.1 Quá trình hình thành và phát triển các lĩnh vực tài nguyên và môi trường:
- Quản lý đất đai;
- Quản lý tài nguyên nước;
- Quản lý tài nguyên khoáng sản và địa chất;
- Bảo vệ môi trường;
- Khí tượng thủy văn;
- Biến đổi khí hậu;
- Đo đạc và bản đồ;
- Viễn thám;
- Quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo
2.2 Mối quan hệ giữa các lĩnh vực tài nguyên và môi trường
2.3 Hệ thống tổ chức ngành tài nguyên và môi trường
2.4 Đặc điểm công tác chuyên môn chung của các lĩnh vực tài nguyên vàmôi trường:
- Công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;
- Công tác xây dựng thể chế, chính sách, pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn,quy trình, quy phạm, định mức kinh tế - kỹ thuật;
- Công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ;
- Công tác cải cách hành chính;
Trang 19- Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo;
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực;
- Công tác hợp tác quốc tế;
- Công tác điều tra cơ bản, quan trắc giám sát và dự báo
2.5 Đặc điểm các nhiệm vụ chuyên ngành về các lĩnh vực tài nguyên và môitrường:
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về quản lý đất đai, bao gồm: lập quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất; đăng ký đất đai; quản lý giá đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cưkhi Nhà nước thu hồi đất; phát triển quỹ đất, quản lý và phát triển thị trường quyền
sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thốngthông tin đất đai; kiểm soát việc quản lý, sử dụng đất đai;
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về quản lý tài nguyên nước, bao gồm: nhiệm
vụ quản lý quy hoạch và điều tra cơ bản tài nguyên nước; quản lý khai thác nướcmặt; quản lý khai thác nước dưới đất; quản lý lưu vực sông;
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về quản lý tài nguyên khoáng sản, địa chất,bao gồm: các nhiệm vụ về kinh tế địa chất và khoáng sản; kiểm soát hoạt độngkhoáng sản và hoạt động điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản;
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về bảo vệ môi trường, bao gồm: kiểm soát ônhiễm; công tác thẩm định và đánh giá tác động môi trường; quản lý chất thải và cảithiện môi trường; bảo tồn đa dạng sinh học; quan trắc môi trường;
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về khí tượng thủy văn, bao gồm: công tác dựbáo, cảnh báo khí tượng thủy văn, dự báo khí hậu; quản lý, khai thác hệ thống quốcgia về cảnh báo thiên tai, mạng lưới khí tượng thủy văn; quản lý hoạt động điều tra,khảo sát khí tượng thủy văn;
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về biến đổi khí hậu, bao gồm: tổ chức giámsát, đánh giá biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu; xây dựng và triểnkhai hệ thống theo dõi, thẩm định và báo cáo các hoạt động giảm nhẹ phát thải khínhà kính; quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ các bon;
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về đo đạc và bản đồ, bao gồm: quản lý hoạtđộng đo đạc và bản đồ; xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác hạ tầng dữ liệu khônggian địa lý; ban hành danh mục địa danh thể hiện trên các bản đồ; tổ chức đo đạc,thành lập, cập nhật bản đồ và hồ sơ địa giới hành chính;
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về viễn thám, bao gồm: quản lý việc ứng dụngviễn thám trong quan trắc, giám sát tài nguyên, môi trường, thiên tai; quản lý cơ sở
dữ liệu viễn thám quốc gia;
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hảiđảo, bao gồm: quản lý điều tra cơ bản về biển và hải đào; quản lý tổng hợp khai thác,
sử dụng biển và hải đảo; kiểm soát tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo
2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện công tác chuyên môn các
Trang 20lĩnh vực tài nguyên và môi trường
2.7 Các yêu cầu đặt ra đối với đánh giá hiệu quả việc thực hiện công tácchuyên môn các lĩnh vực tài nguyên và môi trường
Nội dung 3: Xây dựng tiêu chí và phương pháp đánh giá hiệu quả công tác chuyên môn các lĩnh vực tài nguyên và môi trường
3.1 Các vấn đề lý luận chung về đánh giá hiệu quả công tác chuyên môn cáclĩnh vực tài nguyên và môi trường:
- Khái niệm, mục đích và hình thức đánh giá hiệu quả công tác chuyên môncác lĩnh vực tài nguyên và môi trường;
- Kinh nghiệm trong nước và quốc tế;
- Bài học rút ra cho việc đánh giá hiệu quả công tác chuyên môn các lĩnh vựctài nguyên và môi trường
3.2 Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác chuyên môn cáclĩnh vực tài nguyên và môi trường:
a) Cơ sở khoa học của việc xác định các tiêu chí đánh giá:
- Nghiên cứu khái niệm về tiêu chí đánh giá;
- Phân loại tiêu chí đánh giá và đặc điểm của từng loại;
- Các nguyên tắc, mô hình để xây dựng tiêu chí đánh giá;
- Nghiên cứu các quan điểm, căn cứ để xây dựng tiêu chí đánh giá
b) Đề xuất hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả việc thực hiện công tác chuyênmôn các lĩnh vực tài nguyên và môi trường:
- Xác định mục tiêu, yêu cầu, phạm vi và đối tượng tiêu chí đánh giá;
- Các tiêu chí đánh giá tình hình thực hiện công tác chuyên môn chung:
+ Tiêu chí đánh giá công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;+ Tiêu chí đánh giá công tác xây dựng thể chế, chính sách, pháp luật, tiêuchuẩn, quy chuẩn, quy trình, quy phạm, định mức kinh tế - kỹ thuật;
+ Tiêu chí đánh giá công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ;
