1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng và giải pháp nângcao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm đối với các bản án dân sự, kinhdoanh thương mại, hành chính sơ thẩm của Tòa án tại Viện KSND huyện ĐứcPhổ

41 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 267,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác kiểmsát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinhdoanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật sauđây gọi chung là

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của chuyên đề

Viện kiểm sát nhân dân được Đảng và Nhà nước giao giữ một vị trí quantrọng trong hoạt động tư pháp Từ khi được thành lập đến nay, ngành Kiểm sátnhân dân ngày càng lớn mạnh và có những tiến bộ rõ nét trong hoạt động thực hànhquyền công tố nói chung và kiểm sát hoạt động tư pháp nói riêng Công tác kiểmsát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinhdoanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (sauđây gọi chung là công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự)trong ngành Kiểm sát nhân dân đạt được những kết quả tích cực, đã kịp thời pháthiện nhiều vi phạm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, vụ việcdân sự và đã ban hành nhiều kiến nghị, kháng nghị yêu cầu Tòa án khắc phục viphạm nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự của Tòa ánkịp thời, đúng quy định của pháp luật

Thực tiễn hoạt động kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân huyệnĐức Phổ trong những năm qua đã có những chuyển biến nhất định, số lượng vàchất lượng kháng nghị từng bước được nâng lên Tuy nhiên, bên cạnh những kếtquả đã đạt được, công tác kháng nghị phúc thẩm dân sự, hành chính tại ViệnKSND huyện Đức Phổ còn có những hạn chế, chưa phát huy hết chức năng, nhiệm

vụ của ngành, được thể hiện qua tỷ lệ án bị tuyên hủy, sửa liên quan đến tráchnhiệm của Viện kiểm sát vẫn còn xảy ra nhiều Những tồn tại, thiếu sót nêu trênxuất phát từ nhiều nguyên nhân, từ nguyên nhân chủ quan đến nguyên nhân kháchquan làm cho công tác kháng nghị phúc thẩm của đơn vị chưa đạt kết quả theo chỉtiêu nghiệp vụ của ngành đã đề ra

Để nâng cao số lượng, chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm, Viện kiểm

sát nhân dân huyện Đức Phổ xây dựng chuyên đề " Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm đối với các bản án dân sự, kinh doanh thương mại, hành chính sơ thẩm của Tòa án tại Viện KSND huyện Đức Phổ" (gọi tắt là kháng nghị phúc thẩm dân sự, hành chính) Thông qua việc nghiên

cứu các cơ sở lý luận về kháng nghị phúc thẩm dân sự, hành chính và qua thực tiễncủa công tác kháng nghị phúc thẩm tại Viện KSND huyện Đức Phổ, nhằm đánh giánhững ưu điểm, tồn tại, tìm ra những nguyên nhân của hạn chế, tồn tại, đưa ra một

số giải pháp để nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm đối với các bản

Trang 2

án dân sự, kinh doanh thương mại, hành chính tại Viện KSND huyện Đức Phổtrong thời gian đến.

- Đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúcthẩm đối với các bản án dân sự, kinh doanh thương mại, hành chính sơ thẩm củaTòa án tại Viện KSND huyện Đức Phổ nói riêng và ngành Kiểm sát nhân dân tỉnhQuảng Ngãi nói chung trong thời gian đến

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Là quyền kháng nghị phúc thẩm án dân sự, hànhchính của Viện kiểm sát các cấp và thực tiễn về công tác kháng nghị phúc thẩm đốivới những bản án dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại có kháng nghị, khángcáo bị cấp phúc thẩm hủy, sửa

- Phạm vi nghiên cứu: Một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn trong côngtác kháng nghị phúc thẩm án dân sự, hành chính của Viện KSND huyện Đức Phổ

từ năm 2015 đến 6 tháng đầu năm 2018

4 Kết cấu của chuyên đề

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận thì chuyên đề gồm có 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề chung về kháng nghị phúc thẩm dân sự, hành chínhcủa Viện kiểm sát nhân dân

Chương 2 Thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm dân sự, hành chính củaViện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ

Chương 3 Một số kinh nghiệm và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quảcông tác kháng nghị phúc thẩm dân sự, hành chính

Trang 3

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM ÁN DÂN

SỰ, HÀNH CHÍNH CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1 Khái niệm và vai trò kháng nghị phúc thẩm dân sự, hành chính của Viện kiểm sát nhân dân

1.1 Khái niệm về kháng nghị, quyền kháng nghị phúc thẩm dân sự, hành chính của Viện kiểm sát nhân dân

Kháng nghị là một hoạt động quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân trongviệc thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụngdân sự, tố tụng hành chính nói riêng Cơ sở lý luận của quyền kháng nghị xuất phát

từ chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân Theo quy định của Hiến phápnăm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Viện KSND có chứcnăng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam

Kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của tất cả cácchủ thể tiến hành hoạt động tư pháp, trong tố tụng hành chính, dân sự chủ thể quantrọng nhất là Tòa án nhân dân Khi Viện KSND thực hiện chức năng kiểm sát cáchoạt động của Tòa án nhân dân trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính thì đókhông phải là hoạt động kiểm tra, thanh tra hành chính của cấp trên đối với cấpdưới, do đó Viện kiểm sát nhân dân không có quyền trực tiếp sửa đổi hoặc hủy bỏcác quyết định trái pháp luật của Tòa án nhân dân Để sửa đổi, hủy bỏ các bản án,quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật, Viện KSND phải thông qua một cơchế gián tiếp bằng biện pháp thực hiện quyền kháng nghị

Tại khoản 1 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định: "Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết các vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật"

Tại Điều 25 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định: "Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật Thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật"

Như vậy, quyền kháng nghị là một quyền năng pháp lý quan trọng của ViệnKSND được Quốc Hội trao cho Viện KSND kể từ khi được thành lập Qua quá

Trang 4

trình phát triển của Viện KSND, chế định pháp luật về quyền kháng nghị của ViệnKSND ngày càng được quy định hoàn thiện hơn, phù hợp với chức năng, nhiệm vụtrong từng thời kỳ phát triển của đất nước

Quyền kháng nghị phúc thẩm của Viện KSND trong tố tụng dân sự, tố tụnghành chính là quyền năng pháp lý được pháp luật quy định cho Viện KSND nhằmyêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định của TAND mà ViệnKSND có căn cứ xác định vi phạm tố tụng, vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đảmbảo cho việc giải quyết các vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, vụ ánhành chính đúng pháp luật, nghiêm minh và kịp thời

Kháng nghị là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền, thể hiện việc phảnđối toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án với mục đích bảo đảmviệc xét xử được chính xác, công bằng, đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản

án, quyết định của Tòa án

Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là kháng nghị đối với bản án, quyết định

về vụ án hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động chưa có hiệulực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm

Quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Viện KSND đối với bản án,quyết định của Tòa án được quy định tại Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhândân năm 2014; Điều 21, 57, 278 Bộ luật TTDS năm 2015 và Điều 42, Điều 211Luật tố tụng hành chính năm 2015

1.2.Vai trò kháng nghị phúc thẩm dân sự, hành chính của Viện kiểm sát nhân dân

- Việc thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm dân sự, hành chính có vaitrò rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp củaViện kiểm sát nhân dân, vì trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc theo thủ tục sơthẩm, Viện kiểm sát đã tiến hành các hoạt động kiểm sát cần thiết theo quy địnhcủa pháp luật nhằm đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ việc được tiến hành đúngpháp luật Nhưng trong thực tiễn vẫn có trường hợp trong quá trình giải quyết Việnkiểm sát không phát hiện kịp thời những vi phạm hoặc có nhiều trường hợp giữaTòa án và Viện kiểm sát chưa có sự thống nhất về quan điểm, nhận thức về giảiquyết vụ việc, dẫn đến Tòa án ra bản án, quyết định mà Viện kiểm sát cho rằngchưa bảo đảm tính hợp lý cả về pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng Khi đó,chính bằng việc kháng nghị, Viện kiểm sát mới thực hiện được đầy đủ và hiệu quả

Trang 5

chức năng của mình Qua đó góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hànhnghiêm chỉnh và thống nhất trong suốt quá trình tố tụng

- Yêu cầu Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm, góp phầnnâng cao chất lượng xét xử các vụ án hành chính, vụ việc dân sự bảo đảm việc Tòa

án ra một bản án, quyết định dân sự, hành chính khách quan, đúng pháp luật

- Là công cụ hữu hiệu để bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt độngxét xử của Tòa án