+ Tiêu chí đánh giá công tác cải cách hành chính;
+ Tiêu chí đánh giá công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo;+ Tiêu chí đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực;+ Tiêu chí đánh giá công tác hợp tác quốc tế;
+ Tiêu chí đánh giá công tác điều tra cơ bản, quan trắc giám sát và dự báo
- Các tiêu chí đánh giá hiệu quả việc thực hiện nhiệm vụ chuyên ngành vềcác lĩnh vực tài nguyên và môi trường:
+ Tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chuyên ngành về quản lý đất đai;
Trang 21+ Tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chuyên ngành về quản lý tàinguyên nước;
+ Tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chuyên ngành về quản lý tàinguyên khoáng sản, địa chất;
+ Tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chuyên ngành về bảo vệ môi trường;+ Tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chuyên ngành về khí tượng thủy văn;+ Tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chuyên ngành về biến đổi khí hậu;+ Tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chuyên ngành về đo đạc và bản đồ;+ Tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chuyên ngành về viễn thám;+ Tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chuyên ngành về quản lý tổnghợp và thống nhất về biển và hải đảo
3.3 Xây dựng phương pháp đánh giá hiệu quả công tác chuyên môn các lĩnhvực tài nguyên và môi trường:
a) Cơ sở khoa học của việc xác định các phương pháp đánh giá:
- Nghiên cứu khái niệm về phương pháp đánh giá;
- Phân loại phương pháp đánh giá và đặc điểm của từng loại;
- Các nguyên tắc, mô hình để xây dựng phương pháp đánh giá;
- Nghiên cứu các quan điểm, căn cứ để xây dựng phương pháp đánh giá.b) Đề xuất phương pháp đánh giá hiệu quả việc thực hiện công tác chuyênmôn các lĩnh vực tài nguyên và môi trường:
- Phương pháp đánh giá phải phù hợp với tiêu chí đánh giá và mục tiêu đánh giá;
- Các phương pháp đánh giá tình hình thực hiện công tác chuyên môn chung:+ Phương pháp đánh giá công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;+ Phương pháp đánh giá công tác xây dựng thể chế, chính sách, pháp luật,tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình, quy phạm, định mức kinh tế - kỹ thuật;
+ Phương pháp đánh giá công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ;
+ Phương pháp đánh giá công tác cải cách hành chính;
+ Phương pháp đánh giá công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo;+ Phương pháp đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực;+ Phương pháp đánh giá công tác hợp tác quốc tế;
+ Phương pháp đánh giá công tác điều tra cơ bản, quan trắc giám sát và dựbáo
- Các phương pháp đánh giá hiệu quả việc thực hiện nhiệm vụ chuyên ngành
về các lĩnh vực tài nguyên và môi trường:
Trang 2213.4.2 Đánh giá hiệu quả thực hiện nhiệm vụ quản lý chuyên ngành đối vớitừng lĩnh vực tài nguyên và môi trường giai đoạn 2011-2015:
Nghiên cứu phân tích, đánh giá hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chuyên ngànhgiai đoạn 2011-2015 các lĩnh vực: Đất đai; Tài nguyên nước; Địa chất và Khoángsản; Môi trường; Khí tượng thủy văn; Biến đổi khí hậu; Đo đạc và bản đồ; Viễnthám và Biển và hải đảo
Nội dung 5: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện công tác chuyên môn các lĩnh vực tài nguyên và môi trường
Trang 2313.5.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế giai đoạn 2016 - 2020
13.5.2 Các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về pháttriển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020
13.5.3 Các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về quản
lý tài nguyên và môi trường giai đoạn 2016 - 2020
13.5.4 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện công tác chuyên mônchung các lĩnh vực tài nguyên và môi trường giai đoạn 2016-2020:
- Công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;
- Công tác xây dựng thể chế, chính sách, pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn,quy trình, quy phạm, định mức kinh tế - kỹ thuật;
- Công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ;
- Công tác cải cách hành chính;
- Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo;
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực;
- Công tác hợp tác quốc tế;
- Công tác điều tra cơ bản, quan trắc giám sát và dự báo
13.5.5 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ quản lý chuyênngành các lĩnh vực tài nguyên và môi trường:
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về quản lý đất đai;
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về quản lý tài nguyên nước;
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về quản lý tài nguyên khoáng sản, địa chất;
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về bảo vệ môi trường;
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về khí tượng thủy văn;
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về biến đổi khí hậu;
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về đo đạc và bản đồ;
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về viễn thám;
- Các nhiệm vụ chuyên ngành về quản lý tổng hợp và thống nhất về biển vàhải đảo
14 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: là phương pháp chủ yếu được sử dụng để
kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã có phục vụ việc xây dựng cơ sở lýluận cho hoạt động đánh giá hiệu quả việc thực hiện công tác chuyên môn các lĩnh