2 Các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về kháng nghị phúc thẩm dân sự

2.1 Các căn cứ kháng nghị phúc thẩm

Bộ luật tố tụng dân sự không quy định căn cứ kháng nghị phúc thẩm, chỉ Điều

5 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định chung về căn cứ khángnghị như sau: Khi bản án, quyết định của Tòa án nhân dân vi phạm pháp luậtnghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước,quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Viện kiểm sát phải kháng nghị Thế nào là vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì hiện nay chưa có hướng dẫn cụthể để làm căn cứ kháng nghị phúc thẩm Tuy nhiên, thực tiễn khi xem xét khángnghị thông thường thì căn cứ các Điều 308, 309, 310, 311, 345 Bộ luật tố tụng dân

sự năm 2015 quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm, giám đốcthẩm và các dạng vi phạm của Tòa án đã được ngành rút kinh nghiệm qua các bản

có quyền kháng nghị phúc thẩm bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết

vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm

để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm

Điều 371 Bộ luật tố tụng dân sự quy định Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểmsát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự để yêucầu Tòa án trên một cấp trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm, trừ quyết

Trang 6

định giải quyết việc dân sự quy định tại khoản 7 Điều 27, khoản 2 và khoản 3 Điều

29 của Bộ luật này

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì chủ thể có thẩm quyền kháng nghịtheo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự củaTòa án nhân dân là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp hoặc Viện trưởngViện kiểm sát nhân dân cấp trên một cấp của Tòa án đã giải quyết theo thủ tục sơthẩm vụ việc dân sự đó Sở dĩ pháp luật quy định chỉ có Viện kiểm sát nhân dânmới có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là nhằm thực hiện nguyêntắc "chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm" trong tố tụng dân sự Khi cókháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của đương sự thì Tòa án cấp phúcthẩm phải thụ lý giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

*Thời hạn kháng nghị phúc thẩm dân sự:

- Đối với vụ án dân sự: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 chia làm 2 loại thờihạn kháng nghị bản án và thời hạn kháng nghị quyết định đình chỉ, quyết định tạmđình chỉ trên nguyên tắc thời hạn kháng nghị bản án dài hơn thời hạn kháng nghịquyết định

Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sátcùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngàytuyên án Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn khángnghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án Thời hạn kháng nghịcủa Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉgiải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trựctiếp là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định (Điều 280

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015)

- Đối với việc dân sự: Tại khoản 2 Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015quy định về thời hạn kháng nghị phúc thẩm các quyết định giải quyết việc dân sự,theo đó thời hạn kháng nghị quyết định là 10 ngày đối với Viện kiểm sát nhân dâncùng cấp và 15 ngày đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp, kể từ ngàyTòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự

Khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát mà quyếtđịnh đó đã quá thời hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 280 thì Tòa áncấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải thích bằng văn bản và nêu rõ lý do Việcgửi văn bản giải thích lý do kháng nghị quá hạn được thực hiện theo Thông tư liên

Trang 7

tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 của Viện KSND tốicao và TAND tối cao

2.3 Hình thức và nội dung của quyết định kháng nghị

Tại Điều 279 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát phải bằng văn bản và có các nộidung chính sau đây:

Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị;Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;

Kháng nghị toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩmchưa có hiệu lực pháp luật;

Lý do của việc kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát;

Họ, tên của người ký quyết định kháng nghị và đóng dấu của Viện kiểm sát raquyết định kháng nghị

Quyết định kháng nghị phải được gửi ngay cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản

án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục

do Bộ luật này quy định và gửi hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm theo quyđịnh tại Điều 283 của Bộ luật này

Kèm theo quyết định kháng nghị là tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) đểchứng minh cho kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ và hợp pháp

Theo quy định tại khoản 3 Điều 33 Quy chế công tác kiểm sát giải quyết các

vụ, việc dân sự (được ban hành kèm theo Quyết định số 364/QĐ-VKSTC ngày2/10/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, gọi tắt là quy chế 364)thì quyết định kháng nghị phúc thẩm được lập theo mẫu do Viện KSND tối cao banhành, thể hiện đầy đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 279 Bộ luật tố tụng dân

sự Hiện nay, Viện KSND tối cao đã ban hành biểu mẫu về kháng nghị phúc thẩmđối với bản án, quyết định dân sự (Mẫu số 15/DS theo QĐ số 204/QĐ-VKSTCngày 01 tháng 6 năm 2017)

2.4 Hậu quả của việc kháng nghị phúc thẩm dân sự

Tại Điều 282 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về hậu quả của việckháng cáo, kháng nghị như sau:

Trang 8

Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án

sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưađược đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay

Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án

sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theothủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,kháng nghị

2.5 Thủ tục bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị phúc thẩm dân sự

Theo Điều 284 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, trường hợp chưa hết thời hạnkháng nghị theo quy định tại Điều 280 của BLTTDS năm 2015 thì Viện kiểm sát

đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà không bị giới hạn bởiphạm vi kháng nghị ban đầu

Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát đãkháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng không được vượt quáphạm vi kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng nghị đã hết Trước khi bắt đầuphiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát đã kháng nghị hoặc Việnkiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị

Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những phần của vụ

án mà người kháng cáo rút kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã rút kháng nghị Việcđình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán chủ tọa phiên tòaquyết định, tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định

Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải được lậpthành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm phải thôngbáo cho các đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị Việc thay đổi, bổsung, rút kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa

Đối với quyết định giải quyết việc dân sự: Trong thời hạn chuẩn bị xét kháng

nghị nếu người kháng cáo rút đơn kháng cáo Viện kiểm sát rút kháng nghị thì Tòa

án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm.Trong trường hợp này, quyết định giải quyết việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm cóhiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ (điểm ckhoản 2 Điều 373 BLTTDS năm 2015)

Trang 9

3 Các quy định của Luật tố tụng hành chính năm 2015 về kháng nghị phúc thẩm hành chính

3.1 Các căn cứ kháng nghị phúc thẩm hành chính

Luật tố tụng hành chính năm 2015 không quy định căn cứ kháng nghị phúcthẩm, chỉ Điều 5 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định chung vềcăn cứ kháng nghị là: Khi bản án, quyết định của Tòa án nhân dân vi phạm phápluật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhànước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Viện kiểm sát phải khángnghị

Thế nào là vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì hiện nay chưa có hướng dẫn cụthể để làm căn cứ kháng nghị phúc thẩm Tuy nhiên, thực tiễn khi xem xét khángnghị thông thường thì căn cứ các Điều 241, 274 luật tố tụng hành chính năm 2015quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và cácdạng vi phạm của Tòa án đã được ngành rút kinh nghiệm qua các bản án có viphạm

3.2 Thẩm quyền và thời hạn kháng nghị phúc thẩm hành chính

*Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm:

Điểm d khoản 1 Điều 42 và Điều 211 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quyđịnh thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp cóquyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết

vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theothủ tục phúc thẩm

*Thời hạn kháng nghị phúc thẩm hành chính:

- Đối với bản án: Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩmcủa Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30ngày kể từ ngày tuyên án

- Đối với quyết định: Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối vớiquyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơthẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày kể từ ngày Việnkiểm sát cùng cấp nhận được quyết định

- Khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát mà quyếtđịnh kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 213 Luật

Trang 10

tố tụng hành chính thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải thích bằngvăn bản và nêu rõ lý do (Điều 213 Luật tố tụng hành chính năm 2015)

Việc gửi văn bản giải thích lý do của việc kháng nghị quá hạn được quy địnhtại hướng dẫn tại Điều 16 Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-VKSTC-TANDTCngày 31/8/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao

3.3 Hình thức và nội dung quyết định kháng nghị

Tại Điều 212 Luật tố tụng hành chính quy định:

Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát phải bằng văn bản và có các nộidung chính sau đây:

Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị;Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;

Kháng nghị toàn bộ hoặc một phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơthẩm chưa có hiệu lực pháp luật;

Lý do và căn cứ của việc kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát;

Họ, tên của người ký quyết định kháng nghị và đóng dấu của Viện kiểm sát raquyết định kháng nghị

Quyết định kháng nghị phải được gửi ngay cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản

án, quyết định bị kháng nghị để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục quy địnhtại Điều 216 của Luật này Kèm theo quyết định kháng nghị là tài liệu, chứng cứ bổsung (nếu có) để chứng minh cho kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ và hợppháp

Theo quy định tại khoản 3 Điều 33 Quy chế công tác kiểm sát giải quyết các

vụ án hành chính (được ban hành kèm theo Quyết định số 282/QĐ-VKSTC ngày2/10/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, gọi tắt là quy chế 282)thì quyết định kháng nghị phúc thẩm được lập theo mẫu do Viện KSND tối cao banhành, thể hiện đầy đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 212 Luật tố tụng hànhchính Hiện nay, Viện KSND tối cao đã ban hành biểu mẫu về kháng nghị phúcthẩm đối với bản án, quyết định dân sự (Mẫu số 21/HC theo QĐ số 204/QĐ-VKSTC ngày 01 tháng 6 năm 2017)

3.4 Hậu quả của việc kháng nghị phúc thẩm hành chính

Trang 11

Theo quy định tại Điều 215 Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì hậu quả củaviệc kháng cáo, kháng nghị như sau:

Phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghịthì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định được thi hànhngay

Bản án, quyết định hoặc phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩmkhông bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạnkháng cáo, kháng nghị

3.5 Thủ tục bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị phúc thẩm hành chính

Theo Điều 218 Luật tố tụng hành chính năm 2015, trường hợp chưa hết thờihạn kháng nghị theo quy định tại Điều 213 của Luật tố tụng hành chính năm 2015thì Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà không

bị giới hạn bởi phạm vi kháng nghị ban đầu

Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát đãkháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng không được vượt quáphạm vi kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng nghị đã hết

Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát đãkháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị

Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần của vụ án màngười kháng cáo đã rút kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã rút kháng nghị Việc đìnhchỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyếtđịnh, tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định

Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải được lậpthành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm phải thôngbáo cho các đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị Việc thay đổi, bổsung, rút kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa

Trang 12

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM DÂN SỰ, HÀNH CHÍNH CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC PHỔ

1 Tình hình về số liệu giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động của Tòa án có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ

Qua báo cáo tổng kết năm của Viện KSND huyện Đức Phổ từ năm 2015 đến

6 tháng đầu năm 2018, cho thấy tổng số vụ án hành chính, vụ việc dân sự, kinhdoanh thương mại, lao động mà Viện kiểm sát thụ lý kiểm sát là 1.011 vụ, việc.Tòa án đã giải quyết: 922 vụ, việc Số còn lại chưa giải quyết là 89 vụ, việc Việnkiểm sát tham gia 151 phiên tòa, phiên họp

Số bản án, quyết định dân sự, hành chính của Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ

mà Viện kiểm sát huyện Đức Phổ kháng nghị phúc thẩm là 16/922 bản án, quyếtđịnh của Tòa án đã giải quyết Trong 16 kháng nghị thì VKS đã rút 01 kháng nghịtrước khi mở phiên tòa xét xử phúc thẩm nên còn lại là 15 kháng nghị sẽ được đưa

ra xét xử phúc thẩm Như vậy, tính trung bình mỗi năm Viện kiểm sát ban hành 4kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định dân sự, hành chính của Tòa áncùng cấp (Kháng nghị án dân sự: 13; kháng nghị án hành chính: 02)

Số kháng nghị được Tòa án cấp phúc thẩm xét xử chấp nhận là 14/14 khángnghị (tỷ lệ 100%) Hiện còn 01 kháng nghị (DS) Tòa án chưa đưa ra xét xử nênchưa có kết quả

Cũng theo thống kê từ năm 2015 đến 6 tháng đầu năm 2018 số bản án, quyếtđịnh của Tòa án cấp sơ thẩm bị cấp phúc thẩm tuyên hủy, sửa có lỗi của Viện kiểmsát là 8 vụ, đây là án hủy, sửa do các đương sự kháng cáo và VKS không khángnghị

Bảng 1: Thống kê số lượng án được thụ lý giải quyết

Năm

Kiểm sát thụ lý giải quyết

Tòa án đã giải quyết

Chuyển qua năm sau, kỳ sau

Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp

2015 301 (cũ 70; mới

231)

Trang 13

"Tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám độc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự, hành chính", thời gian qua Lãnh đạo Viện kiểm sát huyện Đức Phổ đã quan

tâm chỉ đạo thực hiện các biện pháp nhằm tăng cường công tác kháng nghị phúcthẩm án hành chính, dân sự Kế hoạch công tác kiểm sát hàng năm của đơn vị đềuxác định chỉ tiêu về kháng nghị phúc thẩm là tiêu chí quan trọng để đánh giá kếtquả công tác kiểm sát

- Qua kiểm sát việc thụ lý, giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sựViện kiểm sát đã phát hiện được nhiều bản án có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục

tố tụng, nội dung giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm để ban hành kháng nghị Cụthể:

+ Về số lượng kháng nghị: Từ năm 2015 đến 6 tháng đầu năm 2018, Việnkiểm sát huyện Đức Phổ đã ban hành 16 kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với

16 bản án dân sự, hành chính của Tòa án nhân dân cùng cấp (trong đó VKS đã rút

01 kháng nghị nên còn 15)

+ Về chất lượng kháng nghị: Tính đến thời thời điểm báo cáo sơ kết 6 thángđầu năm 2018 thì Tòa án cấp phúc thẩm đã đưa ra xét xử chấp nhận 14/14 khángnghị của VKS, đạt tỷ lệ 100% Còn 01 kháng nghị chưa đưa ra xét xử

Trang 14

Bảng 2 Thống kê kháng nghị phúc thẩm và việc giải quyết của Toà án

Năm

Số lượng kháng nghị phúc thẩm

Chất lượng kháng nghị Rút

kháng nghị

Tòa án chấp nhận KN

Tòa án bác kháng nghị

Kháng nghị chưa giải quyết chuyển

Đơn vị đã chủ động và kịp thời báo cáo Viện tỉnh kháng nghị khi hết thời hạnkháng nghị hoặc vì lý do khác

2.2 Các dạng vi phạm của Tòa án trong bản án mà Viện kiểm sát đã phát hiện và ban hành kháng nghị phúc thẩm

Trang 15

- Tòa án không tính án phí đối với phần cấp dưỡng nuôi con, áp dụng điều luật giải quyết vụ án không chính xác VKS kháng nghị và Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị sửa một phần bản án Như:

Vụ án "ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản”, giữa:

Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Bé, sinh năm 1973.

Bị đơn: anh Đặng Văn Nhi, sinh năm 1971.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Đặng Thị Minh Thi, sinh năm

"1 Về hôn nhân: không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Bé

và anh Đặng Văn Nhi.

2 Về con chung:

Giao 02 con chung là Đặng Thị Mỹ Linh sinh ngày 21/4/2003 và Đặng Quốc Kiệt sinh ngày 12/02/2011 cho chị Nguyễn Thị Bé trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Đặng Văn Nhi phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 1.150.000 đồng.

3 Về tài sản chung:

Giao cho anh Đặng Văn Nhi quản lý, sử dụng 01 ngôi nhà cấp IV và các công trình xây dựng khác nằm trên 810m 2 đất tại thửa đất số 62 tờ bản đồ số 16 xã Phổ Ninh, huyện Đức Phổ trị giá nhà và đất là: 331.643.936 đồng (ba trăm ba mươi mốt triệu, sáu trăm bốn mươi ba ngàn, chín trăm ba mươi sáu ngàn đồng)

4 Về án phí DSST:

Án phí: chị Nguyễn Thị Bé phải chịu án phí HN&GĐ sơ thẩm là 200.000 đồng và 9.604.573 đồng án phí chia tài sản được khấu trừ vào 6.075.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2010/08911 ngày 05/11/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Phổ, còn phải nộp tiếp 3.529.573 đồng (ba triệu, năm trăm hai mươi chín ngàn, năm trăm bảy mươi ba đồng).

Trang 16

Anh Đặng Văn Nhi phải chịu 9.604.573 đồng (chín triệu, sáu trăm lẽ bốn ngàn, năm trăm bảy mươi ba đồng) án phí chia tài sản ”

Sau khi xem xét bản án, ngày 12 tháng 4 năm 2016 Viện trưởng KSND huyệnĐức Phổ đã ban hành kháng nghị số 210/QĐ-KNPT-DS đối với bản án số 14/2016/HNGĐ-ST ngày 31/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ theo thủ tục phúcthẩm Đề nghị TAND tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa bản

án sơ thẩm với nhận định:

Việc Tòa án tuyên anh Đặng Văn Nhi phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 1.150.000 đồng mà không tuyên nghĩa vụ chịu án phí cho

nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Nhi là không đúng theo quy định định tại

khoản 10 Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 về “Án phí, lệ phí Tòa án”

và khoản 4 Điều 14 Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng

thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án”

Theo như quyết định của Tòa án thì tổng số tiền án phí mà chị Bé phải nộp là9.804.573 đồng (200.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 9.604.573đồng án phí chia tài sản) Trước đó, tại biên lai thu tạm ứng án phí sốAA/2010/08911 ngày 05/11/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Phổthì chị Bé đã nộp 6.075.000 đồng và cũng theo như giấy báo nộp tiền tạm ứng ánphí số 789/TA ngày 05/11/2015 thì số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm6.075.000 đồng (trong đó 200.000 đồng tiền án phí xin ly hôn và 5.875.000 đồngtiền án phí chia tài sản chung) Như vậy, sau khi khấu trừ số tiền án phí phải nộp và

số tiền tạm ứng án phí đã nộp thì chị Bé còn phải nộp tiếp số tiền là 3.729.573 đồngchứ không phải là số tiền 3.529.573 đồng như Tòa án đã quyết định

Ngoài ra, Tòa án quyết định không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chịNguyễn Thị Bé và anh Đặng Văn Nhi nhưng trong phần nội dung và nhận định củaTòa án chỉ viện dẫn Điều 9 và Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để làmcăn cứ giải quyết là chưa đầy đủ Tòa án không căn cứ vào Điều 53 Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2014 là không đúng quy định tại Điều 238 BLTTDS năm 2004 sửađổi, bổ sung năm 2011, Điều 36 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012

và Mẫu số 01 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03

tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao)

Ngày 29/6/2016, TAND tỉnh Quảng Ngãi đưa vụ án ra xét xử theo thủ tụcphúc thẩm: Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện KSND huyện Đức Phổ,

Trang 17

sửa một phần bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 14/2016/HNGĐ-ST ngày28/7/2016 của TAND huyện Đức Phổ về điều luật áp dụng và án phí.

- Tòa án xem xét, đánh giá chứng cứ không toàn diện dẫn đến việc áp dụng pháp luât để giải quyết vụ án chưa chính xác, chưa đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự Viện kiểm sát ban hành kháng nghị và được Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án Như:

*Vụ án dân sự "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”giữa:

Nguyên đơn: ông Võ Sĩ Mến, sinh năm: 1970 và bà Phùng Thị Nhiễm, sinh

năm: 1974

Bị đơn: ông Đoàn Cưu, sinh năm: 1946 và bà Trần Thị Lắm, sinh năm: 1946 Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Đoàn Tấn Linh, sinh năm 1976

- Anh Đoàn Tấn Nguyên, sinh năm: 1987

Cùng địa chỉ: thôn Tân Diêm, xã Phổ Thạnh,huyện Đức Phổ, tỉnh QuảngNgãi

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 22/2017/ST-DS ngày 21/9/2017 của Tòa ánnhân dân huyện Đức Phổ, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Sĩ Mến và bà Phùng Thị Nhiễm

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 Buộc vợ chồng ông Đoàn Cưu và bà Trần Thị Lắm phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất số 877, tờ bản đồ số 24 xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi cho vợ chồng ông Võ Sĩ Mến, bà Phùng Thị Nhiễm.

Bác yêu cầu phản tố của ông Đoàn Cưu, bà Trần Thị Lắm về việc tuyên bố hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009".

Ngày 5/10/2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ banhành quyết định kháng nghị số 1317/QĐKNPT-VKS-DS đối với bản án dân sự sơthẩm số 22/2017/DS-ST ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ Đềnghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng không chấp nhận yêu cầu củanguyên đơn; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, tuyên bố hợp đồng chuyển

Trang 18

nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu vì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụngđất không đúng hình thức; nội dung hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật vàgiải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu

Ngày 01/2/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đưa vụ án ra xét xử theothủ tục phúc thẩm, tại bản án dân sự phúc thẩm số 24/2018/DS-PT ngày 01/2/2018,Tòa án dân dân tỉnh Quảng Ngãi chấp nhận kháng nghị số 1317/QĐKNPT-VKS-

DS ngày 5/10/2017 của Viện trưởng Viện KSND huyện Đức Phổ, sửa bản án dân

sự sơ thẩm số 22/2017/DS-ST ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đức Phổtheo hướng không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Sĩ Mến và bàPhùng Thị Nhiễm; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Đoàn Cưu, bà Trầnthị Lắm; tuyên bổ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử sụng đất có tiêu đề "Giấychuyển nhượng đất thổ cư" đề ngày 10/8/2009 giữa ông Đoàn Cưu, bà Trần ThịLắm, anh Đoàn Tấn Linh với ông Võ Sỹ Mến, bà Phùng Thị Nhiễm là vô hiệu vàTòa án đã giải quyết hậu quả của hợp đồng bị vô hiệu

*Vụ án hành chính "Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch

ủy ban nhân dân huyện Đức Phổ" giữa:

Người khởi kiện: ông Phan Thanh Lực, sinh năm 1954

Địa chỉ: Thôn Kim Giao, xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ

Người bị kiện: Chủ tịch UBND huyện Đức Phổ - ông Trần Em

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 01/2016/HC-ST ngày 27/9/2016 của Tòa án

nhân dân huyện Đức Phổ đã quyết định: Bác đơn khởi kiện của ông Phan Thanh Lực về việc yêu cầu hủy quyết định giải quyết khiếu nại số 190/QĐ-UBND ngày 2/2/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đức Phổ.

Ngày 10/10/2016, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ banhành quyết định kháng nghị số 783/KNPT-VKS-HC đối với bản án hành chính sơthẩm số 01/2016/HC-ST ngày 27/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ theohướng đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của ông Phan Thanh Lực, hủy quyết địnhgiải quyết khiếu nại số 190/QĐ-UBND ngày 2/2/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhândân huyện Đức Phổ

Ngày 16 tháng 01 năm 2017, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đưa vụ án raxét xử theo thủ tục phúc thẩm, tại bản án hành chính phúc thẩm số 03/2017HC-PT,Tòa án dân dân tỉnh Quảng Ngãi chấp nhận kháng nghị số 783/KNPT-VKS-HCngày 10/10/2016 của Viện trưởng Viện KSND huyện Đức Phổ, sửa bản án hành

Trang 19

chính sơ thẩm số 01/2016/HC-ST ngày 27/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện ĐứcPhổ, chấp nhận đơn khởi kiện của ông Phan Thanh Lực, hủy quyết định giải quyếtkhiếu nại số 190/QĐ-UBND ngày 2/2/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyệnĐức Phổ về việc giải quyết khiếu nại của ông Phan Thanh Lực

- Tòa án không đưa đầy đủ người vào tham gia tố tụng, chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ, giải quyết không hết yêu cầu của đương sự VKS đã kháng nghị

và Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm Như:

Vụ án dân sự "Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất", giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đỡ Sinh năm: 1960.

Bị đơn: Ông Đặng Văn Hiền Sinh năm: 1967.

Bà Nguyễn Thị Mỹ Kim Sinh năm: 1970

Bà Nguyễn Thị Thùy Lam Sinh năm: 1978

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Thanh Thái (Tý), sinh năm 1954; ông Nguyễn Sửu, sinh năm1957; anh Nguyễn Thanh Nhị, sinh năm 1986; chị Nguyễn Thị Nhiều, sinh năm1989; anh Nguyễn Văn Chính, sinh năm 1982

Cùng trú tại: thôn Hùng Nghĩa, xã Phổ Phong, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng

Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của bị đơn Đặng Văn Hiền và bà Nguyễn Thị Mỹ Kim về việc: buộc ông Nguyễn Thanh Thái (Tý) chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sỡ hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp đối với 1.9 ha đất lâm nghiệp”.

Ngày 13/10/2016, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ banhành quyết định kháng nghị số 805/KNPT-VKS-DS đối với bản án dân sự sơ thẩm

số 25/2016/DS-ST ngày 30/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ Đề nghị

Trang 20

Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi hủy bản án sơ thẩm nêu trên của Tòa án nhândân huyện Đức Phổ với nhận đình Tòa án xác định sai tư cách tham gia tố tụng,chưa giải quyết hết các yêu cầu của đương sự và chưa thu thập đầy đủ tài liệu,chứng cứ để giải quyết vụ án

Ngày 15 tháng 3 năm 2017, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đưa vụ án raxét xử theo thủ tục phúc thẩm, tại bản án dân sự phúc thẩm số 36 /2017/DS-PT Tòa

án dân dân tỉnh Quảng Ngãi chấp nhận kháng nghị số 805/KNPT-VKS-DS ngày13/10/2016 của Viện trưởng Viện KSND huyện Đức Phổ, hủy bản án dân sự sơthẩm số 25/2016/DS-ST ngày 30/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ,chuyển hồ sơ vụ án cho TAND huyện Đức Phổ giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm

- Tòa án chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án VKS đã kháng nghị và Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm Như:

Vụ án dân sự "Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu hủygiấy chứng nhận quyền sử dụng đất", giữa:

Đồng nguyên đơn: bà Hồ Thị Ninh, sinh năm 1935; bà Hồ Thị Lựu, sinh năm

1930; ông Phạm Văn Nhì, sinh năm 1945; bà Phạm Thị Điều, sinh năm 1937

Bị đơn: ông Hồ Ngọc Quyên, sinh năm 1946

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Lê Thị Xuân Quỳnh, sinh năm 1956

Bác yêu cầu của nguyên đơn là các ông, bà Hồ Thị Ninh, Hồ Thị Lựu, Phạm Văn Nhì, Phạm Thị Điều về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số

997392, số vào sổ cấp H03421 do Ủy ban nhân dân huyện Đức Phổ cấp cho ông

Hồ Ngọc Quyên, bà Lê Thị Xuân Quỳnh ngày 24/6/2008.

Ngày đăng: 31/03/2021, 21:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w